Chương 20: Vì sao Phan Châu Trinh phó thác “Đại sự” cho Phan Khôi ?

Chương 20: Vì sao Phan Châu Trinh phó thác “Đại sự” cho Phan Khôi ?

Năm 1922 là năm bản lề, đánh dấu ngõ quặt của nhóm Ngũ Long: Bắt đầu về nước tranh đấu. Người đầu tiên là Nguyễn An Ninh. Nhưng cũng bắt đầu sự phân hóa.
Về bối cảnh chung, 1922 có một số sự kiện xảy ra :
– Hội Chợ đấu xảo Marseille mở cửa ngày 16/4/1922.
Đầu năm 1922, Phan Châu Trinh xuống Marseille để làm việc tại hội chợ. Pháp cử 7 phái viên Bắc Kỳ đi dự đấu xảo gồm:
▪ Tuần phủ Cao Bằng Vi Văn Định và Quan huyện Phong Doanh Trần Lưu Vị đại diện Quan trường.
▪ Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn đại diện Tư vấn Nghị viện.
▪ Hoàng Kim Bảng đại diện Thương mại.
▪ Nguyễn Hữu Tiệp đại diện Canh nông.
▪ Phạm Quỳnh đại diện Khai Trí Tiến Đức[1].
– Tháng 2/1922, Phan Châu Trinh gởi thư ngỏ cho Nguyễn Ái Quốc.
– Tháng 5/1922, Phan Châu Trinh gặp gỡ các nhà trí thức sang Pháp dự hội chợ.
– Tháng 6/1922, Vua Khải Định tới Pháp. Một phong trào bài kích nhà vua nổi lên với “Thất Điều Thư” của Phan Châu Trinh kể bảy tội của vua Khải Định, với các bài báo đả kích và vở kịch “Dragon de bambou” (“Rồng Tre”) ký Nguyễn Ái Quốc.
Nhóm Ngũ Long chống vua Khải Định là tất nhiên, tuy lời lẽ hơi quá đáng vì sự thực thì nhà vua không còn quyền hành gì cả. Nhưng hai sự kiện đáng chú ý hơn là việc:
1/ Phan Châu Trinh viết bức thư ngỏ gởi Nguyễn Ái Quốc đề ngày 18/2/1922.
2/ Phan Châu Trinh gặp Nguyễn Văn Vĩnh Phạm Quỳnh.

A- Lá thư ngỏ của Phan Châu Trinh gởi Nguyễn Ái Quốc:

Trước hết, tại sao Phan Châu Trinh lại gởi cho Nguyễn Ái Quốc, mà không gởi cho Nguyễn Tất Thành, mặc dù ông thừa biết Nguyễn Tất Thành không phải là tác giả những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc ?
Lý do nằm trong nội dung lá thư: Phan Châu Trinh viết thư chung cho các tác giả ký tên Nguyễn Ái Quốc, nhưng có đoạn viết riêng cho Nguyễn Tất Thành.
Khi nhắn chung các tác giả ký tên Nguyễn Ái Quốc, ông viết :

“Thực trạng dân tình thế thái bên nhà, bọn mình biết rõ, bấy lâu nay, bọn mình ở bên này có đăng báo chương, hô hào các hạng người Pháp có lương tâm ngõ hầu giúp người An Nam đánh đổ cường quyền áp chế, nhưng kết quả chẳng được là bao. Cái khát vọng bình đẳng, tự do, bác ái mà ông Mạnh Đức Tư Cưu và ông Lư Thoa[2] khởi xướng chẳng nhỏ được giọt nào trên đất An Nam mình”[3].

Trong một đoạn khác, nhắn riêng Nguyễn Tất Thành, ông viết :

“Bấy lâu nay, tôi cùng anh và Phan đàm đạo nhiều việc, mãi tới bây giờ anh cũng không ưa cái phương pháp khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh của tôi. Còn tôi thời lại không thích cái phương pháp ngọa ngọa chiêu hiền, đãi thời đột nội (ngồi ngoài đợi thời) của anh và cả cái dụng lý thuyết thâu nhân tâm của Phan. Bởi phương pháp bất hòa mà anh đã nói với anh Phan là tôi là hạng hủ nho, thủ cựu. Cái điều anh gán cho tôi đó, tôi chẳng giận tý nào cả, bởi vì suy ra thì tôi đã thấy rằng: Tôi đọc chữ Pháp bập bẹ, nên không am tường hết sách vở ở cái đất văn minh này. Cái đó tôi đã thua anh xa lắm, đừng nói gì đọ với anh Phan”.

