Chương 11: Trần Dần (1926–1997)

Chương 11: Trần Dần (1926–1997)

(Nhà thơ Trần Dần từng được biết đến với bức họa có vết sẹo
nơi cổ do họa sĩ Nguyễn Sáng phóng tác)

40 năm sau “Nhân Văn”, Trần Dần đã chỉ thấy những hòm bản thảo của mình: 2/3 bị tiêu tán, mục nát, 1/3 còn lại bị kết án chung thân trong trạng thái nằm. Vậy mà vẫn viết. Viết đều. Bởi ông cho rằng viết hay ghi là phương pháp duy nhất nói chuyện với mình khi không thể nói được với ai.
Từ 1958, “ghi trở nên một hình phạt”, người thanh niên 32 tuổi ấy đã bị “đòn ngấm quá cuống tim rồi”.
Tác phẩm chịu chung số phận với người: gần 30 tập thơ, 3 cuốn tiểu thuyết, và không biết bao nhiêu bản thảo đã bị mối mọt.
Trần Dần tên thật Trần Văn Dzần, sinh ngày 23/8/1926 tại Nam Định trong một gia đình giàu có. Mất ngày 7/1/1997 tại Hà Nội. Đậu Thành chung ở Nam Định, lên Hà Nội học, đậu Tú tài.
Tháng 11/1946, cùng với Đinh Hùng, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch[1] xuất bản tạp chí “Dạ Đài”. Trên “Dạ Đài” số 1 ra ngày 16/11/46, công bố bản “Tuyên ngôn tượng trưng” ký tên Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch. Nhưng Đinh Hùng mới thực là “chủ soái”, bởi thơ của cả nhóm: Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch, Nguyễn Văn Tậu, đều chịu ảnh hưởng Đinh Hùng.
Bài “Về nẻo thanh tuyền” của Trần Dần là một ví dụ, những câu thơ mở đầu, đậm mầu sắc “Mê hồn ca”[2] :
Đời bỏ ta nằm dưới Thủy Cung
Mờ đi ! ơi ánh nguyệt vô cùng
Hồn ta qua xứ ma làm loạn
Nên thác trong đường trận hỏa công[3]

– Năm 1947, Trần Dần về Nam Định theo kháng chiến, ngành thông tin tuyên truyền, và được kết nạp vào đảng ngày 19/8/1948[4].
– Năm 1951, sau khi dự lớp Chỉnh huấn “có kết quả”, Trần Dần được giao việc huấn luyện Đoàn Văn công Quân đội. Nhưng vì “đả kích cán bộ sáng tác” nên bị kỷ luật và bị chuyển về Tuyên huấn, làm việc đến 1953[5].
– Năm 1954, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, viết tiểu thuyết “Người người lớp lớp”[6]. Theo Hoàng Cầm, đây là một ký sự được viết dưới dạng tiểu thuyết, có nhân vật binh nhì tên là No, và nhân vật chính ủy chính là Trần Độ.
– 10/10/54: được cử viết thuyết minh cho phim Điện Biên Phủ, đi Trung Quốc thu thanh. Bị chính trị viên Hoàng Xuân Tùy kiểm soát gắt gao. Bỏ về.
– 10/12/54: trở về Hà Nội.
– 24/12/ 54: bắt đầu tổ chức thảo luận đòi thay đổi chính sách Văn nghệ Quân đội.
– Tháng 2/55, Trần Dần viết bản “Đề nghị Chính sách Văn nghệ”.
– Trong tháng 3 và 4/55: Trần Dần, Tử Phác tổ chức phê bình tiểu thuyết “Vượt Côn Đảo” của Phùng Quán và tập thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu.
– Tháng 4/55: Bản “Đề nghị Chính sách Văn nghệ” không được Tuyên huấn thông qua.
– 23/4/55: Trần Dần quyết định viết đơn xin ra khỏi quân đội, và dự định, đường cùng sẽ ra đảng, kết hôn với cô Bùi Thị Ngọc Khuê, bất chấp quân kỷ[7]. Tháng 4/55, Hoàng Cầm làm đơn xin ra khỏi quân đội.
16/5/1955: Trần Dần gởi đơn xin giải ngũ, ra Đảng. Hoàng Tích Linh cũng xin giải ngũ[8].
– 13/6/1955: Tất cả các tổ Đảng ở Cục Tuyên huấn phê phán lá thư xin ra Đảng và xin giải ngũ của Trần Dần là chống đối, phá hoại tổ chức Đảng[9].
– 13/6 đến 13/9: Trần Dần và Tử Phác bị cấm trại 3 tháng. Trần Dần ghi trong nhật ký “Ba tháng bị giữ lại kiểm thảo”, “Nọc bệnh: anarchiste”, “Khi xưa phản đối xã hội cũ bằng symbolisme”, “Bây giờ phản đối những cái sai trong lãnh đạo văn nghệ bằng loạn ẩu”. Trong thời gian bị cấm trại, sáng tác “Nhất định Thắng”, đưa cho Lê Đạt giữ[10].
– 21/6/1955: Trong vòng một tuần, Chi bộ khai trừ Trần Dần và Nguyễn Anh Chấn (Tử Phác). Riêng Tử Phác, bị đình chỉ công tác và sinh hoạt Đảng để kiểm điểm[11].
– Từ 3/11/55 đến giữa tháng 2/56: Trần Dần, Tử Phác phải đi “tham quan Cải cách Ruộng đất đợt 5” ở Yên Viên (Bắc Ninh). Ông ghi lại bi kịch “Cải cách Ruộng đất” trong nhật ký, với những chi tiết, những con số, những màn đấu tố, những cảnh giết người.

Khi biên tập cuốn “Trần Dần ghi”, Phạm Thị Hoài cho biết, chị chỉ mới đưa được một phần, phần còn lại sẽ dành cho cuốn sách riêng về “Cải cách Ruộng đất”. Nhưng cho tới nay, vẫn chưa thấy tác phẩm về “Cải cách Ruộng đất” của Trần Dần ra đời.
Cùng trong thời gian này, Hoàng Cầm và Lê Đạt tổ chức “Giai phẩm Mùa xuân”, lên Yên Viên bàn với Trần Dần đưa bài thơ “Nhất định Thắng” ra in, Trần Dần đồng ý[12].
– Cuối tháng 1/56: “Giai phẩm Mùa xuân” ra đời, bị tịch thu ngay. Tháng 2/56 Lê Đạt bị Tố Hữu gọi tên Tuyên huấn khiểm thảo 15 ngày. Tố Hữu tổ chức Đại hội Tuyên huấn phê phán “Giai phẩm Mùa xuân”; ra lệnh bắt Trần Dần. Trần Dần, Tử Phác bị bắt ở Yên Viên. Bị giam kín. Sợ bị thủ tiêu, Trần Dần lập kế dùng dao cạo cắt cổ, được đưa vào bệnh viện. Ngày 21/2/56, Trần Dần viết lá thư dài 15 trang, trần tình với Tướng Nguyễn Chí Thanh[13].
dHội Văn nghệ tổ chức phê bình “Nhất định Thắng”.
– Ngày 7/3/56: Bắt đầu chiến dịch đánh Trần Dần trên báo với bài của Hoài Thanh.
– Ngày 5/5/56: Trần Dần được thả với điều kiện phải viết “một bản kế hoạch sửa chữa sai lầm sáu tháng cuối năm”. Sau đó được chuyển sang Hội Văn nghệ[14]. Từ tháng 8/56, tham gia NVGP và bị kỷ luật cùng điều kiện với Lê Đạt.

A- Tác phẩm:

(Trần Dần trong thời kháng chiến)

– 1946: Bài thơ “Về nẻo thanh tuyền”“Bản tuyên ngôn Dạ đài”.
Phạm Thị Hoài trong “Trần Dần: cuộc đời, tác phẩm, thời đại”[15] liệt kê những tác phẩm sau đây:
– 1954: “Anh đã thấy”, “Tiếng trống tương lai” (trường ca).
– 1955: “Cách mạng tháng Tám”, “Nhất định Thắng” (bản Hoàng Văn Chí, in trong “Trần Dần thơ”, Nhã Nam, Đà Nẵng, 2007).
– 1957: “Hãy đi mãi, Đi ! Bài thơ ‘Việt Bắc’ ” (trường ca), (“Hội Nhà văn”, 1991).
– 1959: “Sắc lệnh 59” (thơ), “Con tàu xã hội” (thơ), “17 tình ca” (thơ).
– 1959-1960: “Cổng tỉnh” (thơ), (“Hội Nhà văn”, 1994).
– 1961: “Đêm núm sen” (tiểu thuyết).
– 1963: “Jờ Joạc” (thơ) (“Trần Dần thơ”, 2007).
– 1964: “Mùa sạch” (“Văn Học”, 1997), “Những ngã tư và những cột đèn” (tiểu thuyết).
– 1965: “Một ngày Cẩm Phả” (tiểu thuyết).
– 1967: “Con trắng” (thơ văn xuôi) (“Trần Dần thơ”, 2007).
– 1968: “177 cảnh” (hùng ca lụa).
– 1974: “Động đất tâm thần” (nhật ký thơ).
– 1978: “Thơ không lời – Mây không lời” (thơ – họa).
– 1979: Bộ ba: “Thiên Thanh – 77 – Ngày ngày”.
– 1980: Bộ ba: “36 – Thở dài – Tư Mã dâng sao”.
– 1987: “Thơ Mini” (in trong “Trần Dần thơ”).

