Chương 19: Khảo sát Văn bản Nguyễn Ái Quốc

Chương 19: Khảo sát Văn bản Nguyễn Ái Quốc

Sự khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quốc dẫn tới sự xác định vai trò lãnh đạo phong trào Người Việt yêu nước của Phan Văn Trường trong giai đoạn đầu (1911–1920) và của Nguyễn Thế Truyền trong giai đoạn sau (1921–1927). Đó là cơ sở đầu tiên của phong trào Yêu Nước chống thực dân trên đất Pháp.
Từ 1927, khi Nguyễn Thế Truyền về nước, phong trào Yêu Nước sẽ do nhóm Trốt-kít tiếp tục lãnh đạo với Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Phan Văn Hùm, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Thạch… Những nhà ái quốc này, tới năm 1945, sẽ bị Cộng sản thủ tiêu, trừ Hồ Hữu Tường sống sót vì trốn ở Hà Nội.
Nguyễn Tất Thành trở thành Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, từ 1948, chính thức nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, tác giả các bài báo và xác định phong trào Người Việt Yêu Nước do ông lãnh đạo, trong cuốn sách ký tên Trần Dân Tiên. Những người ái quốc đối lập chính trị với ông bị chôn vùi trong nấm mồ “phản động”.

Trong số rất ít nhà nghiên cứu tìm hiểu về giai đoạn lịch sử này có Thu Trang và Lê Thị Kinh đã tìm ra được những tài liệu hiếm quý, nhưng cả hai đều đặt trọng tâm trên Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh, coi ông Hồ là “lãnh tụ vĩ đại”. Nhờ các công trình nghiên cứu của Ngô Văn về lịch sử các nhà cách mạng Đệ Tứ và của Đặng Hữu Thụ về Nguyễn Thế Truyền, và cuốn hồi ký của Phan Văn Trường, mọi sự đã sáng tỏ hơn. Tuy nhiên hiện nay vẫn thiếu một công trình nghiên cứu sâu xa về Nguyễn An Ninh tại Pháp.
Một điểm cần phải xét lại là Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường thường được coi như những người mở đường phong trào yêu nước; nhưng vai trò lãnh đạo thường được dành cho Phan Châu Trinh. Phan Văn Trường ít ai biết, hoặc có biết, cũng chỉ coi như người “phiên dịch” tư tưởng Phan Châu Trinh ra tiếng Pháp, cả Hồ Hữu Tường cũng lầm như thế.
Sự thật khác hẳn: Trong thời kỳ tranh đấu ở Pháp, Phan Châu Trinh, tuy với một quá khứ can trường, tuy được dân tộc quý mến, nhưng ông đã bị vượt qua, không thể là người lãnh đạo phong trào. Lý do: Phan Châu Trinh không biết tiếng Pháp.
Khi đi Nhật, bị người Nhật hỏi: “Các ông chống Pháp mà có học tiếng Pháp hay không ?” Cả hai cụ Phan đều ngỡ ngàng. Khi về nước, Phan Châu Trinh có viết bài cổ động học tiếng Pháp, nhưng chính bản thân ông không áp dụng. Trong 15 năm ở Pháp, vì không chịu học tiếng Pháp, ông không tiếp nhận trực tiếp được thông tin của xã hội mà ông đang sống, luôn luôn phải qua trung gian của thông dịch, do đó có sự cách biệt sâu xa giữa ông và những người viết bài ký tên Nguyễn Ái Quốc.
Vì không đọc được những bài báo này, ông không biết họ viết gì, nên ông chống lại và cho rằng viết báo tiếng Tây cho Tây đọc là vô ích, từ đó, đưa đến những đổ vỡ về sau. Vì lệ thuộc vào những người phiên dịch cho nên Phan đã tin cẩn Nguyễn Như Chuyên; ngay cả Đại úy Roux, người tận tình giúp đỡ từ lúc ông mới đến Pháp, cũng chỉ là một con bài được Pháp chỉ định với nhiệm vụ làm cho Phan tin vào chính quyền thuộc địa.
Phan Văn Trường để lại cuốn hồi ký “Une histoire de conspirateurs annamites à Paris ou la vérité sur L’indochine” (“Câu chuyện những người An Nam âm mưu (chống Pháp) tại Paris hay Sự thật về Đông dương”)[1]. Nội dung tác phẩm vạch rõ âm mưu thâm độc của chính quyền thực dân, trong vụ án gọi là “âm mưu chống Pháp” gán cho Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh, và bộc lộ mối tương quan giữa hai người, cho thấy đường hướng tranh đấu của họ hoàn toàn khác nhau.
Phan Châu Trinh đả kích quan lại và triều đình Huế, còn đối với Pháp, ông viết nhiều bản điều trần gởi Albert Sarraut với hy vọng chính quyền thuộc địa sẽ thay đổi chính sách để giúp Việt Nam lấy lại chủ quyền.
Phan Văn Trường tuy kính trọng Phan Châu Trinh nhưng phê phán ông Trinh quá ngây thơ, cứ đến bộ thuộc địa “chầu chực” xin gặp Sarraut một cách vô ích.
Điều này không sai vì Phan Châu Trinh ngay từ đầu đã không nhận ra Nguyễn Như Chuyên là mật thám và những “sự tốt” của chính quyền đối với ông thực ra chỉ là sự quản thúc trá hình: Việc Quan ba Roux, được lựa chọn trong số những người Pháp thạo tiếng Việt, để đến làm bạn với Phan ngay từ lúc mới sang, ân cần giúp đỡ, dịch cho Phan những kiến nghị gởi Toàn quyền Albert Saraut cũng nằm trong chính sách ấy. Cả vụ Sarraut cho Phan ở thêm một năm, cũng là sự dàn xếp để Phan thấy rõ “lòng tốt” của Sarraut. Những điều này khá rõ trong hai bức thư Roux gởi cho Phan từ những ngày Phan mới đến Pháp :
1/ Bức thư đầu tiên Roux gởi Phan Châu Trinh ngày 26/5/1911 có những câu :

“Theo nhời quan Thượng thư Thuộc địa tôi xin viết mấy chữ nầy để mời quan lớn lại chơi nhà tôi phố Odessa, số bảy, gần “la ga Montparnasse” (…)
Khi quan lớn mấy tôi đã gặp nhau một lần nào như thế rồi thì chúng ta định mỗi một tuần lễ nào quan lớn mấy tôi hội nhau mấy lần, để quan lớn tỏ ra được các điều quan Thượng thư phải nghe rõ[2].

2/ Ngày 20/7/1911, trong bức thư thứ nhì, Roux gọi Phan là em :

“Quan toàn quyền đã xem cái thư ấy rồi, lại định rằng ưng cho các điều em tỏ ra trong cái thư ấy.
Nhưng có một điều em nên hiểu rõ là sau này: Quan Toàn quyền Sarraut thật là một người yêu mến dân Annam lắm. Ngài ấy chưa sang ở bên Đông Dương một lần nào mà đã lo liệu dân tình nước ấy lắm. Ở trong bụng thì định rằng: muốn giúp đỡ người Annam để được tấn tới và thịnh vượng.
Quan Toàn quyền định cho em ở bên Tây này một năm nữa, nhưng trước hết Tòa Toàn quyền nên lo liệu về việc ấy để xem cách nào nên dùng thuộc về phí tổn.
Dẫu hóa ra gì thì em nên tin cậy quan Toàn quyền; lại em cũng nên tin cậy anh vì anh mấy em bây giờ là như hai người bình đẳng, là như hai người bạn hữu thật[3].

Chính Roux đã đưa Phan đến trình diện Pierre Guesde, lúc đó chưa làm Tổng Thanh tra –nôm na là trùm an ninh thuộc địa– nhưng đã làm Chánh văn phòng Bộ Thuộc địa. Trong những trao đổi thư từ giữa Guesde, Salles và thuộc hạ[4], họ đã tính buộc hai cha con Phan phải đi Neufchatel-en-Bray gần Dieppe để phân tán lực lượng Hội Đồng bào Thân ái ngay từ tháng 4/1912. Nhưng Phan Châu Trinh từ chối, họ không dám ép quá, sợ Phan làm ầm lên, rách việc, nên mới thôi.
Roux có nhiệm vụ “nói tốt” và chứng minh “thực tâm” của Sarraut và chính quyền. Trong khi “thực tâm” Sarraut đối với Phan Văn Trường và Hội Đồng bào Thân ái ra sao, ta đã rõ. Ngay cả Ernest Babut, người đã làm báo với Phan ở Hà Nội, giúp đỡ và bênh vực Phan khi ông bị bắt năm 1908, cũng “làm việc” với chính quyền. Babut đã báo cáo với Guesde về Phan Văn Trường và “gợi ý” cho Phan Châu Trinh xin Guesde xuống Marseille làm việc ở Hội Chợ 1922, lãnh lương của Pháp, gây sự nghi ngờ giữa ông Trinh và các đồng chí.
Những “ân nhân” này, phải hiểu, trước hết họ là người Pháp, họ không thể phản bội nước Pháp của họ. Việc giúp Phan chỉ có mục đích làm cho Phan tin tưởng hơn nữa vào chính quyền thuộc địa, không “nổi lên” chống lại mà “cộng tác” và họ đã thành công.
Riêng luật sư dân biểu đối lập Marius Moutet là người của luật pháp, vì muốn làm sáng tỏ sự công minh của luật pháp nước ông và truy tố phương pháp ám lậu, nhầy nhụa của bọn thực dân, cho nên Moutet đã tận tình can thiệp cho Phan Châu Trinh, Khánh Ký, Phan Văn Trường và anh em, Phan Bội Châu, Nguyễn Thế Truyền và em… ra khỏi cảnh tù đầy, để họ được tự do bầy tỏ chính kiến của mình. Tuy nhiên khi Moutet lên làm Bộ trưởng, chính sách của ông đối với Việt Nam lại là một chuyện khác.