Tây Hồ nói dù Tất Thành (và bọn trẻ) coi ông là hủ nho, thủ cựu, nhưng ông không chấp, ông cũng chẳng thích gì lối ngồi ở nước ngoài đợi thời của Tất Thành và nhất là câu: “Tôi đọc chữ Pháp bập bẹ, nên không am tường hết sách vở ở cái đất văn minh này. Cái đó tôi đã thua anh xa lắm, đừng nói gì đọ với anh Phan”, có ý mỉa mai: tiếng Pháp anh giỏi hơn tôi nhưng đã giỏi đến đâu mà dám chê tôi.
Rồi ông tiếp tục mắng mỏ lối viết báo tiếng Tây của Nguyễn Ái Quốc –Trường, Truyền, Ninh : “Tôi coi lối ấy phí công mà thôi. Bởi vì, quốc dân đồng bào mấy ai biết chữ Tây, chữ Quốc ngữ, cầm tờ báo mà đọc nổi”.
Và ông kiên quyết trở về chủ trương của mình :

“Theo ý tôi thì mình mà học hỏi lý thuyết hay, phương pháp tốt, tóm thâu được chủ nghĩa, có chí mưu cầu lợi quyền cho quốc dân, đồng bào thì đừng có dùng cái lối nương náu ngoại bang để rung chuông gõ trống, mà phải trở về ẩn náu trong thôn dã, hô hào quốc dân đồng bào, đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền áp chế, ắt là thành công. Anh không nghe lời tôi nói, anh ở hoài bên này, cứ cái lối đó thì tài năng của anh khác gì công dã tràng”.

Để nhắn riêng Nguyễn Tất Thành, ông nhấn mạnh thêm những điểm sau đây : “Tôi biết anh hấp thụ được cái chủ nghĩa của ông Mã Khắc Tư, ông Lý Ninh[4] nên tôi cũng đem chuyện hai ông ấy mà giảng dẫn cho anh rõ. Rồi ông kể lại việc cả Karl Marx lẫn Lénine đều có một thời bị đuổi ra nước ngoài, nhưng sau đó họ đều tìm cách trở về nước để tranh đấu và ông kết luận : “Cứ xem hai ông Mã, Lý mà anh tôn thờ chủ nghĩa, có ông nào dùng cái lối nương náu đất người mà làm quốc sự cho mình, như anh đâu ? Bởi vậy, quả như anh tôn thờ lý thuyết hai ông ấy thì anh nghe tôi mà về quảng cáo cho quốc dân đồng bào.

Ông nói về những hình phạt dành cho đường lối bạo động : “Ông Đề Thám bị bêu đầu giữa chợ, Ông Phan Đình Phùng bị đào mả ném xuống sông, ông Hàm Nghi, Duy Tân, Thủ Khoa Huân bị đầy biệt xứ và nhiều không kể xiết sự đầu rơi máu chảy”. Cuối cùng ông khuyên Tất Thành nên về nước để “mưu đồ đại sự”.

Lá thư ngỏ này, chắc Phan Châu Trinh đã đưa cho Nguyễn Văn Vĩnh một bản để dịch sang tiếng Pháp vì chúng tôi thấy bản tiếng Pháp và bản dịch ra quốc ngữ, từ bản tiếng Pháp trong tập tài liệu “Kỷ niệm 115 ngày sinh ông Nguyễn Văn Vĩnh”, do gia đình in năm 1997.
Bản dịch mà chúng tôi trích dẫn trên đây là bản Hoàng Xuân Hãn, dịch từ bản Thu Trang tìm thấy trong hồ sơ mật thám, và theo Hoàng Xuân Hãn thì đây cũng chỉ là một bản chép lại. Lá thư này rất quan trọng, vì nó xác định những điểm khác biệt tư tưởng trong nhóm Ngũ Long do chính ngòi bút Phan Châu Trinh viết ra :
1/ Phan Châu Trinh không đồng ý với đường lối tranh đấu của nhóm Tây học: theo ông, viết các bài đả kích thực dân trên báo Pháp là vô ích. Tư tưởng Rousseau và Montesquieu không thể đến được với dân Việt Nam.
2/ Ông xác định một lần nữa phương pháp tranh đấu của ông: Khai Dân Trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân Sinh.
3/ Ông chống lại cách mạng bạo động và kêu gọi về nước tranh đấu bất bạo động.

Xin nhắc lại: Con đường đấu tranh chung của nhóm Yêu nước là đuổi Pháp, giành độc lập và dân chủ hóa đất nước, nhưng họ khác nhau ở tư tưởng và cách thực hiện mục đích :
Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền chủ trương dùng ngòi bút để đấu tranh trên đất Pháp và tiếp theo, trên đất Việt, vạch tội ác của chính quyền thực dân, đánh động người Pháp dân chủ, để họ bãi bỏ chế độ thuộc địa.
Phan Châu Trinh viết nhiều kiến nghị gởi Toàn quyền và Bộ trưởng Albert Sarraut, yêu cầu thay đổi chính sách cai trị.
Nguyễn Tất Thành chủ trương cách mạng bạo động theo con đường Cộng sản.