Nhưng bản kê khai trên đây chưa phải là tất cả, vì trong tuyển tập “Trần Dần thơ” do Vũ Văn Kha biên tập, cho biết: “phần lớn di cảo thơ Trần Dần vẫn tiếp tục số phận nằm”.
Tuyển tập “Trần Dần thơ” (Nhã Nam, Đà Nẵng, 2007) tập hợp các trường ca truyền thống như “Bài thơ Việt Bắc”, “Cổng Tỉnh”, vá các tác phẩm rất mới như: “Mùa sạch” (thử nghiệm thơ độc âm), “Con OEE” (biến tấu âm) và “Con I” (thơ bè), cả ba đều khá cường điệu và nệ hình thức, hoặc lập dị như “Jờ Joạcx”. Ngược lại, hai tập “Sổ bụi”“Thơ Mini”, thực sự thành công, xác định sự độc đáo của của Trần Dần, khác với Đặng Đình Hưng và Lê Đạt. Vậy lần công bố này, tầm quan trọng và sự độc đáo nằm trong “Sổ bụi”“Thơ Mini”.
“Sổ bụi” tập hợp lối ghi chép đặc biệt Trần Dần: đó là những bài thơ văn xuôi cô đọng, mới, đầy biến ảnh, thể hiện mỹ học khổ đau một cách toàn diện. “Thơ Mini”, là những bài triết luận thu gọn đến cạn kiệt. Một Trần Dần đi từ thực tại thi nhân để đến với tâm linh hiền triết.

B- Từ kháng chiến đến “Nhân Văn Giai Phẩm”:

“Dạ Đài” số 1 ra đời 16/11/46, số 2 vừa xong thì chiến tranh bùng nổ[16], Trần Dần đi theo kháng chiến. Đạo diễn Trần Vũ thuật lại :

“Ban đầu, Trần Dần làm công tác tuyên truyền cùng Vũ Khiêu và Vũ Hoàng Ðịch. 1948, khi thành lập khu 14 ở Tây Bắc, Trần Dần cùng Vũ Khiêu, Vũ Hoàng Ðịch lên Tây Bắc. Một thời gian sau, khu 14 bị giải thể. Trần Dần vào quân đội, nhận công tác địch vận của Trung đoàn Sơn La từ 1948 đến 1950”[17].

Hồ Phương kể lại :

“Trong nhóm văn nghệ Tây Bắc, có Trần Thứ (Trần Vũ), Trần Dần và Hoài Niệm… làm tờ báo “Sông Đà”, trình bầy đẹp, chuyên về thơ văn. “Hồi ấy Trần Dần hay làm thơ leo thang, bài thơ thường được trình bày khá kiểu cách. Dòng thì in chữ nhỏ, dòng lại in chữ to, thiên về hạng theo mốt”[18] ”.

Vũ Tú Nam viết : “Trần Dần làm thơ bí hiểm, vẽ theo lối lập thể, bị quần chúng bộ đội phản đối”. Và 1951, sau khi dự “một lớp Chỉnh huấn có kết quả”,Trần Dần được điều về phụ trách đoàn Văn công quân đội[19].
Hoàng Cầm cũng xác định: “Tới trại hè năm 1951, các đoàn văn công nỗ lực tập luyện để phục vụ một chiến dịch lớn. Trần Dần phụ trách huấn luyện cho mấy trăm anh chị em: sáng tác đạo diễn và diễn viên”[20].
Nhưng Vũ Tú Nam bình luận : vì “có ít nhiều thành tích” trong việc luyện tập Văn công, Trần Dần “đâm ra chủ quan độc đoán, đả kích cán bộ sáng tác, bị thi hành kỷ luật rồi điều về cục Tuyên huấn công tác, bất mãn ngấm ngầm”[21].Vậy việc về Cục Tuyên huấn, là một hình phạt.
Đầu 1954, Trần Dần đi chiến dịch Điện Biên Phủ cùng với Đỗ Nhuận. Họa sĩ Tô Ngọc Vân chết trong chiến dịch này. “Người người lớp lớp” được sáng tác ở Điện Biên Phủ, hoàn thành cuối tháng 9/54.
Tháng 10/54, Trần Dần được cử viết thuyết minh cho phim “Chiến thắng Ðiện Biên Phủ”, và đi Trung Quốc để thực hiện. Ngày 10/10/54 khởi hành. Ngày 14/10, đến Nam Ninh. 20/10, đến Bắc Kinh, hoàn thành tập thơ “Tiếng trống tương lai”. Ngày 10/12/54 trở lại Hà Nội.
Hoàng Cầm viết :

“Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Trần Dần thức thâu đêm suốt sáng để viết bản thảo lần thứ ba cuốn truyện về những người đã tạo ra chiến thắng lịch sử lớn lao đó. “Nhưng cái hướng chính của tôi không phải là tiểu thuyết. Hướng đi của tôi là thơ. Tôi sẽ tìm tòi trong thơ và cố gắng tạo ra một lối diễn tả riêng biệt –không phải lập dị– nhưng độc đáo”. Trần Dần đã nói với tôi như vậy sau khi anh viết xong “Người người lớp lớp”. Hồi đó, anh có đưa tôi xem tập thơ làm đã lâu: “Tiếng trống tương lai”[22] ”.

Trong nhật ký, Trần Dần chỉ ghi sơ lược về chuyến đi này, nhưng ông đã kể cho Hoàng Cầm và Hoàng Cầm thuật lại trong bài “Con người Trần Dần”:

“Viết xong “Người người lớp lớp”, Trần Dần được phân công viết thuyết minh cho cuốn phim “Chiến thắng Điện Biên Phủ” và anh được cử sang Trung Quốc làm nhiệm vụ đó. Nhưng đi kèm bên cạnh anh là một cán Bộ Chính trị có quyền tối hậu quyết định. Anh cán bộ này, đáng lẽ phạm vi công tác là góp ý kiến vào nội dung bản thuyết minh và bảo đảm cho nó không phạm những sai lầm về đường lối chính sách của Đảng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, thì đã lợi dụng uy quyền của mình đi quá xa vào phạm vi văn học, bắt Trần Dần phải viết như ý mình, từng câu từng chữ, lạm dụng danh từ chính trị khô khan rỗng tuếch để nhét cho kỳ được vào bản thuyết minh. Đầu tiên, Trần Dần rất phục tùng người cán Bộ Chính trị khi dự thảo thuyết minh, và hoàn toàn theo sát những vấn đề chính trị sẽ đặt ra khi thuyết minh. Đến khi thấy anh cán ấy “lên gân” và thọc bàn tay cứng lạnh vào phạm vi viết văn thì Trần Dần bắt đầu có phản ứng. Nhưng anh vẫn bình tĩnh, đề nghị cấp trên xét lại vấn đề. Đến khi “anh cán bộ vẫn là tối hậu quyết định cả từng câu chữ” thì Trần Dần thôi không làm công việc đó nữa, nhường cả phần “văn chương” cho đồng chí cán bộ.
Sau việc này sự mâu thuẫn giữa văn nghệ sĩ và cán Bộ Chính trị bắt đầu phát triển khá mạnh trong con người Trần Dần. Anh vẫn cố dẹp đi, nhiều lúc anh thẫn thờ ít cười ít nói nhưng vốn là con người chân thực –-cái chân thực nhiều khi đến thô lỗ– lắm khi anh đã cục cằn, thốt ra những lời gay gắt thiếu lịch sự(…)”.