A- Phan Châu Trinh dưới mắt Phan Văn Trường:

Sự bất đồng ý kiến giữa Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh đã nhiều nơi đề cập, qua những bức thư Phan Châu Trinh viết cho Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, đã được công bố. Ở đây, chúng tôi chỉ nhắc đến ý kiến của Phan Văn Trường trong cuốn hồi ký “Une histoire de conspirateurs annamites à Paris” (“Chuyện những người An Nam âm mưu tại Paris”)[5].
Sử gia Ngô Văn cho biết: “Ở thời điểm xuất hiện trên báo ‘Chuông Rè’, tác phẩm gây chấn động trong lòng người dân nô lệ như một luồng điện giật”[6]. Nội dung tác phẩm trình bày hành trình tư tưởng và con đường tranh đấu của Phan Văn Trường, kêu gọi người dân nô lệ phải đứng lên làm người. Đừng sợ kẻ khác. Dù phải trả giá thế nào đi chăng nữa. Phan Văn Trường thuật lại vụ án mà ông và Phan Châu Trinh bị thực dân dàn dựng để ghép hai người vào tội âm mưu lật đổ chính quyền Pháp.
Phan Văn Trường đã dành nhiều trang hồi ký cho Phan Châu Trinh, người bạn đồng hành của mình. Ông viết theo lối Tây học, có gì nói thẳng, cả cái hay lẫn cái dở của bạn. Một nhận xét: Phan Văn Trường không hề nhắc đến tên Nguyễn Tất Thành, mặc dù Tất Thành ở nhà ông trong 2 năm, từ tháng 6/1919 đến tháng 7/1921.
Sự ngây thơ của Phan Châu Trinh, được phân tích khá cặn kẽ, trong chương X. Phan Văn Trường mô tả Phan Châu Trinh là người thông minh thiên bẩm, uyên bác và có kinh nghiệm sống, nói chuyện hay, nhưng dường như những ưu điểm trên đây bị sự khinh suất khó mường tượng và sự ngây thơ lạ lùng phá vỡ. Những lời lẽ hạ mình đối với chính quyền thực dân trong “Đầu Pháp chính phủ thư”, thực vô ích. Phan Châu Trinh đến Pháp với con trai là Phan Châu Dật, 12 tuổi, để lại vợ và 2 con gái ở nhà. Chính phủ Pháp trợ cấp mỗi tháng 420 francs. Hai cha con ở một nhà trọ, có vài công chức cao cấp của chính quyền thuộc địa thỉnh thoảng đến thăm. Ông được đồng bào nhiệt liệt hưởng ứng, người Việt ở Paris đến chơi, nghe ông nói chuyện để thoả lòng nhớ nước.
Phan Văn Trường viết :

“Vị nhân sĩ này tượng trưng xã hội An Nam xưa. Ông ra vào văn phòng của Bộ Thuộc địa như một nhân vật được ưu ái tín nhiệm (personna grata), ông trình bày những quan điểm chính trị, đặc biệt yêu cầu ân xá cho những người bạn cùng cảnh ngộ còn ở trong tù, nhưng không bao giờ ông nhận được trả lời ngoài sự im lặng khinh bỉ. Sự chăm sóc hời hợt của chính quyền thuộc địa lúc đầu, lạnh dần để cuối cùng chuyển sang ác cảm và thù nghịch[7].

Vẫn theo Phan Văn Trường,
“…
Sự chăm sóc hời hợt này chỉ là cái cớ để dễ bề trừng phạt khi Phan Châu Trinh dám bàn (phiếm) đến chính sách chính trị ở Đông Dương, và nhất là đã cùng Phan Văn Trường, làm một bản Thỉnh nguyện gởi Hội Nhân quyền, nhờ can thiệp cho những người bạn còn bị tù Côn đảo vì biến cố 1908. Thế là một loạt báo Pháp ở Đông Dương (được lệnh) phát triển phong trào bôi nhọ, viết bài ngụ ý tiếc rằng chính quyền Đông Dương đã không để xử tử (Trinh) cho rồi, và quy kết hai người (Trinh và Trường) vào tội tổ chức cuộc nổi dậy chống Pháp tại Đông Dương.
Sau vụ Thỉnh nguyện Thư gởi Hội Nhân quyền, Phan Châu Trinh vẫn còn được trợ cấp, ông sống rất chật vật, phải gởi con vào nội trú tỉnh nhỏ (Melun) và ông ở khách sạn, ăn cơm rẻ tiền. Mặc dù ở trong tình trạng khốn đốn, Phan Châu Trinh là người bền chí, ông vẫn còn tin vào chính quyền thực dân, ông đến Bộ Thuộc địa thường xuyên, tìm gặp những công chức cao cấp phụ trách vần đề Đông Dương để bày tỏ lòng trung thực của mình.
Nhưng sau những hớ hênh của ông –Phan Văn Trường muốn nói đến việc Phan Châu Trinh tin cậy mật thám Nguyễn Như Chuyên, coi như môn sinh– ông và tôi bị bắt, bị giam 11 tháng. Tháng 7/1915, ra tù, đang trong chiến tranh, chính quyền thuộc địa cúp hết trợ cấp, hy vọng không biết tiếng Pháp, không có nghề, bắt buộc ông phải về xứ. Nhưng Phan Châu Trinh không về, ông ở lại, học nghề ảnh và sống ung dung.
Sau những bài học đắng cay như thế, tưởng Phan Châu Trinh sẽ hết lạc quan, nhưng không, ông vẫn tiếp tục thái độ triết nhân của mình, coi như không có chuyện gì xảy ra, vẫn đến Bộ thuộc địa, tìm gặp những kẻ đã đày đọa mình, và xin hội kiến Albert Sarraut hết lần này đến lần khác.
…”
Phan Văn Trường viết :

“Tạm nói mà không hề có ý miệt thị rằng, người này —vẫn bám vào chính quyền thuộc địa, bị đuổi cửa trước thì luồn vào cửa sau— người mà chính quyền thuộc địa hai lần buộc tội âm mưu chống Pháp !
Phan Châu Trinh là một người thông minh, một người tử tế, một người bạn tốt; nhưng những đức tính này không đủ để làm nên một người cách mạng[8].

Lời phê phán quả là nặng, nhưng nếu so với lời Phan Châu Trinh phê phán Phan Bội Châu trong bài “Nước Việt Nam mới sau khi liên hiệp với Pháp”, thì lời Phan Văn Trường cũng chưa nặng bằng.
Hồi ký Phan Văn Trường viết năm 1923, lúc tình bạn hai ông đã rạn nứt vì bất đồng chính kiến, nhất là sau vụ Phan Châu Trinh xin Guesde giới thiệu xuống Marseille làm việc ở Hội chợ, và những lá thư đả kích nhau, nhưng ông Trường vẫn bênh vực ông Trinh bị Pháp kết án oan vì không hiểu rõ chủ trương Pháp-Việt đề huề của ông Trinh, đồng thời nói lên sự khác biệt trong con đường tranh đấu của hai người và đó cũng là sự khác biệt sâu xa giữa hai phái Nho học và Tây học.
Tinh thần Tây học này, được xác định một lần nữa trong nhận định của Hoàng Xuân Hãn. Về “Đầu Pháp chính phủ thư” của Phan Châu Trinh, Hoàng Xuân Hãn viết :

“Lời lẽ trong thư kịch liệt, có thể kích thích sĩ khí, nhưng lại vô tình hay hữu ý ngoa ngoắt bôi nhọ quốc dân và quan lại, dường như để nhử chính quyền tin mình mà nhận lời mình. Kết quả là không những ý mình không toại, mà thực dân đã dùng quan lại để trừ khử ông: ông bị kết án tử hình; rồi may nhờ Hội Nhân quyền Pháp can thiệp, chỉ bị đầy ra Côn Đảo. Giả sử thực dân bấy giờ khôn ngoan hơn, biết thấy lợi xa mà nghe lời ông, thì lập trường của ông trong giai đoạn nầy có lẽ sẽ có lợi cho dân ta trong quá trình tìm giải phóng. Trái lại, sự thất bại của ông đã làm cho người ngày nay, khi đọc lại thư ông, chỉ có cảm tưởng ông ngây thơ về chính trị và cảm thấy tức tối khi ông mạt sát quá đáng đồng bào, mà tâng bốc vượt mức thực dân. Tuy vậy, ta không thể không nhận rằng ông có óc hiện thực, biết quan sát, phân tích và có thái độ can đảm và thẳng thắn”[9].

Hoàng Xuân Hãn cũng như tất cả mọi người lúc đó chưa biết rõ sự thâm độc của thực dân. Mặc dù Phan công kích các quan thậm tệ, nhưng khi ông bị bắt năm 1908, chính triều đình đã bênh vực ông khỏi án tử hình: Lê Thị Kinh tìm được các công văn chứng minh các quan trong Phủ Phụ chính thời vua Duy Tân, đặc biệt Cao Xuân Dục và Lê Trinh đã tìm mọi cách chống lại quyết định của Khâm sứ Lévecque và Toàn quyền lâm thời Bonhoure, muốn xử tử hình Phan Châu Trinh[10].