Phan Châu Trinh viết thư ngỏ gởi Nguyễn Ái Quốc, là một cách công khai nói lên sự khác biệt giữa ông và nhóm Tây học: Họ chủ trương vạch tội ác của thực dân trên báo, tìm sự hưởng ứng của người Pháp dân chủ, để nước Pháp bãi bỏ chế độ thực dân; nhưng Phan Châu Trinh lại cho rằng cách ấy vô ích. Ngược lại Phan Văn Trường cho rằng việc Phan Châu Trinh viết những thư yêu cầu Sarraut và chính quyền Pháp thay đổi chính sách là vô ích.
Sự khác biệt cơ bản đó được Nguyễn Văn Vĩnh đặt câu hỏi và trả lời :

‘Ông Trường có phải là một nhà yêu nước cùng loại với ông Phan Chu Trinh, hoặc là một người Cộng sản cùng loại như ông Nguyễn Ái Quốc hay không ?’
Tôi biết rằng ông rất gắn bó với hai người, ông luôn ở cùng hai người ở Paris nhưng không bao giờ tán thành lý thuyết của hai người và cũng không bao giờ tỏ ra có một chút đồng tình nào với cả hai người”[5].”

Phan Châu Trinh công bố lá thư ngỏ gởi Nguyễn Ái Quốc, tháng 2/1922.
Nguyễn An Ninh về nước đầu tiên: tháng 10/1922.
Rồi Ninh lần lượt sang Pháp đón các vị đàn anh trở về: Tháng 12/1923, Phan Văn Trường về nước. Tháng 6/1925, Phan Châu Trinh về nước và tháng 12/1927, Nguyễn Thế Truyền về nước. Ngoài ra, ông Khánh Ký cũng đã về nước từ tháng 7/1921.
Vậy chương trình “Ngũ Long tề khởi” mà Phan Châu Trinh đề xướng, trong một khía cạnh nào đó, đã được nhóm Tây học thực hiện. Dĩ nhiên họ không làm theo cách của Tây Hồ mà làm theo cách của họ: Đem tư tưởng tự do dân chủ của Pháp về truyền bá tại Việt Nam và chống thực dân bằng báo tiếng Pháp trên đất Việt. Nguyễn An Ninh là người “theo sát” nguyện ước về nước tranh đấu trong lòng dân tộc của Phan Châu Trinh. Nguyễn Thế Truyền khi bỏ báo “Le Paria” để làm báo “Việt Nam Hồn”, tiếng Việt, có thể đã nghe lời Tây Hồ.
Sự kiện này được Hồ Hữu Tường ghi lại trong hồi ký theo lối “Tam Quốc Chí” như sau :

“Theo lời cụ Phan Văn Trường thuật lại, thì năm 1922, khi Nguyễn An Ninh sắp sửa về nhà mà sáng lập tờ báo “La Cloche fêlée”, thì cụ Phan Châu Trinh có đưa ra một phân công, gọi là “ngũ long tề khởi”. Tại quê nhà, bầu không khí thực dân và phong kiến còn quá nặng, Ninh lãnh sứ mạng đem tư tưởng dân quyền của Pháp ra mà “dĩ di diệt di”. Nên chi báo của Ninh nêu lên đường lối là Cơ quan Tuyên truyền cho tư tưởng Pháp (Organe de propagande des idées françaises) (…) Còn hai cụ Phan thì chờ Ninh xung phong, dọn dẹp chông gai bên nhà, hai cụ sẽ về góp sức mà tiến lên gây một phong trào dân chủ. Nhưng mà theo kế hoạch nầy, phân ra thì có, mà tụ lại thì chưa. Năm 1925, quả Ninh có rước hai cụ Phan về xứ. Nhưng sang năm 1926, cụ Tây Hồ lìa trần, Ninh lo tổ chức quần chúng, giao cho cụ Trường đứng mũi chịu sào tờ “L’Annam”. Rồi Ninh vào tù, cụ Trường ba chìm bảy nổi, bị án tù, sang Paris chịu vào khám. Còn Tất Thành mang tên chung là Nguyễn Ái Quốc, theo Cộng sản luôn, một đi không trở lại.
Nguyễn Thế Truyền vào đảng Cộng sản Pháp, mượn phương tiện mà thành lập Việt Nam Hồn, sau đổi lại là Hồn Việt Nam, rồi Phục Quốc…”[6]

Sự đổ vỡ có lẽ đã bắt đầu từ khi Phan Châu Trinh xuống Marseille, đầu năm 1922: Nhân Hội chợ Đấu xảo Marseille, Phan Châu Trinh nhờ Babut xin Pierre Guesde cho ông xuống Marseille làm việc. Guesde bằng lòng. Nhưng Outrey phản đối dữ dội. Guesde viết thư trả lời trình bày lý do, như sau :

“Tôi nghĩ việc nhận cho y làm việc sẽ có lợi về chính trị nên đã đưa tên An Nam này vào làm ở Ban Tổng Quản lý Triển lãm và cũng xin nói thêm là ở đó y đã làm việc rất tốt.
Như vậy, tôi đã tranh thủ được cơ hội đương sự yêu cầu để kéo về phía chúng ta một tên An Nam thông minh và kiên trì, tuy có đôi chút ấm ức vì những đắng cay của một cuộc sống đầy xáo trộn, nhưng tư tưởng tình cảm không hề có gì đáng ngại cho sự cai trị của chúng ta. Đến nay tôi vẫn tin chắc đây là một biện pháp tốt, dung hòa được cả hai mặt nhân đạo và chính trị”[7].