Trong bài “Con người Trần Dần”, Hoàng Cầm đã phải giữ ý khi viết, nhưng trong băng ghi âm sau này, ông nói thẳng hơn :
“…
Ban Tuyên huấn cử Trần Dần viết thuyết minh cho phim của Karmen về chiến thắng Điện Biên Phủ. Trần Dần được cử sang Trung Quốc. Theo lời Trần Dần kể, thì bản thảo thuyết minh đã viết xong ở nhà, ông Lê Quang Đạo đã duyệt rồi. Sang Bắc Kinh Trần Dần làm việc với ban kỹ thuật, về việc lắp ráp, thu thanh, lồng tiếng… Nhưng ít lâu sau, thì Hoàng Xuân Tùy sang, Hoàng Xuân Tùy là Chính ủy Trung đoàn, làm việc ở Tuyên huấn, được gởi sang với nhiệm vụ kiểm soát mọi việc.
Vừa xem bản thuyết minh của Trần Dần, anh ta phát biểu ngay: “Cái này anh viết hỏng, không hay mà lại hỏng”. Gặp ai chứ gặp phải Trần Dần, tính khí ngang tàng, làm sao chịu được: “Thế nào là hỏng ? Thế nào là không hay, anh chỉ cho tôi biết ?” Hoàng Xuân Tùy là một tay Chính trị viên giáo điều, làm sao tranh luận được với Trần Dần. Nhất là cái bản thảo đã được ông Lê Quang Đạo thông qua trước khi đi. Thế là Hoàng Xuân Tùy ra lệnh: “Anh phải viết lại”. Trần Dần dằn từng tíếng một: “Tôi- không- viết- lại”. Không ai chịu ai.
Cuối cùng Trần Dần quyết định: “Thôi thế để anh làm nhá, anh tự viết, tự kiểm duyệt, tôi về nước”. – “Cái đó Tùy anh”. Trần Dần xếp vali về nước, thuật lại chuyện với ông Lê Quang Đạo, thì tất nhiên ông ấy phải đứng về phía Hoàng Xuân Tùy, vì hắn là Đảng viên cao cấp. Ông nói: “Thôi để anh Hoàng Xuân Tùy làm cũng được, anh về đây phụ trách tạp chí ‘Văn’ (thực ra là tạp chí “Sinh hoạt Văn nghệ”)”[23].
…”
Vậy sự chống đối của Trần Dần sau khi đi Trung Quốc về, không vì Hồ Phong, như trong các bản cáo trạng buộc tội ông, mà trực tiếp đến từ sự kiểm duyệt của Hoàng Xuân Tùy.
Cung cách giáo điều của cán bộ này đã khiến Trần Dần, khi bỏ Bắc Kinh, về bắt tay ngay vào việc tổ chức đấu tranh trong quân đội một cách quy mô và quyết liệt.
Chính sách áp chế tư tưởng và sự can thiệp vào đời sống tình cảm con người đã thúc đẩy Trần Dần, Tử Phác, Hoàng Cầm, Đỗ Nhuận, Trúc Lâm, Hoàng Tích Linh, và rất đông anh em công tác văn nghệ dự thảo ra bản “Đề nghị cải tổ chính sách văn nghệ” gởi lên cấp trên, đòi bãi bỏ vai trò của chính trị viên trong quân đội.

C- Tranh đấu trong Quân đội, đầu năm 1955:

Từ Bắc Kinh trở về Hà Nội, Trần Dần ghi tình hình trong nhật ký ngày 20/12/54 :

“Về Hà Nội được đúng 10 ngày (…) Cơ quan văn nghệ chưa có gì thay đổi.(…) Vẫn những chính sách gò bó, mệnh lệnh và máy móc “quân sự hóa văn nghệ”. Đời tôi chìm chết trong chính sách này, cũng như những anh em khác. Khó lắm. Nhưng tôi nghe nhiều tiếng cất lên. Phản đối. Bàn cãi. Mỉa mai. Và cả chửi bới. Cái đó có nghĩa là tiếng trống báo tử của những tư tưởng và chính sách áp chế văn nghệ bộ đội. Những ngày gần đây sao mà tôi buồn. Buốt óc lắm. Và bực tức. Cơ quan và chính sách. Hội Văn nghệ đánh mất bản thảo “Người người lớp lớp” (phần 4 và 5). Món nợ chính phủ, những kỷ niệm ngày bé, chua chát và mãnh liệt, những uất ức của 9 năm chiến tranh. Thơ tôi người ta không chê nhưng cũng không sốt sắng in. Những dự định khó thực hiện vì chính sách gò bó: tích lũy cuộc sống mới thì phải được tự do, v.v… Tôi bị bao vây. Chặt quá. Ép quá (…) Tôi muốn những gì ?
– Một chính sách văn nghệ mở rộng ra, cho nó đúng đắn.
– Một cuộc sống sáng tạo. Cái cũ thì trút ra. (…)
24/12: Đêm Noël (…) Bước quanh Bờ Hồ. Trời tôi tối. Còn vẳng tiếng hát micro nhà thờ buông trầm trầm. Hai thằng đi. Tôi và Lê Đạt. Buồn quá. Đây là những lúc người tôi hẫng lắm. Rỗng lắm. Tôi còn đầy dư vị những câu chuyện trao đổi đêm nay về chính sách văn nghệ.
Dư vị chua, đắng, nhạt thếch[24].

Như vậy, những cuộc thảo luận đổi mới văn nghệ đã xảy ra từ Noël 1955, trong không khí chán nản, “dư vị chua, đắng, nhạt thếch” như lời Trần Dần.
Không khí này được Từ Bích Hoàng mô tả trong bài buộc tội Trần Dần, như sau :

“Từ Trung Quốc về, Trần Dần còn mang theo một bài thơ dài “Tiếng trống tương lai” trong đó Trần Dần gọi cán Bộ Chính trị là “người bệnh”, “người ròi”[giòi], “người ụ”. Đó chỉ có thể là cách nhìn của bọn thù địch đối với cán bộ của Đảng. Đủ biết sự hằn học của Dần lúc bấy giờ đã nặng đến thế nào ! Không ngạc nhiên khi thấy Dần mới bước về Phòng Văn nghệ Quân đội đã đả kích luôn lãnh đạo, rồi nhân một số thắc mắc của anh em về công tác, Dần lợi dụng phát động từng người và biến thành một cuộc đấu tranh đối lập với lãnh đạo, lấy “áp lực quần chúng” hòng buộc lãnh đạo phải chấp nhận những yêu sách thoát ly chính trị, thoát ly quân đội như ta đã biết. Chính Trần Dần đã thú nhận tính chất hoạt động này của họ.
Cục Tuyên huấn bảo anh em nghiên cứu lại bản đề nghị, Dần không chịu, bỏ mặc và phá phách ngày một dữ hơn. Dần lôi kéo được một số phá phách theo mình. Trần Công quá khích ăn nói lung tung: “Sống trong vòng K.50 (ý nói trong doanh trại, bên ngoài có bộ đội gác) nghẹt thở quá !” Những luận điệu vô kỷ luật này rất phù hợp với chủ trương “phải phá mà ra” của Trần Dần và mở đường cho bọn Dần càng đi sâu vào cạm bẫy của tư sản[25].

D- Trần Dần, Người-phá, Anarchiste:

Ngày 10/3/55 Trần Dần ghi trong nhật ký :
“…
Chính sách tính lại thử xem có những gì ? –Vài cái bàn. Vài cái đèn điện lạnh và vàng. Thêm một bàn hành chính. Tờ báo ra nhưng khổ và tên SHVN[26]cũ. Người ta sợ đổi khổ là tính chiến đấu của nó [cũng đổi đi]. Có vậy thôi. Tôi không nói ngoa. Người ta quan niệm chính sách là như vậy. Đấy. Cái thông minh của người lãnh đạo năm 1955 tới cái mức ấy. Vậy là quá đáng lắm rồi. Còn đòi hỏi cái gì ? Văn nghệ được thế là “chiếu cố”, là “châm chước” tột độ rồi. Đáng lẽ chúng mày không có bàn, có điện, có báo nữa. Đáng lẽ chúng mày không được thức khuya hơn 9 giờ. Không được ra ngoài trại. Đằng này còn cho đi lại một chút. Vậy là rộng rãi lắm rồi còn gì !
Nhưng tôi nghĩ, những ông Cương[27] ông Thanh[28] gì đó không đáng trách (…) Đáng trách là cả một cái HỆ THỐNG ! Nó nặng như núi… Nó ở trên có, ở dưới có. Ở ngang có. Đằng trước, đằng sau đều có nó. Hệ thống gì ? Đó là hổ lốn: sợ hãi cúi đầu, làm thân con sên, con tầm gởi, –hò hét mệnh lệnh, làm ông sấm, ông sét. Đảng ở đâu ? (…) Tôi nghĩ và tôi làm: Đảng ở tôi. Tôi phá HỆ THỐNG. Làm sao tới Hội nghị Văn thơ tôi phải làm được một số việc: vượt khỏi các ước lệ, điều lệ, thành kiến mà làm bằng được. (…) Độ này có hai chiến trường khá sôi sục :
1) “Vượt Côn Đảo”
2) Thơ Tố Hữu
Tôi thích những cuộc tranh luận này. Không phải vì bản thân những quyển sách và những tác giả ấy. Mà vì ý nghĩa nó rộng ra nhiều mặt khác. Phát huy phê bình tự do (…) Tại sao bọn giả mạo được tin hơn người thực thà ? Tại sao loài bò sát lại được dùng nhiều. Tại sao chúng nó có mặt ở thời đại này ? Ở trong Đảng ? Ở cách mạng ? —Lạ lùng nhất là tại sao không vạch mặt chúng ra ? Văn thơ tôi sẽ balayer (i.e. quét sạch) bọn ấy. Quét ! Quét ! (…) Tất cả những cái gì, nguyên tắc gì trở ngại cho nguyên tắc lớn của tôi là tôi xoá hết ! Mặc ! Tôi chỉ còn một nguyên tắc mà thôi ! Sống và viết để đánh bọn giả mạo, bọn ỳ ạch, bọn mốc xì, bọn người-bệnh, bọn người-dòi, bọn người-ụ. Anarchiste (i.e. người vô trật tự) ? Nếu vậy gọi là anarchiste thì tôi rất muốn là anarchiste (…) Tôi không có khả năng công chức, khả năng người-ụ. Khả năng tôi là khả năng người-phá[29].
…”
Chủ đích của Trần Dần rất rõ: Làm Người-phá, phá toàn bộ HỆ THỐNG trói buộc văn nghệ sĩ. Trần Dần xác định mình là Anarchiste và ông đã dịch chữ Anarchiste rất tài tình thành Người-phá[30]. Văn nghệ sĩ thường hay có thái độ anarchiste. Trần Dần thực hiện tinh thần Người-phá, phá cái HỆ THỐNG, cái cơ chế toàn trị áp đặt lên văn nghệ sĩ, qua ba “chiến trường” : Đề nghị cải tổ Chính sách Văn nghệ Quân đội. Phê bình tập truyện “Vượt Côn Đảo” của Phùng Quán. Phê bình tập thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu.
Ba “mặt trận” này diễn ra song song, từ tháng 2 đến tháng 5/55 trong quân đội, do Trần Dần và Tử Phác cầm đầu[31].
Từ Bích Hoàng viết :