B- Con đường Tư tưởng của nhóm Tây học:

Nhờ sự khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quốc, ta có thể xác định Phan Văn Trường mới thực sự là thủ lãnh phong trào Việt kiều yêu nước, chính ông đã xây dựng nền móng, rồi cùng Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh hình thành đường lối chính trị và tư tưởng chống Pháp :
Bằng ngòi bút, đả kích trực tiếp thực dân bằng cách trình bày những tội ác của thực dân trên báo chí Pháp. Đối lập nước Pháp cộng hoà với nước Pháp thực dân: Nói rõ tội trạng của bọn thực dân để người Pháp phải xấu hổ mà bác bỏ chính sách dã man đó đi.
Liên kết với các nhà văn và nhà chính trị phái tả, các báo “L’Humanit锓Le Populaire” của Đảng Xã hội; “La vie ouvrière”, “La revue communiste”“Le Paria” của Đảng Cộng sản, “Le libertaire” của nhóm Anarchiste…

(Báo “L’Humanité” của Đảng Xã hội Pháp với ấn bản vào tháng 11/1911)

(Báo “Le Populaire” cũng của Đảng Xã hội Pháp với ấn bản vào tháng 5/1936)

(Báo “La vie ouvrière” của Đảng Cộng sản trong ấn bản tháng 7/1944)

(Báo “Le Paria” của Đảng Cộng sản ra đời từ ngày 1/4/1922)

Từ 1922 trở đi, nhóm Yêu Nước của Nguyễn Thế Truyền đã sử dụng Hội Liên hiệp Thuộc địa và báo “Le Paria” của Đảng Cộng sản làm bàn đạp để kết giao với các nhà hoạt động cách mạng trên các thuộc địa Châu Phi, Madagascar, tạo thành phong trào chống thuộc địa toàn cầu.
– Tác phẩm “Le procès de la colonisation française” (“Bản án chế độ thực dân Pháp”) là thành quả của sự hợp tác này. Và cũng từ cuối năm 1923, khi mọi người đã rời khỏi Paris, Nguyễn Thế Truyền đứng mũi chịu sào với sự giúp sức của chú ruột Nguyễn Thế Phu, em ruột Nguyễn Thế Song, người cùng làng Nguyễn Thế Thạch, và các đồng chí và môn đệ như Nguyễn Văn Luận, Tạ Thu Thâu… đã mở rộng cuộc đấu tranh, không những về phía Châu Phi, Madagascar, mà còn viết bài ký tên Nguyễn Ái Quốc trên báo “Inprekorr” của Nga, ấn bản tiếng Pháp. Ý niệm “toàn cầu hóa” cuộc tranh đấu chống thực dân là của Nguyễn Thế Truyền.

(Tác phẩm “Le procès de la colonisation française” (“Bản án chế độ thực
dân Pháp”) là thành quả của sự kết hợp của nhiều tư liệu, bài viết của
những tác giả trong những nước bị áp bức mà Nguyễn Thế Truyền đã thu
thập được. Hoàn toàn không phải là sản phẩm của Hồ Chí Minh)

Phan Châu Trinh vì không tiếp cận trực tiếp với tiếng Pháp, nên ông không thể hiểu được con đường chính trị này. Vì vậy, ông không tha thiết, mà còn chống lại việc viết báo tiếng Pháp cho người Pháp đọc. Những đề tài viết về một người boxeur da đen như Siki của Nguyễn Thế Truyền có thể là vô bổ đối với Phan Châu Trinh, nhưng đối với cuộc tranh đấu toàn diện, đó là một cái nhìn thấu suốt tình hình thế giới.
Ngoài niềm tự hào dân tộc mãnh liệt, những cây bút ký tên Nguyễn Ái Quốc luôn luôn đề cao tư tưởng phương Đông: Phan Văn Trường nghiêng về văn minh Trung Hoa, Nguyễn An Ninh nghiêng về văn minh Ấn Độ, và Nguyễn Thế Truyền nghiêng về lịch sử và văn hóa dân tộc. Đó là điểm khác biệt giữa ba người.
Trí thức ở Pháp có truyền thống theo cánh tả. Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền muốn tranh đấu, phải dựa vào trí thức cánh tả, trong các Đảng Xã hội, Đảng Cộng sản, nhóm Anarchiste… nhờ họ làm hậu thuẫn để chống lại chính sách thực dân.
Tuy vậy, Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh không vào đảng nào, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành vào Đảng Xã hội, rồi Đảng Cộng sản. Nhưng nên hiểu Cộng sản 1920 khác với Cộng sản Staline. Bản Tuyên ngôn Cộng sản của Marx–Engels mà Phan Văn Trường in trên báo “La cloche fêlée”, được Ngô Văn giải thích như sau : “Bản tuyên ngôn của Marx–Engels trong thời điểm 1920 rất được phổ biến, in thành sách nhỏ rẻ tiền tại Pháp, nó không chứa đựng điều gì có thể gây sốc, mà chỉ có thể làm cho thanh niên suy nghĩ[11].

C- Phan Văn Trường:

Bằng văn bản và diễn thuyết, Phan Văn Trường đả kích trực tiếp những nhân vật chủ chốt của chính sách thuộc địa như Bộ trưởng, Toàn quyền, và toàn bộ hệ thống cai trị thuộc địa. Ông trở lại chính sách thuộc địa Âu Châu thời La Mã, so sánh với chính sách thuộc địa Á Châu của Trung Hoa. Ông tỏ phong thái kiêu hãnh về nền văn minh Đông Phương lâu đời đối diện với một nền văn minh Tây Phương non trẻ. Phan Văn Trường phân biệt rõ dân tộc Pháp mà ông quý mến và kéo làm đồng minh để chống lại bọn dã man giết người trong chính quyền thực dân. Ông đánh vào lòng tự hào của dân tộc Pháp để họ phải bãi bỏ chính sách thuộc địa dã man không xứng đáng với lịch sử của họ.
Phan Văn Trường đối với chính quyền thực dân nguy hiểm hơn Phan Châu Trinh, bởi ông là người thận trọng, có thế lực, được trí thức Pháp biết tiếng. Ông có quốc tịch Pháp và là Luật sư, ông hành động công khai theo đúng luật pháp. Khi bắt bẻ các Bộ trưởng, hoặc Toàn quyền, ông sử dụng các điều luật trong ngành tư pháp để gọi tội của từng người.
Hồ Hữu Tường viết về Phan Văn Trường như sau :

“Tôi ở chung với cụ Phan Văn Trường được hơn tuần thì cụ về xứ [12]. Trong thời gian đó, ngày nào tôi cũng quấn quýt theo bên cụ, mà nghe cụ kể những mẩu chuyện thăng trầm của đời tranh đấu mình. Cụ rất vui tính, cười hề hề, dầu cho chuyện bi đát, cụ cũng tìm thấy vài nét ngộ nghĩnh để mà trào lộng. Cụ là một bực học giả uyên thâm, các sách hay của Đông phương lẫn Tây phương cụ đều đọc cả. Cụ nói: “Tôi đọc được nhiều là nhờ nghèo. Mùa lạnh ở nhà rét quá chịu không nổi, mà mình không đủ tiền mua than củi để sưởi. Đành vào thơ viện từ chín giờ sáng đến mười giờ tối. Gián đoạn bằng hai lượt đi ăn. Vào thơ viện, phải im phăng phắc, thì đọc sách là việc bắt buộc”.
Triết học, kinh tế học, xã hội học, tôn giáo… sách nào căn bản, cụ đều có nghiên cứu kỹ. Luận án thi Tiến sĩ Luật của cụ bàn về Chủ nghĩa Bôn-sê-vích ở Nga[13] đem áp dụng vừa được cuộc cách mạng. Nhưng mà trong thâm tâm, cụ chê tất cả các triết gia Tây phương, ngay cả Marx nữa: Bọn nó vì tự cao ám thị mà chẳng chịu ngó đến văn hóa Đông phương, thành chui rút vào tháp ngà, không có một cái nhìn thống quản. Riêng có anh chàng Schopenhauer khiêm tốn, đọc sách Phật, nên tác phẩm của y đọc dễ chịu hơn”[14].

Những điều Hồ Hữu Tường viết về Phan Văn Trường được thể hiện rõ ràng trên bản Thỉnh nguyện của dân tộc An Nam. Tháng 6/1919, bản Thỉnh nguyện của dân tộc An Nam đưa đến Versailles và gởi cho báo chí. Ngày 18/6/1919 “L’Humanité” đăng bản Thỉnh nguyện dưới tựa đề: “Les droits des peuples” (“Quyền của các dân tộc”).
Điện tín từ Phủ Toàn quyền ở Hà Nội gởi sang, cho biết bản Thỉnh nguyện cũng đã đến tay báo chí ở Việt Nam. Lập tức, cái tên Nguyễn Ái Quốc trở thành kẻ thù số một của chính quyền Pháp. Phủ Tổng thống gởi thông tư đến Bộ Thuộc địa ra lệnh điều tra ngay lý lịch Nguyễn Ái Quốc và vấn đề Nguyễn Ái Quốc được đưa ra tranh luận ở Quốc hội.

D- Thỉnh nguyện thư Tám điểm gởi
Hội nghị Hòa bình năm 1919
:

Hoàng Xuân Hãn cho rằng: Phan Châu Trinh viết phần Hán văn, Phan Văn Trường dịch ra Pháp văn, Nguyễn Tất Thành làm bài lục bát “Việt Nam Yêu cầu Ca”[15].
Nhưng qua văn bản, chúng tôi có thể xác định: Phan Văn Trường viết thẳng phần tiếng Pháp, Phan Châu Trinh dịch sang Hán văn. Nguyễn Tất Thành làm bài thơ lục bát. Bài thơ này, Thu Trang chụp được bản chép tay, và theo Lê Thị Kinh thì có người xác định đấy là nét chữ của ông Hồ. Sở dĩ chúng tôi xác định Phan Văn Trường viết vì những lý do :
– Phan Văn Trường trong buổi diễn thuyết ngày 13/3/1914 ở trường Cao đẳng Xã hội, đã dùng những chữ “Les revendications indigènes” (Thỉnh nguyện) của người bản xứ.
– Lời văn trong bản Thỉnh nguyện 1919 phù hợp với lối viết của Phan Văn Trường: kín đáo, kiêu kỳ, châm biếm. Trong khi văn Phan Châu Trinh dùng lối trực bút, không châm biếm, ít ẩn nghĩa. Tây Hồ khi viết về Pháp và Tây phương thường có giọng khiêm tốn trong khi Phan Văn Trường có niềm kiêu hãnh của người Phương đông.
Sự so sánh văn bản này dựa trên đoạn đầu và đoạn cuối của bản Thỉnh nguyện –tám điểm chỉ là những kê khai, có thể do sự bàn bạc của nhiều người– hai đoạn văn ngắn và cô đọng chứng tỏ văn tài của tác giả. Đọc Thỉnh nguyện của người An Nam trên “L’Humamité”, độc giả Pháp phải chú ý vì giá trị độc đáo của văn bản: lời lẽ nhũn nhặn mà kiêu kỳ, tự xưng nước mình là Đế quốc (L’Empire d’Annam), ngụ ý coi kẻ xâm lăng là tiểu quốc. Tác giả tìm cách thu phục lòng người Pháp dân chủ tiến bộ, kích động niềm tự hào dân tộc của họ, để họ thấy xấu hổ mà bãi bõ chế độ thuộc địa tàn ác, không xứng đáng với truyền thống dân chủ của họ. Cách vận động này, trong bức thư ngỏ gởi Nguyễn Ái Quốc 1922, Phan Châu Trinh gọi là “cái dụng lý thuyết thâu nhân tâm của Phan”, mà Tây Hồ phản bác.
Bút pháp Phan Văn Trường có lý lẽ của một Luật sư, có kiến thức của một học giả, có sự sử dụng chữ nghĩa của một văn tài. Văn bản đã được gởi về Việt Nam qua nhiều ngả. Nhờ vậy, mà người Việt lấy lại niềm tự hào dân tộc. Bản Thỉnh nguyện của dân tộc An Nam trở thành bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của người Việt.
Phủ Tống thống lo ngại và bọn thực dân bắt đầu lên tiếng phản bác trên báo chí. Phan Văn Trường bắt buộc phải trả lời. “L’Humanité” ngày 2/8/1919 đăng bài “La question des indigènes en Indochine” (“Vấn đề người bản xứ tại Đông Dương”) của Phan Văn Trường, ký tên Nguyễn Ái Quốc. Sau bài viết này, vấn đề Nguyễn Ái Quốc và nhóm Yêu nước được đem ra Hạ viện bàn cãi. Quả bom Phan Văn Trường đã ném trúng đích: lần đầu tiên một kẻ indigène (i.e. bản xứ) dám lên tiếng ngạo nghễ đòi tự do dân chủ tại Pháp.

