Chương 12: Hoàng Cầm (1922–2010)

Chương 12: Hoàng Cầm (1922–2010)

(Thi sĩ Hoàng Cầm một thành viên trong nhóm “Nhân Văn Giai Phẩm”)

Những văn nghệ sĩ thành viên chính của NVGP phần lớn đều đã giữ trọng trách trong nền văn nghệ kháng chiến: Lê Đạt làm Thư ký riêng cho Trường Chinh (1947), rồi phụ tá cho Tố Hữu (1949). Tử Phác, làm Trưởng phòng Văn nghệ Tuyên huấn Trung ương (1951). Đặng Đình Hưng, Đoàn trưởng kiêm Chính trị viên đoàn Văn công Nhân dân Trung ương (1952). Hoàng Cầm, Đoàn trưởng Văn công Tổng cục Chính trị (1952). Trong bài “Múa sạp thấu lòng Tử Phác”[1] Hoàng Cầm cho biết, thời 51–52, Tử Phác là “cấp trên” của ông, chính Tử Phác đã “chỉ thị” cho Hoàng Cầm (Trưởng đoàn Văn công) và Mai Sao, nghiên cứu và thực hiện điệu múa sạp.
Những chi tiết trên đây giải thích tại sao NVGP có thể thành tựu được, bởi những văn nghệ sĩ chủ trương phong trào, nắm giữ các cơ sở chính của nền văn nghệ kháng chiến lúc bấy giờ: Trong quân đội, Tử Phác trách nhiệm báo “Sinh hoạt Văn nghệ” (tiền thân của Văn nghệ Quân đội). Về dân sự, Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang trách nhiệm tờ “Văn Nghệ”. Hoàng Cầm và Đặng Đình Hưng điều khiển toàn bộ “Văn công Quân đội và Dân sự”. Từ tháng 1/1956, Hoàng Cầm nắm nhà xuất bản Văn Nghệ, vì vậy mà một số tác phẩm không chính thống đã được in trong những năm 1956–1958.
Hoàng Cầm sinh ngày 22/2/1922, tại làng Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; nguyên quán làng Lạc Thổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; mất ngày 6/5/2010 tại Hà Nội. Tên thật là Bùi Tằng Việt (chữ ghép của Phúc Tằng và Việt Yên). Cha: Bùi Văn Nguyên, dạy học và làm thuốc, có thời đã theo Quốc dân Đảng, là bạn của Xứ Nhu, tức Nguyễn Khắc Nhu. Mẹ: Nguyễn Thị Duật, bán hàng xén. Bút danh khác: Lê Thái, Lê Kỳ Anh, Bằng Phi… Học tiểu học ở Bắc Giang. 1937, đỗ Cao đẳng tiểu học ở Bắc Ninh. 1938, ra Hà Nội học trường Thăng Long; 1940, đỗ tú tài.
Làm thơ từ 8 tuổi. Những bài thơ đầu tiên được đăng trên báo “Bắc Hà”, năm 1936, ký tên Bùi Hoài Việt, có truyện ngắn đăng trên báo “Đông Pháp”.
Tác phẩm thành danh Hoàng Cầm là kịch thơ “Hận Nam Quan” viết năm 1937, ở tuổi 15, lúc còn học đệ tứ ở Bắc Ninh (in năm 1942). “Hận Nam Quan” được dạy trong vùng quốc gia trước 1954.
– 1938: đỗ Diplôme (Cao đẳng tiểu học) ở Bắc Ninh. Lên Hà Nội học trường Thăng Long và bắt đầu nghề văn. 16 tuổi, vừa học vừa làm cho nhà xuất bản Tân Dân và tạp chí “Tiểu thuyết Thứ bảy” của Vũ Đình Long. Sáng tác nhiều truyện ngắn dưới bút hiệu Hoàng Cầm. Nổi tiếng với “Hận ngày xanh” — phóng tác Graziella của Lamartine và những truyện rút trong “Ngàn lẻ một đêm”. Năm 1940, đỗ Tú Tài, tiếp tục sáng tác và làm việc với Vũ Đình Long từ 40 đến 44.
– 1940: cưới người vợ đầu Hoàng Thị Hoàn.
– 1942: viết kịch thơ “Kiều Loan”.
– Cuối 1944: vì tình hình chiến sự, Mỹ ném bom chợ Hàng Da, nhà xuất bản Tân Dân phải dọn về làng Tám ở ngoại thành. Hoàng Cầm trở về Bắc Giang đưa gia đình về quê Thuận Thành.
– Tháng 9/1945: Hoàng Cầm cùng Hoàng Tích Chù lập ban kịch Đông Phương. Ngày 26/11/46, “Kiều Loan” được trình diễn lần đầu tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Buổi duy nhất, rồi bị Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban Giải phóng Hà Nội ra lệnh cấm, lý do: Pháp đã tấn công Hải Phòng. Ban Kịch Đông Phương đem “Kiều Loan” đi lưu diễn ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình… tại các đình làng.
– Ngày 19/12/46: chiến tranh bùng nổ, ban kịch Đông Phương phải giải tán. 1947–1948: Hoàng Cầm và Tuyết Khanh (diễn viên chính, đóng vai Kiều Loan) sống chung, giữa 1947, hai người cùng gia nhập Vệ quốc Đoàn. Hoàng Cầm sáng tác “Đêm liên hoan”. Thành lập Đội văn nghệ Tuyên truyền đầu tiên trong quân đội. Điều khiển và phát triển đoàn Văn nghệ Liên khu Việt Bắc từ 1948 đến 1952. 1948, sáng tác “Bên kia sông Đuống”.
– Tháng 7-8/1950: Đại hội Văn nghệ I họp tại Việt Bắc, quyết định loại trừ: tuồng, chèo, vọng cổ, và kịch thơ… ra khỏi nền văn nghệ cách mạng. Hoàng Cầm phải tuyên bố “treo cổ” kịch thơ của mình. Việc này sẽ được ông phản bác trong băng ghi âm —“Chúng tôi sẽ nói đến sau”.
– Tháng 7/1952: Tướng Nguyễn Chí Thanh điều động Hoàng Cầm về làm Đoàn trưởng Đoàn Văn công Tổng cục Chính trị đến đầu năm 1955.
– 1954: Hoàng Cầm, được cử tổ chức buổi Liên hoan mừng chiến thắng Điện Biên Phủ, đưa vào màn quan họ Bắc Ninh “Yêu nhau cởi áo cho nhau”, và bị “đả đảo !” “đồi trụy !”. Tướng Nguyễn Chí Thanh can thiệp để đoàn văn công tiếp tục trình diễn hết màn quan họ.
– 10/10/54: Hoàng Cầm và đoàn văn công Tổng cục Chính trị về tiếp quản Hà Nội.
– 1/1/1955: Văn công Quân đội chia làm ba đoàn, Hoàng Cầm điều khiển đoàn 1, chuyên về kịch nói, trong thời gian này, ông tham dự việc đòi cải tổ chính sách Văn nghệ Quân đội cùng Trần Dần, Tử Phác, Lê Đạt… và phê bình tập thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu.
– Tháng 4/1955: nộp đơn xin giải ngũ hoặc đổi sang Hội Văn nghệ, vì bị Cục phó Cục Tổ chức, thuộc Tổng cục Chính trị, buộc phải bỏ bà Lê Hoàng Yến.
– Tháng 11/1955: được đổi ngành sang Hội Văn nghệ, trách nhiệm nhà xuất bản Văn Nghệ.
– Tháng 2/1956, cùng Lê Đạt chủ trương “Giai phẩm Mùa xuân”. Tháng 9/1956, cùng Nguyễn Hữu Đang chủ trương “Nhân Văn”.
– Tháng 6-7/1958, chịu kỷ luật cùng với Trần Dần, Lê Đạt, Tử Phác, Đặng Đình Hưng… tuy nhẹ hơn, chỉ bị một năm khai trừ khỏi Hội Nhà văn, như Phùng Quán.
– 1982, bị bắt, tù 18 tháng vì tác phẩm “Về Kinh Bắc”.
– 1988, được “phục hồi”.

(Tập thơ “Về Kinh Bắc” vào 1982 khiến Hoàng Cầm phải bị bắt và ở tù 18 tháng)

Trong các bài đánh Hoàng Cầm, người ta thường dùng hai chữ “đồi trụy”, nhắm vào đời tư: Hoàng Cầm nghiện thuốc phiện –như Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Tử Phác– và có nhiều vợ. Người vợ đầu, Hoàng Thị Hoàn, là em gái ông Hoàng Hữu Nghị, Hiệu trưởng trường La Clarté ở Bắc Giang, cưới năm 1940, sinh con trai đầu lòng Bùi Hoàng Kỳ, và hai con gái Bùi Hoàng Yến –kịch sĩ, Hoàng Cầm nghi bị đầu độc chết– và Bùi Hoàng Oanh, chết đói cùng mẹ năm 1949. Bà Tuyết Khanh sống chung từ đầu 1947, đến tháng 1/48, sinh con gái, tên là Kiều Loan, nhưng hai người phải xa nhau. Sau đó ông sống với bà Xuyến, cô hàng xén chợ Hạnh. Từ tháng 5/1955, Hoàng Cầm sống với bà Lê Hoàng Yến, cựu hoa khôi Hà Thành, đã có 6 con riêng, ông có với bà Yến hai người con. Ông ly dị bà Xuyến khoảng 1956. Năm 1985, bà Lê Hoàng Yến đột ngột từ trần vì bị căng huyết áp trong lúc Hoàng Cầm –sau khi bị bắt, bị tù vì tác phẩm “Về Kinh Bắc”— bị bệnh tâm thần.

A- Tác phẩm:

(Thi sĩ Hoàng Cầm lúc về già)

– Kịch thơ: “Hận Nam Quan”, viết 1937, “Người Bốn Phương”, 1942; “Kiều Loan”, viết 1942, diễn 1946, Văn Học, 1992; “Lên đường”, Tân Dân, 1952; “Cô gái nước Tần”, Tân Dân, 1952; “Trương Chi”, chưa xuất bản, trích trên “Văn” số 24, ngày 18/10/57, và “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc” của Hoàng Văn Chí.
– Truyện: “Thoi mộng”, Tân Dân, 1940; “Hai lần chết”, Tân Dân, 1941.
– Kịch: “Ông cụ Liêu”, viết 1950, in 1951; “Đêm Lào Cai”, in 1957.
– Thơ: “Mắt thiên thu”, viết 1941, mất bản thảo; “Bên kia sông Đuống”, viết 1948, Văn Hóa, 1993; “Tiếng hát quan họ”, in chung trong tập “Cửa biển”, 1956; “Về Kinh Bắc”, viết 1959, Văn Học, 1994; “Mưa Thuận Thành”, Văn Hóa, 1987; “Lá diêu bông”, viết 1970, Hội Nhà Văn, 1993; “Men đá vàng”, truyện thơ, viết 1973, Trẻ, 1989; “Về cõi em”, viết 1992, chưa in.
– Dịch, phóng tác: “Hận ngày xanh”, phóng tác Graziella của Lamartine, Tân Dân, 1940; “Bông sen trắng”, truyện thần thoại của Anderson, Tân Dân, 1941; Những truyện thần thoại rút từ “Nghìn lẻ một đêm: Mang xuống tuyền đài”, Tân Dân, 1942; “Cây đèn thần”, Tân Dân, 1942; “Tỉnh giấc mơ vua”, Tân Dân, 1942; “Những niềm tin”, dịch thơ Boualem Khanfa, Algérie, 1965; “Mối tình cuối cùng” , dịch Dostoievski, Phụ Nữ, 1988, …
– Trong “Hoàng Cầm hồn thơ độc đáo”, Đông Tây, 2011, Lại Nguyên Ân tìm được: “Người điên”, kịch thơ một màn, 1946; “Quê hương”, thơ, Văn Nghệ, 1955; “Mẹ tôi kể lại”, truyện thơ, Văn Nghệ, 1955; “Hoa đào nở trước ngõ”, truyện thơ, Văn Nghệ, 1956.

B- Địa vị Hoàng Cầm trong Văn học:

Trong ba nhà thơ tác nhân chính của phong trào NVGP, Trần Dần và Lê Đạt là đàn em. Hoàng Cầm thuộc thế hệ đàn anh, cùng thời với Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng.
Nét khác biệt giữa ba nhà thơ nằm trong chữ nghĩa, ví dụ cùng bối cảnh sông nước :
Thuyền đi núi cũng phiêu bồng
Đáy sông lẩn sắc cầu vồng trao nghiêng…
Sông sâu chớp mắt thần linh
Thuyền qua thạch động thấy mình cao bay
Thơ Đinh Hùng – “Thủy mạc”
—– —– —– —– —– —– —– —– —– —– —–
Thuyền ơi! Tóc chảy đêm vàng
Giai nhân sóng soải hai hàng chiêm bao
Chồng tôi phóng ngựa phương nào
Mà dây vó sắt dẫm vào tuổi thơ
Thơ Hoàng Cầm – “Kiều Loan”
—– —– —– —– —– —– —– —– —– —– —–
Trăng liềm một mảnh lâng lâng bạc
Nghiêng xuống cành dương lá lá rơi
Nhịp theo tiếng trúc cao vời
Đất quay ngược hướng mơ trời Thuấn Nghiêu
Thơ Vũ Hoàng Chương – “Tâm sự kẻ sang Tần”

Thơ Đinh Hùng thanh thoát, nối kết âm–dương, trời đất–thủy thần. Đinh Hùng là nhà thơ của nước, của cõi âm. Thơ Hoàng Cầm diễm lệ, bi đát, hùng tráng hòa với đau thương, khổ đau tan trong mộng ước. Hoàng Cầm là nhà thơ của con người. Thơ Vũ Hoàng Chương điêu luyện, cao lộng, ẩn chí lớn tầm vóc càn khôn, Vũ Hoàng Chương là nhà thơ của vũ trụ.
Ba tài năng lớn của thi ca Việt Nam thế kỷ XX. Ba phận số. Phải chăng thơ luôn luôn vận vào người, nên trong ba nhà thơ, chỉ mình Hoàng Cầm mắc nạn chữ suốt đời. Vũ Hoàng Chương, trong “Nhớ Đinh Hùng” có nhắc đến “Dạ Đài” : “Hùng đứng làm cố vấn cho một nhóm thi hữu trẻ tuổi hơn trong đó có Vũ Hoàng Địch, Trần Dzần, Trần Mai Châu để xuất bản một giai phẩm lấy tên ‘Dạ Đài’. Quả là cái tên “tiền định”[2].
Khi Đinh Hùng mất, 24/8/1967, Vũ Hoàng Chương làm câu đối đặt trước áo quan :
Hồn sáu đường mê tìm Phật độ
Tình muôn trang sử mặc Trời ngâm

Và trong bài ai điếu trước mộ, câu :
Mênh mang một tiếng cười dài
Hồn lay bốn vách “Dạ Đài” cho tan !

Vũ Hoàng Chương tổng kết đời Đinh Hùng từ “Dạ Đài” đến “Mê hồn ca”, “Đường vào tình sử” … trong bốn câu thơ hàm súc, gợi buổi giao thời giữa thơ mới và thơ tượng trưng thập niên 1940 mà Hoàng Cầm, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, là những đại diện.
Tố Hữu làm thơ từ 1937, nhưng thập niên 40, chưa nổi tiếng. 1946, mới in tập “Thơ”[3]. Theo Hoàng Cầm trong băng ghi âm, trước kháng chiến, Tố Hữu đã có thơ đăng báo nhưng chưa ai biết Tố Hữu là ai, riêng ông để ý đến bài “Hồ Chí Minh” vì nó có những câu thơ “khát máu” quá đáng. Tựu trung, Tố Hữu đáp ứng yêu cầu thơ tuyên truyền, thơ đánh địch, thơ ca tụng lãnh tụ, theo đúng đường lối của Đảng mà Trường Chinh đã vạch trong “Đề cương văn hóa Việt Nam” (1943) và “Chủ nghĩa Mác và Văn hóa Việt Nam” (1948).
Tập “Việt Bắc” , in năm 1954, xác định Tố Hữu là nhà thơ hàng đầu của Đảng. Sau khi dẹp xong NVGP, uy thế Tố Hữu càng lừng lẫy, thơ ông trở thành kinh điển trong văn chương cách mạng sau thơ Hồ Chí Minh. Trong số những người viết về Tố Hữu, Đặng Thai Mai có nhận định xác đáng hơn cả :

– “Tố Hữu là nhà thơ chỉ viết để phục vụ cách mạng từ trước đến sau”.
– “Tình cảm trong thơ Tố Hữu là tình cảm của một chiến sĩ Cộng sản, luôn luôn đứng trên lập trường của Đảng mà tranh đấu, suy nghĩ, cảm xúc”.
– “Tưởng không cần nhắc lại một lần nữa rằng, trong các yếu tố đã xây dựng nên cái đặc sắc của thi sĩ, như trên kia đã nói, thì chính là hoạt động cách mạng theo đường lối của Đảng. Không có cái nội dung cách mạng đó, không có lập trường tư tưởng đó, thì cũng không có thơ Tố Hữu[4]

Đó là vị trí của Tố Hữu trong văn học.
Trong kháng chiến, Hoàng Cầm, Văn Cao, Phạm Duy, là ba nghệ sĩ có những đóng góp lớn. Ngoài sáng tác, Hoàng Cầm–Phạm Duy còn trình diễn khắp chiến trường Việt Bắc, xây dựng tinh thần kháng chiến quân. Giọng ngâm “oanh vàng đất Bắc” của Hoàng Cầm, xung động tinh thần tự hào của người lính Vệ quốc: “Rằng ta là Vệ quốc Đoàn”. Tiếng hát Phạm Duy giục giã thanh niên “cùng nhau xông pha lên đường” bảo vệ tổ quốc.
Hoàng Cầm ghi :

“Từ sau Cách mạng Tháng tám, Văn Cao với tôi và Phạm Duy đã trở thành bạn thân, lúc nào, ngày nào cũng có nhau, biểu diễn, sáng tác đều có nhau, thậm chí đi nghe hát ca trù (ả đào) hoặc đi uống rượu, đi cà phê sớm tối đều có nhau, khiến rất nhiều văn nghệ sĩ lúc bấy giờ đã gọi ba đứa chúng tôi là: “Bộ ba bất khả ly” (Les trois inséparables). Vậy thì Văn Cao phải có mặt trong tập “Giai Phẩm” [Mùa Xuân] này chứ ?”[5]

Cho kháng chiến, Hoàng Cầm đã góp hai lần xương máu: máu xương văn nghệ trong 9 năm sáng tác, trình diễn. Và xương máu gia đình: một vợ, Hoàng Thị Hoàn và một con, Bùi Hoàng Oanh, chết đói, 1949. Một em trai, Bùi Như Yên, chết trận, 1952.
Công lao Hoàng Cầm đối với văn học và kháng chiến giải thích một số vấn đề cụ thể :
– Hoàng Cầm có đủ tư thế văn nghệ để mời Văn Cao, Phan Khôi tham gia NVGP.
– Hoàng Cầm là người Nguyễn Hữu Đang thuyết phục giúp “Nhân Văn” trước tiên.
– Hoàng Cầm có đủ uy tín cách mạng để đương đầu với Tố Hữu, bênh vực Trần Dần.
– Khi bị thanh trừng, Hoàng Cầm đã viết “Về Kinh Bắc” từ 1959, gián tiếp kết tội Đảng.
– 1982, Hoàng Cầm lại bị bắt, chính quyền tịch thu bản thảo “Về Kinh Bắc”.
Cuộc đời Hoàng Cầm gắn bó với lịch sử, không chỉ lịch sử kháng chiến, lịch sử NVGP, mà lịch sử dân tộc. Từ tác phẩm đầu tay “Hận Nam Quan”, Hoàng Cầm đã xác định con đường dân tộc: phải đề phòng phương Bắc, phải ghi nhớ “Hận Nam Quan”.

C- Hận Nam Quan:

Phi Khanh bị bắt sang Tàu, Nguyễn Trãi bí mật theo cũi cha, để cùng chết. Tới Nam Quan, Phi Khanh bắt con phải trở về, tìm đường khởi nghĩa. Kịch thơ “Hận Nam Quan”, trước 1954, đã được giảng dạy trong vùng quốc gia, học sinh thuộc lòng những đoạn thơ :
– Con yêu quý ! Chớ xuôi lòng mềm yếu
Gác tình riêng, vỗ cánh trở về Nam !
Con về đi ! Tận trung là tận hiếu
Đem gươm mài bóng nguyệt dưới khăn tang
(…)
– Ôi sung sướng, trời sao chưa nỡ tắt
Về ngay đi ghi nhớ Hận Nam Quan
Bên Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt
Cha nguyện cầu con lấy lại giang san.

Đó là trích đoạn bài học thuộc lòng thời tiểu học, nhưng toàn thể kịch thơ là một tác phẩm “cổ điển” của học sinh trung học. Trong những đêm văn nghệ Tết, học sinh miền Nam thường có màn trình diễn “Hận Nam Quan”. Hoàng Cầm đi vào lòng dân tộc như thế.
Hoàng Cầm 15 tuổi, nhưng thơ không hề non nớt, đã có những câu “tiên tri”:
Đây là ải địa đầu nước Việt
Khóc trong lòng ghi nhớ Hận Nam Quan

15 tuổi, nhắc lại trang sử oanh liệt :
Đây Nam Quan, quân Nguyên rời biển máu
Thoát rừng xương, tơi tả kéo nhau về

15 tuổi, đe dọa quân Minh :
Hỡi quân Minh ! Sao không nhìn lịch sử
Mà vội vàng ngạo nghễ xuống Nam phương ?

15 tuổi, xác định lòng quật khởi của dân tộc :
Một ngày mai, khi Trãi này khởi nghĩa,
Kéo cờ lên, phất phới linh hồn cha
Gạt nước mắt, nguyện cầu cùng thiên địa
Một ngày mai, con lấy lại sơn hà.

Nhưng bọn bán nước cầu vinh nào có nghe.
Đó là bi kịch Hoàng Cầm và bi kịch chung của dân tộc.

D- Hoàng Cầm – Tuyết Khanh – Vũ Hoàng Chương:

(Hoàng Cầm trong những ngày kháng chiến chống Pháp)

Tháng 9/1945, Hoàng Cầm, Hoàng Tích Chù, Hoàng Tích Linh[6], Kim Lân, Trần Hoạt lập ban kịch “Đông Phương”. Hoàng Tích Chù làm trưởng ban. “Đông Phương” thường lưu diễn ở các tỉnh gần Hà Nội. Vũ Hoàng Chương kể lại chuyện một người bạn rủ Hoàng (Chương) đi xem kịch :

“Hoàng ạ, ban kịch “Đông Phương” của bọn Hoàng Tích Chù lực lượng có vẻ khá lắm (…) Tin đích xác đây này: “Tối mai ban kịch “Đông Phương” trình diễn tại Thái Bình, và diễn liền mấy tối sau nữa. Ngay tỉnh lỵ, Hoàng có đi với tôi sang bên đó không nào ?” (…) Đối với họ Phan, người ta còn khách sáo ít nhiều; chứ đối với Hoàng thì, toàn ban đều thân mật, coi như “cố nhân”. Có lẽ bởi họa sĩ Hoàng Tích Chù –em ruột Hoàng Tích Chu– là chỗ thế nghị của Hoàng chăng ? Hay bởi tác giả quan trọng của ban kịch là thi sĩ Hoàng Cầm, chỗ thanh khí của Hoàng, từng đã gặp nhau ở xóm Niềm bên Kinh Bắc ?[7]

Vũ Hoàng Chương vừa muốn “khoe” ban kịch “Đông Phương” coi mình là “cố nhân” mà cũng kín đáo kính trọng Hoàng Cầm như một bậc tài tử. Thời điểm ấy, mục đích Hoàng Cầm là dựng “Kiều Loan” nhưng tìm gần một năm, vẫn chưa “thấy” Kiều Loan. Đến tháng 8/46, tìm được Tuyết Khanh, bắt đầu dựng “Kiều Loan”, do Hoàng Tích Linh đạo diễn; Tuyết Khanh trong vai Kiều Loan; Hoàng Cầm vai Hiệu Úy… Về những buổi tập dượt “Kiều Loan”, Hoàng Cầm kể lại :

“… Nguyễn Huy Tưởng, hầu như không buổi tập nào là vắng mặt anh (…) Cả nhà thơ Vũ Hoàng Chương không biết vì quá mê nàng Kiều Loan của vở kịch hay mê người sắm vai Kiều Loan mà từ ngày đầu đọc vở, anh đã trở nên một khán giả quá siêng năng cả đến khi Kiều Loan phải “tản cư” đi diễn ở mấy làng trong tỉnh Bắc Ninh. Ngày nào anh cũng đến từ sớm, có khi nán lại dùng cơm trưa với diễn viên tại nhà anh Chù. Còn hai anh Lưu Quang Thuận,[8] Trúc Đường[9] là hai kịch tác gia mấy lần đến xem tập và phỏng vấn (…) và chuẩn bị ấn hành trọn vẹn kịch thơ “Kiều Loan” ngay trong năm 1946”[10].