“Lúc đó, Tử Phác đang làm Thư ký toà soạn tờ “Sinh hoạt Văn nghệ”, Tử Phác đã lợi dụng tờ báo của quân đội để Dần nổ ra hai cuộc phê bình “Vượt Côn Đảo” và tập thơ “Việt Bắc”, với một dụng ý rất xấu. Trần Dần “bốc” thơ Hoàng Cầm lên để đẩy Cầm cùng mình và Lê Đạt đả tập thơ “Việt Bắc”, thông qua tập thơ đó đả vào đồng chí Tố Hữu lãnh đạo văn nghệ, “hạ thần tượng” như bọn Dần đã nói. (…) Suốt thời gian này, Trần Dần, Tử Phác, Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh, Trúc Lâm và cả Lê Đạt, luôn luôn bỏ việc đến tụ họp rượu chè trai gái ở nhà tư sản, đầu độc cho nhau những luận điệu phản động (…) Bọn họ bàn nhau “tập trung giải ngũ” để bắt bí lãnh đạo. Thấy không xong, lại bàn “phân tán giải ngũ”. Bọn họ đã thực hiện chủ trương này. Trần Dần đi tiên phong làm một lúc hai lá đơn xin ra Đảng, quân đội, có tính chất tấn công vào Đảng, quân đội như ta đã biết. Chính những hoạt động chống đối của Trần Dần, Tử Phác và sự hùa theo càng ngày càng có ý thức của số người kể trên đã gây tình trạng rối loạn hoàn toàn, một thời gian, trong Phòng Văn nghệ Quân đội, cầm đầu hồi này là Trần Dần và Tử Phác”[32].

E- Bản đề nghị Cải tổ chính sách Văn nghệ Quân đội:

Tháng 2/55: Trần Dần viết bản “Đề nghị Chính sách Văn nghệ”, với sự góp ý của Tử Phác, Đỗ Nhuận, Hoàng Cầm, Trúc Lâm, Hoàng Tích Linh, bài dài 12 trang đánh máy, được đưa ra thảo luận, điều đình, thêm bớt, trong các cuộc họp của Phòng Văn nghệ Quân đội từ tháng 2 đến tháng 4/55. Vũ Tú Nam, cháu Tướng Nguyễn Chí Thanh, được ông Thanh giao toàn bộ hồ sơ Trần Dần (gồm bản “Đề nghị”, thư xin ra Đảng, thư xin giải ngũ, thư cầu cứu sau khi bị bắt lần thứ hai, phải lập mưu cứa cổ để thoát, vv…) để có đủ tài liệu viết hai bài :
– Bài “Những ngày thử thách”, nhật ký chép lại ngày 25/10/2006[33]. Nếu bài này chép đúng sự thật, thì Vũ Tú Nam và Từ Bích Hoàng lúc trước đã ở cùng nhóm với Trần Dần. Nhưng theo băng Hoàng Cầm, Vũ Tú Nam chống lại từ đầu. Vậy bài này có thể đã được sửa lại như nhiều “nhật ký” hoặc “hồi ký” xuất hiện gần đây.
– Bài “Sự thực về con người Trần Dần”, in trên Văn nghệ Quân đội, năm 1958[34] là tài liệu gốc, chưa bị sửa, tuy viết với mục đích “đánh”, nhưng có nhiều thông tin đáng tin cậy về con người Trần Dần, về nội dung bản “Đề nghị” cải tổ. Sự trích dẫn dài rộng của Vũ Tú Nam có thể do thiện ý muốn để lại dấu vết bản “Đề nghị” cho mai sau. Vũ Tú Nam viết :
“…
Cuối năm 1954 sang đầu năm 1955, các đồng chí trong Phòng Văn nghệ Quân đội đều thắc mắc muốn cải tiến tổ chức, chính sách cho hợp với tình hình mới, muốn đề đạt lên cấp trên nghiên cứu, giải quyết. Trong một cuộc họp với đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Trần Dần hùng hổ yêu sách mấy điểm, tự ý thêm thắt, không thật trung thành với những điều đã bàn với một số anh em trong Phòng :
1- Trả lãnh đạo văn nghệ cho văn nghệ sĩ.
2- Thành lập trong quân đội một chi Hội Văn nghệ trực thuộc Hội Văn nghệ, không qua Cục Tuyên huấn và Tổng cục Chính trị.
3- Bỏ mọi “chế độ quân sự hiện hành” trong Văn nghệ Quân đội…

Nghe xong, đồng chí Nguyễn Chí Thanh dặn dò anh em phải coi chừng, đó là quan điểm tư sản, phi Đảng, phi giai cấp, phi chính trị. Hồi đó, anh em chưa vỡ lẽ ra, còn ấm ức, cho là cấp trên không thông cảm. Trần Dần và một vài người khác thì lồng lộn, chửi bới, reo rắc hoài nghi, chán nản, muốn giải ngũ. Tháng 2/1955, trong Phòng Văn nghệ Quân đội có tình trạng lỏng lẻo, rã rời, buông thả đến cao độ. Có đồng chí phải thốt ra lời than thở “Anarchie totale !” (“Vô chính phủ hoàn toàn !”)[35]. Trần Dần vẫn được tín nhiệm giao cho công tác phụ trách Ban Văn, chuẩn bị triệu tập hội nghị ngành Văn toàn quân vào tháng 4/1955. Bản báo cáo do chính Trần Dần viết (tháng 2/1955). Vì tư tưởng cán bộ trong Phòng Văn nghệ lúc đó lệch lạc nhiều, vì nội dung bản báo cáo có nhiều điều nguy hiểm, Cục Tuyên huấn quyết định đình việc chuẩn bị cuộc họp ngành Văn lại, Trần Dần càng bất mãn, càng u uất hơn[36].
…”
Về Nội dung bản Đề nghị cải tổ, xin trích lại những đoạn đã được Vũ Tú Nam trích, những chỗ in đậm là do chúng tôi nhấn mạnh :
1- Về trách nhiệm của người cầm bút, Trần Dần viết: “Biểu hiện cao nhất của trách nhiệm người viết là thái độ tôn trọng, trung thành với sự thực. Đó là tiêu chuẩn cao nhất đánh giá tác giả và tác phẩm… Tôn trọng, trung thành với sự thực vừa là trách nhiệm, –vừa là lập trường, –vừa là phương pháp làm việc của người viết”.
2- Thế nào là sự thực đối với một nhà văn ? Trần Dần viết: “Thế nào là trung thành với sự thực ? Đầu tiên, sự thực là gì ?”, “Có sự thực của vũ trụ, của lịch sử, của thế giới, của cách mạng. Lại có sự thực trong nước, từng địa phương, –từng ngành, từng giới, từng nghề, từng gia đình và từng người một nữa. Trong mỗi người cũng lại có triệu vấn đề, mỗi vấn đề là một sự thực (…) Tức là: những vấn đề, hiện tượng của xã hội, của con người là sự thực.”
3- Nhà văn phải phục tùng sự thực hay phục tùng chính sách, chỉ thị, phục tùng Tuyên huấn ? Trần Dần trả lời: “Sự thực lớn gấp triệu triệu lần bất cứ chỉ thị, lý luận nào… Nếu như sự thực ngược lại chính sách chỉ thị, thì phải viết sự thực chứ không phải là bóp gò sự thực vào chính sách. Không bao giờ được biến chính sách, chỉ thị thành định kiến “đinh ninh” (…) Người viết chỉ viết do thôi thúc của thực tế. Những chân lý lớn, nhỏ, anh ta tự giác thấy ở cuộc sống, ở quân đội. Không phải viết để vừa lòng Tuyên huấn, vừa lòng cấp trên. Để có cái danh phục vụ kịp thời. Một triệu lần, không có mùi mè giác ngộ, phục vụ gì cả ! Cái áo không thể che được mùi thối trong ruột. Cách mạng không cần những người vỗ tay hoan hô nhắm mắt. Những anh hót ca chính sách. Thậm chí những anh “thầy cúng chính sách”, leng keng, bóp méo, nghèo nàn. (…) Liệu cứ viết như một anh thầy cúng ê a căm thù yêu nước xông lên, có phải là trách nhiệm không ?”
4 – Trần Dần mô tả bộ mặt thực của văn học kháng chiến: “Có thể nói văn chương hiện nay nhiều cái giả tạo (giả trá nữa). Gọi đúng tên nó là chủ nghĩa công thức, giản đơn, sơ lược. Tức là người viết đặt ra một cái khuôn nhất định, rồi gò ép mọi sự thực vào đó.
Tả anh hùng chả hạn thì là: căm hờn, vào bộ đội rồi anh dũng lập công. Đối trên thì phục tùng kỷ luật (…) Lệnh gì là làm ngay không thắc mắc, hoặc có thắc mắc thì phê bình sau (…) Đối bạn thì giúp đỡ, thân ái phê bình, ai ai cũng mến (có người nào như vậy không ?) Đối với đảng thì mở mồm là biết ơn. Đối với dân thì yêu mến giúp đỡ. Đó là cái khuôn cho anh hùng. Cái kiểu anh hùng không khuyết điểm (…) ấy thực chất là kiểu iêng hùng gì ? Có mùi mè gì của người anh hùng quần chúng không ? Có mùi mè gì của nhân văn chúng ta không ? Và có thực như vậy không ? (…) Vậy mà qua cái khuôn trên kia dập ra thì thành ngòi bút, chậu thau giống nhau cả. Thật là lối sản xuất kỹ nghệ định đem vào sản xuất con người và sản xuất nghệ thuật !
Tại sao không viết về cơ quan chẳng hạn ? Tại sao sợ viết về tình yêu chẳng hạn ? Mà viết tình yêu thì y như đưa ra ái tình hy sinh vì Tổ quốc !… Tại sao cứ xuất thân công nông mới đáng viết ? (…) Ngày nay, trong văn chương, kẻ thù ghê tởm là chủ nghĩa công thức, giản đơn sơ lược. Phải nói trắng ra là nó ở cả người viết, ở cả xã hội (…) Thực thà chỉ có một con đường : Đấu tranh tàn khốc với chủ nghĩa công thức giản đơn sơ lược trong bản thân và chung quanh”.