E- Xác định hai Bài báo Ký tên Nguyễn Ái Quốc
do Phan Văn Trường viết
:

Dưới đây chúng tôi trình bày phương pháp xác định văn bản, bắt đầu bằng 2 văn bản ký tên Nguyễn Ái Quốc do Phan Văn Trường viết.
Tại sao có thể xác định bài “La question des indigènes en Indochine” là do Phan Văn Trường viết ?
Nhờ những chi tiết sau đây :
1/ Tác giả bài báo coi những yêu cầu trong bản Thỉnh nguyện Tám điểm năm 1919 là của chính mình. Ông thuật lại lập luận của đối phương cho rằng các yêu sách của mình, đã gây chấn động trong giới thực dân. Đây là hiện tượng sự thực toát ra từ vô thức của ngòi bút: chỉ Phan Văn Trường mới viết như vậy, những người khác không thể và không dám nhận bản Thỉnh nguyện là của mình vì không do họ viết ra.
2/ Tác giả nhắc đến bản Thỉnh nguyện 1912, đòi trả tự do cho các sĩ phu bị tù Côn đảo, đăng trong “Bulletin officiel de la Ligue des droits de l’homme” ngày 31/10/1912. Văn bản này do Phan Văn Trường viết dùm Phan Châu Trinh. Ngoài Phan Văn Trường, ba người kia không biết rõ việc này, vì năm 1912, Truyền, Ninh và Thành còn nhỏ.
3/ Tác giả biết đích xác việc một sĩ quan cao cấp trong quân đội được lệnh tịch thu bản Thỉnh nguyện 1919 trong tay lính thợ Việt Nam. Chỉ có Phan Văn Trường, cựu quân nhân, có đường dây trong quân đội mới dám cam đoan biết đích xác việc này.
Về bài “Phong trào Cộng sản Quốc tế Đông dương”[16] thường được trích dẫn trong các bài viết về tư tưởng Hồ Chí Minh, và được coi là “nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh”, cũng có những dấu ấn cho thấy là bài viết của Phan Văn Trường, căn cứ vào nội dung đề cao văn minh phương Đông một cách ngạo nghễ:
1/ 5.000 năm trước, Hoàng Đế đã áp dụng chính sách phân phối ruộng đất.
2/ 2.205 năm trước Công Nguyên, nhà Hạ đã đặt ra chế độ cưỡng bức lao động.
3/ 551 năm trước Công Nguyên: Khổng Tử đã khởi xướng thuyết Đại đồng và nguyên tắc: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Phan Văn Trường sẽ ghi câu này dưới tên báo “La Cloche fêlée”, từ số 52, thay thế câu “Organe de propagande démocratique” (“Cơ quan truyền bá dân chủ”) của Nguyễn An Ninh, để chứng minh rằng dân chủ phát xuất từ phương Đông.
Năm 1921, khi Phan Văn Trường viết bài báo này, Chủ nghĩa Cộng sản mới bắt đầu phát triển ở châu Âu, và được nhiều trí thức ngưỡng mộ, ông đưa ra ý kiến: nên phát triển Chủ nghĩa Cộng sản ở Á Châu –để đuổi thực dân– nhưng vẫn ngụ ý cao kỳ: những nguyên tắc mà Chủ nghĩa Cộng sản ở phương Tây của các anh đưa ra, phương Đông chúng tôi đã áp dụng từ bốn, năm ngàn năm nay rồi ! Chúng tôi hiện đang mắc vào hiểm họa thực dân, hãy đợi khi nào chúng tôi đuổi được bọn thực dân, chúng tôi sẽ giúp các anh ”tự giải phóng”. Đó là những ý thâm trầm sâu sắc của Phan Văn Trường trong bài “Phong trào Cộng sản Quốc tế Đông Dương”.

F- Bút pháp Nguyễn Thế Truyền trên tờ “Le Paria”:

Ngày 1/12/1922, trên “Le Paria” có hai bài, một bài ký tên Nguyễn Thế Truyền, một bài ký tên Nguyễn Ái Quốc. Khảo sát hai văn bản này, có thể xác định Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Ái Quốc là một.
Nguyên văn bài “Một người Bôn-sơ-vich da vàng” (“Un Bolchevick jaune”) ký tên Nguyễn Thế Truyền, xin tạm dịch :
“…
Nguyễn Ái Quốc có phải là một “kẻ đầy tham vọng, không nhân cách và không đại diện cho ai”, như ý kiến của cái điện văn rất thực dân kia. Những lời phỉ báng như thế, hiển nhiên phản ảnh sự gập mình của cái thấp hèn trước cái cao cả.
Vì thế, đáng được trả lời.
Tham vọng ? Hẳn thế, Nguyễn Ái Quốc đầy tham vọng. Nhưng tham vọng gì ? Tham vọng giải phóng anh em rơi vào vòng nô lệ, bị bọn “diều hâu thực dân” bóc lột dã man. Có tham vọng nào cao quý hơn ?
Kẻ viết bài giấu tên trên báo “La Dépêche Coloniale” kia, vì ngươi không biết đến nhân cách của Nguyễn Ái Quốc, nên ta cho ngươi biết.
Trong xứ, Nguyễn Ái Quốc sống hạnh phúc bên cạnh người thân. Khi còn rất trẻ, một hôm thấy Pháp chặt đầu đồng bào. Quốc không hiểu tại sao. Phẫn uất, Quốc ra đi, xa lánh bất công, để có thể kêu gào: “Công lý !” ở nơi khác. (…) Hôm nay, anh cương cường tranh đấu cùng những người anh em châu Phi, châu Âu. Với nghề khiêm tốn “sửa ảnh”, vất vả để kiếm sống, nhưng anh trong sạch hơn bao nhiêu quan chức, quá quan cách, ở các thuộc địa, kia.
Ồ ! Không ! Quốc không hề như họ. Chẳng tiền hô hậu ủng, không diêm dúa mề đai, không cồng kềnh “ấn trát”, nhưng anh mang nguyện ước của đồng bào, kỳ vọng của Dân tộc bị áp bức.
Năm ngoái, trở lại Đông Dương, tôi được nghe những lời cảm động về anh, bí mật truyền miệng mọi người. Một cụ bà kể: Tôi có hai đứa cháu bị Pháp bắt đi đầy (vì tư tưởng); cụ hỏi tôi: “Cậu ơi, cậu có biết Nguyễn Ái Quốc không ?” Một em bé dễ thương nhớ lại người cha, nhân sĩ nổi tiếng, bị tình nghi vì tư tưởng, một ngày kia bị Cảnh sát Tây lôi đi như con chó; trong đầu đầy hình ảnh anh hùng huyền thoại, đứa nhỏ hỏi tôi: “Nguyễn Ái Quốc có phải là người bằng xương, bằng thịt không ?”
Này, người của “La Dépêche Coloniale”, ngươi không hiểu gì hết, ngươi đang phỉ báng một chân lý lớn lao, một sự hy sinh cao cả, ngươi hãy câm đi !

Nguyễn Thế Truyền

…”
Ngay trong câu đầu, Nguyễn Thế Truyền đã bộc lộ lối chơi chữ tài tình của ông, mà khi dịch không thể lột hết: Tờ báo mà ông đả kích có tên là “La Dépêche Coloniale”, nghĩa là Tin điện thuộc địa, hay điện văn, điện tín thuộc địa… Ông bèn xé lẻ cái tên này làm hai, thành dépêche (điện văn) và colonial (thực dân) và viết: “Nguyễn Ái Quốc có phải là một “kẻ đầy tham vọng, không nhân cách và không đại diện cho ai”, như ý kiến của cái điện văn rất thực dân kia !
Văn phong Nguyễn Thế Truyền, nhanh, ngắn, mạnh, kiểu quyền anh, không cho địch thủ kịp đỡ đã tung ra cú đấm khác, khác hẳn lối viết điềm đạm thâm thúy của Phan Văn Trường. Bài này, nội dung không nói lên lòng “tôn thờ” Nguyễn Ái Quốc/Tất Thành, như Thu Trang nhận xét, mà Nguyễn Thế Truyền chỉ có ý vinh danh một người anh hùng vô hình, nói khác đi, một người anh hùng huyền thoại,vì thế ông đặt vào miệng bà cụ câu: “Có ai gặp Nguyễn Ái Quốc không ?” Đặt vào miệng đứa nhỏ câu: “Nguyễn Ái Quốc có phải là người bằng xương bằng thịt không ?” Đó là ý chính của Nguyễn Thế Truyền: hóm hỉnh xác định Nguyễn Ái Quốc là một huyền thoại, không có thật.
Chống Pháp không khoan nhượng, Nguyễn Thế Truyền mạnh tay –tát Tổng đốc Vi Văn Định– mạnh bút, luôn luôn đánh thẳng vào thực dân với lời lẽ quyết liệt. Bài này tát tai kẻ viết bài trên báo “La Dépêche Coloniale”, hèn, giấu tên –có thể là người Việt– không hiểu thế nào là sự hy sinh cao cả cho một chân lý. Xác định văn phong sắc, gọn, giọng khiêu khích, châm biếm, sự kiêu kỳ và lối chơi chữ của Nguyễn Thế Truyền, và đưa ra một thông tin: khi ông về nước, giữa 1920, cái tên Nguyễn Ái Quốc đã được mọi người truyền tụng.