Hoàng Cầm đáp lại Hoàng Chương bằng sự tương kính. Những tài năng lớn thường kính trọng nhau ngay từ buổi đầu. Nhưng rồi có chuyện ngang trái xảy ra: hai nhân tài cùng yêu một người đẹp. Vũ Hoàng Chương lúc đó đã có vợ là Đinh Thục Oanh, chị ruột Đinh Hùng, từ 1944, và Hoàng Cầm cũng đã có vợ là Hoàng Thị Hoàn và ba con, tại quê nhà. Vũ Hoàng Chương kể tiếp câu chuyện tình lạ lùng, đã khai sinh những câu thơ nổi tiếng với chữ Khanh đầy bí mật, và cũng là lịch sử một đoạn đời kháng chiến :
“…
Tối hôm đó diễn vở kịch thơ “Lên Đường” của Hoàng Cầm. Chỉ có 4 vai –đều vai chính cả !– Nhưng điều đáng nói là một trong bốn vai ấy đã do Tuyết Khanh đóng. “Người đẹp” này, Hoàng đã từng chiêm ngưỡng trên màn bạc rồi –phim “Cánh đồng ma” của ông bạn Đàm Quang Thiện[11] và cũng chẳng thấy gì đáng mê lắm. (…) Thế mà –ai học đến chữ ngờ !– cơn mê đã bắt đầu chiếm đoạt Hoàng trọn vẹn, cách hai tuần sau, để kéo dài mãi, đến giờ phút này cũng chưa hẳn nhòa tan đấy (…)
Nửa đời sương gió ngang tàng lắm
Mềm, chỉ vì Khanh, một trái tim…

Ôi, chỉ vì Khanh ! Vì Khanh ! Chắc chắn Khanh ngạc nhiên. Mà chính Hoàng lại đã ngạc nhiên trước hết. Ngạc nhiên gấp hai lần Khanh, gấp bốn lần Hoàng Cầm. Và gấp cả một trăm lần thiên hạ (…) Và hình như sau chuyến lưu diễn Thái Bình, mọi người đang sửa soạn tập vở “Kiều Loan” của thi sĩ Hoàng Cầm thì phải. (…) Thật ra, Khanh còn đang bận tập “Kiều Loan”, Hoàng cũng đang bận viết bài cho Thế sự, chẳng ai muốn mua dây tự buộc mình. Chỉ cốt hợp thức hóa mỗi liên hệ của Hoàng và Khanh thôi. Đừng để ai phá đám. Thí dụ nhà thơ Hoàng Cầm (…) Khăng khít như vậy mà rồi sau đêm mười chín tháng Mười Hai Dương lịch[12] Khanh và Hoàng khởi sự lạc nhau. Lạc thôi chứ chưa mất. Hoàng trên bước tản cư phiêu lưu tới phủ Xuân Trường, lòng nhớ Khanh càng nổi dậy. Chẳng biết con người bạc mệnh kia đã phải trải qua những nhịp cầu đoạn trường nào thêm ? Hiện nay ở đâu: Hưng Yên, Phủ Lạng Thương hay Bắc Kạn ?…
Khanh của Hoàng ơi, lửa bốn phương
Khói lên ngùn ngụt chén tha hương,
Nghe vang sóng rượu niềm ly tán
Chạnh xót nòi thơ buổi nhiễu nhương (…)

Một đêm trăng, Thứ Lang[13] dẫn Khanh từ Đống Năm[14] vào, cùng với Kiều Liên[15]. Mới tạm xa nhau chưa đến hai mươi tháng mà khi tái ngộ nhìn nhau cứ ngơ ngáo như trong mộng ấy thôi !
Khanh đã về trong lửa Túy hương
Khoé thu lộng gió tóc cài sương (…)

Qua năm 1949, Hoàng dời chỗ ở sang làng Duyên Tục (thường gọi là làng Tuộc), rồi lại chuyển tới huyện Đông Quan (làng Trầu). Nhưng cách Đống Năm vẫn không xa. Và như vậy, Khanh vẫn gần Hoàng. Vì Khanh đã ly khai hẳn với ban kịch “Đông phương”, không theo họ đi lang thang lưu diễn vùng Bắc nữa, mà về ở Thái Bình, sống đơn chiếc như một ẩn sĩ thời loạn (…) Đầu năm 1950, Hoàng trở về Hà Nội, giữa khi súng đạn tràn tới Liên khu Ba, Đống Năm bị phá nát, chẳng hiểu Khanh trôi dạt nơi nào[16].
…”
Tuyết Khanh và Hoàng Cầm rời Hà Nội sau ngày toàn quốc kháng chiến; giữa 1947, hai người gia nhập Vệ quốc Đoàn chiến khu 12, Hoàng Cầm thành lập Đội văn công Tuyên truyền đầu tiên trong quân đội cùng với Hoàng Tích Linh, Trúc Lâm, Văn Chung… Giữa đường gặp Phạm Duy, Ngọc Bích, cùng nhập bọn.Tuyết Khanh có mang 6 tháng, phải ở lại “an dưỡng trong một quân y viện ở huyện Hữu Lũng”, Hoàng Cầm, Phạm Duy tiếp tục đi lưu diễn ở Việt Bắc. Đầu năm 1948, Tuyết Khanh sinh con gái là Kiều Loan, nhưng hai người mất liên lạc. Tuyết Khanh về Thái Bình rồi hồi cư về Hà Nội. Năm 1950, Vũ Hoàng Chương về Hà Nội gặp lại Tuyết Khanh. Năm 1952, ban kịch “Sông Hồng” diễn “Thằng cuội” của Vũ Hoàng Chương, Hoàng mời Khanh đóng vai Hằng Nga nhưng nàng từ chối. “Từ đó, Hoàng với Khanh chẳng còn sánh vai nhau trong ảo mộng sân khấu một lần nào nữa. Hoàng cũng chẳng còn đủ hào hứng để viết thêm một vở kịch thơ nào”[17].
Thời ấy, Vũ Hoàng Chương đã nổi tiếng với “Thơ say” (1940), “Mây” (1943) và kịch thơ “Trương Chi” (1944) gồm ba vở: “Trương Chi”, “Vân Muội”“Hồng Điệp”. “Trương Chi” hay hơn cả, nhưng chưa thể sánh với “Kiều Loan” của Hoàng Cầm. Hoàng Chương nể Hoàng Cầm vì lẽ đó. Đến 1951, Vũ Hoàng Chương mới viết kịch thơ “Tâm sự kẻ sang Tần”[18]. Nếu không có “Kiều Loan”, chưa chắc đã có “Tâm sự kẻ sang Tần”, đó là hai tác phẩm lớn của thi ca Việt Nam.
Vì Tuyết Khanh mà Hoàng Chương bỏ kịch thơ.
Vì cách mạng, mà Hoàng Cầm phải treo cổ kịch thơ.
Hai thi tài. Hai mệnh số. Hai quyết định bi đát.

E- Kiều Loan:

Thân phận Kiều Loan lênh đênh như toàn bộ tác phẩm của Hoàng Cầm. Khởi thảo cuối xuân 1942 đến giữa 1943, đã tạm xong, Hoàng Cầm định đưa lên sân khấu Bắc Giang, nhưng bị viên chánh công sứ Pháp, thạo tiếng Việt, kiểm duyệt bỏ. Đến cuối 1943, ban kịch Hà Nội của Chu Ngọc định dàn dựng, cũng bị kiểm duyệt Pháp chặn.
Luyện tập trong bốn tháng. Trình diễn trong bốn giờ. Sáng 26/11/1946, tại Nhà hát Lớn, Hà Nội. Một buổi duy nhất, rồi bị Trần Duy Hưng ra lệnh đình chỉ. Đó là quyết định sai lầm đầu tiên của cách mạng về “Kiều Loan”.
Hoàng Cầm kể :

“Chúng tôi vừa hạ màn chót cho vở diễn lúc 1 giờ 15 phút. Sau những tràng vỗ tay kéo dài thì ông Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban dân tộc giải phóng thành phố Hà Nội cho người ra mời anh Chù, anh Linh và tôi lên trụ sở Ủy ban. Ông ra lệnh cho chúng tôi phải hoãn những đêm diễn đã được Ủy ban cho phép. Lý do: quân đội Pháp đã đánh Hải Phòng và càng ngày càng khiêu khích trắng trợn Hà Nội. (…) Thế là số phận vở kịch lại lênh đênh. Tôi ngậm ngùi se sẽ ngâm câu Kiều :
Phận bèo bao quản nước sa
Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.. ”[19]

Lần thứ nhì, 1948, Hoàng Cầm định trình diễn “Kiều Loan” trong ngày khai mạc Đại hội Văn hóa Toàn quốc[20] :
“…
Tôi đưa đơn đến tận tay anh Nguyễn Đình Thi, lúc đó đang là Tổng thư ký Hội Văn hóa Cứu quốc, đơn kèm theo kịch “Kiều Loan”. Rồi tôi hồi hộp chờ đợi (…)
Không khí cuộc gặp mặt bỗng trở nên nghiêm trang và lời mở đầu câu chuyện của anh Thi lại càng làm cho nó thêm lạnh nhạt, căng thẳng :
– Tôi đã nhận được vở kịch của anh. Cả lá đơn nữa. Anh Nguyễn Huy Tưởng và anh Nguyên Hồng đã giới thiệu “Kiều Loan” với tôi. Tôi cũng đã đọc qua (…)
Rằng hay thì thật là hay !
Hai tiếng cuối câu đay xuống, tôi nghe như có vẻ vừa giễu cợt vừa hững hờ. Và anh Thi cũng chỉ nói có thế. Không hơn nửa lời. Rồi anh thu dọn sổ sách, như có ý bảo tôi “Về đi !”. Cũng để cho anh lính mới làng văn biết rằng mỗi giờ mỗi phút với anh Thi là vàng ngọc đấy ![21].
…”
Cũng Nguyễn Đình Thi này, năm 1956, sẽ nài nỉ Hoàng Cầm, lúc đó trách nhiệm nhà xuất bản Văn Nghệ, in giùm tập thơ không vần sửa thành có vần theo lệnh Tố Hữu.
Sau lần trình diễn duy nhất tại Hà Nội ngày 26/11/46, “Kiều Loan” bị đình chỉ. Hoàng Cầm cùng ban kịch rời Hà Nội, đi lưu diễn ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình, đem “Kiều Loan” diễn ở các đình làng vùng Bắc Ninh, được gần một tháng.
Ngày 19/12/46 chiến tranh bùng nổ, ban kịch “Đông Phương” phải giải tán. Kịch bản “Kiều Loan”, bị thất lạc trong những năm kháng chiến. Bản chính do Lưu Quang Thuận giữ, khi Pháp nhẩy dù Bắc Cạn, bản thảo của các văn nghệ sĩ phải ném xuống hồ Ba Bể, trong đó có “Kiều Loan”.
Mãi đến 1970, nhờ một số bạn cũ còn giữ được bản đánh máy, Hoàng Cầm kết hợp, “trùng tu” lại bản thảo 1946. Năm 1992, “Kiều Loan” được xuất bản sau khi sáng tác 50 năm.
“Kiều Loan” chính là hóa thân của Hoàng Cầm. Những nghệ sĩ lớn thường tạo những tình huống có tính cách tiên tri. Sáng tác năm 1942, lúc Hoàng Cầm 20 tuổi và đã nổi tiếng. Trước một “tương lai sáng lạn” như thế, tại sao người thanh niên ấy lại nghĩ đến một nhân vật bi thảm như Kiều Loan ? Rồi Kiều Loan sẽ “vận” vào số phận Hoàng Cầm như một thực tại đớn đau mà người nghệ sĩ không thoát khỏi, trong cuộc đổi đời của đất nước. “Kiều Loan” trong thời Pháp thuộc và dưới thời cách mạng, đều bị cấm, không vì tình cờ, mà vì nội dung tác phẩm :

“Kiều Loan, con gái một cựu thần Tây Sơn, đi tìm chồng Vũ Văn Giỏi. Mười năm trước, theo lời Kiều Loan, Vũ lên đường giúp Quang Toản sau khi Quang Trung băng hà. Tới Phượng Hoàng Trung Đô, nghe tin Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền, Vũ ngả theo Nguyễn Ánh, trở thành Vũ tướng quân, bạo tàn càn quét những người dân chống lại nhà Nguyễn. Kiều Loan giả điên đến Phú Xuân, tại đây, nàng gặp ông già, thầy cũ của Vũ. Kiều Loan làm huyên náo cửa thành, cố tình bị bắt vào dinh, để nhìn lại người xưa. Kiều Loan và ông thầy cũ bị giam trong ngục. Kiều Loan uống thuốc độc tự vận cùng với ông già. Trước khi chết, nàng chém người chồng phản bội.”

“Kiều Loan”, một bi hùng ca bao quát lịch sử dân tộc, dõi vào những mốc chính: Nam Bắc phân tranh. Nguyễn Ánh cầu viện Pháp để diệt Tây Sơn. Gia Long thắng trận trở thành độc tài chuyên chế, tiêu diệt những khuynh hướng đối lập.
Một nội dung như vậy, tất nhiên, không chỉ thực dân Pháp căm giận :
Vì chính sự bạo tàn Ôi ! Nước mắt
Bao nhiêu lần rỏ xuống những hồn oan ?
Chính sự gì đi cầu viện ngoại bang
Về tàn sát những người dân vô tội

Mà tất cả những kẻ cầu viện nước ngoài để vững quyền chấp chính cũng phải hổ mình. Một triều đình vừa “thống nhất sơn hà”, nhưng lệnh đầu phát ra là lệnh cấm :
… Vua cấm đèn cấm lửa
Cấm dân gian đi lại ở kinh thành

Lệnh thứ nhì là cấm hát :
Vua có lệnh bắt những người hát nhảm
Đầu sẽ bêu sương gió nếp hoàng thành

Nhưng “Kiều Loan”, giai nhân tuyệt sắc, nào có sợ gì, nàng xuất hiện như một người điên, nàng cứ hát những lời phản biện :
Chị buồn chị hát vang lừng
Cỏ cây sa lệ núi rừng ngẩn ngơ

“Kiều Loan” là vở kịch thơ hay nhất của Hoàng Cầm và thời tiền chiến. Phải mười năm sau, “Tâm sự kẻ sang Tần” với bút pháp bay bổng của Vũ Hoàng Chương mới có thể kế vị.
“Kiều Loan” nói lên chí khí bất khuất của Hoàng Cầm trong thi ca, tiên tri định mệnh đất nước :
– Về cuộc “Cải cách Ruộng đất” :
Thà giết oan trăm mạng lương dân
Hơn để thoát một tên phản nghịch

– Về phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm” :
Mà trước mắt, cuộc xoay vần thời thế
Gạt ra ngoài hầu hết bậc tài danh
Bọn hủ nho nhan nhản khắp triều đình
Nơi tù ngục chất đầy người nghĩa khí
Gỗ mục, thép cùn múa tay trong bị
Lau sậy nghêng ngang làm cột trụ giang sơn

– Về cảnh chiến tranh cốt nhục tương tàn :
Một nước nhỏ mà phân chia Nam Bắc
Xâu xé nhau vì hai chữ lợi danh
Tam vương, ngũ đế, cướp đất phá thành
Mấy trăm năm nghe dân tình xao xao xác
Thay cái đạo làm người bằng giáo mác
Yến ẩm lầu cao… xương máu chan hòa

– Về ảo mộng chiến thắng :
Cờ nêu cao chiến thắng nhuốm chiêu dương
Mà rút lại cũng chỉ là giấc mộng.

Kiều Loan có những câu thơ lạnh người :
Chí lớn từ xưa chôn chật đất
Riêng đàn đom đóm lại thênh thang.

Bọn “đom đóm”, Hoàng Cầm đã thấy từ tuổi hai mươi, sau này sẽ sẽ ngập trời đất Bắc. Các “chí lớn” trong NVGP, và sau NVGP, đã và hiện còn đang bị chôn vùi trong ngục tối. Nhưng nhà thơ luôn luôn có lời chót :
Làm mất nhân tâm thì miếu lớn tượng to
Dân đạp dí xuống bùn là hết chuyện.

F- Hoàng Cầm – Phạm Duy, Việt Bắc (1947–1948):

1947–1948, giai đoạn khởi đầu, và cũng là giai đoạn quyết định số phận cuộc kháng chiến. Ở thời điểm này, đảng Cộng sản chưa thực sự ra mặt, chính sách Mác-Lê-Mao chưa chính thức công bố, toàn thể văn nghệ sĩ tương đối được tự do, họ tin tưởng vào cuộc kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Việt Minh. Những bài thơ, những bản nhạc hay nhất xuất hiện. Tinh thần xông pha của nghệ sĩ đã có tác dụng mạnh trên bộ đội và quần chúng. Nếu không có sự trợ giúp đắc lực của văn nghệ sĩ, diện mạo cuộc chiến chống Pháp chưa biết sẽ ra sao. Hoàng Cầm kể :
“…
Một ngày giữa năm 1947 –tôi và vợ tôi Tuyết Khanh (…) đã xông lên một vùng rừng núi đang rất xa lạ với mình, nhập luôn vào Vệ quốc Đoàn chiến khu 12, rồi mày mò, tìm bạn, thành lập ngay một đội văn nghệ tuyên truyền, có thể gọi là đội Văn công đầu tiên của quân đội (…) đến với từng trung đội, đại đội Vệ quốc Quân, dân quân, du kích khắp bốn tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Ninh, Lạng Sơn để biểu diễn đủ loại kịch ngắn, kịch nói, kịch cương, ngâm thơ, hát tốp ca, đơn ca, múa vài ba điệu dân dã học được của đồng bào miền xuôi, miền ngược (…) Nửa đêm nay tiểu đội A đi phục kích ư ? Trung đội C đi quấy rối địch ư ? Chập tối họ vẫn được nghe giọng ngâm thơ sang sảng…
Đêm liên hoan, bạn ơi, đêm liên hoan
Đầu nhấp nhô như sóng bể ngang tàng
Ta muốn thét cho vỡ tung lồng ngực
Vì say sưa tình thân thiết Vệ quốc Đoàn[22]

Nhiều khi họ lại “đồng ca” luôn theo đội văn nghệ :
Đường ta ta cứ đi
Nhà ta ta cứ xây
Ruộng ta ta cứ cầy
Đợi ngày…

Say sưa, họ còn vỗ tay theo điệu hát :
Ngày mai ta tiến lên
Diệt tan quân Pháp kia
Cười vui ta hát câu tự do…
Phạm Duy – “Nhạc tuổi xanh”[23]
…”
Hoàng Cầm tả lại bối cảnh gặp gỡ Phạm Duy trên lộ trình sáng tác và trình diễn :
“…
Vào một buổi chiều cuối thu 1947. Trên đường đê sông máng đi từ đập Takun[24] có ba người, 1 quàng ghi ta, 1 đeo accordéon (i.e. phong cầm), 1 đeo clarinette (i.e. một loại kèn nhỏ Tây phương), ngơ ngác hỏi thăm chỗ đóng quân của Đội Văn nghệ Tuyên truyền khu 12. Đó là anh P.D., Ngọc Bích và Ngọc Hiền, đang tìm về với đội văn nghệ của Hoàng Cầm sau khi đoàn kịch “Chiến Thắng” của các anh giải thể (…) Riêng P.D., trong khoảng 13 tháng sát cánh bên nhau tôi cần phải nói thêm rằng có anh trong đơn vị, người tôi như mọc thêm cánh (…) Tôi cứ chuyển quân liên miên… nay vừa biểu diễn ở Nhã Nam, mai đã sang Bố Hạ (…) Sáng ra lại xuất quân. P.D. mê man đi, vừa đi vừa lẩm nhẩm thầm thì sáng tác thì chợt đến khi bắt được một giai điệu đẹp, tha thiết, là anh ngồi ngay xuống tảng đá bên đường, lấy bút giấy ra ghi. Nếu chỉ qua được một đoạn đường mà xong được một bài, anh lập tức kêu tôi và các bạn dừng lại, túm tụm trên vệ cỏ, nghe anh hát.
Đường Lạng Sơn âm u (ù u)
Giờ bình minh êm ru (ù u)
Vẳng nghe tiếng súng trong sương mù
Đường Thất Khê bao la (à a)
Rừng núi ta xông pha (à a) (…)

Cứ như vậy, toàn đội, đặc biệt là P.D. đã truyền cho tôi sức mạnh dẻo dai để vừa đi vừa sáng tác. Ghi ngay thành thơ hoặc chủ đề kịch ngắn những cảm xúc, những ý tứ bất chợt loé lên trong tôi. Sáng tác đến đâu biểu diễn luôn đến đấy (…) trong vòng chưa đầy 12 tháng, P.D. đã liên tục sáng tác hàng chục ca khúc, có nhiều bài chỉ hát đôi ba lần, bộ đội đã thuộc lòng (…) Ở những tác phẩm của anh hồi đầu kháng chiến, tôi ít thấy cái da diết, thắm thiết đến khắc khoải như một vài ca khúc của Nguyễn Xuân Khoát, Văn Cao… Nhưng quả thật P.D. là người viết ca khúc được hầu hết các chiến sĩ bộ đội, cán bộ và thanh niên nam nữ khắp Việt Bắc lúc bấy giờ yêu mến nhất, nhắc nhở nhiều nhất, vượt xa các nhạc sĩ nổi tiếng cùng thời”[25].

Phạm Duy viết về giai đoạn này :

“Cuối năm 1947 đó, tôi và Ngọc Bích từ tỉnh lỵ bị tiêu hủy hoàn toàn là Thái Nguyên đi bộ qua Bắc Giang, tìm về làng Lan Giới thuộc khu Nhã Nam, Yên Thế (…)
Tôi và Ngọc Bích vác ba lô đi tìm Bộ chỉ Huy của Khu XII. Ở đó, tôi gặp Hoàng Cầm. Nó đang chuẩn bị thành lập một đội văn nghệ cho chiến khu này cùng với nhà viết kịch Hoàng Tích Linh, diễn viên Trúc Lâm và vợ chồng Văn Chung (…) Tôi và Ngọc Bích nhập ngay vào cái đội văn nghệ chỉ có vỏn vẹn bảy, tám người đó để từ Bộ chỉ Huy, chúng tôi đi lưu diễn ở những nơi có Vệ quốc Đoàn đóng quân trong ba tỉnh Bắc Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Gặp Hoàng Cầm, tôi yêu nó ngay. Nó bằng tuổi tôi[26]. Trong khi tôi thích đùa rỡn thì nó giống như một ông đồ non, lúc nào cũng ngồi hút thuốc lào, rung đùi, trầm ngâm. Nó đang sống chung với Tuyết Khanh (…) Đi theo Hoàng Cầm ra vùng kháng chiến, Tuyết Khanh, mà lúc đó Hoàng Cầm cũng đổi luôn tên là Kiều Loan, đang có thai và bắt buộc phải ở lại vùng trung du để Hoàng Cầm và chúng tôi lên đường đi lưu diễn. Trong bữa cơm đạm bạc để chia tay nhau giữa hai vợ chồng Hoàng Cầm tại Phố Nỉ (Bắc Giang), tôi còn nhớ cảnh Hoàng Cầm ngồi rung đùi ngâm thơ bên cạnh người vợ mà rồi đây nó sẽ không bao giờ gặp lại nữa, giọng ngâm buồn rười rượi…”[27]

G- “Đêm liên hoan”, “Tâm sự đêm giao thừa”,
“Bên kia sông Đuống”:
:

Phạm Duy viết về ba tác phẩm chủ yếu của Hoàng Cầm trong thời kháng chiến :
“…
Bài thơ Đêm Liên Hoan”[28] được viết ra ngay trong những ngày đầu đi công tác. Hoàng Cầm và tôi diễn ngâm bài này rất nhiều lần trước hàng trăm, hàng ngàn Vệ quốc Quân :
Đêm liên hoan đầu nhấp nhô như sóng bể ngang tàng.
Ta muốn thét cho vỡ tung lồng ngực
Vì say sưa tình thân thiết Vệ Quốc Đoàn.

Biết bao nhiêu Vệ quốc Quân “lao đầu vào giặc” sau khi nghe những lời thơ đầy hào khí và thân thiết này :
Trong tiểu đội của anh
Những ai còn ai mất ?
Không ai còn, ai mất
Ai cũng chết mà thôi.
Người sau kẻ trước lao vào giặc
Giữ vững nghìn thu một giống nòi
Dù ta thịt nát xương phơi
Cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam…

Ngoài bài thơ “Đêm liên hoan” soạn cho riêng tập thể chiến sĩ, Hoàng Cầm –cũng như tôi lúc đó– rất quan tâm tới người dân thường. Lúc đó tôi cũng đã đưa vào loại dân ca kháng chiến của tôi những hình ảnh anh thương binh, người mẹ già, người vợ hiền, đàn trẻ nhỏ… nhiều hơn là hình ảnh Vệ quốc Quân. Hoàng Cầm, qua bài “Bên kia sông Đuống”[29] cũng đưa ra một cách tuyệt vời những hình ảnh cô hàng xén răng đen, môi cắn chỉ quết trầu, cụ già phơ phơ tóc trắng, em bé xột xoạt quần nâu. (…) Những bài thơ kháng chiến như vậy đã được Hoàng Cầm và tôi diễn ngâm trong rừng sâu, trên đồi cao hay trong những hang đá dưới ánh đuốc bập bùng, có khi chỉ cách một đồn địch chừng vài ba cây số.
Vào khoảng đầu năm dương lịch 1948 tức là sắp sửa tới Tết âm lịch (…) Hoàng Cầm sáng tác thêm một bài thơ nhan đề “Tâm Sự Đêm Giao Thừa” mà tôi cho là tuyệt vời. Hoàng Cầm đưa ra hình ảnh một người lính giữ nước, đang đứng gác trong một khu rừng vắng, giữa đêm giao thừa (…) Bài thơ kết thúc với những câu thơ vẫn vô cùng thân yêu và đầy hào khí như trong những bài thơ khác của Hoàng Cầm :
Cha con ăn Tết lập lập công
Cho sữa mẹ chẩy một dòng nghìn thu.
Cha đem cái chết quân thù
Làm nên sức sống bây giờ của con. (…)

Phải ghi nhận một điều rất quan trong là tác dụng của bài thơ. Nó đã có khả năng diệt giặc hơn cả những võ khí tối tân lúc đó như SKZ (súng không giật) hay bazooka vân vân… Trong ba lô của bất cứ một Vệ quốc Quân nào cũng đều có những bài thơ chép tay của Hoàng Cầm. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp không thể nào thành công nếu không có những tác phẩm văn nghệ như những bản nhạc của Văn Cao, và những bài thơ của Hoàng Cầm, Quang Dũng (…) Còn nhớ có một lần, tôi và Hoàng Cầm ngâm bài thơ “Đêm liên hoan” cho bộ đội nghe 15 phút trước giờ tấn công đồn địch. Sau đó một anh bộ đội đã nói: “Tôi vào giữa đồn mà vẫn còn nghe tiếng ngâm thơ của các anh văng vẳng ở trong đầu”. Thế mới biết sức mạnh của văn nghệ[30].
…”

H- Đóng góp Máu xương trong Kháng chiến:

Nhưng kháng chiến không chỉ có hào hùng, mà còn là đói khát, chết chóc, kinh hoàng.
Hoàng Cầm nhắc lại thực trạng 1949, năm cam go nhất trong kháng chiến :

“… lên rừng sẵn sàng ăn cơm với muối, không có cả gạo nữa thì ăn cả củ mài (…). Măng nứa, măng mai là ăn vãn hết rồi. Mà vẫn đói quá, bởi vì năm 49 là năm đói nhất. Chính vợ Hoàng Cầm là một, con gái Hoàng Cầm là hai, chỉ vì đói, ăn lung tung cả mới sinh bệnh mà chết. Hai mẹ con chết liền trong một tuần lễ trong lúc tản cư năm 49.(…) Rồi đến năm 52, đóng góp một giọt máu nữa cho kháng chiến chống Pháp là người em ruột của Hoàng Cầm, nó cũng rất có tài về văn nghệ.(…) Hoàng Cầm cử nó làm Đại đội trưởng Đội Văn công Tây Bắc(…) Cậu ấy đi đánh phỉ và bị phỉ nó sát hại, cả một Đội Văn công 12 người, chết hết”[31].

Hồ Dzếnh cũng mất người vợ và con trai lên ba. Nhà thơ ghi lại bối cảnh kinh dị của người cha hôn cái xác bé bỏng : “Rồi cái hôn bò lên tóc, lên tai, lên môi, lên cổ, cái hôn đi lần xuống khắp người, và ngừng lại ở hạt giống bé nhỏ. Nhưng vẫn không một lời nói cất lên giữa cái mê đắm kỳ dị, man rợ đó, ngoài tiếng thở rít lên, hít vào khoan khoái. Lần cuối cùng người cha “ăn” con bằng những cái hít rùng rợn, cũng như ngày trước, chính con người đó, đã đôi lúc muốn “quay rô-ti” con lên”[32].
Và thay con, Hồ Dzếnh viết lại tâm cảm đứa bé nhay vú mẹ, người mẹ dốc cạn sữa cho con đến tàn lực, tàn hơi : “Có lúc tôi nhai mạnh đầu vú. Ở chỗ thịt nứt, nước miếng tôi thấm vào, tia sữa bị rút lên, nghe buốt đến tận ruột mẹ. Và sữa tuôn ra với máu, chảy tràn ra hai mép tôi, chất ngọt dịu pha lẫn mùi vị tanh hăng làm cổ tôi nuốt vội. Mẹ tôi co người, nghiến chặt răng lại, đôi mắt chớp chớp trong dòng lệ nóng hổi”[33].