Theo các tài liệu sau đó[8] ông Phan xuống Marseille chỉ có mục đích đợi gặp Bộ trưởng Thuộc địa Albert Sarraut để xin một số yêu cầu –chắc là xin vào quốc tịch Pháp và xin về Việt Nam, vì vậy ông không làm việc tích cực và đã bị “xếp” khiển trách thô bạo nên ông bỏ việc. Dù sự tình xảy ra như thế nào, thì lá thư của Guesde, một lần nữa cho thấy bộ mặt thực của chính quyền thuộc địa, cả những người giúp đỡ Phan như Roux, Babut, cũng nằm trong cái guồng máy ấy. Sự ngây thơ về chính trị của Phan Châu Trinh dĩ nhiên bị Phan Văn Trường “lên lớp” và hai người giận nhau. Các thư ông Trinh “mắng lại” ông Trường, ông Truyền tỏ rõ điều ấy.

B- Phan Châu Trinh gặp Nguyễn Văn Vĩnh
và Phạm Quỳnh tại Pháp năm 1922
:

Phan Châu Trinh xuống Marseille để đợi gặp Sarraut[9] và có lẽ cũng để tiếp xúc với những người Việt sang Pháp dự đấu xảo. Quan trọng nhất là những buổi gặp gỡ giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh.
Trong chuyến đi Pháp 1922, Phạm Quỳnh gặp nhóm Yêu nước ít nhất năm lần. Và luôn luôn bị mật thám theo dõi :
1/ Ngày 11/4/1922: Gặp Phan Châu Trinh, Phạm Quỳnh ghi lại như sau :

“Hôm nay gặp cụ Phan Tây Hồ, là một nhà chí sĩ nước ta, nay biệt xứ bên quý quốc. Hồi cụ khởi nghiệp, tôi còn nhỏ tuổi, nên chỉ biết tiếng mà không được biết người. Nay sang đến đây mới được gặp cụ, trong lòng ngổn ngang nhiều nỗi, không sao nói xiết. Cùng nhau đàm luận trong mấy giờ. Viêc cụ làm chánh đáng hay không chánh đáng, tôi đây không muốn phẩm bình, nhưng xét cái thân thế cụ, dẫu ai có chút lương tâm cũng phải ngậm ngùi. Ừ, làm người ai chẳng muốn vợ đẹp, con nhiều, cửa cao, nhà rộng, bạc đầy tủ, thóc đầy kho; thế mà có người không muốn như thế, thời con người ấy, dẫu hay dở thế nào, tưởng làm kẻ quốc dân cũng không nên a dua nhẹ miệng mà gia tiếng thị phi vậy”[10].

2/ Theo mật báo của an ninh Marseille ngày 11/5/1922, có cuộc gặp gỡ giữa ba người :

“Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh. Trong cuộc họp này, Phan Châu Trinh ngỏ ý muốn lật đổ Nam triều, lập Quốc hội An Nam với các Dân biểu để cai trị cùng với chính phủ Pháp. Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh khuyên không nên, vì người trí thức và người dân vẫn còn gắn bó với nền quân chủ. Vả lại vua nước Nam không giống như vua Louis XIV hay XVI của Pháp đã áp bức làm khổ dân; và người dân An Nam cũng chưa đủ trình độ để sử dụng quyền Quốc hội. Phải chờ. Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh nói sẽ suy nghĩ xem có thể đóng góp gì cho chương trình hành động của Phan Châu Trinh”[11].

3/ Ngày 27/6/1922, các ông Lê Thanh Cảnh và Trần Đức mời Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Cao Văn Sến dùng cơm ở một khách sạn khu Montparnasse, Paris. Đã có cuộc tranh luận gắt gao giữa Nguyễn Ái Quốc và Phan Châu Trinh –sẽ nói rõ thêm ở dưới.
4/ Ngày 13/7/1922, Phạm Quỳnh ghi trong sổ tay : “Juillet/13/Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 rue des Gobelins)”[12].
5/ Ngày 16/7/1922, Phạm Quỳnh ghi : “Dimanche 16/7: ở nhà, Trường, Ái Quốc và Chuyền (Truyền) đến chơi”[13].

Như vậy, khi Phạm Quỳnh Nguyễn Văn Vĩnh đến Marseille và Paris, họ đã gặp nhóm Yêu nước năm lần, nhưng ông Trinh và ông Trường không gặp nhau.
Trong năm lần họp mặt, chỉ có buổi ở Montparnasse Paris được Lê Thanh Cảnh ghi lại trong tập “Ký ức về Trường quốc Học”[14] và được gia đình Nguyễn Văn Vĩnh lữu trữ. Rất tiếc người biên tập đã không ghi rõ nguồn của bài viết, năm, tháng… Tuy nhiên, nếu dựa vào mấy chữ “câu chuyện năm mươi năm trước” mà Lê Thanh Cảnh ghi trong “Lời người viết”, thì có thể đoán bài này viết khoảng 1970–1975 ở trong Nam, vì tác giả dùng hai chữ “anh Quốc” rất tự nhiên.
Dưới tựa đề “Thử đi tìm một lập trường tranh đấu cho dân tộc Việt nam”, trước hết ông Lê Thanh Cảnh thuật lại bối cảnh cuộc họp mặt :

“Nhân dịp phái đoàn Nam triều đi dự cuộc triển lãm do Pháp quốc Sử địa tổ chức tại Ba Lê. Ô. Trần Đức nói khẽ vào tai tôi, bảo hai anh em chúng mình mời bốn cụ Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Ngọc Thiện, Cao Văn Sến đến chiều hôm ấy dùng cơm tại khách sạn Montparnasse. Chúng tôi nhân mời thêm cụ Phan Tây Hồ, anh Quốc, vợ chồng Trần Hữu Thường và ông Hồ Đắc Ứng”.