Trên cùng số báo “Le Paria” này có bài “Về vụ Siki” (“A propos de Siki”), ký tên Nguyễn Ái Quốc, y một giọng, viết về sự kiện Siki, boxeur (i.e. tay quyền anh) da đen hạ Carpentier, boxeur da trắng:
Chúng tôi trích một đoạn, tiếng Pháp trước, để độc giả thấy bút pháp của tác giả :
“…

A propos de Siki

Depuis que le colonialisme existe, des blancs ont été payés pour casser la g… aux noirs. Pour une fois, un noir a été payé pour en faire autant à un blanc. Adversaire de toute violence, nous désapprouvons l’un et l’autre procédé. Mais le fait est là, nous n’avons qu’à le constater. Constatons.
D’un coup de poing – sinon scientifiquement envoyé, du moins formidablement placé – Siki déplaca proprement Carpentier de son piédestal pour grimper dessus lui-même.
Le championnat de la boxe a changé de mains, mais la gloire sportive nationale n’a pas souffert, puisque Siki, enfant du Sénégal, est parconséquent, fils de France, donc Français.
Malgré cela, il arrive que chaque fois que Carpentier triomphe, c’est naturellement par son adresse et par sa science. Mais toutes les fois qu’il est battu, c’est toujours par la force brutale d’un Dempsey ou la mauvaise jambe d’un Siki. C’est pourquoi, au match de Buffalo, on a voulu déclarer – on a même fait déjà la déclaration – que Siki, bienque gagnant, était vaincu “quand même”.

Nguyễn Ái Quốc

…”
Dịch:
“…

Về vụ Siki

Từ khi có chế độ thực dân, người da trắng được trả tiền để đánh bể mặt người da đen. Bận này, một anh da đen lại được trả tiền để nện anh da trắng. Chống mọi bạo lực, chúng tôi không tán thành cả hai cách này. Nhưng sự kiện sờ sờ ra đó, chúng ta chỉ việc ngó qua. Xem nào.
Một cú đấm –nếu không được gọi là khoa học, thì ít ra thì cũng trúng boong– Siki rành rành hạ bệ Carpentier và leo lên thế chỗ.
Giải vô địch đánh bốc đã đổi chủ, nhưng hào quang thể tháo quốc gia không hề hấn gì, vì Siki, đứa con Sénégal, tức, con Pháp, vậy, là người Pháp.
Ấy thế mà mỗi khi Carpentier thắng thì tất nhiên là nhờ tài trí và phương pháp khoa học của anh. Còn lần nào thua thì y như rằng là vì một tên Dempsey nào đó, đánh ác hay một tên Siki nào đó, đá hiểm. Vì vậy, trong trận đấu Buffalo, người ta những muốn tuyên bố –người ta đã tuyên bố rồi– rằng Siki dù thắng, “vẫn” bại !”

Nguyễn Ái Quốc

…”
Tháng 6/1964, Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn một nhà báo[17] với câu: “Le peuple Vietnam c’est un Un et le pays du Vietnam c’est Un” — ông dịch từng chữ khẩu hiệu “Nước Việt Nam là Một, dân tộc Việt Nam là Một” sang tiếng Pháp, nhưng người Pháp không thể hiểu vì họ không nói như thế và cũng không có thứ cú pháp nào lạ lùng như thế. Chắc chắn không phải với thứ tiếng Pháp thô thiển này, ông Hồ có thể viết được những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc như bài “Về vụ Siki” hay “Bản án Chế độ Thực dân Pháp”.

G- Nguyễn An Ninh:

Nguyễn An Ninh có hai lối viết: lối tranh luận, đôi khi cũng sát phạt không kém Nguyễn Thế Truyền và lối hoà nhã gần Phan Văn Trường.
Bài “Thư gởi ông Outrey” (“Lettre à Monsieur Outrey”) ký Nguyễn Ái Quốc đăng trên “Le populaire” ngày 14/10/1919, là lối văn tranh luận, với những chi tiết xác định người viết là Nguyễn An Ninh và sự đụng độ kịch liệt giữa Outrey và Nguyễn An Ninh.
Việc phát xuất từ bài “Đông Dương và Triều Tiên, một sự so sánh lý thú” (“L’Indochine et la Corée, une intéressante comparaison”), in trên báo “Le populaire” ngày 4/9/1919. Trong bài này Nguyễn An Ninh so sánh sự bảo hộ Triều Tiên của Nhật Bản với sự bảo hộ Đông Dương của Pháp. Ông buộc tội Pháp đã đầu độc người da vàng bằng những lời hứa hão và dùng bọn bồi bút để ca tụng chính quyền thuộc địa. Ernest Outrey đã từng làm Thống đốc Nam Kỳ và từ năm 1914, làm Dân biểu, đại diện người Pháp ở Sài Gòn tại Hạ viện.
– Tháng 6/1919, bản Thỉnh nguyện đưa đến Versailles và gởi cho các cơ quan có thẩm quyền và báo chí.
– Ngày 23/6/1919, Phủ Tổng thống yêu cầu bộ Thuộc địa báo cáo về Nguyễn Ái Quốc và nhóm Yêu nước.
– Ngày 18/6/1919 báo “L’Humanité” –lúc đó là báo của Đảng Xã hội, đăng bản Thỉnh nguyện dưới tựa đề: “Les droits des peuples” (“Quyền của các dân tộc”).
– Ngày 2/8/1919 “L’Humanité” đăng bài “La question des indigènes en Indochine” của Nguyễn Ái Quốc do Phan Văn Trường viết.
– Ngày 4/9/1919 “Le populaire” đăng bài “L’Indochine et la Corée, une intéressante comparaison” ký Nguyễn Ái Quốc do Nguyễn An Ninh viết. Sự chống Pháp trên báo chí Pháp được phát động qua ngòi bút Nguyễn Ái Quốc. Tình hình sôi động.
– Ngày 20/9/1919, P. Guesde lệnh cho Cảnh sát Cuộc gọi Nguyễn Ái Quốc đến hỏi cung và chụp ảnh, lần đầu.
– Ngày 18/9/1919, vấn đề Nguyễn Ái Quốc được đem ra tranh luận tại Quốc hội giữa Outrey và Longuet – Moutet. Outrey chất vấn Longuet, Chủ nhiệm báo “Le Populaire”: đã cho đăng những bài báo của Nguyễn Ái Quốc, một kẻ thù của nước Pháp, tên này là một kẻ phiến động đã bị truy tố ở Nam Kỳ. Được tin, Nguyễn An Ninh đang nghỉ ở Biarritz viết lá thư ngỏ cho Outrey, gởi đăng trên báo “Le Populaire”, phản pháo mãnh liệt, đồng thời xác định mình là Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh viết : “Ông đã nói đi nói lại (ở Hạ viện) rằng tôi bị truy nã ở Đông Dương vì âm mưu chống Pháp. Vậy hãy cho biết, lúc nào, toà án nào, âm mưu gì ?”
Ernest Outrey và Nguyễn An Ninh biết rõ hành tung của nhau. Xin nhắc lại: trong suốt thời gian từ 1911 đến 1919, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành không ai có mặt tại Nam Kỳ.
Outrey biết Nguyễn An Ninh thuộc gia đình chống Pháp hàng đầu ở Nam Kỳ: cha, mẹ, chú, cô đều là những nhà cách mạng. Khách sạn Chiêu Nam Lầu của cha Ninh là nguồn tài trợ cho phong trào Đông Du, là nơi tá túc hội viên các hội kín Đông Kinh Nghĩa thục, Cường Để[18]. Bản thân Nguyễn An Ninh cũng rất quậy, để tóc dài, hay đánh lộn với Tây và viết báo chống Pháp từ thời niên thiếu. Outrey, khi đọc văn, đoán chắc Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn An Ninh và dựa trên các thông tin đã biết, Outrey tố cáo Nguyễn Ái Quốc là người đã bị truy nã về tội chống Pháp ở Nam kỳ.
Thành tích chống Pháp của Nguyễn An Ninh đã trở thành huyền thoại :

“Thi đậu bằng Brevet Elémentaire,[19]nhà ái quốc đi làm báo tiếng Pháp, do người Pháp điều khiển. Trong thời gian làm báo, dù chỉ là một cộng sự viên tầm thường, lượm tin chó cán, nhưng Ninh đã nổi tiếng rồi, vì sự bất khuất, hay đập lộn với người Pháp, hay chửi người Pháp. Chính trong thời gian nầy, trong nước xảy ra nhiều chuyện bạo động, nào Phan Xích Long khởi nghĩa, Trần Cao Vân rước vua Duy Tân rời kinh thành Huế, Lương Ngọc Quyến bạo động ở Thái Nguyên. Dù những phong trào ấy bị thất bại, song gieo vào lòng người dân thời đó một mầm mống sâu đậm trong cõi lòng, trong số đó có nhà ái quốc thanh niên Nguyễn An Ninh”[20].

Sở dĩ Nguyễn An Ninh không bị bắt vì tuổi vị thành niên, vì vậy, Ninh mới viết “Lá thư gởi ông Outrey”, thách y phải tìm ra chứng cớ rằng tôi –Nguyễn Ái Quốc– bị bắt ở Nam Kỳ lúc nào, năm nào, bị bắt ở đâu, ra toà nào ? Ninh đã “đáp lễ” Outrey tới nơi tới chốn.
Vì câu thách thức này mà ta xác định được tác giả “Lá thư gởi ông Outrey” là Nguyễn An Ninh. Khi xác định được Nguyễn An Ninh là tác giả “Lá thư gởi ông Outrey” thì tự nhiên ông là người viết bài “Đông dương và Triều tiên”, vì bài này mà Outrey nhận diện được Quốc là Ninh và gây hấn.
Người viết nào cũng để lại căn cước của mình qua chữ nghĩa. Cho nên dù ký tên gì đi nữa, người đọc tinh ý luôn luôn tìm ra bản chất và lai lịch của người viết.
Sự xác định tác giả một số bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc mà chúng tôi ghi danh sách trong phần cuối chương này, dựa trên cơ sở của những chi tiết đó.