I- Hội nghị Văn nghệ Việt Bắc 1950 –
Hoàng Cầm treo cổ kịch thơ của mình
:

1949 cũng là năm Mao thành công tại Trung Quốc, đuổi Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan. Tháng 1/1950, Đại hội III Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố chính thức đi theo đường lối Trung Quốc, thực hiện Đấu tranh Giai cấp trên toàn lãnh thổ.
Trong bối cảnh đó, Đại hội Văn nghệ tháng 8/1950 tại Việt Bắc, có tính cách quan trọng đặc biệt, quyết định dành ưu tiên cho Kịch (bộ môn có tương lai trong nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa) và loại trừ tất cả những sản phẩm văn nghệ được coi là tàn tích của phong kiến và tiểu tư sản như Tuồng, Chèo, Cải lương, Kịch thơ ra khỏi nền văn nghệ Cách mạng.
Quyết định này phù hợp với chính sách tiêu diệt phong kiến và loại trừ tiểu tư sản ra khỏi hàng ngũ Đảng. Quyết định này, đã buộc Hoàng Cầm phải “treo cổ” kịch thơ của mình, đã khiến Phạm Duy và nhiều văn nghệ sĩ khác bỏ kháng chiến vào thành, trong số đó có những Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Võ Phiến… sau này sẽ trở thành những cột trụ xây dựng nền Văn học Miền Nam.
Báo “Văn Nghệ” dành hai số đặc biệt 25 và 26 (8-9/1950) về Hội nghị Việt Bắc, với những lời giới thiệu xứng với tầm vóc Đại hội : “Ngày 26/7, hai năm sau Hội nghị Văn hóa Toàn quốc lần thứ hai, đã khai mạc cuộc họp mặt văn hóa văn nghệ năm 1950. Non 100 đại biểu của Việt Bắc, khu ba, khu tư, và khu năm rất xa, đã tề tựu dưới mái giảng đường trường văn nghệ nhân dân. Các đại biểu đã vượt hàng tháng đường dài qua rừng núi, nắng mưa, qua những đồn giặc”[34].
Báo “Văn Nghệ” số 26, giới thiệu “Hội nghị tranh luận sân khấu” với 2 bài chính : Bài “Biên bản”, không ký tên, và bài “Những ngày hội nghị” của Tô Hoài.
1- Bài “Biên bản” cho biết: Thế Lữ tuyên bố khai mạc hội nghị. Tố Hữu đặt vấn đề thảo luận. Đoàn Phú Tứ thuyết trình “Quan niệm xây dựng sân khấu Việt Nam” với bốn ý chính :
Tuồng: “Thái độ dứt khoát của chúng ta bây giờ là đưa nó vào Viện bảo tàng”.
Chèo: “Nên yêu chèo như một tử ngữ, hãy trân trọng xếp nó vào Viện bảo tàng”.
Cải lương: Cải lương Nam Kỳ là một nghệ thuật quái gở, lai căng, sản sinh ra ở một thời đại múa may quay cuồng, điên điên dại dại, để giải trí cho một lớp người cuồng vọng, không biết mình sẽ đi đâu, không biết mình đương nghĩ gì, đương cảm xúc thế nào, lớp ngưòi mới phát sinh trong thời Pháp thuộc, mất gốc mất rễ, và giao động đến cực độ”.
Kịch nói: “Một hình thức biểu diễn sân khấu mới nhất, tuy còn ít thành tích, nhưng rất nhiều tương lai”[35].
Trong phần tranh luận, chỉ Lưu Hữu Phước và Tống Ngọc Hạp bênh vực cải lương. Kết Luận: Tuồng, Chèo là tàn tích của thời phong kiến. Cải lương là sản phẩm của giai cấp tư sản. Chỉ giữ lại Kịch và phổ biến rộng rãi.
Bài “Biên bản” này không nói đến kịch thơ. Không nói đến sự kiện Hoàng Cầm thắt cổ kịch thơ. Tố Hữu được mô tả như một người ngoài cuộc, không có ý kiến. Nhưng theo Phạm Duy, Tố Hữu là người chủ đạo trong hội nghị.

2- Bài “Những ngày hội nghị”, của Tô Hoài cũng không nhắc đến vai trò của Tố Hữu. Tô Hoài chỉ thuật lại bối cảnh đêm diễn kịch thơ của Hoàng Cầm và việc Hoàng Cầm treo cổ kịch thơ, với văn cách rất quen thuộc của ông. Trước hết Tô Hoài tả bối cảnh chung :

“Tối nay, ba đội kịch đấu làm một. Đội “Liên khu Việt Bắc” diễn “Ngày hội tòng quân”, kịch thơ của Hoàng Cầm, đội “Vui Sống”: “Số phải đi xa” kịch vui của Võ Đức Diên, đội “Chiến thắng”: “Anh Sơ đầu quân” của Nguyễn Huy Tưởng. Khán giả không phải chỉ có một trăm đại biểu. Khán giả từ các làng xa trong cánh đồng, phụ lão ông, phụ lão bà, các trung nữ, các đồng chí nông dân, các (…) đêm nào cũng nghìn nghịt kéo đến, tối mưa thế nào cũng không bớt đông, đóm đuốc lượn rồng rắn rừng rực các bờ ruộng chật vòng trong, vòng ngoài sân khấu”.

Rồi ông nhận xét về kịch thơ “Ngày hội tòng quân” và giọng ngâm của Hoàng Cầm :

“Anh Dũng, chị Lụa đương tình tự trong “Ngày hội tòng quân”. Nói chuyện thường như ta nói qua bờ rào, nhưng đây đôi trai gái ấy lại đọc thơ cho nhau nghe. Có cái việc đi tòng quân mà cừ dùng dằng, bần thần mãi. Đứng dưới, bà con xì xào: “Sốt ruột thế!”“Cái chị phụ nữ tốt giọng nhẩy !”“Khốn khổ cái ông già ốm hay sao mà khặc khừ, lử đử vừa nói vừa run thế ?” (ông già ấy đọc thơ). Đại khái tự dưng người ta nói, hoặc tôi hỏi, người ta nói như thế. Tôi nhớ lấy. Để mai nghe Hoàng Cầm mổ sẻ về nó. Lâu lắm mới lại được nghe Hoàng Cầm ngâm thơ. Cái giọng tài hoa sang sảng ấy, ngày trước vang ngân giữa cái tai bạn –những “kẻ sĩ” tiêu dao ngày tháng– bấy giờ nó ấm, nó tê tái thế, mà sao bây giờ nó lại loãng, nó nhạt trước một đám đông công chúng, xù xì, nhộn nhạo thế này. Tôi nghĩ lẩn thẩn giọng Hoàng Cầm hỏng thế, hay là tại thơ Hoàng Cầm ?”

Sau cùng, Tô Hoài tả việc Hoàng Cầm tự kiểm thảo và tự treo cổ kịch thơ của mình :

“Chiều 22/3[36] Hoàng Cầm đứng trên diễn đàn (…) Hoàng Cầm nói về kịch thơ của mình (…) Anh phân tích “Ngày hội tòng quân” –“Tôi định làm thơ thì lại là tôi giết chết kịch. Định làm kịch thì chết thơ. Chỗ nào tác giả cho là lâm ly thì lải nhải, chỗ nào tôi chỉ có đối thoại thường, thì người xem lại cho là dễ nghe. Kịch thơ không thể sống được, nó không diễn tả đúng nhân vật. Bây giờ và cả mai sau, nó không thể còn đất đứng”.
Hoàng Cầm bùi ngùi (thật cái thái độ của nhà kịch thơ lúc bấy giờ như thế) Hoàng Cầm bế kịch thơ của anh lên ghế đẩu, từ từ dấn đầu nó vào cái thòng lọng, rồi đạp cái ghế đi.
“Hội nghị này thanh toán cho tôi câu chuyện kịch thơ. Tôi xin tuyên bố: cho đến vở “Ngày hội tòng quân” (1949), tôi cho là cái sản phẩm cuối cùng của một sở trường cũ của tôi”.
Sau lời kêu gọi đưa ma cái đám thắt cổ ấy của nhà kịch thơ Hoàng Cầm, cử tọa im lìm, tưởng đã nghe tiếng sinh, tiếng phèng phèng, đám đông đang sửa soạn khóc cười phúng viếng”[37].

Bài của Tô Hoài trích dẫn trên đây, tiêu biểu cho lối “viết, lách” thần tình của ông. Để chứng tỏ sự “xuống dốc” của Hoàng Cầm, Tô Hoài nhắc lại “giọng tài hoa sang sảng”“thành tích công tác treo đầy người” của Hoàng Cầm ngày trước, để chứng tỏ Hoàng Cầm bây giờ “tệ” như thế nào: kịch thơ gì mà đôi trai gái chia tay chỉ ngâm thơ, không thấy nói ! Ông già gì mà giọng run rẩy ! Giọng Hoàng Cầm loãng và nhạt, không biết là thơ dở hay ngâm dở… Mà dở như thế thì phải tự “treo cổ” thơ mình là cái chắc ! Có gì mà tiếc ! Tô Hoài có vẻ thú vị đã tìm ra những chữ đắc địa để đưa ma kịch thơ Hoàng Cầm: “tiếng sinh”, “tiếng phèng”, “tiếng khóc cười cúng viếng”!
Khéo thay bút pháp Tô Hoài !
Tiếc rằng sự lượn lẹo ngòi bút vẫn còn vài lỗ hổng :
Vào đầu, ông cho biết quần chúng “đêm nào cũng nghìn nghịt kéo đến” xem. Vậy người đọc sẽ tự hỏi: kịch thơ Hoàng Cầm “dở” như thế, mà sao quần chúng “đêm nào cũng nghìn nghịt kéo đến”? Rồi Tô Hoài hỏi: “Tại sao anh Dũng, chị Lụa không nói mà lại đọc thơ, khiến bà con xì xào: ‘Sốt ruột thế !’ ” Tức là ông mượn lời bà con để chê kịch thơ không nói như kịch nói đấy ! Tô Hoài tuyệt nhiên không nhắc đến việc Tố Hữu có tuyên bố gì, mà cũng không thấy ai chỉ trích kịch thơ, chỉ một mình Hoàng Cầm đứng lên tự xỉ vả và treo cổ kịch thơ của mình ! Mà lại chọn cái chết rất dở: tức là đưa ra một vở kịch tồi tệ của mình, tự “phân tích” và tự nhận lỗi “Tôi định làm thơ thì lại là tôi giết chết kịch. Định làm kịch thì chết thơ” để đi đến kết luận “Kịch thơ không thể sống được”. Tô Hoài viết vậy, chứ người đọc thì biết chắc Hoàng Cầm không ngu như vậy. Tác giả “Hận Nam Quan”“Kiều Loan” không thể “chết dở” như thế.

(Nhà văn Tô Hoài dùng ngòi bút điêu luyện để “chê bai” những
đêm kịch thơ “Kiều Loan” cuối cùng nào “cũng nghìn nghịt
người kéo đến” là cái thứ đáng “chết dở”)

Phạm Duy có mặt tại đấy, kể lại: “Đôi mắt của nó[38] vẫn còn sắc như dao, giọng nói của nó vẫn sang sảng”, chứ có loãng, có nhạt gì đâu ! Cả Vũ Cao[39]trong bài đánh Hoàng Cầm, cũng quả quyết: “Năm 50, trong một cuộc hội nghị văn công, Hoàng Cầm ngang nhiên tuyên bố: “Đảng không nên dúng bàn tay vào chuyên môn nghệ thuật”[40].
Hoàng Cầm suốt đời gắn bó với kịch thơ, lại đáo để và cũng không coi Tố Hữu ra gì, vậy trước khi buộc kịch thơ của mình phải tuẫn tiết, chắc chắn Hoàng Cầm đã nghĩ ra một cái chết oanh liệt, hoành tráng, nghĩa là ông phải đưa hết tài năng vào buổi trình diễn chót, vì thế mà quần chúng đã đội gió mưa “đêm nào cũng nghìn nghịt kéo đến”, để xem cái chết của “kịch thơ Hoàng Cầm” :
Một mãnh hổ chống sao đàn chó sói
Thân tan tành bêu máu chợ Kinh Đô[41].

Còn Tô Hoài, đây không phải là lần đầu và lần cuối ông viết bậy. Trong “Cát bụi chân ai”, Tô Hoài thuật lại rằng khi ông đưa bài đánh NVGP của mình trên báo “Nhân Dân” cho Nguyên Hồng xem, thì “Nguyên Hồng nói như hét vào mặt tôi: ‘Tiên sư mày, thằng Câu Tiễn !’ Ông thì không, Nguyên Hồng thì không. Nguyên Hồng quỳ xuống trước tôi, rồi cứ phủ phục thế, khóc thút thít”[42].
Năm 1993, về Hà Nội gặp Tô Hoài, tôi hỏi: “Tại sao anh lại viết thế ? Em thấy có cả bài của Nguyên Hồng đánh NVGP trên báo ‘Nhân Dân’ thì làm sao Nguyên Hồng có thể mắng anh được ?”. Bài Nguyên Hồng đăng “Nhân Dân” số 1451, ra ngày 2/3/1958, bài Tô Hoài đăng số 1461 ra ngày 12/3/1958, cách nhau có 10 ngày[43].
Ông bèn nói lảng: “Tôi nhớ đâu viết đấy chứ có nghiên cứu gì như cô !”. Tức là ông có thể bịa hẳn ra một giai thoại để chứng minh mình đã “sám hối” ngay từ đầu, và ông “thành tâm” ghi lại “sự thực” ấy trong “hồi ký”.

J- Hội Nghị 1950 dưới sự Ghi chép của Phạm Duy:

Rất may là Phạm Duy cũng ghi chép rất tỉ mỉ về Hội nghị Văn nghệ 1950, trong Hồi Ký Kháng Chiến, trọn chương 32, nhờ đó, ta có thể biết nơi họp Đại hội là “Yên Giã, một khu rừng nằm gần ranh giới hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn.” Từ Yên Giã, “đi vài quãng đường là tới Cù Vân, vượt qua Đèo Khế tới khu vực của các lãnh tụ. Hang Pác Bó là nơi ở của Chủ tịch họ Hồ cũng nằm ở đâu đây”.
Tới Yên Giã, Phạm Duy và Thái Hằng gặp Nguyễn Xuân Khoát “Và lập tức, anh dắt tôi tới gặp Tố Hữu, người bắt đầu nắm trong tay vận mạng của toàn thể văn nghệ sĩ. Tố Hữu già hơn hồi tôi gặp anh ở Huế, vẫn ăn nói nhẹ nhàng nhưng có cái đanh thép ẩn trong câu nói”.
Về Đại hội và đường lối của Đại hội, Phạm Duy viết :

“Thế rồi vào một ngày hè trong năm 1950 này, Đại hội Văn nghệ –có thêm vào đó hai chữ “Nhân Dân”— được khai mạc.(…) Trong ngày đầu tiên của Đại hội, tôi thấy Chủ tịch Đoàn đưa ra một đường lối gọi là “văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Mục đích chính là đưa ra một thứ kim chỉ nam cho tất cả mọi ngành sáng tác và biểu diễn. Mục đích phụ (hay đây mới là mục đích chính ?) là biểu dương lực lượng văn nghệ sĩ và “báo cáo” đường lối chỉ huy văn nghệ của Nhà nước cho các quan khách biết. Các quan khách đó là ai ? Đó một số cố vấn Liên Xô, Trung Cộng và vị tân khách Léo Figuères, đại diện của Đoàn Thanh niên Pháp Quốc đang ngồi ở hàng ghế đầu cùng với Trường Chinh, Tố Hữu, Trần Độ (…)
Tôi cũng gặp cả Hoàng Cầm vừa mới tới Yên Giã cùng với các diễn viên nổi tiếng trong ngành Kịch Thơ như Trần Hoạt, Kim Lân. Tôi thấy Hoàng Cầm gầy đi nhưng đôi mắt của nó vẫn còn sắc như dao, giọng nói của nó vẫn sang sảng”.

Về Hội nghị tranh luận sân khấu, Phạm Duy viết :

“Dưới sự chủ tọa của Thế Lữ, Hội Trưởng của Hội Sân Khấu, một anh hội viên là Đoàn Phú Tứ đứng ra thuyết trình về sự hình thành của sân khấu Việt Nam gồm có Tuồng Cổ, Chèo Cổ, Cải Lương, Kịch Thơ, Kịch Nói… và xin mọi người thảo luận để định nghĩa cho một hình thức sân khấu mới mẻ nhất là Thoại Kịch tức Kịch Nói. Sau nhiều tranh luận, Đoàn Phú Tứ tóm tắt các ý kiến của những người phát biểu. Tất cả đã nhất trí với định nghĩa này :
“Kịch là bộ môn nghệ thuật dùng sân khấu làm phương tiện trình bày những cảnh đời đang có mâu thuẫn. Khi mâu thuẫn đi tới chỗ kịch liệt thì phải giải quyết. Giải quyết xong mâu thuẫn là hết kịch.(…)”
Đã tưởng thế là xong phần thuyết trình và định nghĩa về Thoại Kịch sau khi các văn nghệ sĩ đã đồng ý với thuyết trình viên Đoàn Phú Tứ. Nhưng lập tức một số cán Bộ Chính trị đứng lên đòi Chủ tịch Đoàn phải bổ túc thêm vào biên bản của hội nghị :
“Giải quyết những vấn đề trong các vở kịch thì phải có lập trường. Vậy chúng ta đứng trên lập trường nào ? Lập trường phong kiến ? Lập trường tư sản hay tiểu tư sản ? Không. Phải đứng trên lập trường của giai cấp vô sản”.”

Về những phát biểu của Tố Hữu và việc Hoàng Cầm treo cổ kịch thơ, Phạm Duy viết :
“…
Trong một buổi họp khác, tổ kịch đang thảo luận về đặc trưng của các bộ môn sân khấu như Tuồng Cổ, Chèo Cổ, Cải Lương, Kịch Thơ và Kịch Nói, Tố Hữu đứng ra lên lớp anh em, trước hết là đả kích bài Vọng Cổ. Tố Hữu nói: “Vọng Cổ có âm điệu ủy mị, làm cho người nghe bị ru ngủ, lòng người nghe bị mềm yếu rồi người nghe cúi đầu xuống, tiêu tan cả chí phấn đấu”.
Lưu Hữu Phước, Tống Ngọc Hạp bèn kẻ trước người sau đứng lên bênh vực cho bài Vọng Cổ xuất xứ từ Nam Bộ của mình, nói rằng: “Vọng Cổ hay lắm, hay lắm, không bỏ được Vọng Cổ đâu ạ”.
Nhưng Tố Hữu cười khảy : “Vâng, bài Vọng Cổ hay lắm. Hay đến độ đã làm cho Việt Nam mất nước, bây giờ trong kháng chiến, ta phải nên cấm nó”.
Nghe thấy vậy, bụng bảo dạ, tôi nghĩ: “A! Tố Hữu nói như vậy thì có nghĩa là Đại hội Văn nghệ Nhân dân này phải có thái độ với bài hát đã “từ lòng nhân dân mà ra”.”
Lưu Hữu Phước và Tống Ngọc Hạp im lặng.(…) Chỉ huy xong sự khai tử bài Vọng Cổ, Tố Hữu đi tới phán quyết thứ hai của anh. Anh mạt sát thậm tệ Kịch Thơ: “Nội dung kịch thơ phần nhiều chỉ phản ảnh tinh thần phong kiến. Cốt truyện đưa ra toàn là những nhân vật quan liêu. Lối diễn xuất bằng sự ngâm nga, nghe thật là rên rỉ, lướt thướt. Kịch Thơ không thích hợp với cuộc sống động của toàn dân đang kháng chiến”.(…)
Sau khi Tố Hữu đã đả kích Kịch Thơ xong rồi, cử tọa bỗng im phăng phắc, mọi người chăm chú nhìn vào Hoàng Cầm, mục tiêu của sự đả kích. Hoàng Cầm đứng dậy, nhấc cái ghế đẩu mà nó vừa ngồi lên, trịnh trọng bưng ghế ra đặt ở giữa hội trường, lấy ở trong túi ra một sợi dây dài, dùng dây buộc tập kịch thơ, xong leo lên ghế đẩu, giơ tập thơ vừa mới bị trói chặt lên thật cao, tuyên bố :
“Tôi xin treo cổ Kịch Thơ. Bắt đầu từ ngày hôm nay.” (…)
Tôi bị phê bình là tiêu cực với những bài như “Bao giờ Anh lấy được đồn Tây”[44], “Bà mẹ Gio Linh”. Và tôi được khuyến khích để khai tử một bài hát quá ư lãng mạn và đang được phổ biến rất mạnh mẽ trong toàn quốc là bài “Bên cầu Biên giới”. (…) Phải nói rằng Đại hội Văn nghệ này rất thành công. Thành công ở chỗ đại đa số văn nghệ sĩ được “chỉ huy” mà không có ai dám phản đối gì cả. Nếu có phản đối, phải đợi khi tan xong Đại hội và trở về tới địa phương rồi mới phản đối bằng cách… “dinh tê”.[45]
…”
Ngày 1/5/1951, gia đình Phạm Duy bỏ kháng chiến, về Hà Nội, rồi vào Nam.
– Hội nghị Văn nghệ Việt Bắc 1950: là giọt nước cuối cùng làm tràn chén. Ở những hội nghị trước đã có những đổ vỡ: Hội nghị Văn hóa Toàn quốc II, 1948: Nguyễn Hữu Đang bất đồng với Trường Chinh, bỏ về Thanh Hóa.
– Hội Nghị Văn Nghệ 1948 và 1949: phê bình các tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng và Thơ không vần của Nguyễn Đình Thi.
– Hội Nghị Việt Bắc 1950: tiêu diệt Tuồng, Chèo, Vọng Cổ. Phê bình nhạc Phạm Duy. Bắt Hoàng Cầm phải treo cổ kịch thơ.

Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng lần lượt hồi cư (1950), Phạm Duy về thành(1951), Hoàng Cầm ở lại, để trở thành một trong những người lãnh đạo NVGP.
Sự việc Tố Hữu triệt hạ kịch thơ Hoàng Cầm còn có một lý do khác, đó là sự đối lập tư tưởng giữa hai người: một lối nhìn vong bản như “Thờ Mao Chủ tịch thờ Xít-Ta-Lin bất diệt” không thể sống chung với một tư tưởng ái quốc như “Về ngay đi ! Ghi nhớ Hận Nam Quan !”
Ngoài ra, toàn bộ kịch thơ Hoàng Cầm ấp ủ những chủ đề: Đề phòng phương Bắc. Phỉ báng sự cầu viện ngoại bang. Lên án cảnh cốt nhục tương tàn. Đòi hỏi tự do sáng tác. Cho nên, sau khi đã loại bỏ những hình thái văn hóa truyền thống của dân tộc như Tuồng, Chèo, Cải lương, đã cưỡng bức Hoàng Cầm treo cổ kịch thơ, đã bắt Nguyễn Đình Thi phải sửa thơ không vần thành thơ có vần, Tố Hữu được trên cho phép, thừa thắng xông lên, dẹp tan NVGP. Từ 1954, Tố Hữu trở thành soái chủ trên thi đàn miền Bắc (và sau 1975, cả nước), thơ ông biến thành “thánh kinh cách mạng”.
Trong hơn nửa thế kỷ, bao nhiêu thế hệ đã không biết gì về các tác phẩm của Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… đã không hay Phạm Duy, Hoàng Cầm là những nghệ sĩ có công đầu trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Bởi họ chỉ được đọc, học và suy tôn tài thơ Tố Hữu.
Không ai trách Trương Phúc Loan, Bùi Đắc Tuyên, nếu họ làm thơ dở. Tội của bọn này là chuyên quyền. Chuyên quyền trong triều chỉ có tội với vua. Còn chuyên quyền văn hóa là một tội đồ đối với dân tộc.

K- Hoàng Cầm Chối bỏ việc Treo cổ Kịch thơ:

Trong băng ghi âm nói chuyện với bạn bè, Hoàng Cầm chối bỏ việc này :

“Tôi dự hội thảo sân khấu do anh Lê Đạt tổ chức, được anh em bầu lên làm Chủ tịch đoàn cùng với Thế Lữ và Đoàn Phú Tứ. Ông Tố Hữu chỉ ngồi ghế nghe thôi, cuối cùng có nói vài câu kết luận. Lê Đạt làm thư ký hội nghị, nhưng thực chất là điều khiển, để mọi người, nhất là những người trẻ tuổi được tự do phát biểu, ai có ý kiến gì thì nói ra. Đêm hôm trước, tôi đem đoàn văn công của tôi lên trình diễn vở kịch thơ “Người con nuôi”. Có khoảng 150 người tham dự, gồm các diễn viên, đạo diễn, văn nghệ sĩ và một số dân các bản, cả Kinh lẫn Thổ. Vở kịch không thành công, tiếng vỗ tay lác đác. Vở kịch này tôi đã trình diễn trong các đơn vị quân đội hoặc các hội nghị ở Việt Bắc, rất được hoan nghênh, nhưng hôm diễn ở hội thảo ấy thì rơi vào im lặng, có thể nói là thất bại. Tôi nghĩ đối tượng của hội nghị là thảo luận, khán giả người miền núi thì ngơ ngơ ngác ngác, thành ra tôi cho là thất bại.
Anh Kim Lân bảo tôi: “Thôi anh à, kịch thơ có thể nghỉ đã, đừng làm nữa vì không có kết quả”. Sau này tôi mới biết là Kim Lân được ông Tố Hữu gợi ý vì ông Tố Hữu không thích kịch thơ. Tôi thấy Kim Lân có lý nên hôm sau tôi phát biểu không nên viết kịch thơ trong kháng chiến nữa vì kịch thơ không hợp với hoàn cảnh kháng chiến.
Tôi bị Thế Lữ phản đối ngay: “Anh Hoàng Cầm nói là nói vở kịch thơ của anh thất bại, chứ không phải toàn thể kịch thơ thất bại”. Tôi hoan nghênh sự phản đối của ông Thế Lữ, và mọi người tiếp tục tranh luận… Thế rồi sau này có người ở Khu Bốn ra nói với tôi: “Trong khu Bốn người ta đồn Hoàng Cầm treo cổ kịch thơ của mình. Ông Hoàng Cầm là trùm kịch thơ thế mà ông ấy khai tử kịch thơ thế thì có buồn cười không”. Anh em họ đồn thì cũng chẳng sao. Nhưng sau này, tôi đọc hồi ký Phạm Duy, thấy Phạm Duy viết hết sức bịa đặt. Hôm ấy Phạm Duy đâu có mặt, mà ở sân khấu hội nghị làm gì có xà nhà để treo, mà lại nói tôi treo cổ kịch thơ, để đưa ra cái dư luận ghê gớm ấy về tôi”[46].

Những điều Hoàng Cầm thuật lại trong băng ghi âm mà chúng tôi tóm lược những ý chính trên đây, không ổn :
1/ Hoàng Cầm nhớ nhầm, ông pha trộn nội dung Đại hội Hội Văn nghệ Toàn Quốc 1950 với các hội thảo tranh luận tại Đại hội Văn nghệ 1948 và 1949, do Lê Đạt tổ chức.
2/ Đại hội 1950, quan trọng hơn nhiều. Báo “Văn Nghệ” đặc biệt tháng 8 và 9 năm 1950 có đăng các bài tham luận và Phạm Duy tường thuật khá tỉ mỉ. Phạm Duy có thói quen ghi lại các sự kiện trong sổ tay, chính ông đã ghi chép thơ và ca từ của Văn Cao thời trẻ, đã bị thất lạc.
3/ Trong hội nghị Hoàng Cầm nhắc tới, ông trình diễn vở kịch thơ “Người con nuôi”, trong khi ở Đại hội 1950, theo Tô Hoài kể lại, đó là vở kịch thơ “Ngày hội tòng quân”.
4/ Việc treo cổ kịch thơ, có hai người kể, Tô Hoài viết tháng 8/1950: “Hoàng Cầm bế kịch thơ của anh lên ghế đẩu, từ từ dấn đầu nó vào cái thòng lọng, rồi đạp cái ghế đi”.
Phạm Duy viết sau, trong Hồi ký Kháng chiến: “Hoàng Cầm đứng dậy, nhấc cái ghế đẩu mà nó vừa ngồi lên, trịnh trọng bưng ghế ra đặt ở giữa hội trường, lấy ở trong túi ra một sợi dây dài, dùng dây buộc tập kịch thơ, xong leo lên ghế đẩu, giơ tập thơ vừa mới bị trói chặt lên thật cao, tuyên bố: ‘Tôi xin treo cổ Kịch Thơ. Bắt đầu từ ngày hôm nay’ ”.