Đáng chú ý nhất là đoạn tác giả ghi lại cuộc tranh luận giữa năm nhân vật: Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Cao Văn Sến, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh. Chúng tôi trích lại những đoạn chính, lướt qua ý kiến Phan Châu Trinh vì cũng giống như những điều ông đã viết trong thư gởi Nguyễn Ái Quốc ở trên mà chú trọng vào ý kiến những người khác :
“…
Cụ Tây Hồ bắt đầu nói: “Tôi đã gặp Nguyễn Ái Quốc từ 10 năm trước đây mà tôi thấy anh chủ trương cách mệnh triệt để quá táo bạo nên tôi không thể theo anh được, và anh cũng không chấp nhận đường lối của tôi”. (…)
Anh Quốc tiếp lời: “Mấy hôm nay anh Cảnh qua đây có tiếp xúc nhiều với tôi và có nói cho tôi một câu ước mơ của cụ Trần (Cao) Vân: ‘Nếu cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân thành công thì sau này việc đầu tiên của chúng ta sẽ làm là viết chữ Việt Nam không phải chữ “Tuất” một bên, mà phải viết chữ Việt là Phủ Việt, “Rìu Búa”, mới kiện toàn được sự nghiệp cách mệnh. Sở dĩ tôi chủ trương cách mệnh triệt để là xưa nay muốn giành độc lập cho tổ quốc và dân tộc thì không thể nào ngã tay xin ai được mà phải dùng sức mạnh như cụ Trần Cao Vân đã nói là phải dùng BÚA RÌU”.
Ô. Nguyễn Văn Vĩnh cướp lời ngay, đã bênh vực chủ trương của mình và cũng để giác ngộ anh Quốc: “Tôi đã từng đứng trong hàng ngũ Đông Kinh Nghĩa Thục cùng các bậc tiền bối và rất đau đớn thấy hàng ngũ lần lượt tan rã và hầu hết phần tử ưu tú chiến sĩ quốc gia bị tiêu diệt: Hết phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, đến chiến khu Yên Thế của Đề Thám ở Bắc, rồi đến vụ xin thuế ở miền Trung… (…) Bao nhiêu chiến sĩ đều gục ngã hoặc còn vất vưởng sống ở Côn Đảo, Thái Nguyên, Lao Bảo hay Banmêthuột. Bạo động như anh Quốc nói là thậm nguy ! (…) Sở dĩ tôi theo lập trường TRỰC TRỊ (administration directe) là kinh nghiệm cho tôi thấy Nam Kỳ trực trị tiến bộ quá xa hơn Trung Bắc. Mà Bắc Kỳ nhờ chế độ mập mờ, nửa Bảo Hộ nửa Trực Trị (không công khai) mà còn hơn Trung Kỳ quá xa. (…). Cứ trực trị cái đã rồi sau khi được khai hóa theo đà tiến bộ thì tức khắc dân chúng tự có sức mạnh mà trồi đầu lên. Nói Trực Trị, tôi chẳng khi nào chịu giao nước Nam cho Tây đâu. Quá khứ đường lối tranh đấu của tôi, cuộc đời thiếu thốn của tôi đã hùng hồn bảo đảm cho lời nói của tôi hôm nay”.
Ô. Phạm Quỳnh tiếp: “Có lẽ ngay trong tiệc này tôi đã thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi hoài bão: “QUÂN CHỦ LẬP HIẾN”. Nói đến quân chủ thì phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin đồng bào trương mắt nhìn hai nước Anh và Nhật. Với nền Quân Chủ họ đã văn minh tột mức và dân chủ còn hơn các nền dân chủ cộng hòa khác nhiều lắm. (…) Vua chỉ là người đứng lên “thừa hành” bản hiến pháp mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định (…)”.