Sau cùng Vũ Tú Nam cho biết: “Bản báo cáo Trần Dần viết, không được Cục Tuyên huấn thông qua, và cuộc họp ngành Văn Thơ toàn quân phải đình lại. Trần Dần càng bất mãn, gây gổ, thường thường bỏ doanh trại bộ đội ra ngoài phố ở, giao du rộng rãi, tự do”[37].
Theo Hoàng Cầm, thì ban đầu đã có nhiều ý kiến thuận của một vài cán bộ cao cấp trong quân đội (có thể là ba vị tướng lãnh cao cấp trong Tổng cục Chính trị lúc bấy giờ: Lê Liêm, Lê Quang Đạo và Trần Độ). Hoàng Cầm kể lại không khí buổi họp mang tính quyết định, như sau :

“Đến ngày họp bàn về dự thảo chính sách, Trần Dần được anh em cử ra trình bày.(…) Anh nói say mê, nhiệt tình. Trong cách nói nhiều khi bốc. Mặt anh khi đỏ gay, khi tái lại: “Giả văn nghệ cho anh em văn nghệ sĩ! Phân rõ ranh giới giữa cán Bộ Chính trị và văn nghệ sĩ. Văn nghệ sĩ phải có sự lãnh đạo của Đảng, nhưng không thể biến thành cái máy v.v…” Đột nhiên trong không khí hào hứng của gần ba mươi anh em văn nghệ sĩ đang sẵn sàng cởi mở hết để xây dựng một trong những chính sách lớn của Đảng, bỗng có một câu quật lại: “Tinh thần bản đề nghị này chính là một thứ tư tưởng tự do của tư sản. Nó chứng tỏ tư tưởng tư sản đã bắt đầu tấn công vào các đồng chí !” Giá câu nói ấy ở mồm một người thường thì cũng sẽ thường thôi. Nhưng lại ở một cán bộ có đủ thẩm quyền xét lại hay bác bỏ những đề nghị của văn nghệ sĩ, thì bắt đầu có một sự động cựa lớn. Những người trước kia tán thành bản dự án thì bắt đầu trở nên hoang mang”[38].

Người nói câu đó là Tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.
Vũ Tú Nam xác định: “Nghe xong, đồng chí Nguyễn Chí Thanh dặn dò anh em phải coi chừng, đó là quan điểm tư sản, phi Đảng, phi giai cấp, phi chính trị”[39].

F- Phê bình “Vượt Côn Đảo”:

Theo Vũ Tú Nam, có ba buổi phê bình “Vượt Côn Đảo” của Phùng Quán :

“7/3/1955: Chiều thứ bảy, mình [Vũ Tú Nam] và Dần … xin phép không họp chi bộ để đi thảo luận về “Vượt Côn Đảo”. Ông Tú Mỡ hoàn toàn khen. Mình nói lại rằng “Vượt Côn Đảo” có những nhược điểm. Anh em bộ đội nói nhiều nhất. Ra về, mình dồn anh Lưu Trọng Lư rằng lãnh đạo cần phải thay đổi, quan liêu và trì trệ quá.
14/3/1955: Tranh luận về “Vượt Côn Đảo” lần ba ở trường Nguyễn Trãi, vì CLB Đoàn Kết mắc bận. Họp tới 11 h, vẫn găng hai ý kiến. Trần Dần phê phán: “Nhân vật trong ‘Vượt Côn Đảo’ là người cụt đầu, không óc không tim(?!). Ông Hoài Thanh phát biểu trân trọng về cuốn sách. Lê Đạt rất bốc”[40].

Qua những lời này, thì Vũ Tú Nam cùng lập trường với Trần Dần, khác hẳn với luận điệu trong bài “Sự thực về con người Trần Dần” viết tháng 3/1958. Vậy đâu là sự thật ?
Theo Hoàng Cầm trong băng ghi âm :

“Vượt Côn Đảo” là một cuốn sách hấp dẫn, khen thì khen lên chín từng mây như bài của các ông Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư… Trên báo “Văn Nghệ”, ông Hoài Thanh ca ngợi “Vượt Côn Đảo” một cách quá đáng, thì ông Trần Dần, báo “Văn”[41]bên này, mới quật lại bằng một bài, đầu đề to tướng: “Bạn đã đọc kỹ ‘Vượt Côn Đảo’ chưa ?” Bài báo hấp dẫn lắm, Trần Dần trích những câu non nớt của Phùng Quán ra phân tích, cũng chả đụng gì đến các ông Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, mà chỉ vạch ra cái non kém của Phùng Quán thôi. Phùng Quán nói: “Anh đánh em đau quá”. Trần Dần chỉ cười. Tôi bảo: “Trong văn chương được một người đàn anh đánh như thế là tốt, để cậu học tập, có đau mới tiến bộ được”. Tất nhiên Phùng Quán nó không giận lâu”[42].

Lúc đó, Trần Dần, chủ trương phê bình tự do, chống lại sáng tác ca tụng, có ý đưa hai cuốn sách tiêu biểu của văn học cách mạng ra để phê bình. Văn xuôi là “Vượt Côn Đảo” của Phùng Quán và thơ là “Việt Bắc” của Tố Hữu. Phùng Quán nổi tiếng với tác phẩm đầu tay, viết theo lối văn tuyên truyền, bán rất chạy, trong vòng một năm tái bản bốn lần: Tiểu thuyết “Vượt Côn Đảo”[43] ca tụng sự can trường của các chiến sĩ Cộng sản tổ chức vượt ngục Côn Đảo.
Trần Dần chủ trương viết về bất cứ điều gì, cũng phải viết sự thực, tự phê cuốn “Người người lớp lớp” của mình trong nhật ký như sau :

“Tôi vừa viết xong cuốn “Người người lớp lớp”. Viết về chiến tranh ở Điện Biên Phủ đấy. Nhưng mà tôi chán rồi. Tại vì rằng tôi ít thấy sự thực của chiến tranh trong đó quá. Và vì rằng tôi ít thấy sự thực của bản thân tôi trong đó quá. Chưa phải là chiến tranh, chưa phải là tôi. Cho nên tôi viết tới hơn 300 trang mà không thích bằng một bài thơ tôi cũng mới làm về chiến tranh: “Anh đã thấy” (“Mes douleurs”) trên dưới có 6 trang !”[44]