H- “La France et L’Indochine”:

Ngoài tài bút chiến, Nguyễn An Ninh còn là ngòi bút văn chương và tư tưởng. Trong “La France et L’Indochine” (“Nước Pháp và Đông Dương”), Nguyễn An Ninh viết :
“…

Nước Pháp và Đông Dương

Trong những năm gần đây, mặc dù thực dân hết sức tìm cách giam hãm người An Nam, nhưng dưới hấp lực của phong trào thanh niên Tây du, một vài người đã có thể đến Pháp, quan sát đời sống hàng ngày và tìm hiểu bí quyết về sức mạnh vật chất của Âu Châu. Họ mang về nước tư tưởng dân chủ, tinh thần phê phán của Châu Âu; hơi thở Tây phương đã làm sống lại niềm tin và nghị lực của họ. Họ đã nhận tận tay người Pháp bản án chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Thực dân không thể ngăn cấm người An Nam biết tiếng Pháp đọc Montesquieu, Rousseau, Voltaire.
Và, cùng một lúc, tinh thần phê phán Tây phương, giúp thanh niên An Nam ấp ủ tâm hồn dân tộc trong lòng, giải thoát triết học Khổng Tử và Mạnh Tử khỏi lớp bụi dầy của đạo lý Khổng Mạnh suy đồi. Đã có một số xu hướng nổi lên, tìm cách cổ động quần chúng bỏ ý định phục thù bằng bạo lực và dấn thân vào con đường tranh đấu mới: đòi hỏi những tự do căn bản để bảo tồn phẩm giá con người, đòi hỏi những cải cách, hòa hợp tinh thần dân chủ của dân tộc An Nam với tư tưởng Tây Phương. Họ không còn chấp nhận, như quần chúng đã phải chấp nhận, như kẻ bại trận trên chiến trường đã phải chấp nhận, cái luật chiến tranh, cái đắc ý thô bạo của kẻ thắng và sự nhục nhã của người thua. Họ cũng không còn chiến đấu bí mật với lòng yêu nước thuần tuý nữa mà họ tranh đấu công khai, nhân danh nguyên tắc Nhân quyền 1789. Và bọn thực dân không còn dám dựa trên cớ “chủ quyền nước Pháp bị đe doạ” để bắt họ đi đày hoặc xử tử.
Như thế, chính sách người bóc lột người ở Đông Dương đã được báo trước sẽ bị phá sản.
Hoặc là, điên cuồng vì thất bại, bọn thực dân vẫn cố chấp áp dụng biện pháp đán áp, tiếp tục siết chặt những nạn nhân đang vùng vẫy, mặc kệ dấu hiệu báo trước những biến cố sắp tới; như thế, thảm họa chung sẽ xảy ra: nước Pháp mất hết quyền lợi và uy tín –“sứ mệnh giáo hóa” của Châu Âu sẽ lộ bộ mặt thật của nó– và nước An Nam, sau những kinh hoàng, thống khổ, sẽ được tự do hơn để hoàn tất sứ mệnh của mình.
Hoặc là, nước Cộng hoà Pháp đến Đông Dương để thay thế bè lũ thực dân; như thế, không những, thanh danh và lợi ích của Pháp sẽ được bảo toàn, mà Pháp còn được hưởng sự tri ân của một dân tộc sẽ ủng hộ họ ở Châu Á.
Cách đây khoảng 15 năm, để trả lời tiếng kêu của những người bị đàn áp, bọn thực dân đã rêu rao trên báo như sau: “Nước Pháp không đến đây với Kiếm và Luật. Chỉ có Kiếm”[21]. Dường như, sau sáu mươi năm bị đô hộ và chịu ảnh hưởng Pháp, đất Nam Kỳ ngày nay đã được công bố là đất Pháp, vậy người An Nam có quyền đòi hỏi nước Pháp phải mang sang Đông Dương, không những Luật, mà cả thanh bảo Kiếm để bảo vệ Luật pháp. Sự hoà hợp giữa lý tưởng Cộng hoà Pháp và tư tưởng dân chủ của một xã hội có nền móng tư tưởng Khổng Mạnh, không phải là sự tiến hóa theo quy luật tự nhiên, như thực dân tuyên truyền. Phong trào giải phóng các dân tộc ở Á Châu không phải là sự “tiến hóa” từ xã hội dã man lên xã hội Âu Châu tân tiến.
Phải là thực dân trong nghĩa ngu xuẩn nhất mới có thể tin được “nghĩa vụ giáo hóa” của những người Âu Châu sang xâm chiếm Đông Dương. Ở Ấn Độ, sự tuyên ngôn về “nghĩa vụ giáo hóa” (của người) Tây phương gợi trong lòng một Tagore ý thức giáo hóa (đến từ) Đông phương. Ở Trung Hoa, giới thanh niên đã đi học ở Âu Châu, đặt câu hỏi trên báo chí như một thách đố với Châu Âu: “Bạn có thể nói cho chúng tôi biết, nước bạn đã văn minh chưa ?” (…)
Về chính sách thực dân mà nước Pháp áp dụng ở Đông Dương, chúng tôi nhận thấy :
1- Rằng, ở Đông Dương, nước Pháp chẳng những không áp dụng những nguyên tắc lớn mà họ đã tuyên thệ, mà còn tiêu diệt tư tưởng dân chủ của xã hội An Nam.
2- Rằng, nước Pháp, thừa nhận tự do và quyền công dân Pháp cho những người, hôm qua, vẫn còn là nô lệ, nhưng lại áp đặt chế độ nô lệ ở Đông Dương cho một dân tộc tự do, đã có một nền văn minh, từ khi cư dân sống trên đất Pháp vẫn còn ăn lông ở lỗ (vivait dans des cités lacustres)[22].
…”
Bài viết “La France et L’Indochine” mà chúng tôi vừa trích dịch một đoạn trên đây, có thể tóm gọn tư tưởng đấu tranh của Nguyễn An Ninh.
Trong cuốn “Nguyễn An Ninh tác phẩm”[23] có in bản dịch “Nước Pháp ở Đông Dương” (“La France en Indochine”) và nói rằng bản này đã in trong in tạp chí “Europe”, nhưng khi so sánh chúng tôi thấy không hoàn toàn giống.
Theo Đặng Hữu Thụ, “La France en Indochine” tháng 4/1925, in 2.000 bản tại nhà A et F Debeaufauve Tournefort Paris. Ninh trao cho Nguyễn Thế Truyền 150 bản để Truyền nhờ các thủy thủ Việt Nam đem về nước. Ngoài ra, sách cũng được gởi tặng một số Dân biểu, Nghị sĩ Pháp, Hội Nhân quyền và báo chí viết về thuộc địa. Khi đáp tàu về nước ngày 28/5/1925 cùng Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh mang theo một số cuốn. Nhưng Bộ thuộc địa biết, đánh điện về Phủ Toàn quyền, và sách đã bị tịch thu khi tàu cập bến[24].
Mật báo của Deveze 12/1/1921, nói đến một cuốn “Đông Dương”, ký Nguyễn Ái Quốc, như sau :

“Hội ái Hữu xuất bản ở 118 Avenue Parmentier đã gởi cho ông Nguyễn Ái Quốc: “Chúng tôi đã đọc bản thảo “Indochine” hay “Máu của mỗi người” nhưng Hội không thể nhận xuất bản được vì đã cam kết với nhiều nơi rồi. Nhưng chúng tôi sẵn sàng mời ông đến trao đổi về bản thảo đó.” Dezeve ghi thêm: “Mặc dù Nguyễn Ái Quốc khẩn thiết nhưng báo ‘L’Humanité’ cho rằng không thể đưa vào khuôn khổ tờ báo”[25].”

Một cuốn sách, mang tên “Đông dương” (1923–1924) được dịch và đưa vào “Hồ Chí Minh toàn tập”, tập 1, phải chăng đây chính là tác phẩm “Indochine” hay “Máu của mỗi người” mà Dezeve nói đến ? Trần Dân Tiên viết : “Ông Nguyễn chỉ viết cuốn sách duy nhất là ‘Bản án Chế độ Thực dân’ ”. Vậy ông Hồ không biết đến cuốn “Đông Dương” ký tên Nguyễn Ái Quốc.
“Đông dương” (1923–1924), dịch in trong “Hồ Chí Minh toàn tập” có cùng bố cục như “Bản án Chế độ Thực dân Pháp”, nhưng lời văn điềm đạm hơn, gần với lối viết của Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường. Điểm chung của hai tác phẩm là cùng dùng những mẩu chuyện, những nhân chứng đã có trong các bài ký tên Nguyễn Ái Quốc. “Đông dương” nói đến tình trạng ở nước ta, còn “Bản án Chế độ Thực dân Pháp” viết chung cho nhiều dân tộc.