Sau lời Phạm Quỳnh biện hộ cho chế độ quân chủ lập hiến, đến lượt Cao Văn Sến biện hộ cho việc dùng văn minh Tây phương để tiến hành dân chủ và nhìn nhận rằng ở Nam Kỳ đồng bào tiến bộ hơn nên thực dân không dám ăn hiếp như ở Trung và Bắc. Lê Thanh Cảnh viết tiếp :
“…
Tôi khẩn khoản xin quý cụ là bậc tiền bối nên thảo luận ngay một kế hoạch hay hệ thống nào để làm việc cho có hiệu quả về sau. Anh Quốc nóng nẩy bảo ngay: “Thì xin chú nói ngay ý kiến của chú ra”. Tôi tiếp lời:
“Cũng như anh đã trả lời cho cụ Phan mấy hôm trước đây, tôi muốn nghe ngóng tất cả để sau này áp dụng một chủ nghĩa thực tiễn, lấy văn hóa Việt Nam làm gốc. Có thế mới hợp với tính tình dân tộc Việt Nam: Hành động gì bây giờ là thất bại ngay, mà cũng như cụ Phan Tây Hồ đã trịnh trọng cảnh cáo hai anh em chúng tôi mấy kỳ gặp gỡ trước đây, mà tôi rất bái phục: “Vô bạo động, bạo động tắc tử, vô vọng ngoại, vọng ngoại tắc ngu. Dư hữu nhất ngôn dĩ cáo ngộ đồng bào. Viết: Bất như ‘Học’ ”.”
Anh Quốc quát to tiếng: “Nầy cụ Tây Hồ, nếu Cụ qua làm Toàn quyền Đông Dương thay mặt thực dân cũng chỉ nói như thế thôi. Bó tay mà chịu lầm than sao ? Không được !”
Tôi sợ anh Quốc đi quá trớn, đứng lên thưa, ôn hoà: “Tôi xin anh suy nghĩ thêm về lời khuyên của Cụ Tây Hồ. Nếu chúng ta khôn khéo thì ‘bất chiến tự nhiên thành’.”
Anh Quốc lại quát lớn: “Lại thêm chú này nữa kìa !”
Tôi được dịp kịch liệt bác bỏ luận điệu anh Quốc và bênh vực chủ thuyết của cụ Tây Hồ.
…”
Lời lẽ trong cuộc tranh luận này được ông Cảnh ghi lại theo trí nhớ, có thể không đúng nguyên văn, nhưng phản ảnh được không khí buổi họp và xác định một số thông tin sau :
– Chủ trương trực trị của Nguyễn Văn Vĩnh dựa trên sự quan sát tình hình dân trí trong Nam cao hơn Bắc và Trung. Việc này được chứng minh qua tình hình báo chí mở rộng tại Nam Kỳ và những phong trào chống Pháp rất mạnh trên báo ở trong Nam do Nguyễn An Ninh, tiếp đến Phan Văn Trường, rồi nhóm Trốt-kít viết.
– Nguyễn Tất Thành phản đối Phan Châu Trinh bằng lời lẽ nặng nề, khác hẳn cung cách “chú cháu” ngày trước, nhưng lại không có phản ứng gì đối với quan điểm của Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Cao Văn Sến.
– Để bảo vệ quan niệm bạo lực cách mạng, Nguyễn Tất Thành đưa ra biểu tượng Búa Rìu, của đảng Cộng sản, nhưng lại giải thích bằng Hán tự và dùng ý nghĩa Búa Rìu của Trần Cao Vân.
Sau này Trần Huy Liệu cũng đề cao vai trò Trần Cao Vân nhưng bị Phan Khôi phản bác, Phan Khôi cho rằng Thái Phiên mới là người chủ chốt trong vụ vua Duy Tân, Trần Cao Vân chỉ là “nửa là nhà nho gàn, nửa là thầy bói kiêm thầy pháp”[15].
Những sự kiện này, mới xem qua, gần như không đáng lưu ý, nhưng sự thực nó có tầm quan trọng: Việc đề cao Trần Cao Vân là để nâng cao biểu tượng Búa Rìu của đảng Cộng sản, gắn liền Búa Rìu với hình ảnh cách mạng của vua Duy Tân. Có lẽ Phan Khôi đã thấy chủ đích ấy trái ngược với sự thật lịch sử nên ông phản bác lại bằng loạt bài trên báo “Sông Hương” năm 1936.
Hai buổi họp mặt ở Marseille và Paris năm 1922, chứng tỏ Phan Châu Trinh muốn chia sẻ quan điểm đấu tranh của mình và tìm sự hợp tác với Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh khi về nước. Sự phản bác kịch liệt Tây Hồ của Nguyễn Tất Thành ở Montparnasse, chứng tỏ có sự đoạn tuyệt giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Tất Thành, từ 1922. Trong đám Ngũ Long, Ninh và Truyền là người “rộng tình” với Phan Tây Hồ hơn cả, có thể trong thâm tâm Ninh cũng chê Phan cổ lỗ, quá đát: “trọn mười mấy năm ở Pháp cứ ôm bộ Ẩm Băng Lương Khải Siêu cho đến ngày về nước cũng còn đem theo tàu để lót đầu nằm”[16]. Nhưng Ninh vẫn một lòng quý mến ông Phan, sang Pháp đón Phan về nước và chăm sóc Phan đến khi Ninh bị bắt. Cả Nguyễn Thế Truyền dù bị Phan “xỉ vả” cũng vẫn tôn kính ông Phan. Năm 1925, Phan Châu Trinh về nước tìm người thừa kế. Một câu hỏi được đặt ra: Tại sao Tây Hồ không chọn Nguyễn An Ninh ? Bởi vì Nguyễn An Ninh Tây quá, sôi động quá. Phan Châu Trinh muốn một người nho học, điềm tĩnh, gần gụi với tư tưởng của ông hơn, và ông đã tìm thấy trong nhà nho Phan Khôi.