Trước Nguyễn Minh Châu 30 năm, Trần Dần đã đòi hỏi nhà văn phải viết sự thực về chiến tranh một cách quyết liệt và toàn diện: viết sự thực không tô hồng, không nói dối, không nặn ra những anh hùng giả, toàn tim, không óc.
Viết xong “Người người lớp lớp”, Trần Dần đi Trung Quốc. Khi trở về sách đã in, nhưng Hội Văn nghệ đánh mất bản thảo “Người người lớp lớp” (phần 4 và 5)[45]. Như vậy cuốn sách đã in không có phần 4 và 5. Có nghĩa là 2 phần này tác giả viết “không đúng đường lối” chăng ?
Chính Trần Dần, cũng không bằng lòng với cách viết của mình, cho nên qua “Vượt Côn Đảo”, ông muốn phê phán cả một tầng lớp nhà văn chính thống, từ Nguyễn Đình Thi trong “Xung kích”, “Vỡ bờ” đến cách Hoài Thanh, Xuân Diệu nhắm mắt ca tụng “Việt Bắc” của Tố Hữu. Lý do thứ hai, vì Phùng Quán là đàn em, cho nên việc phê bình sách của Phùng Quán cùng với sách Tố Hữu, chứng tỏ họ “không bè phái”, chê cả người trong nhóm.
Trần Dần phê bình “Vượt Côn Đảo” như thế nào ?
Nguyên Ngọc viết :
“…
Bấy giờ Phùng Quán còn choáng mắt lên vì sự thành công của mình. Quán đang tin ở tài năng của mình và chưa kịp bình tĩnh suy nghĩ gì về những nhược điểm, khuyết điểm còn lại. Thì giữa lúc đó Trần Dần viết bài “Bạn đã đọc kỹ ‘Vượt Côn đảo’ chưa?” đăng trên tạp chí “Sinh hoạt Văn nghệ” ra ngày 1/4/1955.(…) Trần Dần lật ngược tất cả những nhận định trước nay về “Vượt Côn Đảo”, thẳng tay đập tơi bời cuốn sách đầu tay đó của Phùng Quán. Trần Dần nhận định :

“Về cốt chuyện “tinh thần chung của nó là hỏng. Mới xét qua cốt chuyện đã thấy nó là một quyển sách ca tụng chủ nghĩa anh hùng cá nhân, ca tụng kiểu quân sự bạo động, tình cảm sốc nổi và phiêu lưu”. Về nhân vật trong chuyện: “về nhân vật quần chúng thì tôi không hiểu tác giả mắc bệnh gì mà mỗi khi tả quần chúng thì tả họ ngây ngô… cái nhân vật quần chúng đã bị bôi nhọ quá nhiều”.
Về những nhân vật khác, Trần Dần cho là: “tác giả đưa lên những người toàn tim cả mà không có óc. Hay chỉ có một chút xíu”. Nói về cái chết của những người anh hùng trong tác phẩm của Phùng Quán, Trần Dần viết một cách vô lương tâm: “Tôi đã không khóc mà lại còn muốn nói rất nhiều về những cái chết mù quáng như vậy. Không phải cứ mang cái chết ra mà cảm động được chúng ta đâu !… Tôi không rỏ một giọt nước mắt nào cho những con người chết như thế. Đó là cái chết của những con người khờ dại… Đảng viên ấy không phải là Đảng viên, chiến sĩ ấy không phải là chiến sĩ…” (…)
Suốt cả bài ấy Trần Dần dùng một lối văn đả kích bằng cách chơi chữ, lập lờ, một thứ “thủ đoạn văn chương” mà sau này ta đã tìm thấy lại trên báo “Nhân Văn”, trong các tập “Giai Phẩm”“Đất Mới” của nhà xuất bản Minh Đức. Ví dụ chê một chỗ tác giả đưa lên một khó khăn quá ngây thơ, Trần Dần viết: “Lần này là khó khăn con chó” ”.

Một tháng sau Lê Đạt cũng viết một bài phê bình “Vượt Côn Đảo” (“Sinh hoạt Văn nghệ”, số 39 ra ngày 19/5/1955) ý kiến không có gì khác Trần Dần lắm. (…)
Sau khi đã đập Phùng Quán tơi bời bằng một bài phê bình trên báo, sau khi đã làm cho Phùng Quán hoang mang suy nghĩ về tài năng, về trình độ mọi mặt của mình, Trần Dần lại nói riêng với Phùng Quán: “Tao đập là đập bọn chúng nó ngu dốt không biết gì chứ có phải đập mày đâu”. (…) Thế là Trần Dần hoàn thành cái thủ đoạn của mình một cách khôn khéo, bắn một phát trúng nhiều mục tiêu: qua phê bình “Vượt Côn Đảo” mà thóa mạ những chiến sĩ Cộng sản, qua Phùng Quán mà chửi quần chúng là ngu dốt, tâng bốc Phùng Quán, đưa Phùng Quán đến chỗ đối lập lại quần chúng độc giả và lãnh đạo, lôi kéo Phùng Quán. Trần Dần đã thành công trong việc đó thật”[46].
…”

G- Phê bình “Việt Bắc”:

Phê bình tập thơ “Việt Bắc” là ngòi nổ công khai đầu tiên của phong trào NVGP. “Việt Bắc” của Tố Hữu được tôn sùng như cuốn “thánh kinh” của văn học cách mạng. Từ khi tác phẩm ra đời cuối năm 1954 cho đến ngày nay, bao nhiêu giấy bút đã dành cho sự ca tụng nó. Hiếm có nhà phê bình nào, dám viết một câu phạm thượng về “Việt Bắc”. Đúng như Lê Đạt nhận xét: “Ở Việt Nam người ta chưa quen chê anh Tố Hữu bao giờ”[47]. Sở dĩ việc phê bình thơ Tố Hữu, không chỉ khép kín trong các buổi họp nội bộ quân đội, mà thoát ra ngoài, nhờ hai người: Tử Phác, thư ký toà soạn báo “Sinh hoạt Văn nghệ”, tung trên “Sinh hoạt Văn nghệ” trước. Rồi Lê Đạt, phụ trách Văn Nghệ, đưa lên Văn Nghệ sau.
Vũ Tú Nam viết :

“Ngày 4/3/1955, nổ ra cuộc họp đầu tiên tranh luận phê bình tập thơ “Việt Bắc”, Trần Dần gọi thơ Tố Hữu là “tí ti la haine, tí ti l’amour” (“tí ti căm thù, tí ti tình yêu”) một cách hằn học, đểu cáng. Ngày 7/3/1955, bắt đầu tranh luận phê bình “Vượt Côn Đảo” của Phùng Quán, Trần Dần gọi những chiến sĩ Côn Đảo trong truyện là những “người cụt đầu”, “toàn tim”, “mù quáng” (…) Bài phê bình “Vượt Côn Đảo” của Trần Dần lệch lạc nguy hiểm như vậy, nhưng cũng có một số đồng chí trong quân đội không nhận ra, viết bài hưởng ứng. Cuối tháng 3/1955, khi duyệt những bức thư bạn đọc chung quanh việc phê bình “Vượt Côn Đảo” để in báo “Sinh hoạt Văn nghệ”, Cục Tuyên huấn quyết định bỏ bớt một số bài tán thành Trần Dần. Lúc này, Trần Dần phản ứng rất mạnh, gọi lãnh đạo là “répression policière !” (“đàn áp kiểu cu-lít”). Và đầu tháng 4/1955, mượn cớ đau óc, Trần Dần xin nghỉ dài hạn, bỏ công tác, bỏ doanh trại bộ đội, tự tiện ra ngoài phố ở”[48].

Về không khí các buổi phê bình thơ Tố Hữu, Vũ Tú Nam ghi trong nhật ký, như sau :

“5/3/1955: Tối qua, tranh luận về thơ Tố Hữu ở Cửa Đông, anh Nguyễn Chí Thanh tới (…) anh em đông lắm, cả Hồ Dzếnh. Hoàng Yến trình bày vấn đề “khả năng hiện thực trong thơ Tố Hữu – Tố Hữu có tiêu biểu cho thời đại không?” Trần Dần, Lê Đạt nói bốc nhất. Hoàng Trung Thông, Nguyễn Xuân Sanh ngồi ghi mà không nói gì. Tố Hữu không tới, Xuân Diệu không tới.
8/4/1955: Đêm 7-4, phê bình thơ “Việt Bắc” ở 51 Trần Hưng Đạo đến 12 h khuya. Dần tâm sự khi anh đi xe đạp có hai bộ đội theo dõi (?). Tối vào nhà bạn, lúc ra Dần bị bộ đội giữ mấy tiếng. Mình báo cáo sự việc với chi ủy. Trần Việt nói: “Dần vào 69 Quán Thánh, nhà Hoàng Cơ Bình cũ, nên có thể bị theo dõi”.
15/4/1955: Đêm qua, thảo luận về thơ “Việt Bắc” đến 12h đêm. Hoàng Yến, Trần Dần, Hoàng Cầm nói gay gắt. Trương Tửu tranh luận rất phản khoa học. Huy Cận ngồi im. Tạ Hữu Thiện nói nhiều suy diễn, ví dụ cho đoạn nào là giống Kiều… Hoàng Cầm dẫn thơ Hồ Xuân Hương để chứng minh “chất sống” và “hồn thơ” của nữ thi sĩ”[49].