Vậy việc treo cổ kịch thơ là có thật. Tô Hoài viết vội, không để ý đến chi tiết, nên có sơ hở: trên sân khấu làm gì có thòng lọng sẵn. Phạm Duy tả kỹ hơn, rõ từng chi tiết: Hoàng Cầm lấy trong túi ra một sợi dây, buộc tập kịch thơ, rồi leo lên ghế đẩu, giơ tập thơ bị trói chặt lên cao… Những chi tiết này cho thấy Phạm Duy kể chuyện mạch lạc hợp lô-gíc và hành động của Hoàng Cầm không bột phát mà đã suy nghĩ từ trước. Một hành động như vậy, không thể quên được. Vậy tại sao Hoàng Cầm lại chối bỏ nó ? Có thể do hai áp lực :
1- Áp lực nội tâm: Hành động tự trói cổ kịch thơ, khai tử trước tác trước kháng chiến, bị chế độ tung ra, tuyên truyền như một hành động nhát sợ, tự mình trói mình, không dám nhìn nhận sự nghiệp văn chương của mình, làm cho Hoàng Cầm muốn chối bỏ hành động này.
2- Áp lực chính trị: Một số bài thơ trong tập “Về Kinh Bắc”, đặc biệt “Lá Diêu Bông”, “Cây Tam Cúc”, được truyền ra ngoại quốc và một số người chống Cộng ở hải ngoại viết bài ca ngợi tinh thần “chống Đảng” của Hoàng Cầm, khiến ông bị 18 tháng tù. Phạm Duy phổ nhạc “Lá Diêu Bông” và quảng bá như một tác phẩm chống Cộng; việc này lại cũng gây cho Hoàng Cầm nhiều hệ lụy, khiến ông rất bất bình Phạm Duy.
Nhờ băng “Hoàng Cầm nói chuyện với bạn bè”, ta biết việc chính quyền đàn áp Hoàng Cầm trong suốt 10 năm, từ 1982 đến 1993 vì tác phẩm “Về Kinh Bắc” ra sao và nhờ đó, chúng ta có thể hiểu được tại sao Hoàng Cầm “chối bỏ” Phạm Duy, chối bỏ việc treo cổ kịch thơ do Phạm Duy thuật lại. Nhưng đồng thời Hoàng Cầm cũng chối bỏ hành động phản cách mạng hoành tráng của mình mà Phạm Duy, người bạn thân đã viết lại để ghi vào văn học sử.

(Nhạc sĩ Phạm Duy thời kháng chiến cũng tỏ ra bất bình trước sự đàn áp
của nhà cầm quyền Cộng sản đối với nhóm “Nhân Văn Giai Phẩm” nên
đem gia đình bỏ trốn về miền Nam. Sau năm 1975, ông ta đem gia đình
trốn lánh một lần nữa ở Hoa Kỳ, nhưng đến gần cuối đời lại mang gia
đình trở về Việt Nam sống trong chế độ Cộng sản)

L- “Về Kinh Bắc”, Hoàng Cầm bị bắt, bị tù 18 tháng:

Hoàng Cầm, có những hành động bi tráng mang chất anh hùng ca, nhưng bình thường bản tính ôn hòa, ít chống đối trực tiếp, chủ trương dùng nghệ thuật để nói lên tư tưởng. Đối với các bạn trong NVGP, Hoàng Cầm, thuộc lớp đàn anh, nhưng bình đẳng hơn Văn Cao, chịu đựng, nhường nhịn anh em. Đặng Đình Hưng, Trần Dần thường chê thơ Hoàng Cầm cổ. Văn Cao “mắng” Hoàng Cầm nhát. Trần Dần trong nhật ký, cũng chê Hoàng Cầm nhát, hay khai. Hoàng Cầm không chấp. Không chấp ai cả. Khi Tố Hữu từ trần, Hoàng Cầm viết bài điếu có câu: “Cầu Trời Phật cho anh được siêu linh tịnh độ trong khói trầm từ đài hoàn vũ quảng đại và nhân từ”. Chỉ một mình Lê Đạt hiểu và kiên trì bênh vực Hoàng Cầm. Đối với Lê Đạt, Hoàng Cầm là người can đảm chữ. Người làm thơ chỉ cần can đảm chữ”. Lê Đạt luôn luôn có những nhận thức độc đáo.
Tác phẩm chính trong thời kỳ NVGP của Hoàng Cầm là kịch thơ “Trương Chi”. Hoàng Cầm mượn hình ảnh tiếng hát để khẳng định không thể cưỡng bức nghệ thuật: “Tướng công vừa truyền lệnh / Khóa kín cửa lầu, lấp cả dòng sông / Để không còn tiếng hát”, thì Mỵ Nương tha thiết yêu tiếng hát, đã năn nỉ người hầu gái: “Chị van em. Em đi tìm tiếng hát / Giấu tướng công, em lót áo, đem về”[47].
Sau khi NVGP bị thanh trừng, tưởng rằng “Kình vào lạch đã hết đường vùng vẫy”[48]. Nhưng không. Từ đông 1959 đến cuối xuân 1960, Hoàng Cầm đã làm xong “Về Kinh Bắc”, phản ảnh ý chí quật cường của nhà thơ trước bão tố dập vùi. “Về Kinh Bắc” được chép tay, truyền đọc như hầu hết những bài thơ khác của Hoàng Cầm. Tưởng đã yên thân. Ai ngờ. Tai nạn lại đến.
Theo họa sĩ Bùi Thanh Phương, con trai họa sĩ Bùi Xuân Phái, sự việc như sau :

Năm 1982, Trần Thiếu Bảo[49] định in “Về Kinh Bắc” với bìa của Văn Cao, đem bản thảo đến nhờ Bùi Xuân Phái vẽ phụ bản. Bùi Xuân Phái và con trai đều đọc, không thấy có gì là “phản động”, ông nhận lời vẽ 6 bức. Trần Thiếu Bảo đến lấy tranh. Vài hôm sau được tin Hoàng Hưng bị bắt, bị quy kết tội “lưu truyền văn hóa phẩm phản động”, bị đi tù cải tạo 39 tháng. Bản thảo cùng tranh Bùi Xuân Phái bị tịch thu.
“Những ngày tháng đó chúng tôi thực sự đã sống lo âu sau khi nghe tin Hoàng Hưng bị bắt, Hoàng Cầm bị bắt, rồi Thiếu Bảo bị gọi lên thẩm vấn… Trong vụ bản thảo ‘Về Kinh Bắc’ này, nhà thơ Hoàng Cầm bị bắt giam 18 tháng, và tâm trạng của Bùi Xuân Phái khi đó là lo âu nơm nớp như cá nằm trên thớt”[50].

Theo Hoàng Hưng, ông bị bắt vì xin Hoàng Cầm một bản đưa vào Sài Gòn cho các bạn đọc. Cùng lúc ấy Nguyễn Mạnh Hùng (Nam Dao) định đưa bản thảo “Về Kinh Bắc” ra ngoại quốc để in. Chính quyền kết hợp hai việc lại để bắt Hoàng Hưng. Nguyễn Mạnh Hùng được báo trước nên không cầm bản thảo “Về Kinh Bắc” ra máy bay nữa.
Sau khi bị giam 18 tháng, Hoàng Cầm được thả về, ông bị bệnh tâm thần từ 1985 đến 1987. Hỏi về nguyên do, bệnh trạng, Hoàng Cầm cho biết :

“Sau khi tôi bị giam cầm 18 tháng, từ đó đến khi được về thì những Bác sĩ quen của tôi họ đều thống nhất một điểm là tâm thần của tôi tự nhiên nó bị ở hai dạng:
– trước tiên là hoảng loạn,
– thứ hai là trầm uất.
… Hoảng loạn một cách hết sức lặng lẽ. Ví dụ nghe một tiếng còi ô-tô và một cái gì như là frein ô-tô (i.e. tiếng xe thắng lại) rít lên ở ngoài cửa –mà lúc bấy giờ tôi ở tít tận trong nhà cơ– nhưng khi nghe thấy như thế, vào lúc độ gần nửa đêm chẳng hạn, thì tự nhiên tôi co rúm lại và hết sức sợ hãi. Nó như là một cái bản năng đấy, tìm chỗ trốn.(…)
Thứ hai là dạng trầm uất. Có khi cả ngày tôi không nói một lời. Bạn bè đến, tôi vẫn cứ tỉnh táo đi pha trà mời mọi người có vẻ lịch sự lắm. Nhưng đến khi người ta hỏi tôi về bất cứ một cái gì đó thì tôi không trả lời”[51].

M- “Về Kinh Bắc” và Xà lim bộ:

Trong băng ghi âm Hoàng Cầm kể lại giai đoạn này như một cuốn tiểu thuyết, chúng tôi chỉ tóm lược những ý chính, trong khi chờ đợi toàn bộ cuốn hồi ký được in ra, như một tư liệu trực tiếp về sự đàn áp văn nghệ sĩ dưới chế độ toàn trị ở Việt Nam :
“…
Chúng tôi bắt đầu làm thơ lại ngay từ năm 1959. Đặng Đình Hưng làm được tập thơ “Cửa ô”, tôi làm “Về Kinh Bắc”, Trần Dần làm “Cổng Tỉnh” và Lê Đạt làm những bài thơ về Yên Bái[52]. Tập “Về Kinh Bắc” tôi viết trong năm tháng, từ cuối năm 1959 đến đầu năm 1960, đêm nào cũng viết. Lối sáng tác của tôi là như thế, ví dụ như bài “Lá Diêu Bông”, những đêm trằn trọc không ngủ, thì như có một giọng nữ văng vẳng đọc bên tai, từ đầu đến cuối, mình chỉ việc ghi lại, mà phải ghi ngay, để độ 3, 4 phút sau là quên hết. Vì vậy, khi đi ngủ tôi luôn luôn có giấy bút để sẵn bên cạnh. Làm xong thơ, người đầu tiên tôi đọc cho nghe là một anh sinh viên văn khoa, tên Trần Sơn Nam. Anh nghe và chép lại, anh là người thuộc tập thơ “Về Kinh Bắc” của tôi từ năm 1960. Thì ít lâu sau có dư luận trên Tuyên huấn nói rằng: “Ông Tố Hữu bảo bọn ‘Nhân Văn’ bây giờ chúng nó phát điên, chúng nó làm thơ quái quỉ gì, không ai hiểu được.
Năm 1973, tôi bị mời ra Sở công An Hà Nội để cảnh cáo lần đầu. Người tiếp là ông Nguyễn Doãn Nhạ, bảo: “Anh truyền bá những bài thơ có tư tưởng xấu cho thanh niên, sinh viên, rồi chúng đem truyền bá lẫn nhau để chửi Đảng. Chúng tôi là những người ‘canh-gác-cho-bầu-trời-tư-tưởng’, gọi anh lên để cảnh cáo, anh phải thu hồi lại ngay tức khắc”.
Làm thơ ai chả muốn có người đọc, mà cái thơ nó đã đi ra, người ta đã thuộc lòng rồi, tôi “thu hồi” làm sao được. Tôi chỉ hứa từ nay không phổ biến bất cứ cái gì nữa. Rồi tôi phải viết kiểm thảo độ hai trang, mất độ 2 tiếng, nói rõ tư tưởng trong thơ, đại khái chỉ có nỗi buồn, buồn hiu hắt, chứ chả có gì xấu. Rồi họ cho về. Từ đấy tôi chẳng đọc thơ, chép thơ cho ai nữa, sợ nhỡ nó bắt được. Nhưng tôi chép riêng cho tôi một tập rất đẹp, độ 200 trang, khổ giấy to. Tôi đưa ông Bùi Xuân Phái vẽ cho tôi 3 tranh minh họa đẹp lắm, ông vẽ cả chân dung tôi nữa. Sau lại có bìa của Văn Cao, bìa chỉ trình bầy chữ, chứ không vẽ. Tôi giao cho Café Lâm giữ, dặn giữ kỹ, đừng cho ai đọc.
Chín năm sau, 1982, Hoàng Hưng, là nhà thơ trẻ mà tôi rất quý, ở Sài Gòn ra Hà Nội bảo: “Anh chép cho em cả tập ‘Về Kinh Bắc’ để em mang vào Sài Gòn. Trong ấy họ thèm khát lắm”. Hoàng Hưng xin Minh Đức cho tôi 200 tờ giấy đẹp. Thế là tôi chép, mỗi đêm chép một ít, độ 10 ngày xong. Chép xong, tôi đưa cho Hoàng Hưng. Hoàng Hưng hẹn lúc 10g30, 11giờ, đêm 18/8/1982 ở nhà Trần Thiếu Bảo, anh Bảo cũng mở quán cà phê hay rượu gì đó, đến uống chén rượu chia tay, mai em về Sài Gòn, đi Tàu thủy. Trong quán cũng còn một vài người khách.
Tôi giao cho Hoàng Hưng tập “Về Kinh Bắc”, thì Hoàng Hưng lại có sẵn bìa do anh Văn Cao trình bầy và bốn tranh phụ bản của Bùi Xuân Phái. Vì Hoàng Hưng có nói với Bùi Xuân Phái và Văn Cao là em sẽ có tập Về Kinh Bắc của anh Hoàng Cầm, các anh cứ làm phụ bản, bìa cho em, khi nào anh ấy chép xong thì em đóng thành một tập mang vào Sài Gòn. Hoàng Hưng khoe tôi cái bìa của Văn Cao và bốn bức tranh của Bùi Xuân Phái, có ba bức tôi thích lắm bởi vì Bùi Xuân Phái đã đọc “Về Kinh Bắc” rồi và anh đã từng vẽ phụ bản cho tôi chín năm trước đây, bản tôi gởi Café Lâm.
Một hôm tôi mượn bản Café Lâm cho một anh bạn cùng quê, đến uống rượu muốn xem. Xem xong anh ấy đã trả lại và tôi để trên bàn trước cửa sổ, vậy mà ngay đêm hôm ấy tôi tìm lại không thấy nữa, bản Café Lâm cũng có bốn phụ bản của Bùi Xuân Phái rất đẹp. Mất thì sinh nghi. Mọi người bảo có lẽ cái tên Trần Tường Bách gì đó, nó lấy, nó là đứa thấy sách quý thì ăn cắp, mà đã có lần nó mang giấy bút đến xin tôi chép cho vài bài thơ trong cuốn “Về Kinh Bắc” rồi, có lẽ nó lấy chăng ?
Trở lại việc tôi bị bắt, sau khi giao bản viết cho Hoàng Hưng tôi trở về nhà. Ngày hôm sau, 19/8 tôi vẫn bán rượu như thường. Đến sáng 20/8, khoảng 9 giờ, trong lúc vợ tôi đi chợ, ba người vào nhà, một anh tên là Phú và hai người lạ mặt bồng súng. Anh tên Phú đọc lệnh bắt, chiếu theo điều này, điều nọ, của bộ luật… tên Bùi Đăng Việt –họ nhầm, tên tôi là Bùi Tằng Việt– sáng tác, tàng trữ, lưu hành những tài liệu –họ không nói là thơ– đồi trụy phản động. Lệnh: khám nhà, tịch thu tài liệu và bắt do Nguyễn Doãn Nhạ, Trưởng phòng Chính trị Sở Công an Hà Nội, ký.
Khám từ 9 giờ sáng đến 2 giờ chiều. Lấy đi tất cả, cả sách của con trai tôi đang học, nó đòi lại mới trả. Còn bất cứ một cuốn sách, báo, một tờ giấy nào, có một chữ của tôi trên bìa, trên trang, hay ở góc nào, là họ lấy mang đi hết. Họ tịch thu cả thư riêng của tôi. Vợ tôi xin lại những bức thư và thơ tôi viết cho bà ấy hồi chúng tôi mới quen nhau nhưng họ cũng không cho. “Nhưng cái đau đớn nhất là họ tịch thu tất cả chữ của tôi”, không một chữ nào tôi viết ra mà thoát, một chữ, một câu, một câu thơ, một bài thơ, một quyển thơ… Lúc đó tôi đã bắt đầu viết kịch thơ “Men đá vàng”, ba màn viết xong được hai. Tôi nhớ màn đầu hay lắm. Nhưng bị tịch thu hết sạch, họ không để lại cho tôi một chữ nào !
Từ năm 1984 đến bây giờ, tôi đã đòi rất nhiều lần, qua đơn, qua lời nói: đó là tài sản của tôi –không phải là tiền– phải trả lại cho tôi, nhưng không có kết quả. Sau này, Sở Công an Hà Nội có những người tốt, họ cũng muốn tìm lại cho tôi, nhưng tìm không ra. Nếu là “tài liệu phản động” thì họ phải giữ lại để điều tra chứ ? Tôi nghĩ là đã có lệnh đốt đi rồi. Ai ra lệnh đó chắc là họ không muốn sáng tác của tôi lưu lại cho đời sau, phải hủy, đó là số phận của tập “Về Kinh Bắc” và những bài thơ, những câu thơ, những chữ của Hoàng Cầm, năm 1982.

(Họa sĩ Bùi Xuân Phái, người vẽ tranh bìa cho tập thơ “Về Kinh Bắc”
sau khi đã xem qua nhưng tác phẩm thơ đó đối với nhà cầm quyền Cộng
sản Việt Nam được xem là thứ “đồi trụy phản động” phải bị tịch thu,
tiêu hủy, và truy nả những ai liên quan đến tập thơ đó, vào năm 1982)

N- Vụ “Về Kinh Bắc” theo Hoàng Hưng:

Hoàng Hưng, bị bắt và bị tù 39 tháng, kể lại :
“…
Trong một lần ra Hà Nội vào cuối những năm 1970 hay đầu 1980 (…) tôi được nhà thơ khoe một bản thảo “Về Kinh Bắc” do ông chép tay chữ rất đẹp, bay bướm uyển chuyển, có mấy phụ bản tranh của Bùi Xuân Phái vẽ các cô gái quan họ. Đó là tập bản thảo mà ông đã bán cho ông Lâm chủ quán cà phê chuyên sưu tầm tranh của các hoạ sĩ nổi tiếng ở Hà Nội, nay ông mượn lại, có lẽ để khoe với những người bạn mới, có thể là Việt kiều chăng ? Nhân dịp, tôi đã xin nhà thơ chép cho ba bài Cây – Lá – Quả đem về Sài Gòn khoe vài người bạn văn nghệ “chui” vốn là dân Sài Gòn cũ (…).
Trong chuyến ra Hà Nội tháng 8 năm 1982(…) Tôi đến chơi, lại nghe ông than là vừa bị mất tập bản thảo “Về Kinh Bắc” mượn lại của Lâm cà phê (chắc hẳn Công an đã lấy đi làm hồ sơ cho vụ án “Về Kinh Bắc” đang chuẩn bị). Ông tỏ ra rất tiếc xót, vì khó có cơ hội làm lại một tập đẹp như thế. Tôi hứng lên, nói sẽ làm lại cho ông một tập đẹp hơn thế. Ông bảo tôi đến gặp Trần Thiếu Bảo ở phố Bát Đàn, nhờ ông này mua giấy và bút bi loại tốt để ông chép. Trần Thiếu Bảo nhận lời ngay (…) Thế là việc chép tay “Về Kinh Bắc” tiến hành. Tôi đồng thời đến xin Văn Cao một phác hoạ làm bìa tập thơ “Về Kinh Bắc”, và xin Bùi Xuân Phái mấy phụ bản. Ít ngày sau, tôi vui sướng có trong tay một bức hoạ mấy cái lá bay (chắc là “lá diêu bông”) của Văn Cao và 4 phụ bản màu nước của Bùi Xuân Phái vẽ những cô gái quan họ nón quai thao áo tứ thân.
Có một chi tiết mà những ngày đó tôi đã bỏ qua. Trong thời gian này, tôi hầu như ngày nào cũng đến quán rượu Hoàng Cầm để giục nhà thơ chép cho xong tập thơ. Một tối, tôi trông thấy trong quán có một người quen, anh nguyên là giáo viên cùng dạy học với tôi ở Hải Phòng, nhưng đã chuyển về Hà Nội, nghe đâu làm ở Bộ Công an, vì anh là cháu ruột ông tướng Công an nổi tiếng Nguyễn Công Tài. Thấy tôi, anh cất giọng lè nhè như của người say rượu bảo: “Cái ông Hưng này đến là rách việc”. Tôi hồn nhiên không để ý, chỉ cười rồi đi ra. Sau khi bị bắt tôi mới đoán rằng anh bạn đồng nghiệp cũ có lòng tốt cảnh báo để tôi khỏi sa bẫy. Nhưng lúc đó tôi hoàn toàn ngây thơ và tự tin việc xin thơ Hoàng Cầm chẳng có vấn đề gì mà phải đề phòng !
Ngày Hoàng Cầm hoàn thành việc chép “Về Kinh Bắc”, tôi muốn nhân đó có một cuộc liên hoan nhỏ với các bậc đàn anh để ăn mừng và cũng là để chia tay lên đường vào lại Sài Gòn. Ông Trần Thiếu Bảo đề nghị làm ngay tại nhà ông ấy, như cũng để khai trương quán của ông. Đầu bếp là Phan Tại, nhà viết kịch và cũng là đồng phạm của ông trong vụ xử án “gián điệp phản động Nhân Văn Giai Phẩm” năm 1960. Trong bữa ăn vui vẻ tình cảm dạt dào giữa những người cùng tâm sự (có Hoàng Cầm, Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại; tôi tuy vong niên nhưng được các đàn anh cư xử như kẻ ngang hàng), ông Bảo khoe mọi người hai cái “bìa” cho tập “Về Kinh Bắc” và tập thơ của tôi mà ông trình bày theo lối siêu thực (…) Sau liên hoan, ông Bảo đề nghị tôi cho ông mượn tiếp tập ấy cùng với tập “Về Kinh Bắc” vừa mới hoàn thành.
Những ngày sau đó, tôi lo chuẩn bị để lên đường, nên định bụng trước khi đi mới đến nhà ông Bảo lấy lại hai tập thơ. Không hiểu sao ông Bảo rất sốt ruột, ngày nào cũng đến nhà bà chị tôi (là nơi tôi ở nhờ trong thời gian lưu lại Hà Nội) thúc giục tôi tới lấy ! (Sau mới ngã ngửa ra là Trần Thiếu Bảo bị Công an khống chế, phải làm chỉ điểm cho họ, ít ra là trong vụ “Về Kinh Bắc” này. Nếu vì lý do gì đó mà tôi không đến lấy hai tập bản thảo, thì vụ án bị hẫng to !)
Hóa ra họ đã sắp xếp rất chu đáo để “cất vó” “Về Kinh Bắc” mà tôi là một con cá hẩm hiu ở đâu đến chui đầu vào lưới. Sau này một anh Công an quen thân với gia đình anh cả tôi còn cho biết họ đã bí mật theo dõi, quay phim tôi suốt nửa tháng trời mà tôi không hề để ý !
Chiều 17/8/1982, sau khi sắp xếp xong hành lý để đi chuyến tàu tối xuống Hải Phòng và sáng hôm sau đi tàu biển vào Sài Gòn, tôi đến nhà Trần Thiếu Bảo lấy lại 2 tập thơ. Vào trong quán, tôi thấy hai người đàn ông đang ngồi uống nước. Sau vào trại giam đi “cung” mới biết đó là ông Khổng Minh Dụ ở A25, sau này sẽ là Thiếu tướng Cục Trưởng và cũng là “nhà thơ”, và anh Thuận, trợ lý của ông, sau này sẽ là Cục phó Cục chống Bạo lọan. Tôi cứ hồn nhiên cầm tập thơ đi ra, lên xe đạp phóng. Được một đoạn, bỗng có hai anh thanh niên đèo nhau xe gắn máy ép tôi vào lề đường. Hai anh nhảy xuống, giữ tôi lại, bảo: “Cái xe đạp anh đang đi là xe của chúng tôi bị mất cắp”. Tôi kinh ngạc, vì tôi đang đi chiếc xe của bà chị ruột. Đang cãi qua cãi lại, thì một công an mặc sắc phục ở đâu tiến tới, nói: “Các anh lộn xộn gì thế, mời về đồn giải quyết”. Đồn Công an gần đấy là đồn Hàng Bạc. Vào trong đồn, anh Công an xưng là Đồn trưởng, yêu cầu tôi bỏ hết các thứ trong túi xách ra. Thấy tập bản thảo của Hoàng Cầm, anh ta hỏi: “Cái gì thế này ? Thơ à ? Thơ của ai đây ?”. Tôi đáp: “Của Hoàng Cầm”. – “Hoàng Cầm là ai ? Anh ngồi đây đợi, cái này tôi phải xin ý kiến cấp trên”. Tôi ngu đến mức vẫn chưa biết đây chỉ là một màn bi hài kịch dàn dựng sẵn.
Sau khoảng 20 phút chờ đợi, anh Đồn trưởng bước vào, bảo: “Đây là ý kiến cấp trên”. Anh giở ra một tờ giấy, đọc: “ ‘Lệnh bắt và khám xét khẩn cấp’ vì tội ‘lưu truyền văn hóa phẩm phản động’ ”. Thế là nhanh như cắt, hai anh thanh niên “mất xe đạp” lúc nãy hiện nguyên hình là Công an, áp giải tôi lên xe bịt bùng, đưa về… Hỏa Lò !
Ngày 20/8/1982 thì đến lượt Hoàng Cầm bị bắt. Còn Nguyễn Mạnh Hùng, khi ấy đang ở Sài Gòn chuẩn bị bay về Canada. May được Dương Tường kịp báo hung tin, anh gởi ngay tập bản thảo “Về Kinh Bắc” cho Cao Xuân Hạo giữ, ra sân bay vô tang. (Tuy nhiên, khi khám xét hành lý của tôi, CA thu được một bức thư Hoàng Cầm nhờ tôi đưa cho Nguyễn Mạnh Hùng khi vào Sài Gòn, thư dán kín nên tôi không biết nói gì trong đó). Hùng bị cấm cửa về Việt Nam trong suốt 20 năm. (…)
Kết cục của vụ án tóm tắt như sau: Hoàng Cầm sau mấy tháng bị giam thì kiệt sức vì bị khủng bố tinh thần liên tục mà lại không có nàng tiên nâu trợ lực, phải nhận tội phản động, chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội, chống chế độ, để mong sớm được ra.
Tôi không thể nào quên cái buổi sáng ấy trong Hỏa Lò. Sau mấy tháng không thuyết phục được tôi thừa nhận “Về Kinh Bắc” là “phản động”, Công an để tôi nghỉ một hơi dài. Rồi bỗng một hôm tôi lại được gọi đi “làm việc”. Người Công an đưa tôi vào một phòng hỏi cung, nhưng không có ai trong đó. Mà lại có một tập giấy thếp viết sẵn để trên bàn. Tôi tò mò giở ra, thì… trời ơi, đó là bản tự khai của Hoàng Cầm, tôi nhận ra chữ viết rất nắn nót, đẹp, của ông. Tôi đọc lướt, càng đọc càng hoang mang vì ông nhận tuốt tuột các ý tưởng chống Đảng, đả kích chế độ… trong tập thơ. Để cho tôi một mình đọc xong, người ta mới đưa tôi trở lại phòng giam. Và họ bố trí rất khéo, để như tình cờ tôi gặp Hoàng Cầm đang ngồi ở cổng chờ (giữa khu trại giam và khu “làm việc” có một cái cổng lớn, sau khi “làm việc” xong phạm nhân ngồi đó chờ “quản giáo” ra nhận để đưa vào buồng giam). Tôi xông đến bên ông, hỏi gay gắt: “Anh nhận tội phản động thật à ? Sao lại thế ?” Hoàng Cầm cúi đầu xuống, không nói gì, từ khóe mắt ông lăn ra những giọt nước mắt. Đến tận hôm nay, nhớ lại những giọt lệ tủi nhục của nhà thơ đàn anh, lòng tôi vẫn còn đau. Với tôi, tự buộc mình phải hèn để có thể tồn tại là điều không gì đau hơn cho một kẻ sĩ”. (Hoàng Hưng, Kỷ niệm 25 năm ngày ra tù (30/10/1985–2010), talawas.org ngày 18/9/2010, http://www.talawas.org/?p=24264, in lại trong Thơ Hoàng Hưng 1961–2005, HHEBOOKS2012, trang 375–391).
…”