C- Đám tang Phan Châu Trinh
sự Xuất hiện của Phan Khôi
:

Phan Châu Trinh chủ trương “Ngũ Long tề khởi” từ 1922, nhưng đến tháng 6/1925 mới về được nước, và đến tháng 3/1926 ông mất. Lê Văn Thử viết: “Cụ Phan Châu Trinh về Sàigòn một lượt với Ninh, đương ở nhà Ninh tại Quán Tre, kẻ thăm, người viếng rần rần rộ rộ”[17].
Nguyễn An Ninh bị bắt đêm 20/3/1926, bốn hôm sau Phan Châu Trinh mất, 24/3/1926[18]. Phương Lan Bùi Thế Mỹ thuật lại :

“Chính Đặng Văn Ký, theo sự ủy thác của Ninh, lúc vào tù, lo săn sóc bịnh tình cụ Phan Châu Trinh. Khi cụ Phan bịnh nặng, Ký cùng với các bạn đem dời cụ Phan lên nhà cụ Nguyễn An Cư; chú ruột của Ninh trị bịnh rồi cụ Phan mất tại đấy. Đặng Văn Ký hợp với Huỳnh Đình Điển, Phan Khôi đem cụ Phan về khách sạn Bá Huê Lầu, đường Pellerin giờ là Pasteur do Huỳnh Đình Điển là chủ nhơn khách sạn, thành lập ủy ban làm quốc táng, Phan Khôi đảm nhận viết lời “Hiệu triệu Quốc dân”. Đặng Văn Ký nhóm Jeune Annam lo liên lạc tìm đất chôn”[19].
“Lễ quốc táng của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh được tổ chức châu đáo vĩ đại. Quàn xác gần một tuần, tại Bá Huê Lầu của Huỳnh Đình Điển, người chen chúc vô dâng hương nhà chí sĩ không biết bao nhiêu mà đếm. Nườm nượp ra vô cả ngày lẫn đêm. Ngày đưa đám thiên hạ trùng trùng điệp điệp từ bốn phương xa gần tụ họp tới. Sấp hàng từ đầu cầu Mống, cái cầu ở tận trên đường Thống Nhất. Câu đối, tràng hoa tiễn đưa vô số kể.”[20]

Sự thành công trong việc tổ chức đám tang vĩ đại của Phan Châu Trinh là do nhiều yếu tố hợp lại, chúng tôi sẽ bàn đến trong một dịp khác. Ở đây chỉ xin nhắc đến sự đóng góp của một người, ở hậu trường, đã nổi trội, có “công” hơn: Nhiều dấu hiệu cho thấy từ khi về nước, Phan Châu Trinh đã tìm Phan Khôi để gởi gấm “đại sự”. Về việc này, Nguyễn Q. Thắng viết :

“… năm 1925 khi về nước, Phan Châu Trinh đã cho vời Phan Khôi vào Sàigòn để viết một quyển sách về đời hoạt động và sách lược cứu nước của Tây Hồ. Phan Khôi đã viết xong bản thảo có tên “Phan Châu Trinh” nhưng bị Phủ Toàn quyền Đông Dương cấm in. Bản thảo đã thất lạc (theo “mật báo về tác phẩm ‘Phan Châu Trinh’ của Phan Khôi” của sở mật thám Nam Kỳ, gởi thống đốc Nam Kỳ ký ngày 1/6/1926). Sách “Phan Châu Trinh” dày 94 trang đánh máy, do nhà in Xưa Nay của Nguyễn Háo Vĩnh xuất bản nhưng không phát hành được”[21].

Vậy Phan Khôi là ai ?
Năm 1925, Phan Khôi chưa phải là một tên tuổi nổi trội trong giới báo chí tranh đấu như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường. Nhưng Phan Khôi đã bắt đầu sự nghiệp làm báo với hai nhà báo lừng danh Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh, những người đã gặp Phan Châu Trinh và nhóm Yêu nước năm 1922 ở Pháp. Phan Khôi được Phan Châu Trinh giao cho việc viết lại lịch sử đời mình.
Từ trọng trách ấy, Phan Khôi đảm nhiệm viết lời “Hiệu triệu Quốc dân” dự đám tang Phan Châu Trinh.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]
[16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29]

===========================================

Phụ Chú :
[1] Phạm Quỳnh, “Hành trình nhật ký”, Ý Việt, Paris, 1997, trang 208.
[2] Montesquieu và Rousseau.
[3] Thư Phan Châu Trinh viết chữ Hán, chúng tôi trích bản dịch của Hoàng Xuân Hãn, in trong cuốn “Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911–1925” của Thu Trang, Đông Nam Á 1983 trang 135–140.

[4] Karl Marx và Lénine.
[5] Nguyễn Văn Vĩnh, “Trạng sư Phan Văn Trường từ trần”, “L’Annam Nouveau” số 231 ngày 24/4/1933.