I- “Le Procès de la Colonisation Française”
(Bản án Chế độ Thực dân Pháp)
:

Cuốn “Le Procès de la colonisation française” đề tên tác giả Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thế Truyền viết tựa. Nhưng thực ra ai viết ? Sách in năm 1925, sau khi Nguyễn Tất Thành đi Nga hai năm. 1946, in lại lần đầu ở Hà Nội.
1/ Ngô Văn viết: “Sau khi Phan Châu Trinh khởi hành về Sàigòn, vào tháng 5 năm 1925 một luận văn châm biếm nẩy lửa do Thư điếm Lao động (Librairie du Travail) phát hành và lập tức bị cấm ở Đông Dương. Đó là tập “Bản án Chế độ Thực dân Pháp” (“Le Procès de la colonisation française”) ký tên Nguyễn Ái Quốc, nhưng có thể là do Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền viết[26].
2/ Đặng Hữu Thụ kể lại giai thoại sau đây: Ông Bửi Nghi, một người bạn kể cho ông rằng Nguyễn Thế Truyền có đưa bản thảo cuốn “Bản án Chế độ Thực dân Pháp” cho ông Bửu Nghi đọc, nhờ chữa lỗi chính tả, và nói là của Nguyễn Ái Quốc viết[27]. Điều này cũng chẳng nói lên được gì, vì Nguyễn Thế Truyền và nhóm Ngũ Long đã đồng ý với nhau về việc lấy Nguyễn Ái Quốc làm bút hiệu chung. Khi Nguyễn Tất Thành đã đi Nga, Nguyễn Thế Truyền vẫn còn ký tên Nguyễn Ái Quốc trên báo và trong bản quảng cáo sẽ ra báo “Việt Nam Hồn”. Vậy đó là chiến lược của cả nhóm.
3/ Trần Dân Tiên chỉ viết một câu ngắn gọn về văn bản này :

“Ông Nguyễn chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển ‘Bản án Chế độ Thực dân Pháp’; quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia. Đầy hăng hái, ông Nguyễn viết cả vở kịch ‘Rồng tre’[28].

Sự quá vắn tắt của Trần Dân Tiên rất khả nghi, tại sao ông không nói rõ là ông Nguyễn đã viết cuốn “Le Procès de la colonisation française” trong hoàn cảnh nào ? Nhất là cuốn sách ấy lại in sau khi ông đi Nga hai năm. Lý do dễ hiểu: có lẽ ông Hồ chưa đọc “Le Procès de la colonisation française” khi viết những dòng này năm 1948, cho nên mới có câu: “quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia”. Bởi vì những nhân chứng kể tội ác thực dân, mô tả rõ ràng, trần trụi việc hãm hiếp, tra tấn, giết người, ở những làng mạc có tên rõ như thế, lại được in lại thành sách để trong thư viện Pháp, cho ông Hồ chép lại, thì quả là lạ. Báo chí đối lập của Pháp có thể đưa tin này khác về tội ác chiến tranh, nhưng chắc chắn những vụ giết người kinh hoàng như vậy đã bị quân đội và chính quyền thực dân giấu nhẹm, chỉ có các nạn nhân và những người lính Việt Nam đã chứng kiến tại chỗ mới có thể biết được.
4/ Chúng tôi tạm đưa ra giả thuyết: Nguyễn Tất Thành không có khả năng tiếng Pháp và không có đủ tài liệu sống để viết tác phẩm này. Có thể ngoài tài liệu của nhóm Yêu nước, Nguyễn Thế Truyền còn tập hợp thêm những bài báo, những chứng nhân khác ở các thuộc địa, xuất hiện trên báo “Le Paria”, sửa đổi đôi chút rồi viết tựa. Tài liệu phong phú và cực kỳ chi tiết về sự tàn ác của chế độ thực dân trên các nước nhược tiểu, “Bản án Chế độ Thực dân Pháp” có thể được coi là một sáng tác tập thể mà Nguyễn Thế Truyền làm “Chủ biên” và viết lời giới thiệu.
Phần nhân chứng về Việt Nam do lính thợ cung cấp, họ kể lại những tội ác của quân đội viễn chinh mà họ đã mục kích, những lời chứng này có thể đã được Phan Văn Trường thu lượm trong thời kỳ làm việc tại Công binh Xưởng Toulouse.
“Bản án Chế độ Thực dân Pháp”, được viết hay soạn từ những thông tin, những đoạn, những ý tưởng đã có trong các bài ký tên Nguyễn Ái Quốc và những thông tin khác đến từ các thuộc địa châu Phi. Tác phẩm không chỉ đưa ra bộ mặt lầm than, thống khổ của một dân tộc Việt Nam mà còn của tất cả những người dân da màu khác đang bị đô hộ. Vì vậy nó có tính chất nhân loại. Khó có thể xác định ai là tác giả, vì nội dung cho thấy bàn tay của nhiều người :
– Nguyễn Thế Truyền, trước tiên, vì ông đã có công soạn thảo, chỉnh đốn, viết tựa.
– Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh, viết về luật pháp.
– Phan Văn Trường viết về công binh.
Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường đều có thể khắc họa những chân dung toàn quyền và viết về các chính sách dã man của thực dân Pháp trên đất nước ta. Nhưng còn có những đóng góp khác của các nhà văn châu Phi, và thư từ độc giả từ các nơi gởi về… do đó Nguyễn Thế Truyền đã giữ tên tác giả chung là Nguyễn Ái Quốc.

J- Vở kịch “Rồng tre” (“Le dragon de bambou”):

Không biết Nguyễn Thế Truyền hay Nguyễn An Ninh viết, nhưng chắc chắn không phải Nguyễn Tất Thành, vì chữ Rồng ở đây có ý tự trào, ngạo nghễ ám chỉ đám Ngũ Long, tuy là đồ chơi mà… là Rồng, tức là chơi lối… Rồng –Đế vương. Lại vừa có ý nhạo vua Khải Định là Rồng mà… Rồng tre –đồ chơi. Ý nghĩa thâm thúy như thế, nhưng chắc ông Hồ không hiểu rõ, nên mới nhận là mình viết. Bởi nếu ông viết thì không thể viết như thế, khác nào lạy ông tôi ở bụi này: đã tự coi mình là Nguyễn Ái Quốc duy nhất, thì làm sao lại chấp nhận có các con Rồng khác ?
“Le dragon de bambou” cái tựa của vở kịch, chúng tôi xin nhấn mạnh, nguyên tên tiếng Pháp là “Le dragon de bambou” (“Rồng tre”) chứ không phải “Le dragon en bambou” (“Rồng bằng tre”), như có người đã cố ý sửa lại, bởi vì người sửa không hiểu được sắc thái (nuance) khác nhau giữa “le dragon de bambou” và “le dragon enbambou”.
Kịch bản đã mất, nhưng cái tựa “Le dragon de bambou” (“Rồng tre”) đã chứng minh sự tinh tế về Pháp ngữ của tác giả. Léo Poldès, người được Nguyễn Ái Quốc/Nguyễn Tất Thành đưa đọc để giúp việc trình diễn, viết : “Như cái tựa của vở kịch, Rồng tre là một vị nguyên thủ quốc gia Á châu bất lực, bất tài, ngu dốt, bị tác giả mắng nhiếc thậm tệ trong ba màn” (“Le dragon de bambou, titre de la pièce, était un chef d’Etat asiatique impuissant, incapable, ignorant, et dont l’auteur fustigeait sans pitié, pendant trois actes”)[29].

Ngòi bút Nguyễn Ái Quốc xuất hiện đều đặn trên các báo từ tháng 8/1919 đến đầu 1920: thời gian này chủ yếu là Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh viết.
Trong năm 1920, có ít bài, vì Phan Văn Trường bận việc tòa án, đi về giữa Paris và Mayence, Nguyễn An Ninh về Sài Gòn hè 1920 và Nguyễn Thế Truyền về Bắc một năm từ 8/1920 đến 8/1921.
Thời điểm tung hoành mạnh mẽ nhất là khoảng 1921–1922, khi Nguyễn Thế Truyền chính thức bước vào “nghề báo” và Nguyễn An Ninh còn ở Paris: bút hiệu Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trên nhiều tờ báo một lúc, vậy hai người viết chính trong thời kỳ này là Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh. Phan Văn Trường bận việc ở Mayence, ít tham dự.
Tháng 10/1922, Nguyễn An Ninh về Sài Gòn. Cuối năm 1923, Phan Văn Trường về nước. Còn lại Nguyễn Thế Truyền, một mình, ký cả Nguyễn Ái Quốc và tên thật Nguyễn Thế Truyền.
Những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc sau khi Nguyễn Tất Thành đi Nga, từ 1923 đến 1927, trên “Le Paria” và trên “Inprekorr”, báo Nga ấn bản Pháp ngữ, là của Nguyễn Thế Truyền.

K- Xác định một số Căn bản:

Sự xác định một số văn bản mà chúng tôi nêu tên sau đây, dựa vào văn phong và tư tưởng khác nhau của mỗi tác giả; nhưng có khi, chỉ dựa vào một vài chi tiết rất nhỏ.
• Phan Văn Trường: “Tâm địa thực dân”, “Vấn đề dân bản xứ” (“L’Humanité”, 2/8/1919), “Những kẻ bại trận ở Đông dương” (“La vie ouvrière”, số 101, ngày 8/4/1921), “Quyền của những người lính” (“La vie ouvrière”, số 105, ngày 7/5/1921), “Phong trào Cộng sản quốc tế Đông dương” (“La revue communiste”, số 15, tháng 5/1921), “Vụ âm mưu ở Đông Dương” (17/8/1921)…
• Nguyễn An Ninh: “Đông Dương và Triều Tiên” (“Le populaire”, 4/9/1919), “Thư gởi ông Outrey” (“Le populaire”, 14/10/1919), “Phong trào cách mạng ở Ấn Độ” (“La revue communiste”, số 18-19, tháng 8-9/1921). “Nền văn minh thượng đẳng” (“Le Libertaire”, 23/9/1921), “Tội ác của chủ nghĩa thực dân” (“La vie ouvrière”, số 126, ngày 30/9/1921), “Sự quái đản của công cuộc khai hóa” (“Le Libertaire”, ngày 30/9 và 7/10/1921). “Hãy yêu Pháp, nước bảo hộ bạn” (“Le Libertaire”, ngày 14/10/1921)…
• Nguyễn Thế Truyền: “Thú vật học” (“Le Paria”, số 2, ngày 1/5/1922), “Mấy ý nghĩ về vấn đề thuộc địa” (“L’humanité”, ngày 25/5/1922), “Paris” (“L’humanité”, 30–31/5/1922), “Lời than của bà Trưng Trắc” (“L’humanité”, 24/6/1922), “Những kẻ khai hóa” (“Le Paria”, số 4, ngày 1/7/1922), “Hận thù chủng tộc” (“Le Paria”, số 4, ngày 1/7/1922), “Thư ngỏ gởi ông Albert Sarraut” (“Le journal du peuple”, 25/7/1922), “Khai hóa giết người” (“Le Paria”, số 5, 1/8/1922), “Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của Pháp” (“Le Paria”, số 5 ngày 1/8/1922), “Nhân đạo thực dân” (“Le Paria”, số 6-7, tháng 9 và 10/1922), “Amdouni và Ben Belkhir chịu nhục hình” (“Le Paria”, số 8, 11/1922), “Về vụ Siki” (“Le Paria”, số 9, 12/1922), “Người bản xứ theo mốt” (“Le Paria”, số 10, 15/1/1922)…

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]
[16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29]

===========================================

Phụ Chú :
[1] Đăng từng kỳ trên “La Cloche Fêlée” từ 30/11/1925 đến 15/3/1926. 1928, nxb Gia Định, Sài Gòn, xuất bản và 2003 Ngô Văn tái bản, L’Insomniaque, Paris.