O- Hoàng Cầm bị bắt:

Hoàng Cầm thuật lại trong băng ghi âm :
“…
Tôi không hiểu tại sao mình bị bắt. Lệnh bắt ký tên Nguyễn Doãn Nhạ, Trưởng phòng Chính trị Sở Công an Hà Nội, với tội danh “sáng tác, tàng trữ và lưu hành những tài liệu văn hóa đồi trụy và phản động”. Khám nhà và tịch thu tất cả bản thảo sách vở của tôi, vợ chồng tôi phải ký vào biên bản. Sau biên bản thì lên ô tô bịt kín của công an đưa về Hỏa Lò. Đến 2 giờ chiều, người tôi bã ra. Cái bệnh của tôi, nếu không có điếu thuốc lào hay thuốc phiện trong người thì bị tháo dạ. Lúc họ đang khám, tôi xin phép đi sau, một anh công an chạy theo ngay, chắc họ sợ tôi vào nhà cầu tự tử chăng ? Vậy cái tội của mình chắc là nặng lắm.
Vào tới Hỏa Lò khoảng 2 giờ 30, phải ngồi ngay vào bàn an công an để nhận diện và ký vào tất cả các thứ đã bị tịch thu, từ cái phong bì, cái thư, miếng giấy vụn đến bản thảo, sách, vở… Không được ăn gì từ sáng đến giờ, tôi hoa mắt không biết mình đã ký những gì, trong khoảng từ 2 rưỡi đến năm giờ, có phải tất cả là của mình không ? Trước khi đi vợ tôi chỉ kịp nhét vào tay tôi gói xôi với miếng chả và họ cho phép nhận, nhưng có kịp ăn đâu, đến năm giờ chiều thì tôi cũng chẳng nhớ là mình nhét nó ở đâu, chắc khô cứng rồi.
Khoảng 5g30, 6g, anh Phú dẫn đến một hành lang trên có cái bàn bảo nằm nghỉ ở đấy. Rồi khoảng 7 giờ tối họ đưa tôi vào một cái phòng rộng, đông người.
Một người đến hỏi làm sao mà bị bắt, tôi nói tôi làm công tác văn hóa, bị nghi viết tài liệu phản động. “Nhà văn à ? Tên gì ?” Tôi bảo tên Hoàng Cầm. Trong phòng có vài người biết tôi: “Hoàng Cầm ‘Bên kia sông Đuống’ phải không ?” Tối hôm kia cũng có một phạm nhân là nhà văn trẻ tuổi hơn bác tên là Hoàng Hưng vào đây. Tôi giật mình: “Thế là Hoàng Hưng đã bị bắt ngay đêm hôm kia rồi !” Anh ấy vào đây lúc 3 giờ sáng, sáng hôm sau thì bị chuyển sang buồng khác. “Thôi bác vào nằm đây, có tuổi lại yếu đuối, nếu chúng nó có hỏi gì thì trả lời tử tế, không nó đánh phủ đầu cho một trận thì chết, bác yếu quá không chịu nổi đâu”. Lúc bị bắt tôi giấu được một cục thuốc phiện đem đi, người bạn tù chỉ cho tôi cách vo và giấu vào chân răng để lúc bị khám không mất. Gặp bạn tù tử tế thật ấm lòng.
Sáng hôm sau họ đến gọi Bùi Đăng Việt mang “nội vụ” –tức là ba lô, chả hiểu tại sao lại gọi là nội vụ– lên cung. Họ dẫn vào phòng quản trị, có hai người ngồi chờ, một người bảo: “Hoàng Cầm đấy à ? Tôi là Nguyễn Doãn Nhạ, đây là anh Nguyễn Trọng Cường, Trưởng Phòng Điều tra Xét hỏi”. Ông Nhạ nói đại khái :
“Bất đắc dĩ tôi mới phải đưa anh đến đây, tôi không hỏi cung anh đâu, hỏi cung không phải là việc của tôi. Chắc anh còn nhớ 10 năm trước tôi đã gọi anh lên vì chuyện thơ phú rồi, mà anh vẫn cứ tiếp tục truyền bá tư tưởng chống Đảng khắp nơi, ra cả nước ngoài. Đảng đã khoan hồng, không bắt anh đi cải tạo, từ năm 1955 đến nay là hơn 20 năm rồi mà anh vẫn chứng nào tật ấy…”
Ông Nhạ nói dài dòng lắm, tôi chỉ ngồi nghe vì họ có hỏi gì mình đâu. Rồi đến ông Cường: “Tôi Trọng Cường trách nhiệm điều tra, hôm nay anh tạm về nghỉ, ngày mai anh suy nghĩ sẵn rồi phải khai cho thật, thật rõ ràng minh bạch, khai hết, không phải với tôi đâu mà với các cán bộ mà tôi cử ra !”
Tôi bị giam trong một phòng 28 người, chật và nóng. Phòng bên cạnh giam những đứa trẻ vị thanh niên, có đứa mới 12 tuổi. Bữa cơm tù đầu tiên: năm người chung nhau một bát rau muống, một bát nước canh (nước luộc rau muống) và một đĩa muối.

a- Kiểm điểm:
Hai lần kiểm điểm bị ông Nhạ bảo là giả dối, không thành thật nhận lỗi, xóa đi. Lần kiểm điểm thứ ba, sau khi bị bắt độ một tháng, vẫn do anh Hòa và anh Tú ghi chép. Họ vẫn đem tập “Về Kinh Bắc” ra như hai lần trước, vẫn đọc từng bài, dở từng trang như để hướng dẫn mình: Câu này ám chỉ ai ? Câu kia nói cái gì ? Ám chỉ cái gì ? Nói đến vần đề gì của Đảng ? Anh phải kiểm điểm thật kỹ, chứ như hai lần trước là vứt đi. Tôi mong anh nói thật, còn nếu anh cứ lập lờ như thế thì anh phải ở trong Hỏa Lò này không biết đến bao giờ”.
Đến lần thứ ba thì tôi thực sự hoang mang. Biết viết thế nào để làm vừa lòng các ông ấy ? Nhận tội thì nhận tội gì ? Tôi có làm gì đâu ? Tập “Về Kinh Bắc” chỉ toàn là hoài niệm buồn, tôi viết từ tháng 9 năm 1959 đến tháng 3 năm 1960, cả thảy gần 50 bài, mà mình cũng không oán giận ai, thơ là thơ, là sự rung động của chính mình, nó từ vô thức mà ra, thì mình “kiểm điểm” thế nào được cơ chứ ?
Lần này, họ có hai thái độ: thứ nhất, răn đe, dọa nạt về cái chết: án tử hình, xử bắn, treo cổ. Anh Hòa luôn luôn nói thẳng chứ không quanh co gì: “Tội của anh đáng treo cổ, anh phải chui đầu vào thòng lọng thì mới hiểu thế nào là chuyên chính vô sản, chứ cứ để cho các anh tự do, các anh toàn viết bậy, toàn làm thơ bậy. Dưới thời phong kiến thì họ chém, ở Âu Châu thì họ treo cổ”.
Cứ vài ngày ông Nhạ lại gọi lên nói riêng, ông bảo: “Văn nghệ sĩ các anh thì lắm trò lắm, ví dụ anh Văn Cao phê đàn em: ‘Thơ mày có chất lắm đấy !’ ” Thấy tôi mỉm cười vì ông bắt chước đúng giọng Văn Cao, ông ta trấn áp ngay: “Này tôi nói chuyện thế thôi chứ Văn Cao không phản động như anh đâu, anh cười cái gì !”
Trong hơn 10 ngày, mỗi ngày tôi phải lên ngồi như vậy, phải sống cực kỳ căng thẳng, bứt rứt, phải đối phó với những bất trắc, rồi cuối cùng, tôi cũng phải viết bài kiểm thảo, lần này tôi viết ba trang nhận tội, đại ý: “Tôi có bất mãn Chủ nghĩa Xã hội. Sau NVGP, tôi oán chế độ, oán lãnh đạo, oán Đảng đã gây ra nhiều chuyện đau buồn cho đời sống của tôi, và tôi đã làm những bài thơ chống đối chế độ trong tập ‘Về Kinh Bắc’ ”. Tôi cũng muốn thoả mãn các ông ấy để họ tha mình về, vì mình có phải là người khí tiết gì đâu, tôi không phải là Hoàng Văn Thụ hay Võ Thị Sáu, giá thời trước mà mình làm gì, bị Pháp bắt, nó tra tấn, không khéo mình cũng khai bậy khai bạ để thoát thân.
Lần kiểm điểm thứ ba, anh Hòa đe dọa: “Tội thằng tướng ngụy, điều khiển một sư đoàn đánh trận, có thể giết hàng nghìn hàng vạn người Việt Nam. Tội nó to lắm, đáng xử bắn một lần, nhưng cái tội của Hoàng Cầm, đầu độc tâm hồn hàng triệu người Việt Nam, kích thích hàng triệu người chống Đảng, tội đó nặng gấp trăm lần tội thằng tướng ngụy”.
Trong lần kiểm điểm thứ nhì, ông Nhạ nói: “Được rồi tôi sẽ cho anh gặp con gái anh !”. Mới nghe tôi tưởng thật, chắc con Loan[53] ở xa nó về, ông ấy tử tế cho mình gặp nó. Đêm nằm nghĩ lại thì hóa ra nó bảo cho mình gặp con gái mà con gái mình là Bùi Hoàng Yến nó mới chết, vừa cúng 100 ngày cho nó thì hôm sau bị bắt ! Thế là họ cho mình xuống âm phủ chứ gì ! Nghĩ ra điều đó, tôi giật mình, tôi sợ thật, và tôi biết là họ có thể làm điều đó bất cứ lúc nào.
Còn một lần ông Nhạ đưa cho tôi xem một bài báo ở Paris, hình như báo “Quê Mẹ” hay “Đất Mẹ” gì đó, họ phân tích bài thơ “Lá Diêu Bông”, họ bảo chị là Đảng Cộng sản còn em là văn nghệ sĩ. Bài thơ có nghĩa là Đảng bắt văn nghệ sĩ phải làm tay sai cho mình, khi làm rồi thì Đảng lại phủi tay, cho rằng chả có gì xứng đáng cả.
Trong suốt một tháng giời tôi bị họ bao vây, áp chế tư tưởng, đã khai rồi còn bị bác bỏ, phải làm lại từ đầu, tôi như mê hoảng. Sau khi đưa bài kiểm điểm lần thứ ba cho anh Hòa, hai hôm sau ông Nhạ lại gọi lên.
Trước tiên ông ấy nói: “Anh có tiến bộ đấy ! Lần này anh chiụ nhận tội chống Đảng, chống Chủ nghĩa Xã hội, nhưng mà nhận chống suông như vậy là chưa được, anh phải nói rõ: Trong câu thơ nào ? Anh dùng những chữ gì ? Anh ám chỉ cái gì ? Ám chỉ ai ? Anh phải nói thật tỉ mỉ, rành rọt ra, chứ viết suông như thế này là vô ích. Chúng tôi thừa hiểu anh chống như thế nào, tôi là Đại tá, không dốt nát gì đâu, tôi đã học Đại học, đã đọc rất nhiều sách. Bài ‘Lá Diêu Bông’ của anh, lúc đầu thực sự tôi chả hiểu gì lắm đâu, chỉ cảm thấy không phải thơ tình hoàn toàn. Nhưng nhờ bài báo ‘Quê Mẹ’, chúng tôi mới hiểu anh chống Đảng một cách hết sức thâm độc, anh dùng chữ thật tuyệt vời, bài thơ của anh càng được truyền bá trong quần chúng, tác hại chống Đảng của anh càng lớn mạnh, sâu sắc”.
Tôi chỉ nói lại được vài câu: “Giữa tôi là Hoàng Cầm ngồi trước mặt ông đây là một công dân, sống dưới sự quản lý của nhà nước, chưa có tội gì, và một kẻ viết bài báo ở Paris, cố tình mượn bài ‘Lá Diêu Bông’ để chửi Đảng, chửi nhà nước, ông tin ai hơn ?”
Ông đại tá cười khinh bỉ, rất bề trên, bảo: “Tôi tin người này hơn anh, vì họ hiểu anh lắm, còn anh là văn nghệ sĩ, anh giả trá, anh quá quắt lắm, làm sao mà tin anh được ! Từ thời ‘Nhân Văn’ chúng tôi đã không tin anh rồi, chúng tôi đã hết sức giáo dục anh, đã cải tạo anh, tưởng để anh viết những bài tốt cho nhân dân, chứ anh lại cứ tiếp tục viết những bài như thế này thì tin anh sao được. Chính nhờ bài báo này, chúng tôi mới biết anh chống Đảng và nhân dân như thế nào. Anh gọi người chị là Đảng, và anh hay văn nghệ sĩ là em, chúng tôi làm sao biết được. Chính người này đã vạch ra bản chất của anh, họ nói rất đúng và tôi tin họ. Anh chửi Đảng một cách sâu sắc như thế, thâm trầm và nham hiểm như thế, tôi mong rằng anh phải phân tích rất kỹ, thì anh mới sửa được. Tôi yêu cầu anh làm lại.”
Tôi cãi thế nào cũng không được.
Ông Nhạ bắt tôi về viết lại kiểm điểm lần thứ tư.
Trước khi về, ông ấy nói rất tự nhiên như chuyện chơi :
“Chúng tôi là Đảng viên mà khi có việc phải xử tử ai thì cũng rất đau lòng. Như cái thằng Hùng nó giết cô Thuận, con một cán bộ ở phố Phạm Đình Hổ đấy, đến hôm xử bắn nó, chúng tôi cũng vẫn cho nó một cái áo quan và một nén hương. Chúng tôi chỉ có nhiệm vụ giáo dục thôi, mà nếu giáo dục không được thì đành phải lấy tử hình mà xử. Sự thực chúng tôi chẳng muốn giết ai, nếu mọi người đều theo đúng chính sách của Đảng, thì đều được sống yên vui cả. Các anh đã được đi cải tạo rồi, đã được sống thâm nhập vào đời sống nhân dân rồi, đã biết họ khổ như thế nào rồi, mà các anh vẫn chống lại nhân dân, thì cuối cùng chúng tôi cũng đành phải tính đến chuyện tử hình thôi. Anh phải tự cứu lấy anh, anh về làm lại đi, lần này mong anh làm tốt, anh nên nghĩ đến vợ con anh, nên giác ngộ, nhận lỗi đầy đủ, thì chúng tôi cho anh về. Lần này tôi mong là lần cuối cùng, từ lúc NVGP đến giờ cũng gần 30 năm, chúng tôi vẫn chờ đợi, mong các anh thay đổi tốt hơn, để giúp đỡ các anh, thì anh lại sổng ra tập ‘Về Kinh Bắc’, mới biết tâm hồn anh đen tối, tồi tệ, tới mức nào”.
Thế là hết đợt ba, đêm đêm nằm trong Hỏa Lò tôi luôn luôn bị day dứt giữa cái có thực và cái không thực: Rõ ràng mình viết tập “Về Kinh Bắc” là do cảm xúc nó tràn ra thành chữ, ta gọi là vô thức tuôn ra, có cái buồn, cái u ám, là tâm cảnh mình thế thôi, mà bây giờ phải nhận là có chủ ý chống Đảng một cách sâu sắc, nhận một cách chi tiết, thì mình làm thế nào ? Thành ra khổ lắm, tôi bị dằn vặt. Cả thời gian kiểm điểm lần 4 tôi mất ngủ, ngày thì phải viết, có ngày chỉ viết 3, 4 câu. Họ không thúc giục nữa, họ cứ để anh tự do. Chúng tôi sẵn sàng chờ. Kiên nhẫn chờ. Trong khi ấy thì ruột gan mình như lửa đốt, nghĩ đến vợ con thì thương lắm. Lỗi tại mình hết cả. Tại mình làm khổ vợ con. Tại sao lại không viết văn ca ngợi cuộc sống, mà lại viết những câu thơ buồn như thế này. Dần dần tôi thấy có lẽ đó là tội thật chứ không phải người ta bắt mình nhận tội.
Và đó là chặng đường tôi đã đi từ giai đoạn ba sang giai đoạn bốn: Mình tự nhận mình từ một người không có tội thành một người có tội thật. Và khi viết xong cái kiểm điểm số 4, được người ta chấp nhận và hoan nghênh, thì mình đã chấp nhận là mình có tội một cách thành thực, chứ không phải do thủ đoạn. Bởi vì nếu mình còn có thủ đoạn thì nó lại lòi ra, họ biết ngay.
Vì vậy, những gì mình viết trong bản kiểm thảo số 4, phải hoàn toàn là thành thật, mình nhận lỗi của mình, chứ không phải bị ai truy bức gì cả. Tại sao mình lại không làm đúng đường lối của Đảng ? Tại sao mình lại chống Đảng ? Để cho vợ con khổ, là lỗi tại mình.
Về sau này tôi mới thấy rõ cái giỏi trong phương pháp của những người lãnh đạo để cải tạo tư tưởng trí thức. Nhưng lúc bấy giờ tôi chưa nhận ra, chỉ biết là từng đêm, từng đêm mình tâm niệm là mình có tội thật và khi mình phải viết bản kiểm thảo số 4, thì phải viết theo đúng ý ông Nhạ, nghĩa là không thể nhận lỗi suông, mà anh phải giải thích rõ câu thơ: “Em đi đêm tướng điều sĩ đỏ” là thế nào ? Anh coi ”tướng điều sĩ đỏ” là mầu đỏ của Cộng sản sản chứ gì ? Những cái gọi là Hồng Quân, hay Hồng Trường là tượng trưng cho giai cấp vô sản, anh còn lạ gì nữa ?”
Lúc đó tôi lại nghĩ: Không khéo câu này mình chống lại thật, dù lúc làm mình không nghĩ thế, nhưng trong thâm tâm, trong đáy lòng mình, mình không quy phục, mình thù ghét Cộng sản từ trong máu rồi, cho nên nó tự viết ra như vậy, và điều này, tự mình nhận ra như thế.
Bản kiểm điểm số 4 mang tính chất: Mình nhận là mình sai thật, là mình có chống Đảng thật, không phải mình cố ý chống Đảng, mà cái bản chất mình nó chống Đảng như thế. Tất nhiên là có thêm cả các điều kiện khác nữa: trong khi đó thì ông Nhạ và cậu Hòa luôn luôn dọa tử hình, treo cổ, xử bắn. Mỗi lần lên cung, họ khủng bố tinh thần đến cực độ như thế, về lại phòng giam, thì các anh em tù, thay vì động viên tinh thần cho mình đỡ sợ hơn, thì họ lại, mà không phải một người đâu, cả 4, 5 người tù, từ những người đã tự giác để được làm quản lý tù nhân, đến những tù nhân, họ đều tỉ tê bên cạnh: “Còn cái gì thì bác nói hết đi, khai hết đi để về với vợ con, nếu không thì chỉ làm phân bón sắn ở Thanh Chương thôi. Người ta chả cần giết ngay đâu, người ta chỉ đưa vào Thanh Chương 6 tháng, rồi xác của bác người ta chôn bên cạnh gốc sắn, thì có phải bác làm phân bón cho sắn không ?” Tôi chỉ nghe nói Thanh Chương là một huyện miền núi, khỉ ho cò gáy, gần Nghệ An, có một trại cải tạo. Người tôi nó đã mềm ra như sứa rồi, không có lúc nào mà mình tham sống sợ chết như lúc ấy.
Bản kiểm điểm thứ 4 tôi nhận hết tội có phân tích hẳn hoi theo đúng ý ông Nhạ.
Sau khi thông qua bản thứ 4, tôi được nghỉ độ 3 ngày. Sau đó lại gọi lên cung, có cả ông Nhạ và ông Cường, lần này có cả kẹo bánh nữa. Ông Nhạ nói: “Đọc bản kiểm điểm thứ 4 của anh, tôi cảm động lắm, thấy anh thành thật nhận lỗi, và đã phân tích cái tội của mình, từng câu, từng chữ. Tuy thế vẫn còn chưa đủ đâu, nhưng đã có tiến bộ rõ ràng. Hôm nay gọi anh lên đây để hoan nghênh anh, nhưng còn nhiều bài anh mới chỉ lướt qua thôi, anh còn phải suy nghĩ sâu xa nữa, nhưng như thế này cũng tạm đủ rồi, anh tự thấy được tội lỗi của mình, thì mới có thể về sống yên ấm tuổi già được.
Hôm ấy tự ông Nhạ pha trà rồi cả anh Hòa anh Tú cũng phục vụ, còn mời tôi thuốc lá nữa, ra vẻ rất bình đẳng thân mật. Hôm sau ông Nhạ lại gọi tôi lên và nói: “Hôm qua tôi chỉ đưa cho mấy nhà báo như ‘Hà Nội Mới’, ‘Công an Nhân dân’, báo ‘Quân đội’… đọc bản kiểm thảo của anh, họ xin được đăng báo ngay nhưng tôi không cho, như thế đủ biết chúng tôi muốn giữ uy tín cho anh đối với nhân dân chứ có muốn bêu xấu anh đâu. Đấy ! Cái độ lượng của Đảng là như thế đấy ! Chúng tôi chẳng có ác ý gì với anh cả ! Vậy tôi đề nghị thế này: cái bản kiểm điểm của anh vừa viết xong, có một phóng viên báo ‘Công an Nhân dân’ muốn trực tiếp phỏng vấn anh, một nhân vật chủ chốt của báo ấy đấy, vậy anh chuẩn bị sẵn, sáng mai 9 giờ, anh Hòa và anh Tú đưa anh lại gặp người phóng viên, chúng tôi sẽ thu băng cuộc phỏng vấn và anh cứ nói y như bản kiểm điểm. Tôi yêu cầu anh phải nói tự nhiên, như là câu chuyện tâm sự trao đổi với bạn hữu, chứ không phải như đọc dictée đâu, kẻo nghe, người ta lại hiểu lầm là có lẽ bị công an bắt buộc chăng. Anh biết đấy từ trước đến nay chúng tôi có bắt buộc anh cái gì đâu, anh tự nguyện cả đấy chứ !
Sáng hôm sau, từ 8g30, anh Hòa đã cho giấy gọi. Theo đúng lệnh ông Nhạ, không được mặc áo tù, phải cho mặc quần áo tử tế là liếc đàng hoàng. Nhưng anh Hòa bảo vội quá không chuẩn bị kịp, nên tôi chỉ mặc áo quần thường, lấy trong ba lô.
Sau gần hai tháng giời bị giam, hôm ấy tôi được ra phố, đi theo anh Hòa và anh Tú ra khỏi Hỏa Lò, xuống phố Dã Tượng, sang Trần Hưng Đạo, tức là đến văn phòng Sở Công an. Họ dẫn mình đến cái buồng khá rộng, để thu băng, đã có ông Nhạ ngồi sẵn đấy với một người lạ. Ông Nhạ nói ngay: “Tôi giới thiệu với đồng chí nhà báo đây là Hoàng Cầm, tội phạm chính trị văn hóa văn nghệ. Tôi cho phép nhà báo tự do hỏi, anh Hoàng Cầm phải trả lời thật đúng như anh đã kiểm điểm”. Ông Nhạ cũng không giới thiệu tên người nhà báo là ai. Anh nhà báo nói giọng bằng hữu: “Anh Hoàng Cầm à, từ xưa tôi vẫn mến tài anh, tôi biết anh có sai phạm, bị bắt giam; ông Trưởng phòng có cho biết anh đã có một vài giác ngộ, tôi muốn đến để phỏng vấn anh”.
Ông Nhạ bảo: “Anh Hoàng Cầm đứng dậy ! Đứng nghiêm !” Thế là mình đứng dậy. Ông Nhạ nói: “Anh khai lại lý lịch, bị bắt từ bao giờ, tội gì,… nói lại”. Thế là mình khai: “Tôi tên là Bùi Tằng Việt, sinh ngày… tham gia cách mạng… tham gia NVGP… gần đây tôi lại có ý thức chống Đảng… nhưng tôi được sự giáo dục của các cán bộ Công an nên tôi đã giác ngộ… tôi đã viết bản kiểm điểm được ban lãnh đạo Công an chấp nhận”. Đến đây ông Nhạ bảo: “Anh ngồi xuống !” Và quay sang anh nhà báo: “Bây giờ xin nhà báo tự do muốn hỏi gì thì hỏi”. Anh nhà báo chỉ hỏi mỗi một câu: “Anh Hoàng Cầm, anh tự kiểm điểm lỗi của anh như thế nào, xin anh cho biết”. Bấy giờ anh Hòa đã đem cái bản kiểm điểm để trước mặt tôi, và mình đã được chỉ thị của ông Nhạ là không được đọc như chính tả, mà phải “nói” một mạch tự nhiên như nói chuyện với một người bạn.
Sau này nghĩ lại mới thấy là họ có phỏng vấn cái quái gì đâu. Cái anh nhà báo đó chỉ hỏi có mỗi một câu, để lấy cớ cho mình đọc bản kiểm điểm. Lúc anh ta hỏi cũng như lúc ông Nhạ nói, thì máy ghi âm nó không bật, chỉ khi mình khai lý lịch và đọc bản kiểm điểm, nó mới bật máy lên thôi ! Hóa ra là nó thu băng mình tự đọc bài kiểm điểm của mình !
Về lại Hỏa Lò, thì từ hôm sau, ngày nào mình cũng lại bị gọi lên hỏi cung từ 8g30 đến 11g30, không biết trong bao nhiêu ngày nữa, để bổ sung bản kiểm điểm; tức là phải viết, phải kê khai tất cả những quan hệ với bất cứ ai –bạn “Nhân Văn” không kể, vì họ biết rõ rồi– các quan hệ thân sơ, kể cả khách đến uống rượu ở quán nữa.
Khi được về, tôi mới biết những người mình kể tên ra đều bị gọi lên công an hết, bị hỏi cung, kiểm điểm: “Tại sao anh quen với Hoàng Cầm ?” Tất cả những người đó đều bị truy tội đã quen với Hoàng Cầm, đã đọc thơ Hoàng Cầm, đã ca ngợi thơ Hoàng Cầm… Ví dụ cái băng cassette tôi ngâm thơ để gởi tặng cô Cần Thơ ở Pháp, thu băng ở nhà ông Hoàng Lập Ngôn, tôi phải khai rõ hôm ấy có những ai… Nói chung, tất cả những người có tên trong bản kiểm điểm của tôi, mặc dù tôi không khai man cho ai cả, trừ ông Hoàng Lập Ngôn không phải lên vì già yếu quá, đều bị gọi lên kiểm điểm. Họ cũng chẳng khai thác được gì, nhưng mình thấy cuộc đời, khi người ta sợ hãi quá, thì người ta có thể làm cái việc bị đánh giá là phản bội.
Sau lần kiểm điểm thứ 4, bẵng đi một tháng, không thấy gọi lên cung, không được gọi lại “nhớ”, bởi vì đi cung thì còn được uống chén nước trà, đôi khi được hút điếu thuốc lào, lại được gặp cậu Tú, tôi còn nhớ rõ tên cậu là Đỗ Anh Tú, người thật tình tử tế, chỉ làm nhiệm vụ ghi chép, chứ không nói một câu nào xúc phạm. Những ngày ở Hỏa Lò, tôi nhớ mỗi cậu Tú, không như anh Hòa, giọng Huế ngọt mà đe dọa, anh Hòa thâm hiểm lắm.