Trong bài “Cách nhìn sự vật của nhà thơ Tố Hữu”, viết tháng 5/55, Trần Dần viết :

“Nói chung thơ Tố Hữu có rất nhiều cái lười biếng. Ý lời tầm thường (…), rất nhiều cái kiểu “lòng ta xao xuyến, rung rinh”, —“chúng bay chỉ một đường ra, một là tiêu diệt hai là tù binh”, hoặc “đời vẫn ca vang núi đèo”, hoặc “Cụ Hồ sáng soi”. Không phải là thiên lệch trích ra một số câu như vậy, hãy đọc lại cả tập “Việt Bắc” xem, ta thấy nhan nhản những lối lười, nhạt, cả lảm nhảm nữa (…) Phá đường: “Nhà neo việc bận vẫn đi” –làm thì thi đua–, thi đua kết quả thì rồi mai địch chết. Ta đi tới: đủ cả Bắc Nam, Việt, Miên, Lào, Itsala, Itsarắc… xem ra thì có vẻ đúng chính trị. Nhưng xét sâu xem ? (…) Tố Hữu nhìn sự vật nó chính trị công thức quá, lười tìm tòi quá. Chỗ nào hay thì là lập lại Nguyễn Du, Tản Đà, ca dao… Tố Hữu chưa đem tới một cái nhìn mới mẻ gì”[50].

Tiễn đưa Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang ghi sổ tang :

“Lần đầu gặp anh trong cuộc phê bình tập thơ “Việt Bắc”, đến nay dù hơn bốn mươi năm, biết bao là gian nan, trong những cố gắng chung để tìm cho văn nghệ Việt Nam một con đường phát triển thuận lợi nhất. Đúng hay sai, hôm nay tôi vẫn chưa dám khẳng định… Dù sao thiện chí của chúng ta chỉ có kẻ ác ý mới cố tình phủ nhận.
Tiễn đưa anh về cõi vĩnh hằng, có lẽ tôi chỉ có thể nhắc lại cùng anh vế đối của Ngô Thì Nhậm nói cái lẽ tất yếu: “Gặp thì thế, thế thì phải thế”. (…)
Cả nước biết lúc nào anh cũng có tư tưởng “Nhất định Thắng”, dù cho ý chí ấy anh không đạt được thì cũng vẫn là phẩm giá cao đẹp của một con người”[51].

H- “Trần Dần ghi”:

Về NVGP, có những sự việc đã bị chôn sống, tưởng rồi sẽ tan trong lòng đất. Có những sự thực đã bị bóp méo đến độ dị dạng. Trong hơn nửa thế kỷ, người ta đã quen sống với những quái thai dị đạng đó: những xuyên tạc, bôi nhọ được đề cao như những chân lý. Ngờ đâu, những con chữ trong hòm lại có ngày đứng dậy, thuật lại truyện mình. Tập “Trần Dần ghi 1954–1960”[52] là một trong những tư liệu hòm, tự khai, tự quật. Tác phẩm mở ra những dòng chữ đầu tiên để lấp những trang còn trắng về một thời kỳ văn học sử, còn chưa được biết, còn chưa được viết.
Tập “Trần Dần ghi 1954–1960” thực chất là ba quyển sách gồm một: Phần đầu tích lũy những suy nghĩ về sáng tạo. Phần thứ nhì, tác giả quay lại chiến dịch đấu tố với những hình ảnh khủng khiếp kinh hoàng. Phần thứ ba, viết về cuộc sống cải tạo trong những năm kỷ luật. Với một lối viết tốc ký, ngắn gọn, thể hiện mỹ học khổ đau của Trần Dần.
Chuyện cải tạo sau “Nhân Văn”, nằm trong lối tốc ký ấy :

“9/9/58 (…) Ðêm, tôi thiếp đi trong mộng ác. Tay mưng, đau nhất là ở những chỗ đã thành chai mà lại mưng tái lại. Mọi bắp thịt suốt đêm lọc acide, và chôn cất những tế bào chết vì lao lực quá sức… Lục đục suốt đêm như vậy trong toàn bộ xác thịt tôi.
10/9/58 (…) Gió khiếp quá. Hàng sư đoàn gió bấc trèo qua núi lúc nào đổ xuống đồng cỏ. Suốt buổi sáng, mùa hè bị đánh tan nát. Nắng bị gió may thổi mát đi, nguội lửa.
Gió tốc mái, rứt mấy lá gồi chuồng bò. Cây cành bị túm tóc, vật vã kêu gào, gió vẫn không tha. Các tàu chuối bị tước xơ ra. Có tàu rách mướp, trông hệt một con rết xanh khổng lồ, hàng nghìn chân xanh ngọ ngoạy điên cuồng, cào trong không khí, cái đuôi nó bị giữ rịt ở thân, nó lồng lộn ngang ngửa, không thoát. (…)
Các nón lá bị gió nó hất chụp mặt. Nó kéo ra sau, quai nón xiết cổ như thừng thắt cổ ! Bụi phả vào mắt chúng tôi, chưa dụi xong, gió đã ném thêm. Bọn tôi đào gốc, đã nhọc, còn bị lũ gió may kia trêu chọc. Nó đùa dai chứ… Có lúc tôi cuốc đất, mắt nhắm tịt, một anh mù làm việc”[53].

Về những ngày sôi động sau 2 cuộc Chỉnh huấn ở Thái Hà ấp, 16/4/1958, “Trần Dần ghi” :

“Hiện nay Nguyễn Hữu Ðang, Thụy An, Minh Ðức đã bị bắt, chẳng bao lâu sẽ ra tòa. Báo chí vẫn tiếp tục diệt đánh “Nhân Văn” Bộ 6 “Giai phẩm Mùa xuân”[54]. Bộ 6 đã buông nhau ra. Bọn “Nhân Văn Giai Phẩm” cũng ô-rơ-voa[55]nhau hết (…) Sỹ Ngọc đóng cửa, miễn tiếp khách. Bản thân tôi, do chỗ đã tự giác đình bản tư tưởng thù địch (thứ tự giác kết quả của áp lực…) nên mọi mặt khác, tôi cũng đình bản cả giao du, đình bản cả việc viết lách. Có nên đi gặp những đồng chí lãnh đạo để hỏi những việc cần phải làm không ? Ði thì lại sợ bị hiểu lầm. Nhưng nếu ngồi nhà, tiêu cực đợi, có khi còn bị hiểu lầm gấp bội. (…)
Bọn Ðang – Minh Ðức – Thụy An thân thì bị cầm tù, tội ác thì đem bêu đầu trên báo chí. Vai trò của bọn chúng trong các vụ phá hoại 3 năm đang được vạch trần. Phan Khôi thì đóng cửa, nằm khàn, không đọc báo. Trương Tửu, Trần Ðức Thảo làm gì ? Còn cả loại B chúng tôi hiện ra sao ? Làm gì ? Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Ðạt đang tiếp tục kiểm thảo ở cơ quan, cùng với những Quang Dũng, Trần Lê Văn, v.v…
Chúng tôi đi sâu vào kiểm điểm sáng tác hơn nữa. Kiểm điểm sáng tác cho sâu mới thật là khó sao ! Cứ như phải rứt bỏ một mảng thịt của mình.(…) Tôi chịu cái hình phạt ấy, nhẫn nại và đau khổ. Hình phạt của một người bị bung dừ (…) Tôi vừa là một tội nhân, vừa phải cố tách mình ra, làm một đao phủ thủ, hành hạ cái chủ nghĩa xét lại có thực trong tôi và đám “Nhân Văn”[56].