[6] Hồ Hữu Tường, “41 năm làm báo”, Đông Nam Á, Paris, 1984, trang 24-25.
[7] Lê Thị Kinh, sđd, tập 2, quyển 1, trang 211- 214.
[8] Lê Thị Kinh, sđd, tập 2, quyển 1, trang 219-228.
[9] Nhưng không gặp được vì Sarraut chỉ đến Hội chợ có một buổi.
[10] Phạm Quỳnh, “Pháp du hành trình nhật ký”, “Nam Phong”, số 58 (4/1922) đến số 100 (10-11/1925), in lại trong “Hành trình nhật ký”, Ý Việt, Pháp, 1997, trg 252.

[11] Thu Trang, “Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911–1925”, Đông Nam Á 1983, trang 160.

[12] Phạm Tôn, “Người nặng lòng với nước”, tài liệu gia đình, Blog Phạm Tôn.
[13] Phạm Tôn, “Người nặng lòng với nước”, tài liệu gia đình, Blog Phạm Tôn.
[14] Đăng trong đặc san của Hội ái Hữu cựu Học sinh Quốc học, in lại trong tập tài liệu “Kỷ niệm 115 ngày sinh ông Nguyễn Văn Vĩnh”, do gia đình ấn hành năm 1997, tập III, trang 21.

[15] Phan Khôi, “Địa vị của Thái Phiên và Trần Cao Vân trong cuộc biến ở Huế năm 1916”, “Sông Hương”, số 7, 1936.

[16] Nguyễn An Ninh, “Vài lời nhắc nhở- Điếu văn khóc Phan Văn Trường”, Trung Lập 27/4/1933, in lại trong “Nguyễn An Ninh tác phẩm”, Văn Học, 2009, trg 1037.

[17] Lê Văn Thử, “Hội kín Nguyễn An Ninh”, trang 25.
[18] Xin nhắc lại: nhiều chỗ (kể cả cuốn “Nguyễn An Ninh” do gia đình in) ghi sai: Ngyễn An Ninh bị bắt hôm ông Phan mất. Thực ra Ninh bị bắt ngày 20/3/1926 vì tội tổ chức mít-tinh tại Xóm Lách, Vườn Xoài ngày 21/3/1926 (tổ chức chứ không tham dự, vì bị bắt từ hôm trước), ở nhà bà Đốc Phủ Tài, dì ruột Ninh, buổi mít-tinh đưa ra bản quyết nghị có ba ngàn người biểu quyết. Quyết nghị đòi Tám điểm, tương tự như Bản Thỉnh nguyện Thư của Phan Văn Trường 1919. Bốn ngày sau, 24/3/1926, Phan Châu Trinh mới mất.

[19] “Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh”, Phương Lan Bùi Thế Mỹ, trang 130.
[20] Phương Lan Bùi Thế Mỹ, trang 164.
[21] Nguyễn Q. Thắng, “Phong Trào Duy Tân, những khuôn mặt tiêu biểu”, Văn Hóa Thông Tin, 2006, trang 478.

23 thoughts on “Chương 20: Vì sao Phan Châu Trinh phó thác “Đại sự” cho Phan Khôi ?

  1. Pingback: Mục lục và Lời tựa cho “Nhân Văn Giai Phẩm” và vấn đề Nguyễn Ái Quốc |

  2. Pingback: Chương 29: Nói chuyện với họa sĩ Trần Duy (Hết) |

  3. Pingback: Chương 1: Tìm hiểu phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm” |

  4. Pingback: Chương 02: Lịch trình “Nhân Văn Giai Phẩm” |

  5. Pingback: Chương 03: “Giai phẩm Mùa xuân” |

  6. Pingback: Chương 4: Nguyên nhân Đưa đến cuộc Cách Mạng Mùa Thu của Tư Tưởng |

  7. Pingback: Chương 5: Nội bộ báo “Nhân Văn” |

  8. Pingback: Chương 06: Trí thức và dân chủ tại Việt Nam trong thế kỷ XX |

  9. Pingback: Chương 07: Biện pháp Thanh trừng |

  10. Pingback: Chương 08: Thụy An (1916–1987) |

  11. Pingback: Chương 09: Nguyễn Hữu Đang (1913–2007) |

  12. Pingback: Chương 10: Lê Đạt (1929–2008) |

  13. Pingback: Chương 11: Trần Dần (1926–1997) |

  14. Pingback: Chương 15: Cuộc cách mạng Hiện đại đầu Thế kỷ XX |

  15. Pingback: Chương 16: Nguyễn Tất Thành |

  16. Pingback: Chương 17: Hội Đồng bào Thân ái – Phong trào Ái quốc Đầu tiên tại Pháp |

  17. Pingback: Chương 18: Nguyễn Ái Quốc lai lịch và Văn bản |

  18. Pingback: Chương 19: Khảo sát Văn bản Nguyễn Ái Quốc |

  19. Pingback: Chương 22: Vụ án “Nam Phong” |

  20. Pingback: Chương 24: “Une Voix Dans la Nuit” – Cải cách Ruộng đất và Cải tạo Tư sản |

  21. Pingback: Chương 25: “Une Voix Dans la Nuit” – Vấn đề Trí thức và Độc tài Đảng trị |

  22. Pingback: Chương 26: Nói chuyện với Nhà cách mạng Nguyễn Hữu Đang |

  23. Pingback: Chương 28: Nói chuyện với nhà thơ Hoàng Cầm |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s