b- Xà lim bộ:
Hôm nay họ lại gọi lên gặp ông Nhạ, lần này ông bảo: “Chị Yến vợ anh có làm cái đơn xin tha cho anh, nộp lên phường. Chúng tôi định đưa anh về khu phố nhân dân để anh báo cáo tội của anh cho nhân dân góp ý kiến. Nhưng chị Yến đến xin chúng tôi đừng làm thế, xấu hổ cho chồng tôi lắm, chồng tôi là nhà văn thì để cho Hội Nhà văn xét xử chứ đưa ra người dân khu phố, họ có biết gì về văn chương đâu mà xử, nhục cho chúng tôi lắm, xin các ông đừng làm thế. Vậy thể tình chị Yến, chị ấy cũng có tuổi rồi, chúng tôi không đưa anh về khu phố cho người ta phê phán nữa. Chị ấy là người tốt đấy, thế mà anh cứ chống đối mãi làm khổ chị ấy. Còn cái đơn của chị ấy thì chúng tôi đang xét, tội của anh nặng lắm còn phải đợi lệnh trên đã.”
Tôi ăn cái Tết đầu tiên trong tù, vợ tôi gởi quà từ chiều 30, nhưng quá giờ, nên đến mùng bốn họ mới đưa, bánh chưng, nhát giò mỏng, mọi thứ thiu cả.
Anh Hòa nói: “Chuyện chị Yến làm đơn xin tha cho anh, thì trên đang xét, tôi thấy ông Nhạ cũng có thể tha cho anh được, nhưng vì anh mắc vào cái vụ NVGP từ năm 56, năm nay là 83 rồi mà anh vẫn còn cái tội này, nên chúng tôi phải thỉnh thị lên trên Trung ương, lên Bộ Chính trị, lên Chính phủ. Chúng tôi nhận được lệnh chuyển anh lên trại giam của Bộ để xét tội trạng của anh. Anh về sửa soạn sáng mai chuyển trại”. Tôi hoàn toàn tuyệt vọng vì trước đây ông Nhạ có bảo: “Có thể tha cho anh về trước Tết”.
Trong hơn tháng cuối ở Hỏa Lò, tôi ở cùng phòng với Huỳnh Minh Tuấn con trai ông Huỳnh Tấn Phát. Tuấn bị bố bắt bỏ tù vì tội tổ chức cho người vượt biên. Tuấn rất quý tôi, vài ngày xoay cho tôi một điếu thuốc lào, thỉnh thoảng một quả chuối hay cái kẹo, làm tôi đỡ khổ. Tôi về kể với Tuấn là mai chú phải chuyển trại, chẳng biết trại nào. Nó bảo ngay: “Chú phải lên xà lim bộ đấy ! Xà lim bộ, tức là Bộ quản lý. Bộ đây là Bộ Công an”. Tôi hỏi: “Ở đâu, có xa Hà Nội lắm không ? Nó bảo: “Gần thôi, về phía Thanh Trì”.
Ngày mồng 5 Tết, tháng 2/1983[54] tôi phải chuyển trại. Ô tô đi xuống đường Hà Đông, rồi rẽ theo ven sông Tô Lịch, qua làng Kim Lũ, đi thêm độ 2 cây số nữa, đến một nơi như Dinh tuần Phủ hay Tổng đốc ngày xưa, họ dẫn tôi vào, trao cho anh quản giáo.
Xà lim là phiên âm tiếng cellule của Pháp, tức là giam phòng riêng, biệt giam. Tôi được dẫn đến một dẫy nhà một từng, xây từng căn một, mỗi căn có độ 9, 10 phòng, mỗi phòng cách nhau một bức tường, trên có chăng giây điện, cửa xúc xích sắt khóa kín.
Vắng lắm, dường như chả có ai bị giam ở đấy. Quản giáo sai tự giác lấy cho tôi một cái bô với một cái chiếu. Anh này nói đùa: “Bác già như thế này mà còn vào xà lim làm gì !” Phòng tôi dài rộng 2m trên 3m. Khi hai người đi ra mình mới thấy cái cảm giác bị ném vào sa mạc Sahara, ở đây không có sự sống của con người. Thấy tiếng kẻng thì anh tự giác đem cơm lên. Cơm nước cũng khá hơn: một bát cơm, một bát canh, tức là canh rau muống có cho muối sẵn. Rau muống ở đây non hơn; còn ở Hỏa Lò chỉ toàn gốc, xơ, rau cho lợn ăn. Có lẽ là bên Bộ nên chính sách khác. Nhưng sự cô liêu thì khủng khiếp, mình viết văn vẫn hay tưởng tượng cô đơn như thế nào. Nhưng bây giờ chỉ có bốn bức tường, sàn xi măng và tiếng xích sắt, không có người, thì nó ghê gớm lắm. Ở Hỏa Lò còn nghe được tiếng động của thành phố, tiếng rao hàng, tiếng chửi nhau… nhưng người ngoài đường lại không nghe thấy tiếng động bên trong nhà tù, dù tù nhân có la hét, đánh nhau.
Sáng hôm sau, một anh quản giáo đến gọi, vẫn tên Bùi Đăng Việt, đi cung. Lên gặp, thì đúng là cái anh dẫn mình xuống trại giam này hôm qua. Anh ấy nói : “Tên tôi là Chiến, thuộc Cục Điều tra Xét hỏi của Bộ”. Hôm nay tôi bắt đầu làm việc với anh. Làm lại từ đầu. Bên Hỏa Lò và ở đây không có liên quan gì với nhau. Bắt đầu từ ngày mai, anh sẽ được ăn uống theo tiêu chuẩn cán bộ trung cấp, tức là ngạch cũ của anh”. Anh Chiến là người hòa nhã, lại có học, có tình, người tôi rất mến khi ở xà lim. Anh làm tôi lại nhớ anh Tú ở Hỏa lò, thường gọi tôi khi bằng bác khi bằng ông. Còn thì bất kể tuổi tác, người ta đều gọi là anh. Anh Chiến ôn tồn nói: “Bây giờ bác khai lại tất cả những gì đã khai, bổ sung hoặc viết lại, chúng tôi có nhiệm vụ điều tra lại vụ án của bác, việc bác gởi thơ sang Pháp, sang Canada, cho ai, mục đích gì, thì phải nói hết”. Thế là tôi lại khai lại, tôi quen cô Cần Thơ ở Pháp như thế nào, khai giống như ở Hỏa Lò vậy. Trong vòng ba tháng, anh Chiến cứ hai ba ngày lại xuống xà lim một lần. Rồi bẵng đi một tháng không thấy ai hỏi nữa, sự cô liêu trở lên khủng khiếp.
Trong lúc bị giam thì mấy ngày sau, tôi bắt đầu quan sát xà lim. Trên bốn bức tường có đủ các thứ chữ, viết bằng ngói, bằng gạch, bằng bút chì, vẽ hình, vẽ hai bàn tay bị cùm, có cả những câu như: “Đừng có dại dột mà khai, tù dài chung thân”. Vậy phòng này đã giam những tù chính trị hạng nặng. Lại có những câu mà mình nghi là ám chỉ mình, hoặc ám chỉ tội trạng của mình, như: “Bên kia sông ?”, “Đại tướng 5 sao”, “Anh Việt ơi ! Về với em !” Rõ ràng là tên cúng cơm của mình rồi ! Tôi nghĩ là họ bố trí để đánh vào tâm não của mình qua 4 bức tường.
Ban đêm, lại có những loại tín hiệu khác: Có cái đèn điện trên cao, sáng, nhưng lúc cắt điện tối mò, anh tự giác đem đến một cái đèn hoa kỳ, để ở cái khe trên cao, tù mù. Tôi ngủ thiếp đi độ 5, 10 phút, lại nghe tiếng súng oang lên bên tai, giật thót mình tỉnh dậy, căn phòng vẫn tối mờ mờ. Lại có tiếng chó sủa, tiếng người chạy rầm rầm ở hành lang. Lại nghe tiếng người nói chuyện, rõ câu “bánh xe vuông mà”. Mà bánh xe vuông có trong câu thơ mình tả chân dung Đặng Đình Hưng: “Sa lầy bãi sông Thu Bồn lũ ngược, những chiếc xe bánh vuông”.
Tất cả những chuyện ấy có thực chứ không phải mình mê ngủ, nó đánh động vào thần kinh. Tức là 24 giờ trên 24, có những tiếng động, những âm thanh, những dấu hiệu, chỉ vào mình. Ví dụ, có đêm tôi đang ngủ bỗng nghe rõ ràng xà lim bên cạnh ồn ào náo nhiệt như chợ Đồng Xuân, rồi bỗng có tiếng hét: “Ông Việt ơi ! Ông Hoàng Cầm ơi ! Ông định chết ở trong này sao, không về với vợ con à ?” Có lúc họ còn gọi cả bút hiệu khác của tôi, như: “Ông Lê Kỳ Anh ơi !” Lại có hôm, giữa trưa, ở cái xà lim bên tay phải phát ra tiếng ru con Nam Bộ của một giọng nữ, rất trẻ. Mình lại nghĩ là có người đàn bà bị giam, mình lấy gạch gõ vào tường ba tiếng, thấy bên kia gõ lại ba tiếng. Nhưng sau đó lại có giọng nam cũng ở phòng đó, ngâm Đường thi, câu thơ ám chỉ hoàn cảnh mình… Những chuyện như thế xảy ra nhiều lắm không thể kể xiết: Một buổi trưa, tôi đang nằm trên sàn xi măng thì nghe na ná giọng bà Yến, nói rót vào bên cạnh tai: “Anh coi còn cái gì thì anh khai hết đi, còn giấu diếm cái gì nữa !”.
Trong những tháng hè năm 1983, giữa trưa tôi thường nghe phòng bên cạnh có tiếng “Tắc kè ! Tắc kè !” bảy tám lần. Có lúc lại nghe tiếng mối “Zạc, Zạc, Zạc” mà nhìn lên trần thì chả thấy thạch sùng, mối đâu cả. Có đêm điện tắt thì thấy ánh sáng xanh bắt chéo ở phòng bên cạnh rọi sang, chẳng biết ở đâu ra, cứ chập chờn. Tức là tôi nghe tất cả mọi biến thể âm thanh, mầu sắc, không ngừng, ngày đêm, có thể lúc tôi ngủ họ cũng vẫn phát ra những tiếng động như thế.
Một tuần họ mở cửa cho mình được ra sân tắm giặt vài tiếng đồng hồ, mình cũng vẫn nghe thấy những tiếng ấy, như ở sân bên cạnh. Nhìn lên thì chỉ thấy tường cao có mảnh chai và dây điện, nhưng vẫn có tiếng nói văng vẳng, họ nói chuyện với nhau, thỉnh thoảng chen vào nói mình, thí dụ lúc thì có giọng một ông già nói: “À ! Cái lão ấy ở trên Cao Bằng có gặp, dạo ấy đẹp trai lắm, hăng hái lắm !”
Trong suốt cả năm giời tôi ở xà lim, liên tục ngày đêm là như thế. Về âm thanh, họ có để ổ điện hay một cái máy nghe, máy phát nào đấy, ở chỗ nào đó, trên cao, hay ngang tầm mình; bởi vì tôi có trông thấy một chùm dây điện, hàng chục dây chui vào một lỗ, cụm dây chui vào độ 10 phân thôi, rồi hở ra có một cục đen như đầu máy, họ trét xi măng gồ ra như cái hộp, nhưng trét nham nhở để mình đoán là cái đầu máy, để mình hiểu là có thể có máy thu thanh hay máy gì đó. Hoặc như cái thềm xi măng mình nằm, tưởng nó đặc nhưng một hôm đánh rơi cái thìa thì thấy nó rỗng. Mình đi một vòng thềm xem xét thì thấy về một phía tường có lỗ hở độ bàn tay trẻ con, nhìn vào thấy rỗng; vậy đúng là đường dây thông, để chứa những máy mà họ phát ra những âm thanh tắc kè, mối, hay những tiếng rì rào nói chuyện.
Tâm trạng tôi lúc bấy giờ xuống dốc đến thế nào, hay là tôi hèn kém quá, khiến tôi luôn luôn nghĩ đến cái chết nhưng lại sợ. Muốn đập đầu vào tường chết, lại sợ không biết phải đập như thế nào mới chết được, mà không chết thì có chịu nổi không. Tôi nghĩ đến viết thư về nhà xin gởi thuốc gì cũng được, độ 30 viên mà nuốt vào, rồi không uống nước, nó sẽ sưng phù trong bụng, mà chết; nhưng cũng không được vì gởi thuốc phải qua kiểm soát. Hôm ấy vào lúc được ra sân tắm, mà lại không thấy quản giáo đâu, tôi có một cái quần rách mà cạp còn dai lắm. Tôi xé cái cạp ra, lấy hết sức buộc hai ngón chân cái lại với nhau rồi lê ra bể nước, lết lên miệng bể thả mình vào, định chết chìm. Nhưng cái bể nó lại nông, uống chỉ được hai ba ngụm nước thì bản năng sinh tồn vùng dậy, lại quờ quạng lấy tay ngoi lên mặt bể, bò ra, bị lạnh, rét run. Chết kiểu ấy cũng không được. Trong khi ấy, gần một năm rồi, những âm thanh vẫn tiếp tục như cái trò giải trí, không tha mình giây phút nào.
Mình ở trong cái thế giới hiu quạnh, một mình, thỉnh thoảng nhìn qua khe hở lỗ khóa xích sắt, để xem có ai qua lại hành lang. Lúc thì thấy anh quản giáo, lúc thì thấy con chó berger hẳn hoi. Một hôm nhìn sang cái xà lim trước mặt thấy có người, một ông già độ 70, bị giam cùng với đứa cháu gái 14, 15. Ông già nói: “Mày đứng đấy chờ cán bộ đưa cơm thì mang vào cho tao nhá !” Rồi thấy ông già đi vào trong xà lim không trở lại nữa. Có hôm thấy một ông già nhà quê, và đứa con gái, khác, cũng ngoan ngoãn hầu hạ, rồi cũng biến mất. Không biết họ tạm giam hay sao, thế là mình mất cái dịp nhìn thấy con người.
Vì vậy, khi nghe thấy bất cứ tiếng động gì thì bám lấy, bám như bám vào cái xã hội mà mình không được sống ở trong ấy nữa. Dăm hôm sau, bên cạnh có hai cô, ngoài 20, cũng nửa quê nửa tỉnh, đi lấy cơm rồi mang vào xà lim bên cạnh, họ cười nói khúc khích, như chả có vẻ gì đi tù cả. Tôi thèm được nói chuyện với họ, thèm như đói thèm cơm, cứ mong đến giờ ăn để họ ra cho mình nhìn một tý, nhưng đến chiều không thấy họ ra nữa.
Loáng thóang những hình ảnh, luôn luôn thay đổi như thế, nó làm cho thần kinh mình cứ loạn dần, loạn dần. Mình thèm sự sống, thèm được đi cung, để được nói dăm ba câu, chứ giam như thế này thì đúng là hoang đảo. Có khi hàng tháng chả nhìn thấy bóng công an, mỗi ngày chỉ có anh tự giác bưng cơm tận miệng, nhưng hỏi gì nó cũng không nói, hoạc chỉ trả lời qua loa. Mình xin: “Bác ơi ! làm ơn cho tôi xin điếu thuốc lào.” Thì nó bảo: “Ơ, tù mà còn đòi thuốc lào !” Một sự thèm muốn ghê gớm đến khủng khiếp, có cảm tưởng là mình bị chôn sống trong xà lim này. Mình thèm muốn tiếng người, dù là tiếng nó chửi mình, còn hơn sự im lặng. Nghe thấy tiếng người là thấy sống. Nghe cái thứ âm thanh ám chỉ, dù không phải là tiếng người trực tiếp, cũng còn hơn im lặng hoàn toàn.
Ngày tháng trong xà lim chỉ đại khái, không thể biết rõ. Lúc đầu tôi còn đếm ngày, tôi nhớ ngày 8/4 lễ Phật Đản năm 83 là ngày giỗ con gái tôi, nó tên là Hoàng Yến. Giỗ đầu. Hôm ấy tôi ở trong xà lim. Sáng dậy, tôi đã nhớ con gái lắm, bỗng có một con bướm trắng nhỏ, nó không bay mà lại bò đến chỗ mình nằm. Tôi nhớ lại lúc tôi còn ở nhà, khi con tôi chết được 35 ngày, thì đến 11 giờ 15 đêm, nó hiện ra con bướm màu hoàng yến, nó bay vào giường ngủ của tôi. Tôi ra thắp hương cho nó, rồi nó bay không biết bao nhiêu vòng nữa, tôi biết là con gái tôi về thăm bố. Hôm nay nó lại hiện ra, nó là con bướm trắng nó về thăm bố trong tù.
Khoảng cuối tháng 9/83, anh quản giáo đến bảo: “Anh Việt mặc quần áo vào lên ban quản trị !” Lên đến nơi, họ cho biết: “Báo cho anh biết: Anh được về thăm gia đình !” Tôi vừa ngạc nhiên vừa sung sướng. Họ đưa lên xe bịt về, tôi ngồi giữa hai cán bộ. Họ đã dặn kỹ: “Tuyệt đối không được nói chuyện tù, giam ở đâu, đã khai những gì, chỉ về thăm nhà thôi.” Tôi tưởng được về Lý Quốc Sư, nhưng ô tô đỗ lại ở phòng thường trực của Bộ ở phố Trần Bình Trọng. Bà Yến đã ngồi ở đấy với thằng Anh, thằng Phi và cô Huyền là bồ của Phi. Nó mua sẵn tô phở còn nóng, và gói quà để đấy. Cán bộ bảo: “Anh ăn đi, rồi nói chuyện với gia đình”.Thằng Anh đã chuẩn bị sẵn một cái bát nhỏ sẻ ra: “Bố ăn đi, phở tái ngon lắm”. Nhưng tôi không ăn được, không thể nuốt được, đưa lên miệng lại nghẹn, lại oẹ ra, nước mắt trào vào bát phở. Thằng Anh cảm động, nó bỏ ra ngoài. Bà Yến bình tĩnh hơn tôi nhiều: “Thôi cũng là số phận, kể như ông bị tai nạn thôi. Ông chả việc gì phải buồn, đáng nhẽ tôi còn buồn gấp vạn ông, mà có dám buồn đâu, phải lo bao nhiêu là việc”. Bà càng săn sóc, an ủi, càng nói thì tôi càng khóc nức nở như đứa trẻ con, không sao cầm lại được. Cả cuộc thăm rồi cũng không nói được gì.
Cùng thời điểm ấy, trong xà lim có một tay đến làm quen, bảo nó là cán bộ Công an, chẳng tham ô gì nhưng bị bắt bừa. Tôi đang thèm người nói chuyện, nó lại giúp đỡ tôi, lúc tắm nó kỳ cọ cho, tôi cũng quý mến chuyện trò với nó, nhưng nhiều lúc nó cứ hỏi như thẩm vấn về chuyện mình làm “gián điệp” thì tôi lại bực mình. Độ hai tuần, nó được lệnh chuyển trại, thấy nó quấn gói đi thản nhiên, trông như đóng kịch, chứ không phải ở tù. Sau này tôi đoán nó được gài lại để kích mình, xem mình có nói gì không, xong việc nó rút đi.
Thế rồi mình lại sống một mình, từ tháng 10 đến cuối năm, lại được gọi đi cung tới tấp, vẫn là hỏi về mối liên lạc với cô Cần Thơ ở Pháp, việc gởi băng ngâm thơ cassette, bị địch lợi dụng, rồi trở lại cuốn “Về Kinh Bắc”, anh muốn ám chỉ ai, v.v… loanh quanh chỉ ngần ấy thứ.
Đến gần Noël, trời rét lắm, 5 giờ sáng, nghe tiếng hét rất to: “Bùi Đăng Việt ! Chuyển trại !” Mình nghe thế thì nghĩ ngay: “Thôi thế là hết rồi ! Lần này chắc đi Thanh Chương, Nghệ An hoặc Thái Nguyên, Phúc Lưu đây. Cuộc đời mình kể như chết rồi, là cái giẻ rách chứ chẳng còn khí tiết gì”. Chán chường. Tuyệt vọng. Anh công an bảo: “Anh viết kiểm điểm đi, từ ngày ở Hỏa Lò sang đây anh có bị ai đánh đấm tra khảo gì không, có ai ăn cướp quần áo gì không, thì nói hết ra rồi ký vào !” Thế là tôi ngồi viết: “Từ hồi Hỏa Lò chuyển sang đây gần một năm trời rồi, không ai đánh đập, xỉ vả gì nặng quá. Tôi không có đồ đạc gì đáng giá nên không ai bóc lột lấy cắp một tý gì” Tôi ký tên, và hỏi: “Thưa cán bộ, tôi được đổi đi trại nào đấy ạ ?” Thì được trả lời: “Đây không biết, chỉ biết có lệnh chuyển trại thôi !” Họ cho tôi ăn cơm sáng sớm hơn mọi hôm rồi cho lên xe bịt kín đi. Tôi đang suy nghĩ không biết họ đưa đi đâu, thì lại thấy sông Tô Lịch, rồi về thành phố vào Khâm Thiên, đến gần toà án thì mình nghĩ: “họ đưa mình ra toà”. Nhưng qua toà án, thấy nó rẽ ra Hỏa Lò rồi đỗ. Nghĩ bụng thôi được về Hỏa Lò cũng tốt, có người, đông vui hơn.
Họ đưa vào một cái buồng bảo anh ngồi đây, chờ cấp trên. Rồi thấy anh Tú và anh Hòa bá cổ nhau đi đến, anh Hòa bông đùa: “Anh Cầm à, tôi nói có sai đâu, hôm anh dọn xuống xà lim, tôi nói anh cứ tin vào ngày mai tốt đẹp !”. Tôi nghe chả hiểu gì. Độ nửa tiếng sau, ông Nguyễn Doãn Nhạ bước vào, người cao, gầy, da mặt bám sát xương, hai con mắt của ông có gì rờn rợn, tôi vẫn còn nhớ lần trước ở Hỏa Lò, ông ấy doạ: “Tôi sẽ cho anh gặp con gái anh.” Tức là gặp con Hoàng Yến nó mới chết ! Ông ấy cho mình xuống âm phủ gặp con gái. Cái ông Nhạ này thâm và ác. Mặt lạnh lùng, khi ông đến gần mình thì hai mắt ông quắc và sắt lại, đăm đăm như có gì hằn thù, tức giận, hoặc có mưu mẹo gì, làm cho mình rờn rợn, có cảm tưởng đứng cạnh tử thần.
Thấy ông vào thì tôi cũng đứng dậy chào ông, vẫn theo thường lệ: “Chào cán bộ !” Tôi biết bây giờ ông là Đại tá rồi, ông có Thư ký đi theo. Ông bảo: “Hôm nay đưa anh từ xà lim bộ lên đây là anh được tạm tha theo yêu cầu của bà Yến, vợ anh, có đơn làm lên phường. Chúng tôi sẽ trao trả anh về phường, anh ngồi viết kiểm điểm lại đi”.
Được tha thì tôi cũng mừng nhưng lại viết kiểm điểm nữa thì mình biết viết gì ? Lại Kinh Bắc à ? Viết đến bao giờ cho xong ? Tôi cầm bút ngần ngừ, thì ông bảo: Hay thôi, để tôi đọc, anh viết cho nhanh, tên tôi là… anh nói sơ qua lý lịch một tý, bị bắt ngày… vì tội danh dám làm cả một tập thơ ‘Về Kinh Bắc’ nội dung phản động, chống Đảng… ngày hôm nay được nhà nước khoan hồng cho về thì tôi xin hứa điểm thứ nhất: Tuyệt đối ngừng bán rượu. Tuyệt đối tuân thủ chính sách của Đảng. Không được phá hoại…” Ông đọc chầm chậm như thế nào thì tôi viết như thế. Rồi ký. Sau đó anh thư ký đọc lệnh, tôi phải đứng nghiêm nghe lệnh. Họ cho về nhưng có tha đâu. Họ bảo chỉ tạm tha, lúc nào muốn bắt trở lại cũng được. Cứ hai, ba ngày họ lại đến, lại hỏi bài này anh chưa khai hết, phải khai thêm cho rõ, cho kỹ, anh làm lại đi, hai ngày nữa chúng tôi đến lấy.
Qua những trận như thế, tinh thần tôi ngày càng sa sút. Tôi bị bệnh tâm thần. Dạng trầm uất. Cả ngày chả nói năng gì, trông thấy ai cũng sợ người ta sắp bắt mình. Có lần đạp xe ra phố, thấy camion lao vào nhưng người lái xe phanh lại kịp rồi thò cổ ra chửi rủa thằng già muốn tự tử hả ? Có lần định nhẩy vào đường sắt ở chỗ Trần Phú, đã đứng rình sẵn đợi xe lửa đến lao vào, thì có một bà đứng đằng sau kéo giật trở lại, ngã giập đầu vào tường.