[2] Lê Thị Kinh, sđd, tập 1, quyển 3, trang31.
[3] Lê Thị Kinh, sđd, tập 1, quyển 3, trang 46.
[4] Lê Thị Kinh, sđd, tập 1, quyển 3, trang 81-89.
[5] Cuốn hồi ký này, viết xong tại Paris, tháng 10/1923. Tháng 12/1923, Phan Văn Trường xuống tàu về nước, tới Sài Gòn cuối tháng giêng 1924. Sau đó ông ra Bắc khoảng một năm, thăm gia đình, đến tháng 2/1925, ông mới trở lại Sài Gòn và lo việc lập văn phòng luật sư và làm báo. Vì vậy, hồi ký chỉ bắt đầu đăng trên báo “Chuông Rè” từ ngày 30/11/1925.

[6] Sau khi Phan Văn Trường mất ngày 21/4/1933, bà Phạm Vân Anh có viết loạt bài tựa đề “Cái đời gian truân lưu lạc của Phan Văn Trường”, ký VA (“Phụ nữ Tân văn” từ số 211 (10/8/1933) đến số 218 (28/9/1933), đăng lại trong cuốn “Phụ nữ Tân văn Phấn son Tô điểm Sơn hà” của Thiện Mộc Lan, Văn Hóa Sài Gòn, 2010). Loạt bài này phỏng theo hồi ký của Phan Văn Trường nhưng đã lược bỏ tất cả những chi tiết liên quan đến chính trị trong bản tiếng Pháp, có lẽ vì thời ấy, báo tiếng Việt không tự do bằng báo tiếng Pháp.

[7] “Hồi ký Phan Văn Trường”, trang 72.
[8] “Hồi ký Phan Văn Trường”, trang 73-74-75.
[9] Hoàng Xuân Hãn, Tựa cuốn “Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp” của Thu Trang, Đông Nam Á, Paris, 1983, trang 8.

[10] Lê Thị Kinh viết :
“…
Khâm sứ Trung Kỳ Lévecque đã theo dõi phong trào sớm, đích thân chỉ đạo cuộc đàn áp, trước tiên nhằm vào hai người được đánh giá là chủ chốt: Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp. Rất quỷ quyệt, y chủ động mọi việc nhưng lại đẩy Phủ Phụ chính của Triều đình Huế ra gánh trách nhiệm về các quyết định bắt và xử án các lãnh tụ Duy tân. Từ Huế vào Hội An, y điện thẳng ra cho Thống sứ Bắc kỳ Morel, nhờ bắt Phan Châu Trinh nhưng điện lại viết “Phủ Phụ chính nhờ bắt…”.
Trong quá trình xét xử tại Huế, y cố gò Phủ Phụ chính vào quyết định “trảm quyết” nhưng nhờ lương tri và dũng khí của các Thượng thư, nổi bật nhất là hai cụ Cao Xuân Dục và Lê Trinh, đã dám lên tiếng cãi lại Lévêque với sự đồng tình của toàn Phủ Phụ chính. Nhờ vậy mà Phan Châu Trinh đã thoát án chém tức thì, lãnh án “trảm nhưng giam lại”, đầy Lao Bảo. Lévecque và Toàn quyền đã đổi thành “đầy Côn Đảo”. Thế nhưng sau đó nhà cầm quyền thực dân đã đổi trắng thay đen, lu loa rằng: “Do thù về việc đả kích quan lại nên Nam triều đã xử tử hình, may nhờ quan Pháp kịp thời can thiệp nên Phan Châu Trinh thoát chết”. Lập luận này đã được ngay cả những đại biểu của cánh tả trong Hạ viện Pháp tiếp thu trong phát biểu bảo vệ Phan Châu Trinh.
Ở Việt Nam thì lại loan truyền lập luận: “Nhờ có Liên minh Nhân quyền can thiệp nên án tử hình được đổi thành khổ sai chung thân”. Thực ra với tốc độ bắt và xử án tại Huế (ngày 31/3 bắt, ngày 10/4 đã xử án tại Huế) thì Liên Minh sẽ không kịp ngăn chặn việc thi hành án trảm quyết ông Trinh tại Huế. (…)
Phải chăng vì sợ Phủ Phụ chính sẽ nương tay với các bậc đại khoa nên sau đó, khi bắt Trần Quý Cáp (17/4/1908). Lévecque đã cho giữ ông tại Nha Trang, không cho giải ông về Huế giao cho triều đình xử theo thông lệ đối với các bậc đại khoa như đã làm với ông Trinh, và y đã cùng Công sứ Khánh Hòa gây sức ép với các quan tỉnh để làm án “trảm quyết không xét xử”, giết Trần Quý Cáp một tháng sau khi bắt (17/5/1908). (Lê Thị Kinh, sđd, tập1, quyển 2, trang 8-9).
…”

[11] Ngô Văn, sđd, trang 63.
[12] Hồ Hữu Tường gặp Phan Văn Trường tại Paris khoảng tháng 2/1930, sau khi Phan ra tù lần thứ nhì, trước khi ông về xứ và ba năm sau ông mất.

[13] Hồ Hữu Tường nhớ lầm, có lẽ là luận văn Cử nhân, luận án Tiến sĩ của Phan Văn Trường về Luật Gia Long.

[14] Hồ Hữu Tường, 41 năm làm báo, trang 20.
[15] Thu Trang, sđd, trang 9.
[16] Đăng trên “La revue communiste”, số 15, tháng 5/1921.
[17] Tài liệu vidéo của INA (Institut National Audiovisuel – Viện Quốc gia Lưu trữ Âm thanh và Hình ảnh của Pháp) được đưa lên Youtube, và ông Nguyễn Ngọc Quỳ ở Paris ghi lại trên mạng diendantheky ngày 16/4/2011.

[18] Vương Hồng Sển, “Sàigòn năm xưa”, trang 250.
[19] Tương đương với Trung học phổ thông.
[20] Phương Lan Bùi Thế Mỹ, “Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh”, trang 10.
[21] Nguyễn An Ninh dùng chữ “Le Glaive”, chỉ đoản kiếm sắc cả hai bên và là biểu tượng của Sức Mạnh.

[22] Trích dịch “La France et L’Indochine”, “Europe”, số 31, ra ngày 15/7/1925.
[23] Nxb Văn Học, 2009.
[24] Đặng Hữu Thụ, sđd, trang 64.
[25] Lê Thị kinh, sđd, tập 2, quyển 1, trang 161.
[26] Ngô Văn, “Việt Nam 1920–1945 Cách mạng và phản cách mạng thời đô hộ thực dân”, “Chuông rè”, L’Insomniaque, Paris, 2000, trang 42.

[27] Đặng Hữu Thụ, sđd, trang 123.
[28] Trần Dân Tiên, sđd, trang 37.
[29] Trích bài của Léo Poldès, trên báo “Ici Paris Hebdo” ngày 11/6/1946, in lại trong “Hồ Chí Minh Le procès de la colonisation française”, L’Harmattan, 2007, trang 194.

Advertisements

23 thoughts on “Chương 19: Khảo sát Văn bản Nguyễn Ái Quốc

  1. Pingback: Mục lục và Lời tựa cho “Nhân Văn Giai Phẩm” và vấn đề Nguyễn Ái Quốc |

  2. Pingback: Chương 29: Nói chuyện với họa sĩ Trần Duy (Hết) |

  3. Pingback: Chương 1: Tìm hiểu phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm” |

  4. Pingback: Chương 02: Lịch trình “Nhân Văn Giai Phẩm” |

  5. Pingback: Chương 03: “Giai phẩm Mùa xuân” |

  6. Pingback: Chương 4: Nguyên nhân Đưa đến cuộc Cách Mạng Mùa Thu của Tư Tưởng |

  7. Pingback: Chương 5: Nội bộ báo “Nhân Văn” |

  8. Pingback: Chương 06: Trí thức và dân chủ tại Việt Nam trong thế kỷ XX |

  9. Pingback: Chương 07: Biện pháp Thanh trừng |

  10. Pingback: Chương 08: Thụy An (1916–1987) |

  11. Pingback: Chương 09: Nguyễn Hữu Đang (1913–2007) |

  12. Pingback: Chương 10: Lê Đạt (1929–2008) |

  13. Pingback: Chương 11: Trần Dần (1926–1997) |

  14. Pingback: Chương 15: Cuộc cách mạng Hiện đại đầu Thế kỷ XX |

  15. Pingback: Chương 16: Nguyễn Tất Thành |

  16. Pingback: Chương 17: Hội Đồng bào Thân ái – Phong trào Ái quốc Đầu tiên tại Pháp |

  17. Pingback: Chương 18: Nguyễn Ái Quốc lai lịch và Văn bản |

  18. Pingback: Chương 20: Vì sao Phan Châu Trinh phó thác “Đại sự” cho Phan Khôi ? |

  19. Pingback: Chương 22: Vụ án “Nam Phong” |

  20. Pingback: Chương 24: “Une Voix Dans la Nuit” – Cải cách Ruộng đất và Cải tạo Tư sản |

  21. Pingback: Chương 25: “Une Voix Dans la Nuit” – Vấn đề Trí thức và Độc tài Đảng trị |

  22. Pingback: Chương 26: Nói chuyện với Nhà cách mạng Nguyễn Hữu Đang |

  23. Pingback: Chương 28: Nói chuyện với nhà thơ Hoàng Cầm |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s