c- Bùi Thị Cần Thơ – Nguyễn Mạnh Hùng :
Năm 1978, tôi nhận được thư của một người bạn học cũ tên là Nguyễn Bùi Chấn, địa chỉ 10B Sương Nguyệt Ánh, Sài Gòn, giới thiệu với một Việt kiều, tên Bùi Thị Cần Thơ, làm Bác sĩ ở Pháp. Anh Chấn cho biết cô này rất hâm mộ thơ tôi và muốn liên lạc thường xuyên để nói chuyện thơ văn với tôi. Anh có hỏi, cô ấy muốn gởi một món quà cho tôi để làm quen, vậy tôi muốn quà gì ? Thấy không có gì trở ngại, tôi đồng ý, vì biết cô ấy là Bác sĩ, tôi xin ít thuốc trụ sinh vì ở đây khó mua. Bẵng đi một dạo không có tin tức, đến đầu năm 1979, cô Cần Thơ gởi cho tôi một ký thuốc. Chúng tôi tiếp tục liên lạc, sang năm 80, cô gởi nhiều quà lắm, ba lần, mỗi lần một gói 5 kí lô thuốc, và từ đó về sau, cô luôn luôn tiếp tế cho gia đình tôi đều đặn. Cô kể chuyện đời cô. Tôi tìm cách gởi tặng cô đầy đủ các sáng tác cũ, mới của tôi.
Một Việt kiều khác là Nguyễn Mạnh Hùng, Giáo sư Tiến sĩ dạy Kinh tế ở Đại học Montréal, từ Canada về Việt Nam luôn luôn, ngay từ 1975–76. Hùng nói được ông Phạm Văn Đồng giao cho công tác về kinh tế. Năm 1980, Hùng lại về, nói sẽ ghé qua Paris trước khi về Canada. Tôi nhờ Hùng cầm băng cassette tôi ngâm thơ qua Pháp cho cô Cần Thơ.
Tháng 8/1982, khi tôi bị bắt đưa vào Hỏa Lò, bà Yến có viết thư cho cô Cần Thơ nói rõ chồng tôi bị bắt về tội liên lạc với người nước ngoài, tôi biết cô rất quý mến chồng tôi, vậy mong cô thông cảm, xin cô ngừng liên lạc với chồng tôi. Nhận được thư, cô Cần Thơ gởi 100 đô la cho vợ tôi để săn sóc tôi, và cô cho vợ tôi biết: “Thầy em là Thích Nhất Hạnh có thể can thiệp để anh ra sớm”. Sau này tôi mới biết cô chính là Cao Ngọc Phượng, đệ tử của thầy Nhất Hạnh và sau cô đi tu là Sư Chân Không.
Khi tôi được về thì bà Yến cũng cho tôi xem bài báo của Công an Trung ương tức là báo của Hữu Ước, nó tả Nguyễn Mạnh Hùng bị khám xét ở Tân Sơn Nhất và bắt được mang 500 cuốn băng chống Đảng. Chúng nó bịa. Sự thực thì năm 1982, tôi có đưa một tập “Về Kinh Bắc” cho Hùng đem ra ngoại quốc. Khi vào Nam để đi Pháp, Hùng đi cùng với Dương Tường. Tôi bị bắt hôm trước, hôm sau Dương Tường báo cho Nguyễn Mạnh Hùng biết, đừng mang gì của Hoàng Cầm ra ngoài cả. Hùng gởi cả “Kinh Bắc”, cả “Bên kia sông Đuống”, đi tay không. Lần trước, năm 80, cậu đã mang cassette cho tôi trót lọt. Lần này, cậu không mang theo cái gì cả, vì thế khám xong, cậu về Canada như thường.
Sau này ra tù, cô Cần Thơ cho tôi biết là khi tôi bị bắt, ông Nhất Hạnh có trao đổi với 4, 5 trí thức Pháp, đã từng ủng hộ miền Bắc và thân với ông Lê Đức Thọ trong phái đoàn hòa bình ở Paris. Họ bàn nhau rồi viết kiến nghị gởi ông Lê Đức Thọ về việc nhà thơ Hoàng Cầm bị bắt : “Nếu xét Hoàng Cầm không phạm điều gì thuộc về luật nhà nước Việt Nam, mà chỉ vì về văn học, thì chúng tôi yêu cầu nước Việt Nam Dân chủ Công hòa trả ngay tự do cho nhà thơ Hoàng Cầm”. Sau đó, tôi cũng lại được nghe một số anh em quen biết, ở cấp khá cao, kể lại như thế này :
– Ông Lê Đức Thọ nhận được cái thư ấy, liền điện cho Sở Công an Hà Nội, bảo họ xem xét việc Hoàng Cầm thế nào, nếu không có chuyện gì nghiêm trọng lắm thì thả anh ấy ra kẻo mang tiếng.
– Lại có ý kiến cho rằng chính vì cái điện của ông Lê Đức Thọ, mà anh bị giam thêm. Bởi vì, tuy chức ông Thọ có cao thật, nhưng ông Thọ không phải là cấp trên trực tiếp của ông Nhạ. Cấp trên của ông Nhạ là một ông nào đó trong Bộ Chính trị, ông này bảo: “Nhờ ngoại quốc can thiệp à ? Đã can thiệp thì giam thêm nữa cho biết”. Vì thế mà anh bị giam vào xà lim bộ thêm một năm nữa.
– Có người nói thẳng là ông Tố Hữu. Ông Tố Hữu và ông Lê Đức Thọ quyền hành ngang nhau, chả ai ngán ai. Chính ông Tố Hữu bảo: “À đã thế thì giam thêm cho nó biết !”. Bắt anh cũng là lệnh Tố Hữu. Giam anh tới 18 tháng cũng là Tố Hữu.
– Theo một số người, kể cả Đặng Đình Hưng vì Hưng cũng có quan hệ với một số Công an nào đó, thì họ nói rằng: Ông Tố Hữu có một số Công an làm việc trực tiếp dưới quyền của ông ấy. Công an Hà Nội do ông Tố Hữu chỉ huy, bởi vì phần lớn anh em “Nhân Văn” ngày trước đều ở Hà Nội, trừ Hữu Loan bỏ về Thanh Hóa. Cho nên nói chung trí thức nào bất mãn hoặc có ý chống đối thì ông Tố Hữu huy động bộ máy Công an Hà Nội để bắt. Việc bắt Hoàng Cầm cũng là do Tố Hữu chỉ thị cho Công an Hà Nội, mà việc thả ra cũng là do Tố Hữu. Vì cái thư của trí thức Pháp và điện yêu cầu của ông Lê Đức Thọ, chạm đến tự ái của ông Tố Hữu, nên ông ra lệnh cho giam kéo dài thêm, để cho nó biết thế nào là kỷ luật, thế nào là chuyên chính vô sản.
Sau khi tôi ở tù ra, Công an luôn luôn theo dõi và gây áp lực, de dọa sẽ bắt lại… việc này đến năm 1993 mới chấm dứt. Những tháng đầu tiên, mỗi tuần tôi phải trình diện, phải kiểm điểm rất chi tiết: ai đến thăm, như thế nào, thế nào… mình đi chơi với ai… Và cứ 2, 3 ngày, ông Nhạ lại phái 2 người công an, mỗi lần khác nhau, đến hành tôi: còn bài này, bài kia, anh chưa kiểm điểm hết…
Sau khi được “phục hồi”, Công an vẫn không buông tha tôi. Đến tháng 5 năm 1988, ông Nguyễn Doãn Nhạ, vẫn ông Nhạ ấy, cho người mời tôi đến Sở để thảo luận về việc in tập “Về Kinh Bắc”, lúc ấy tiếng tăm của tôi đã trở lại dần dần. Họ đưa tôi vào một phòng rộng, ông Nhạ ngồi với ba bốn người, thái độ đầu tiên của ông cực kỳ thân mật: “Này anh Cầm nhỉ ? Hôm nào giỗ chị Yến cho tôi biết nhé, để tôi đem vàng hương đến lễ –bà Lê Hoàng Yến mất năm 1985 vì quá cực khổ, phải lo nuôi gia đình tám người con- bị căng mạch máu, trong lúc Hoàng Cầm bị bệnh tâm thần– Chị Yến là người rất tốt, một phần nhờ chị ấy làm đơn mà anh được về đấy, còn anh cả đời chỉ làm khổ chị ấy…”.
Mình cứ nghe xem ông xoay giọng thế nào, quả nhiên, ông ấy nói tiếp: “Nhưng mà dù anh có được phục hồi thì ảnh hưởng tác hại của thơ anh vẫn kéo dài, các bài ‘Lá Diêu Bông’, ‘Cây Tam Cúc’, người ta vẫn ngâm nga, rồi người ta muốn in thơ anh, người ta bốc thơ anh, nguy hiểm cho anh lắm ! Chính anh đã làm kiểm điểm tập thơ ấy ở Hỏa Lò rồi, nay anh lại tuyên truyền đi khắp nơi, rất nguy hiểm !”.
Ông chỉ mấy quyển sách luật để trên bàn, có quyển mở sẵn: “Đây này, luật cấm tuyên truyền, cấm cái này… cấm cái kia… anh mắc cả. Anh vi phạm luật rõ ràng chứ không phải chúng tôi bắt anh viết kiểm điểm đâu. Vậy anh phải làm gì đi chứ !”
Rồi ông quay ra vui vẻ: “Thôi ta uống bia đã ! Nào, các đồng chí mang giúp tôi bia, kẹo bánh lên đây !” Ông lại tiếp tục thân mật pha lẫn đe dọa: “Như thế nó nguy hiểm lắm, nguy hiểm cho anh, thế anh không nhớ chị Yến đã khổ với anh như thế nào à ? Chính anh đẩy chị ấy chết nhanh như thế đấy ! Anh có hối hận không ? Anh phải nghĩ cách ngăn chặn việc đó lại, chứ không thì nguy cho anh lắm !”
Tôi hiểu ông ấy còn căm cái chuyện “Lá Diêu Bông” lắm, ông là Công an, muốn bắt ai chả được, hai chữ “phục hồi” đối với ông chẳng có nghĩa gì. Hội Nhà văn đối với ông chẳng có giá trị gì. Tôi nói: “Việc người ta chép và đọc thơ tôi, kể cả tập ‘Về Kinh Bắc’, làm sao tôi kiểm soát được”. Ông ấy bèn gợi ý tôi viết cái thư ngỏ. Tôi đồng ý: “Vâng, tôi sẽ viết cái thư ngỏ gởi độc giả trong và ngoài nước về tập ‘Về Kinh Bắc’ ”, – “Thế thì tốt lắm ! Chúng tôi chỉ muốn cứu anh chứ có muốn phiền anh làm gì !” Tôi nói: “Hay anh cứ dùng cái bản kiểm điểm tôi viết trong Hỏa Lò”. Ông bảo: “Bản ấy dài dòng lắm, bây giờ anh viết ngắn thôi, viết cho dễ đọc ! Vậy mai nhé, mai anh vào đây, viết mấy ngày cũng được !”
Hôm sau tôi vào, ông không có mặt, hai người cấp dưới đón tôi ở cửa, đưa vào phòng có giấy bút sẵn, tôi ngồi viết ngay, như một bức thư gởi bạn trẻ, nói đại khái: “Tập thơ ‘Về Kinh Bắc’ nó giống như một cô gái đẹp, nhưng nó đen tối, tai hại cho chế độ này, mà con người cần phải sáng sủa để tiến lên. Tôi cũng dẫn chứng vài câu, đoạn “đen tối” hai nghĩa, với giọng hết sức thành thật, tôi yêu cầu độc giả trong và ngoài nước nếu ai có đọc thì quên nó đi, đừng truyền bá nó, vì đó là những tư tưởng độc hại…” Ra về tôi thấy nhẹ người vì nghĩ từ nay mình xong nợ với chuyện “Về Kinh Bắc”.
Mấy ngày sau, ông Nhạ gọi lên, đưa bức thư bảo tôi đọc lại. Đọc xong, ông bảo: “Cám ơn anh, khá lắm ! Bây giờ thế này nhé: Anh đọc lại ! Cứ đọc tự nhiên như thế để chúng tôi ghi âm”. Ông lại dùng đúng phương pháp trước: cả giọng nói của mình, chữ viết của mình, rành rành đây, còn chối cãi gì nữa ! “Chính anh tự viết, tự đọc, có ai bắt buộc anh đâu !”
Đó là phương pháp làm việc của Công an, mình phải vâng thôi, làm sao cưỡng lại được. Tôi làm đúng như ý ông muốn, quả nhiên sau đó, tôi thấy nhẹ người “Thôi xong nợ.”[55]

…”

P- Tố Hữu dưới mắt Hoàng Cầm:

Hoàng Cầm kể trong băng ghi âm :
“…
Trong hai năm 1962 và 1963 tôi làm việc tại nhà máy gỗ, hướng dẫn công nhân về văn nghệ, tức là làm phim đèn chiếu: chiếu phim rồi đọc thuyết minh, mỗi tháng lĩnh thêm độ 25 đồng, bằng 2/3 lương công nhân bình thường, gia đình đỡ khổ hơn.
Đến năm 1965, khi Mỹ ném bom Vịnh Hạ Long, chúng tôi nhận được thư của Đảng đoàn Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật mời lên để chuẩn bị công tác mới, có: Trần Dần, Lê Đạt, Thanh Châu, Trần Duy, Tử Phác, Phùng Quán… Hai người tiếp chúng tôi là Phùng Thị và Bảo Định Giang, Ủy viên Đảng đoàn. Anh Phùng Thị là nhân vật chính, nói :
“Vì Mỹ đổ bộ miền Nam và ném bom miền Bắc, chúng ta sẽ có một cuộc kháng chiến gian khổ và quyết liệt kéo dài không biết đến bao giờ, cho nên phải huy động lực lượng toàn quốc để chiến đấu. Chúng tôi theo chỉ thị của Bộ Chính trị, cụ thể là ông Lê Đức Thọ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng, anh Lê Đức Thọ nói thế này:
“Bây giờ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật phải chú ý đến anh em NVGP, trước đã bị kỷ luật, bây giờ phải đưa họ trở lại để phục vụ Đảng và nhân dân, vì trong cuộc chiến chống Mỹ chúng ta cần lực lượng toàn dân thì mới có thể thắng và thống nhất đất nước được”.”
Sau 7 năm kỷ luật, chúng tôi rất mừng. Năm ấy, tôi mới 43, Trần Dần 39, Lê Đạt 36, còn nhiều tiềm năng lắm. Anh Phùng Thị cho biết anh Tố Hữu hiện nay đang đi chữa bệnh ở Đức, chưa biết bao giờ về. Như thế là chúng tôi biết: Vắng ông Tố Hữu; ông Lê Đức Thọ, Trưởng ban Tổ chức Trung ương và cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đồng ý ra chỉ thị phục hồi, đưa chúng tôi trở lại làm việc.
Trong 3, 4 ngày, anh Phùng Thị nói về tình hình đất nước, về chủ trương chống Mỹ và nhiệm vụ của người công dân, văn nghệ sĩ. Sau đó, anh mới nói đến việc phân công :
“Anh Phùng Quán không còn ở trong biên chế, vì đã ra khỏi quân đội, chúng tôi đưa trở lại biên chế, sang làm việc ở Sở Văn hóa trong cụm Văn hóa Quần chúng, đi sưu tập văn hóa dân gian; anh Hoàng Cầm về Sở Văn hóa Hà Nội làm việc với anh Nguyễn Bắc. Anh Trần Dần xuống vùng mỏ 6 tháng, nhưng không phải đi lao động, xuống để nghiên cứu đời sống công nhân và sáng tác, thời gian này anh có viết được một truyện rất hay. Anh Lê Đạt lên Phú Thọ để làm công tác kinh tế miền núi. Còn hai anh Tử Phác và Đặng Đình Hưng thì để bên hội âm nhạc sắp xếp, anh Trần Duy do Hội Mỹ thuật lo…”
Cuối tháng 8/1965 tôi đến Phòng Sáng tác Sở Văn hóa, lúc ấy gọi là Nhà sáng Tác, có khá đông anh em quen biết, anh Nguyễn Bắc giao cho tôi diễn ca các nghị quyết, chính sách, của thành phố, thành văn vần cho nhân dân dễ đọc, dễ nhớ. Họ có in ra thành tập sách mỏng.
Tháng 11/1965 xảy ra việc Nguyễn Văn Trỗi bị xử tử. Tôi được gợi ý viết bài trường ca hoặc kịch ngắn để ca ngợi. Lúc bấy giờ tin tức ở từ Nam ra Bắc rất lủng củng, lúc đầu người ta bảo là Nguyễn Văn Trôi, sau chữa thành Trỗi. Một cái tên còn sai như thế, thì các sự việc còn sai lạc đến thế nào, nhưng tôi chỉ biết là người ấy có hành động can trường, làm tôi xúc động. Đầu năm 1966, tôi làm bài thơ dài “Tiếng gọi của người anh hùng”, trong đó không nói đến tên Nguyễn Văn Trỗi và thành tích gì cả. Lúc ấy có một anh tên là Đức, cục Phó Cục Văn hóa Quần chúng đến yêu đến cầu tôi đọc thơ, mỗi lần anh ấy nói chuyện ở các hội nghị, các Đại học, về đề tài Nguyễn Văn Trỗi, để làm gương cho thanh niên.
Anh Đức đề nghị mỗi khi anh diễn thuyết, sẽ nghỉ hai lần, và mỗi lần tôi ngâm thơ, lần đầu tôi ngâm bài thơ của ông Tố Hữu, lần sau ngâm bài thơ nào, tùy ý tôi chọn. Dĩ nhiên là họ không giới thiệu tên tôi, mà chỉ coi như một cán bộ Sở Văn hóa. Tôi đồng ý. Lúc đó, chúng tôi vẫn chưa được lộ tên thật, anh Phùng Thị bảo phải dần dần độ một năm rồi mới tính. Tôi ngâm bài thơ Tố Hữu với tất cả tinh thần thì được vỗ tay rất ghê. Đến lần thứ nhì tôi đọc bài thơ của tôi, đọc chứ không ngâm trong 10 phút, tôi thấy cử tọa khoảng 300 người toàn trí thức, kỹ sư, đều im phăng phắc nghe đến hết, không vỗ tay. Lúc sau mới có một phụ nữ lên tiếng: “Tại sao một bài thơ như thế này mà không thấy đăng đâu cả”. Tôi phải giải thích vì Sở Văn hóa chúng tôi sưu tầm trong quần chúng thôi, nên chỉ giữ làm tài liệu chứ không đăng ở đâu. Sau đó hai ba người yêu cầu tôi đọc lại cho họ chép. Đấy là buổi đầu tiên. Anh Đức dự tính sẽ có khoảng 20, 25 buổi khác ở các Đại học và nhiều cơ sở khác nhau. Anh hẹn tối hôm sau sẽ đến đón tôi khoảng 7g30. Nhưng anh mất hút luôn. Cuối cùng, không bao giờ gặp lại anh nữa.
Sau này, tôi có trao đổi với Trần Dần, Lê Đạt; thì Trần Dần nói ngay: “Cái bài thơ của mày thì đâu có gì, nhưng tất nhiên là phải báo đến tai Tố Hữu. Nếu mày chỉ ngâm thơ Tố Hữu không thôi thì mày còn đi kiếm ăn được[56]. Mày đưa cái bài thơ của mày ra là mày chết. Không đời nào Tố Hữu dung túng bài thơ của mày bên cạnh bài của nó.
Trở lại việc Phùng Thị, sau khi ông đã xếp đặt công việc cho mọi người được hơn một tháng, tôi lên gặp ông ở 21 Trần Hưng Đạo để khiếu nại về chuyện lương bổng; bởi vì tôi đã đi làm rồi mà hiện vẫn chỉ được lĩnh lương tối thiểu. Ông trả lời :
“…
Việc chúng tôi định phục hồi cho các anh là do ý của anh Lê Đức Thọ, được anh Phạm Văn Đồng đồng ý, lúc ấy anh Tố Hữu đi dưỡng bệnh ở Đức. Tôi trực tiếp làm việc với anh Thọ, anh Đồng. Tôi bố trí cho các anh làm việc ở đâu thì cứ ở đó. Nhưng bây giờ sự việc khác đi rồi, những điều tôi hứa với các anh: nếu in ấn gì trong vòng 6 tháng, thì chưa được để tên mình, nhưng dần dần rồi sẽ được ký tên thật, sẽ được phục hồi toàn vẹn, không làm được nữa, vì anh Tố Hữu mới về. Cách đây mấy hôm anh ấy có gọi tôi lên, cũng không gắt gỏng gì cả, chỉ hỏi: “Cái chủ trương phục hồi cho NVGP là chỉ thị của ai ?”
Tôi nói: “Báo cáo với anh là tôi làm theo chỉ thị của anh Lê Đức Thọ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đồng ý, vì đất nước bước vào giai đoạn chống Mỹ cứu nước nên cần đến tất cả mọi người”.
Anh ấy bảo: “Anh làm thế cũng tốt thôi, nhưng anh là người phụ trách trực tiếp thì phải bảo đảm được là các anh NVGP đã có tiến bộ về tư tưởng. Anh lấy cái chi để bảo đảm điều đó ?”
Tôi nói: “Thưa anh, tôi chỉ biết là từ 6, 7 năm nay họ đã đi học tập, ở các nơi đều nói họ lao động tốt, không chống đối gì nữa, tôi cho là họ có tiến bộ”.
Anh Tố Hữu nói: “Cái đó cũng được thôi. Nhưng mà có thể bề ngoài họ làm ra vẻ ngoan ngoãn phục tòng, mà bên trong họ vẫn âm mưu chống lại mình. Nếu họ giả dối, đợi được phục hồi, được giao cho chức vụ này, chức vụ kia, mới quay lại chống phá cách mạng thì anh lấy chi bảo đảm tư tưởng của họ ?”
Nghe anh Tố Hữu nói thế thì tôi chịu, làm sao tôi dám bảo đảm tư tưởng các anh được ? Kể ra thì anh ấy nói cũng có phần đúng, có thể người ta ngoan ngoãn phục tòng mấy chục năm trời để sau này họ phản lại, thì tôi cũng chịu. Tôi bất lực rồi, tôi không làm gì được nữa.
…”
Một tuần sau, tôi xuống 51 Trần Hưng Đạo, chả thấy Phùng Thị đâu. Từ đấy mất hẳn ông Phùng Thị. Có người phao tin: Phùng Thị sở dĩ muốn phục hồi cho “Nhân Văn” vì ông là chú Phùng Quán. Chỉ biết Phùng Thị mất tăm sau khi ông Tố Hữu ở Đức về. Bị ông căn vặn như vậy thì coi như mất tích, ông tống đi đâu chả biết, cho về hưu hoặc đổi đi xa, sống chết thế nào không biết. Khi Phùng Quán mất, cũng không thấy Phùng Thị đi đưa đám. Ông là chú ruột Phùng Quán.
Ông Nguyễn Đình Thi cho lệnh cắt lương tôi lần thứ nhì. Lần thứ nhất, sau vụ Thái Hà, năm 1958, lương tôi đang 146 ngàn, lúc đó chưa đổi, còn tiền cụ Hồ, ông ký giấy hạ xuống 92 ngàn, mình cũng hiểu. Lần này, 1965, Phùng Thị chuẩn bị cho chúng tôi phục hồi nhưng thất bại, ông Thi lại ký giấy giảm lương tôi từ 92 đồng xuống 60 đồng. Lê Đạt và Trần Dần bị ông cắt hết, không có lương, mỗi người chỉ được trợ cấp mỗi tháng 50 đồng.
Ngay sau 1975, Lê Đạt bàn với tôi: “Tao và thằng Trần Dần mà xin thì khó, nhưng mày có tiếng, lãnh đạo nể, nhân dịp này, mày viết thư cho Trần Độ –lúc bấy giờ là Bí Thư Đảng Đoàn Bộ Văn Hóa, ngang chức thứ trưởng– nhân dịp thắng trận, xin nhà nước phục hồi để xây dựng đất nước.” Nghe lời Lê Đạt, tôi viết thư cho Trần Độ nói đại ý như thế.
Anh Trần Độ cử ngay hai người Thư ký riêng là anh Huỳnh Ngọc Lý và anh Thanh đến thăm gia đình tôi và cho biết là anh Trần Độ đã nhận được thư của tôi, nhưng hiện giờ anh ấy bận quá vì mới giải phóng, nhưng anh cứ yên tâm, anh Trần Độ rất chú ý đến chuyện này và khi nào phục hồi được cho các anh thì anh ấy sẽ làm ngay.
Thế là chúng tôi chờ, chờ từ 75 đến 82, tôi bị bắt. Trần Độ ân cần như thế mà sao không làm được, thì phải có cái gì nó ngăn trở. Tôi mới nghĩ ra là ông Trần Độ tuy chức cao về văn hóa, nhưng người lãnh đạo tối cao về văn hóa vẫn là Tố Hữu. Ông Tố Hữu lúc bấy giờ là người có vị trí gần như cao nhất trong Đảng, là Ủy viên Bộ Chính trị, rồi Phó Thủ tướng. Nhiều nguồn dư luận khác nhau ở trong và ngoài Đảng đều cho rằng ông Tố Hữu sẽ lên làm Tổng bí Thư thay ông Lê Duẩn nếu ông Lê Duẩn qua đời.
Nhưng ông Tố Hữu không muốn bọn NVGP mọc mũi xủi tăm lên được, ông chỉ muốn tiêu diệt địa vị xã hội của anh và tác phẩm của anh sẽ bị chôn vào quên lãng. Thậm chí chúng tôi nghĩ, những bài thơ hay những gì của NVGP đã bị tịch thu, họ đốt hết đi rồi. Đốt hết để không còn dấu vết gì.
…”

Q- Nguyễn Văn Linh:

Hoàng Cầm kể trong băng ghi âm :
“…
Anh Đào Phan tức Đào Duy Dếnh, là nhà nghiên cứu, em ông Đào Duy Anh, lúc còn sống chơi thân với tôi, anh có viết một bản thảo 2.000 trang, tựa đề “Bi kịch Hồ Chí Minh”, rút gọn lại cũng được 1.000 trang, anh đã trích gởi vài nơi nhưng họ không đăng.
Khi ông Lê Duẩn[57] mất, ông Trường Chinh đứng ra làm Tổng bí Thư trong 6 tháng, lúc ấy ông Trưòng Chinh ủng hộ ông Nguyễn Văn Linh. Đến Đại hội VI, ông Trường Chinh từ chức để làm gương, sau đó các ông Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Đồng Sĩ Nguyên và 5, 7 người nữa từ chức theo. Đại hội VI, họp trù bị gần 20 ngày, đấu nhau kinh khủng lắm, sau phe Nguyễn Văn Linh thắng.
Ông Nguyễn Văn Linh lên làm Tổng bí Thư, lúc đầu chủ trương đổi mới theo Đông Âu; ông để báo chí, nhà văn được tự do, nhưng chỉ được hơn một năm, ông Lê Đức Thọ kiềm chế ông lại. Thí dụ ông Linh muốn xóa bỏ đặc quyền đặc lợi của giới lãnh đạo, nên khi đi công tác, Hà Nội–Sài Gòn, hay đi Mát-Cơ-Va, ông đi máy bay hành khách với một vài người Thư ký tháp tùng, dân chúng hoan nghênh lắm nhưng một hôm –chuyện này tôi nghe người ta kể lại– ông Lê Đức Thọ sang chơi, bảo: “Này anh Linh, cái việc anh không dùng chuyên cơ để đi công tác rất tốt, nhưng hôm qua anh em bảo vệ đến nói với tôi: ‘Đồng chí Tổng bí Thư cứ đi như thế này thì chúng em không biết cách nào để bảo vệ đồng chí cả !’ ”
Nguyễn Văn Linh hiểu ngay là một câu đe doạ: “Anh cứ đi như thế này thì anh chết không ai chịu trách nhiệm đâu !” Ông bắt đầu thấy rợn người và ông đành phải hãm cải cách lại. Đến kỳ Đại hội VII[58], dù ông vẫn được tín nhiệm nhưng ông từ chối, lấy cớ nhiều bệnh không làm Tổng bí Thư nữa.
Nhờ Nguyễn Văn Linh làm Tổng bí Thư nên Trần Độ mới có thể thực hiện việc đổi mới văn học và làm rất nhanh việc phục hồi NVGP. Trần Độ là Trung ương Ủy Viên, được ông Nguyễn Văn Linh rất tín nhiệm, chính Trần Độ thảo nghị quyết số 5 về vấn đề văn nghệ[59].
…”

R- Nguyễn Khải:

Hoàng Cầm kể trong băng ghi âm :
“…
Năm 1988, Trần Độ làm trưởng Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương, anh thúc giục Hội Nhà văn phục hồi nhanh chóng cho anh em NVGP. Không ai dám hay muốn đứng ra nhận lỗi, từ trên Trung ương Bộ Chính trị, tức là từ ông Tố Hữu, không dám thẳng thắn nhận mình sai lầm. Hội Nhà văn giao cho Nguyễn Khải làm việc này. Khải muốn không một ai trong Hội Nhà văn phải đứng lên nhận lỗi gì vì đã xử sự với anh em NVGP tàn nhẫn như thế trong suốt 30 năm. Nó muốn giữ sĩ diện cho Đảng. Đảng đúng mà chính các anh sai, nhưng các anh bị kỷ luật lâu rồi thì Đảng khoan hồng phục hồi, chứ Đảng không sai gì cả. Thế thì các anh phải viết cái thư yêu cầu được phục hồi. Nguyễn Khải làm việc đó.
Nguyễn Khải là một tay rất khôn và láu cá. Đầu tiên nó đến ông Lê Đạt vì nó biết Lê Đạt là cán bộ Chính trị và ông này cũng mưu thần chước quỷ lắm, lại là nhân vật tối ư quan trọng của “Nhân Văn”. Nó biết nếu nó nói được với ông Lê Đạt thì mọi việc có thể xong hết, thế là nó đến Lê Đạt trước. Lê Đạt đồng ý, sau đến Trần Dần, Trần Dần cũng đồng ý, thôi thì viết cái thư cũng chẳng quan hệ gì theo như Lê Đạt và Trần Dần nghĩ. Sau đó Nguyễn Khải, Xuân Thiều đến tôi, đi kèm với Phùng Quán và Lê Đạt. Nguyễn Khải nói với tôi :
“Tôi biết việc các anh trở lại với Đảng cũng khó, mà Ban Chấp hành chúng tôi đến với các anh cũng khó. Vậy thì nhân dịp Đảng đổi mới, Ban Văn hóa Tư tưởng giao cho chúng tôi việc này. Nhưng nếu chúng tôi tự ý phục hồi cho các anh, nhỡ các anh lại không đồng ý, các anh chửi ầm lên: Chúng tôi cần chó gì cái Hội Nhà văn của các anh mà các anh phục hồi, thì có phải bẽ mặt cho chúng tôi không. Vậy theo yêu cầu của Hội Nhà văn, xin anh viết cho mấy câu. Các anh Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán đã làm cả rồi, anh viết ngắn gọn đại ý: “Kỷ luật đã kéo dài gần 30 năm rồi, anh bị quá thiệt thòi vậy yêu cầu hội nhà văn phục hồi cho anh”.”
Nguyễn Khải nói thì tôi không tin lắm vì lúc anh ta là Tổ trưởng đã đấu tôi rất ghê ở Thái Hà ấp, nó trấn áp tôi, nó bảo “Im mồn đi, gái đĩ già mồm”. Thấy Nguyễn Khải thì tôi khó chịu, nhưng chết một cái là Lê Đạt, Phùng Quán đã làm rồi. Thấy mọi người đã làm thì mình cũng đành làm.
Thế rồi trong một buổi họp mặt ở nhà Phùng Quán có cả mọi người để ăn mừng việc phục hồi này thì Trần Dần nêu lên ý kiến phải đăng báo để cả nước biết, chứ việc này không chỉ trong nội bộ Hội Nhà văn. Tôi cũng đồng ý phải thông tin. Nhưng không ngờ khi Xuân Thiều viết bài trên báo “Văn Nghệ” thì nó gài vào một câu: “Ban chấp hành đã họp ngày ấy… trong chương trình làm việc, có phục hồi cho một số anh em NVGP…” Nhưng nó viết đểu ở chỗ này, nó chêm vào câu sau cùng “theo đơn yêu cầu của các đồng chí ấy”. Đấy là cái đuôi mà Xuân Thiều thêm vào. Để làm gì ? Để nói rằng các anh yêu cầu chứ Đảng không có lỗi gì cả. Các anh yêu cầu thì Đảng khoan hồng phục hồi cho các anh thôi ! Tôi chắc là Xuân Thiều nó được lệnh ngầm để viết câu đó.
Về sau chúng tôi nhận được nhiều phản ứng từ Nam ra Bắc, chỉ trích việc ấy lắm: Tại sao lại phải xin phục hồi nhỉ ? Nhất là Dương Thu Hương cô ấy bỗ bã nói thẳng: “Các anh hèn lắm việc gì phải viết đơn xin cái Hội Nhà văn chúng nó cho phục hồi”.
Tôi chỉ cười: “Cô mắng anh là hèn thì anh cũng chịu thôi. Nhưng chúng tôi không làm đơn lên xin như thế. Sở dĩ chúng tôi viết cái thư, là do Nguyễn Khải nó yêu cầu các anh viết cho nó mấy chữ, bởi nếu nhỡ nó phục hồi rồi mà các anh không chịu, các anh chửi ầm lên, chúng tôi cần chó gì cái Hội Nhà văn các anh phục hồi, thì chúng nó mất mặt. Vì thế chúng tôi mới viết cho nó mấy chữ, nghĩ chẳng quan trọng gì, đâu ngờ chúng nó lại dùng cái thư đó để viết những câu như thế này trên báo ‘Văn Nghệ’ ”.
…”

S- Thái độ của Tố Hữu sau “Đổi mới”:

Hoàng Cầm kể trong băng ghi âm :
“…
Trần Độ trong kháng chiến, ban đầu làm báo Vệ quốc Quân, sau đó đi chiến đấu thì ông làm Chính ủy Sư đoàn 302, là một nhân vật rất hay, được Trần Dần tả trong cuốn “Người người lớp lớp”. Ngay thời kỳ ấy, Trần Độ đã cho Tố Hữu là anh ít học, hãnh tiến, kiêu căng, hợm hĩnh, nên không ưa, ông lại không trực tiếp ở dưới quyền Tố Hữu, chỉ liên quan thôi, chứ không dính, nên ông coi thường Tố Hữu.
Cuối năm 1988, Trần Độ là Trưởng ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương dưới thời Nguyễn Văn Linh, một hôm ông sang chơi nhà Tố Hữu, không phải vì tình nghĩa mà để xem thái độ của Tố Hữu đối với văn nghệ sĩ thế nào. Trong câu chuyện có đoạn này hết sức quan trọng, Trần Độ hỏi: “Anh nghĩ gì về số anh em NVGP mới được phục hồi”.
Tố Hữu trả lời: “Cái bọn chúng nó bây giờ được ngóc đầu dậy, chúng nó lại láo lếu lắm. Tôi tiếc là ngay từ lúc đó (tức là lúc NVGP ra đời) tôi không giết hết chúng nó đi.
Đó là nguyên văn câu Tố Hữu nói với Trần Độ, sau này Trần Độ kể lại cho Ngô Thảo và Ngô Thảo nói lại với tôi.
Nếu phân tích thì thấy cái ghét này không còn là chính trị, vì quá trung thành với Đảng nữa, mà những người văn nghệ sĩ được nhân dân tín nhiệm và yêu mến như Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Lê Vân… nói chung tất cả những anh em nghệ sĩ đủ các ngành, ít nhiều tham gia NVGP, cả bên hội họa như anh Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái… đều là những nhân tài và được quần chúng yêu mến, thì Tố Hữu ghét cay ghét đắng. Sau Đại hội VI rồi mà ông còn nói: «Tôi tiếc là ngay từ lúc đó tôi không giết hết chúng nó đi !»
Đại hội VI kết thúc một thời gian ngắn, thì Tố Hữu lập một nhóm cùng chí hướng với mình, do ông và Chu Huy Mân cầm đầu. Việc này do một vài anh em gần Trung ương làm báo “Nhân Dân” và vài người công an ngày trước đã hỏi cung tôi, nhưng là những người tốt, kể lại. Nhiều nguồn chập lại thì mình có thể tin được :
“Ông Tố Hữu lập ra một nhóm 27 người, đã thảo hẳn kế hoạch lật đổ Bộ Chính trị mới dưới quyền ông Nguyễn Văn Linh, bởi vì tới Đại hội VI thì có 7 ủy viên chính trị, hoặc xin từ chức hoặc bắt buộc phải thôi việc. Ông Tố Hữu tập trung những người bất mãn với chế độ mới, thảo một kế hoạch lật đổ Nguyễn Văn Linh. Tất nhiên Công an mật bảo vệ Trung ương Bộ Chính trị theo dõi và họ bắt trọn ổ 27 người họp nhau ở một căn nhà gần hồ Ha Le, thu thập tài liệu và làm biên bản, rồi báo cáo lên ông Linh. Ông Linh gạt đi, bảo: “Chỉ lưu trữ tài liệu, còn 27 người, không truy tố ai. Anh Tố Hữu và anh Chu Huy Mân đều có đóng góp lớn cho Đảng. Vậy không đưa ra công khai, kể cả trong nội bộ Đảng, cứ coi như hoàn toàn không có việc này”.”
Tôi cho một người cầm quyền mà xử sự như thế là rất đúng, rất hay.
…”

T- In “Về Kinh Bắc”:

Hoàng Cầm kể trong băng ghi âm :
“…
Xuân Quỳnh[60] vợ Lưu Quang Vũ, là nhà thơ và bạn thân của Hoàng Yến, con gái tôi, làm ở nhà xuất bản Tác Phẩm Mới, đã đọc tập thơ này khoảng 74–75 và rất thích.
Khi tôi ra tù, Xuân Quỳnh nói với tôi ý muốn in, tôi dặn, đừng lấy tên “Về Kinh Bắc” mà nên cho thêm bài “Bên kia sông Đuống” vào rồi đề tên “Bên kia sông Đuống”. Xuân Quỳnh cự tôi: “Khổ, chú bị tù rồi chú đâm nhát quá !”. Xuân Quỳnh cũng gây gổ với Vũ Tú Nam, Giám đốc, ông này bảo: “Trên người ta đã có ý kiến, không nên in cuốn sách này”. Xuân Quỳnh cãi lại: “Cuốn này tốt, anh không in thì tôi in, tôi lo tiền bạc, tôi in lấy, trách nhiệm tôi chịu”. Thế là Xuân Quỳnh tự lo liệu, sắp in, thì công an đến yêu cầu đình chỉ.
Ở Huế, khoảng 1987–88, Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Trọng Tạo cũng định đưa nhà xuất bản Thuận Hóa in “Về Kinh Bắc” và cũng lấy tên “Bên kia sông Đuống”, hay “Thơ Hoàng Cầm”. Chuẩn bị xong, sắp in, thì một hôm, tôi đang ngồi giặt ở máy nước trước cửa nhà, anh Ngọc Bảo[61] đi qua, vẫy tôi ra nói: “Này, cậu định in tập thơ gì ở Huế phải không ? Cậu đánh điện bảo thôi đi, nếu không tay Nhạ nó bắt cậu trở lại đấy !” Thế là tôi đâm hoảng. Thơ mình có giá trị thì in lúc nào chẳng được, chứ vào tù nữa thì sợ lắm, lần này có thể nó đánh đập, làm sao chịu nổi. Tôi đánh điện cho Hoàng Phủ Ngọc Tường bảo ngừng. Nguyễn Trọng Tạo nói với Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Cái ông Hoàng Cầm này ông ấy nhát lắm, chắc có ai dọa ông ấy đây !” Hoàng Phủ Ngọc Tường chín chắn hơn: “Giá ai đánh điện thì mình cứ làm, đây chính anh Hoàng Cầm đánh điện, nếu mình làm có phải là đẩy anh ấy vào chỗ chết không ?”
Đến anh Lý Hải Châu, Giám đốc nhà xuất bản Văn Học, trước khi về hưu cũng định in ít bài trong “Về Kinh Bắc”, và không được, anh ấy cằn nhằn tôi: “Khổ quá tập về ‘Kinh Bắc’ anh cứ để cho chúng tôi lo, tại sao anh lại ra Công an anh khai cái này cái nọ, làm cho Công an họ gây sức ép không in được”. Tôi chán quá, tôi bảo: “Thôi tốt nhất là không in gì cả, tôi chào các anh, tôi về !”
Đến lượt anh Sinh ở nhà xuất bản Phụ Nữ cũng muốn in những bài nổi tiếng như “Lá Diêu Bông”, “Tam Cúc”, cũng bị ông Quang Phòng, Tổng cục Phó thứ nhất Cục An ninh Chính trị viết thư khuyên: “Anh Hoàng Cầm có thể in tất cả những bài thơ tình của anh ấy, riêng tất cả những bài trong tập ‘Về Kinh Bắc’ thì còn phải chờ chúng tôi quyết định.
Năm 1987, một hôm, tôi mang tập thơ tình, có những bài tôi mới làm, tập “Mưa Thuận Thành” cho anh Quang Huy, trách nhiệm nhà xuất bản Văn Hóa xem, thì anh Quang Huy, ngỏ ý muốn in ngay, anh đề nghị: “Ta nên cho thêm bảy tám bài thơ nổi tiếng trong tập ‘Về Kinh Bắc’ đã được in trên báo hai ba lần rồi, như các bài ‘Lá Diêu Bông’, ‘Tam Cúc’…” Tôi có ý ngần ngại, anh bảo: “Thôi anh cứ để tôi lo liệu”. Công an của ông Quang Phòng có xuống đòi mượn bản thảo để xem. Anh Quang Huy rất mềm dẻo nhưng cũng rất cứng rắn trả lời như thể anh không biết tập “Về Kinh Bắc”: “Thưa các đồng chí tập thơ này đã vào chương trình xuất bản của chúng tôi, những bài được chọn, có một số bài, hình như nghe nói có trong tập ‘Về Kinh Bắc’, nhưng là những bài thơ đã xuất hiện trên báo hai ba lần rồi, mà dư luận cũng không có gì phản đối, vậy nếu các đồng chí muốn mượn bản thảo, thì cũng xin trả ngay để tôi in đúng thời hạn hợp đồng”.
Nhờ sự cứng rắn của anh Quang Huy, tập “Mưa Thuận Thành” in được, năm 1987, thấy ghi 1.000 bản, quá ít, bán hết ngay. Khoảng 1990–91, Trần Tiến phổ nhạc “Lá Diêu Bông”, và từ đó, nó được phổ biến rộng rãi, cả người hát xẩm cũng hát. Đến 1994, anh Lữ Huy Nguyên, nhà xuất bản Văn Học, được một cán bộ an ninh trên Trung ương cho biết là chỉ thị cấm in “Về Kinh Bắc” đã hủy bỏ từ tháng Bảy tháng Tám năm nay rồi. Thế là năm 1994, nhà xuất bản Văn Học được chính thức in tập “Về Kinh Bắc”, thấy họ ghi in 1.000 cuốn, còn nội bộ bên trong họ giấu tác giả.[62]
…”

“Về Kinh Bắc” là bản hùng ca chống lại thanh trừng bức bách. “Về Kinh Bắc” là về quê hương, về đất mẹ Luy Lâu (Kinh Bắc), kinh đô văn hóa đầu tiên của nước Việt, để dâng sớ kể tội “triều đình” đàn áp tư tưởng, càn quét nhân tài.
Nội dung ấy được giấu trong những câu thơ kín đáo, lại đảo lộn thứ tự như sấm Trạng Trình, đọc qua không thể hiểu.
Tác giả còn chen vào những bài trữ tình quan họ: “Váy Đình Bảng”, “Lá Diêu Bông”… làm lạc hướng, khiến phần đông người đọc và phê bình, chỉ chú ý vào những chỗ lãng mạn, trữ tình, dễ hiểu. Nhưng kẻ ra lệnh bắt Hoàng Cầm đã hiểu.
Một bản hùng ca bi tráng, vào đêm. Đêm của người thất trận, nhưng không thoái gót. Hoàng Cầm tiếp tục cõi hùng ca bi đát từ “Hận Nam Quan”, qua “Kiều Loan” và trở về “Kinh Bắc”, giọng vẫn sang sảng :
Về Kinh Bắc phải đâu con nghẹn khóc
Con không cười
Con thoảng nhớ thoảng quên.
Về Kinh Bắc phải đâu con hé miệng
Về Kinh Bắc phải đâu con nhắm mắt
Về Kinh Bắc tìm chơi đàn kiến lửa

Và những bức tranh cuồng loạn: bức bách tự do, giam cầm nghệ sĩ, đàn áp trí thức, xé sách, cùm thơ, giam chữ, sống lại, sống mãi trong ký ức muôn đời của dân tộc :
Trăng lên chém đầu ngọn gió
Cành si bưng chậu máu chát chao (…)
Chợt mê thét giữa sân
Nét Mác chữ thiên toạc lưng trâu mộng
Máu đổ
Mây đùn
Gió lộng
Sớm mai đi
Xé trang Luận Ngữ
lau gươm
lên đường (..).
hỏi tội nghịch thần
mắt Chúa đảo thiên
Kéo áo che ngai
Né mũi kiếm vô hình xốc tới
Phanh hầm nhét vội một vầng dương
Cắn nhọn móng tay
Thơ cùm lim khắc máu (...)
Vùng chặt xích bẻ gông
phá cửa
cướp ngựa hình tham tri
phóng lên ải bắc
Nâng lụa ngang mày câm tiếng khóc
Nghiến oán thù tím ngắt nắng Phong Châu

Đó là Hoàng Cầm.
Hoàng Cầm viết lịch sử thời đại ông, thời chúng ta, thời thơ bị treo cổ.

(Hoàng Cầm có “duyên nợ” với “nàng tiên nâu”
nên mãi đi tìm “Lá Diêu Bông” nơi thế giới khác)

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]
[16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29]

===========================================

Phụ Chú :
[1] “Hoàng Cầm văn xuôi”, nxb Văn Học 1999, trang 129.
[2] Vũ Hoàng Chương, “Nhớ Đinh Hùng”, “Loạn trung bút”, Khai Trí 1970, trang 182.

[3] Năm 1959 in lại đổi tên thành Từ ấy.
[4] Đặng Thai Mai, “Mấy ý nghĩ”, viết ngày 10/4/1959, in trong tập “Từ ấy”, thơ Tố Hữu, Văn Học, 1959.

[5] “Cái gì thúc đẩy thơ”, Hoàng Cầm văn xuôi, trang 221.
[6] Cả hai là em ruột Hoàng Tích Chu.
[7] Vũ Hoàng Chương, “Duyên thơ nợ kịch”, trong tập hồi ký “Ta đã làm chi đời ta”, Hội Nhà văn in lại 1993, bị cắt nhiều chương, đoạn, so với bản 1974, ở Sàigòn.

[8] Cha Lưu Quang Vũ.
[9] Anh Nguyễn Bính.
[10] “Lận đận Kiều Loan”, Hoàng Cầm văn xuôi, trang 54.
[11] Nguyễn Tuân có đóng phim này.
[12] Ngày 19/12/1946, toàn quốc kháng chiến, ban kịch Đông Phương rời Hà Nội.

[13] Tức Đinh Hùng.
[14] Thuộc Thái Bình.
[15] Chắc là Kiều Loan, con Hoàng Cầm và Tuyết Khanh, lúc đó chưa đầy tuổi.
[16] Vũ Hoàng Chương, “Duyên thơ nợ kịch”, bản in năm 1974 ở Sàigòn.
[17] Vũ Hoàng Chương, bđd.
[18] Xuất bản tại Sài Gòn, 1961.
[19] Hoàng Cầm, “Nguyễn Đình Thi trong tôi- Nguyễn Đình Thi ngoài tôi”, Talawas.

[20] Đây là lần II, do Trường Chinh tổ chức ở Việt Bắc mà sau đó Nguyễn Hữu Đang bỏ về Thanh Hóa.

[21] Hoàng Cầm, bđd.
[22] “Đêm liên hoan”, thơ Hoàng Cầm.
[23] “Đường ta ta cứ đi”, Hoàng Cầm văn xuôi, trang 151-161.
[24] Tiếng Pháp đặt thay Việt ngữ: tên gọi là đập Thác Huống (Chú thích Hoàng Cầm).

[25] “Đường ta ta cứ đi”, Hoàng Cầm văn xuôi, trang 151-161.
Trong năm 1947, Phạm Duy đã sáng tác hơn 20 ca khúc: Nhạc Tuổi Xanh (Phú Thọ), Về đồng hoang (Phú Thọ), Đường về quê (Bắc giang) Thanh niên ca, Thanh niên quyết chiến (Yên bái), Khởi hành (Tuyên Quang), Thiếu sinh quân, Dân quân du kích, Ngọn trào quay súng (Bắc Giang), Việt Bắc, Đường Lạng Sơn (Lạng Sơn), Nhớ người thương binh (Vĩnh Yên), Dặn dò (Bắc Giang), Ru con (Thái Nguyên), Mùa đông chiến sĩ (Thái Nguyên), Nhớ người ra đi (Thái Nguyên), Bên ni bên tê (Tuyên Quang), Tiếng hát trên sông Lô (Tuyên Quang), Nương chiều (Lạng Sơn), Bên cầu biên giới (Lào Kai).
Sau khi chia tay Hoàng Cầm, xuống Bình Trị Thiên, Phạm Duy sáng tác ba tác phẩm hay nhất thời kháng chiến của ông: Quê nghèo (Quảng Bình 1948), Bà mẹ Gio Linh (Gio Linh, 1948), Về miền trung (Đại Lược, 1948).

[26] Phạm Duy sinh ngày 5/10/1921- Hoàng Cầm 22/2/1922.
[27] Phạm Duy, “Hồi ký Thời Cách mạng Kháng chiến”, trang 126-128, Phạm Duy Cường, California, 1989.

[28] Hoàng Cầm sáng tác tháng 10/1947.
[29] Hoàng Cầm sáng tác tháng 4/1948.
[30] Phạm Duy, “Hồi ký Cách Mạng kháng chiến”, trang131-137-148.
[31] Hoàng Cầm trả lời phỏng vấn RFI.
[32] Hồ Dzếnh, “Quyển truyện không tên”, Thanh Văn, California, 1993, trang 42.

[33] Hồ Dzếnh, sđd, trang 47.
[34] A.N, “Những cuộc họp Văn hóa, văn nghệ ở Việt Bắc, đầu tháng Tám”, “Văn Nghệ” số 25, tháng 8/1950 (in lại trong “Sưu tập Văn Nghệ” 1948-1954, Hữu Nhuận, Tập 3, Hội Nhà Văn, trang 603). Về ngày tháng họp hội nghị này, có chỗ ghi tháng 3 (trang 637, 655), có chỗ ghi tháng 5 (trang 619). Chắc đánh máy sai.

[35] “Sưu tập Văn Nghệ” 1948–1954 của Hữu Nhuận, tập III, trang 621.
[36] Chắc là 22/8, ghi nhầm thành 22/3.
[37] Sđd, trang 654.
[38] tức Hoàng Cầm
[39] Anh ruột Vũ Tú Nam.
[40] Vũ Cao, “Ý thức phá hoại và tư tưởng đồi trụy của Hoàng Cầm”, “Việt Nam Quân đội”, số 4, tháng 4/1948.

[41] “Hận Nam Quan”.
[42] Tô Hoài, “Cát bụi chân ai”, trang 133.
[43] Cả hai bài đều được trích đăng trong cuốn “Bọn ‘Nhân Văn Giai Phẩm’ Trước Toà Án Dư Luận”.

[44] Tức Quê nghèo.
[45] Phạm Duy, “Hồi ký Cách Mạng Kháng Chiến”, chương 32, trang 275–295. “Dinh tê” là vào thành.

[46] Theo băng “Hoàng Cầm nói chuyện với bạn bè”.
[47] “Trương Chi”, “Văn” số 24 ra ngày 18/10/57, Hoàng Văn Chí in lại trên “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc”.

[48] Kiều Loan.
[49] Nguyên chủ nxb Minh Đức, bị tù 10 năm vì vụ NVGP, chú thích B.T. Phương.

[50] Bùi Thanh Phương, “Vết thương tình đời”, tài liệu internet.
[51] Hoàng Cầm trả lời RFI.
[52] Sau tập hợp thành tập “Tỉnh mẹ”.
[53] Kiều Loan con gái Hoàng Cầm ở California, Mỹ.
[54] Tức là ngày 17/2/1983.
[55] Tóm tắt theo băng ghi âm “Hoàng Cầm nói chuyện với bạn bè”.
[56] Sau buổi trình diễn, ông Đức đưa cho Hoàng Cầm 5 đồng thù lao.
[57] Lê Duẩn (1907–1986) mất 10/7/1986. Trường Chinh (1907–1988) lên thay ngày 14/7/1986. Tháng 12/1986, Đại hội VI, Trường Chinh từ chức, Nguyễn Văn Linh (1915–1998) được bầu làm Tổng bí Thư. Trường Chinh mất ngày 30/9/1988.

[58] Tháng 6/ 1991.
[59] Nghị quyết số 5 có những điều khoản mở rộng tự do cho văn nghệ sĩ.
[60] Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ và con bị chết trong một tai nạn xe hơi, điều kiện bí ẩn, ngày 29/8/1988.

[61] Tài tử Ngọc Bảo, một trong những danh ca đầu tiên của tân.

Advertisements

24 thoughts on “Chương 12: Hoàng Cầm (1922–2010)

  1. Pingback: Mục lục và Lời tựa cho “Nhân Văn Giai Phẩm” và vấn đề Nguyễn Ái Quốc |

  2. Pingback: Chương 29: Nói chuyện với họa sĩ Trần Duy (Hết) |

  3. Pingback: Chương 1: Tìm hiểu phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm” |

  4. Pingback: Chương 02: Lịch trình “Nhân Văn Giai Phẩm” |

  5. Pingback: Chương 03: “Giai phẩm Mùa xuân” |

  6. Pingback: Chương 4: Nguyên nhân Đưa đến cuộc Cách Mạng Mùa Thu của Tư Tưởng |

  7. Pingback: Chương 5: Nội bộ báo “Nhân Văn” |

  8. Pingback: Chương 06: Trí thức và dân chủ tại Việt Nam trong thế kỷ XX |

  9. Pingback: Chương 07: Biện pháp Thanh trừng |

  10. Pingback: Chương 08: Thụy An (1916–1987) |

  11. Pingback: Chương 09: Nguyễn Hữu Đang (1913–2007) |

  12. Pingback: Chương 10: Lê Đạt (1929–2008) |

  13. Pingback: Chương 11: Trần Dần (1926–1997) |

  14. Pingback: Chương 15: Cuộc cách mạng Hiện đại đầu Thế kỷ XX |

  15. Pingback: Chương 16: Nguyễn Tất Thành |

  16. Pingback: Chương 17: Hội Đồng bào Thân ái – Phong trào Ái quốc Đầu tiên tại Pháp |

  17. Pingback: Chương 18: Nguyễn Ái Quốc lai lịch và Văn bản |

  18. Pingback: Chương 19: Khảo sát Văn bản Nguyễn Ái Quốc |

  19. Pingback: Chương 20: Vì sao Phan Châu Trinh phó thác “Đại sự” cho Phan Khôi ? |

  20. Pingback: Chương 22: Vụ án “Nam Phong” |

  21. Pingback: Chương 24: “Une Voix Dans la Nuit” – Cải cách Ruộng đất và Cải tạo Tư sản |

  22. Pingback: Chương 25: “Une Voix Dans la Nuit” – Vấn đề Trí thức và Độc tài Đảng trị |

  23. Pingback: Chương 26: Nói chuyện với Nhà cách mạng Nguyễn Hữu Đang |

  24. Pingback: Chương 28: Nói chuyện với nhà thơ Hoàng Cầm |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s