Những người nhân văn ấy, đã phải nhận tội, phải “cắt bỏ những mảng thịt của mình”, phải tự chửi rủa mình, phải tìm gặp lãnh đạo, phải tố cáo bạn bè để xin một chút ơn huệ thừa, nhưng rồi cũng không ai thoát được guồng máy, không ai tránh khỏi bị “ninh nhừ”.
Con người “Nhất định Thắng” ấy, sau trận Thái Hà, đã thua, đã hàng, đã nhận tội, đã ly khai những lý tưởng ngày trước, đã phải đứng về phía bên này, để nhìn “bọn” bên kia : gồm những “tên thủ lĩnh chủ nghĩa xét lại” Nguyễn Hữu Đang, “tên phá hoại” Minh Đức, “con mụ gián điệp” Thụy An…, đã xuống đến nấc thang cuối cùng của sự “giẻ rách hóa” con người.
10/12/ 59, “Trần Dần ghi” :

“Sớm mai tòa án xử Thụy An gián điệp và Nguyễn Hữu Ðang phá hại, cả hai: hiện hành. Tôi không có giấy gọi cho dự, có lẽ vì không có vị trí gì ở đó. Không phải là nhân chứng, cũng không phải là đại biểu của nhân dân…
Người có một cái gì văng vắng. Tôi đã có đứng với nhóm Ðang cầm đầu. Tôi đã ly khai với “lý tưởng” đó. Cả khi đứng ở đó, cả khi ly khai, cả bây giờ, tôi vẫn cứ rớm máu. Chao ơi ! Con đường để đi đến chỗ “Đúng” mới nhiều máu làm sao ? Tương lai có để dành cho tôi nhát dao nào nữa không ? Đang đã nhìn thấy cái sai lớn của Đang chưa ?(…)
Ngoài trời mưa bụi. Rét xoàng. Không có gió. Ðôi lúc vài tiếng chuông xe đạp. Năm nay rét muộn. Ðang ra tòa cuối năm. Tôi cũng không thể nào nhởn nhơ với sự kiện này. Chao ôi ! Con đường để đi tới chỗ “Ðúng” mới nhiều máu làm sao !”[57]

Từ lâu “ghi trở nên một hình phạt”. Nhưng vẫn ghi.
Cuốn sổ 1958, ghi lại con đường của những người muốn ngoi lên để đi đến chỗ “Đúng”. Ai cũng muốn tìm một đường “máu” để thoát thân: biết đâu Đảng chả đoái thương mà nghĩ lại ? Phương tiện nào cũng tốt kể cả “khai”. Cả “tố”.
Bao nhiêu khuôn mặt đã bước trên con đường “nhiều máu “ấy ? Trần Dần ghi. Bao nhiêu khuôn mặt đã vo ve sự “Đúng” ấy ? Trần Dần ghi. Bao nhiêu tên tuổi đã đạt được sự “Đúng” ấy ? Trần Dần ghi. Bao nhiêu khuôn mặt đã “Sai.” Trần Dần ghi.
Cả đúng lẫn sai đều lầm than, đều tiến dần tới tha hóa. Họ tan tác cả. Họ chia tay. Có những oán hận, căm thù. Chính quyền đã thành công trong sự “giẻ rách hóa” con người, như lời Lê Đạt.
Thành công lớn nhất của guồng máy là đã đánh vào những yếu tố thiêng liêng nhất của con người: đánh vào tình bạn, tình người, đánh tan tác hết.
Những người nhân văn không chết, nhưng họ bị rút máu, rút gân, rút dần sinh lực. Họ đều rời rã, đều muốn hàng. Nhiều người đã đầu hàng, trong đó có Trần Dần. Họ muốn được lãnh đạo thương xót, họ muốn được lãnh đạo đoái hoài. Họ đã xuống đến đáy vực, họ chịu hết nổi. Họ sẵn sàng “chút lòng trinh bạch từ nay xin chừa” nhưng người ta vẫn lạnh lùng quay đi. Người ta vẫn không cho ngoi lên. Cái phận người nhỏ nhoi. Phận người nhân văn bị sa lầy, lún xuống, trong thời không nhân văn của dân tộc mình. Câm và điếc. Như đã chết.
Và điều đó chỉ có mỹ học khổ đau của Trần Dần mới viết nên được.

(Tác phẩm “Trần Dần: ghi” của Trần Dần vào năm 2001, và riêng
“Tập thơ Trần Dần” được xuất bản ở Việt Nam vào ngà 25/02/2008
nhưng chỉ sau 4 ngày nhà cầm quyền Cộng sản cho thu hồi và phạt nhà
xuất bản 15 triệu đồng. Tuy nhiên, theo vnexpress, vào ngày 14/09/2008,
Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức chấm giải thưởng cho “Tập thơ Trần Dần”)

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]
[16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29]

===========================================

Phụ Chú :
[1] Em ruột Vũ Hoàng Chương.
[2] Tác phẩm của Đinh Hùng.
[3] In trong “Thơ Mới 1932-1945”, Lại Nguyên Ân sưu tập, Hội Nhà Văn, 1999, phụ lục, trang 1395.

[4] Vũ Tú Nam, “Sự thực về con người Trần Dần”, “Văn nghệ Quân đội” số 4, tháng 4/1958.
[5] Vũ Tú Nam, bđd.
[6] nxb Quân đội Nhân dân, 1954.

[7] Nhật ký “Trần Dần ghi”, Phạm Thị Hoài, biên soạn, “Văn nghệ”, California, 2001.

[8] Vũ Tú Nam, “Những ngày thử thách”, hồi ký, chép lại 25/10/2006 (tạp chí Nhà Văn số 3/2007), mạng Talawas.
[9] Vũ Tú Nam, hồi ký, bđd.
[10] Hoàng Cầm, “Con người Trần Dần”.
[11] Vũ Tú Nam, hồi ký, bđd.
[12] Nhật ký “Trần Dần ghi”.
[13] Vũ Tú Nam, “Sự thực về con người Trần Dần”, “Văn nghệ Quân đội” số 4, tháng 4/1958.

[14] Vũ Tú Nam, “Sự thực về con người Trần Dần”, “Văn nghệ Quân đội” số 4, tháng 4/1958.

[15] “Trần Dần ghi”.
[16] Theo lịch trình sau:16/11/46, Tự vệ Hải Phòng được lệnh chuẩn bị chống Pháp. 30/11/46, xung đột ở Đồ Sơn. 7/12/46, Võ Nguyên Giáp ra lệnh sửa soạn tấn công. 8/12/46, Hà Nội đào hầm, đục tường xuyên nhà nọ sang nhà kia. 10/12/46, Hà Nội bắt đầu tản cư. 20/12/46, lệnh kháng chiến từ Hà Nội, ban hành ở Nam Bộ.

[17] Đạo diễn Trần Vũ nói trong “Chương trình tưởng niệm Trần Dần trên RFI”, tháng 1/1997.

[18] Hồ Phương, “Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học”, tập II, Tác Phẩm Mới, 1987, trang 140.

[19] Vũ Tú Nam, “Sự thực về con người Trần Dần”, “Văn nghệ Quân đội” số 4, tháng 4/1958.

[20] Hoàng Cầm, “Con người Trần Dần”, “Nhân Văn” số 1, 20/9/1956.
[21] Vũ Tú Nam, “Sự thực về con người Trần Dần”, bđd.
[22] Hoàng Cầm, bđd.
[23] Theo băng “Hoàng Cầm nói chuyện với bạn bè”.
[24] “Trần Dần ghi”, trang 63 và 65.
[25] Từ Bích Hoàng, “Vạch thêm những hoạt động đen tối của một số cầm đầu trong nhóm phá hoại ‘Nhân Văn Giai Phẩm’ ”, Việt Nam Quân đội, số 5, tháng 5/1958.

[26] Tức là tờ “Sinh hoạt Văn nghệ”, do Tử Phác làm thư ký toà soạn.
[27] Tức Võ Hồng Cương, hay Hồng Cương, cục phó Cục Tuyên huấn.
[28] Tức Tướng Nguyễn Chí Thanh, chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.
[29] “Trần Dần ghi”, sđd, trang 73-75.
[30] Anarchiste thường được dịch là vô chính phủ, chỉ đúng trong nghĩa chính trị (nghĩa gốc), nhưng nói rộng ra, anarchiste còn có nghĩa là quậy, phá, loạn, không chịu bất cứ một thứ kỷ luật sắt nào.

[31] Phần lớn văn nghệ sĩ lúc ấy đều ở trong quân đội. Những người chủ chốt trong nhóm phản kháng gồm: Hoàng Cầm, Đỗ Nhuận, Hoàng Tích Linh, Trúc Lâm, với “mưu sĩ số 1” Đặng Đình Hưng, “mưu sĩ số 2” Tử Phác và Lê Đạt. Nhóm quy tụ được gần 30 văn nghệ sĩ. Vũ Tú Nam và Từ Bích Hoàng cũng “cùng chí hướng”, Đỗ Nhuận là thành phần “chủ chốt”, cả ba người này sau quay lại viết bài đánh Trần Dần và NVGP.

[32] Từ Bích Hoàng, bđd.
[33] In trên tạp chí Nhà Văn số 3/2007 và Talawas.
[34] Số 4, tháng 4/1958.
[35] Anarchie totale ở đây nên dịch là Loạn !
[36] Vũ Tú Nam, “Sự thực về con người Trần Dần”.
[37] Vũ Tú Nam, “Sự thực về con người Trần Dần”.
[38] Hoàng Cầm, “Con người Trần Dần”.
[39] Vũ Tú Nam, “Sự thực về con người Trần Dần”.
[40] Vũ Tú Nam, “Những ngày thử thách”, nhật ký chép lại, bđd.
[41] Thực ra là báo “Sinh hoạt Văn nghệ” của quân đội, do Tử Phác phụ trách.
[42] Theo băng ghi âm “Hoàng Cầm nói chuyện với bạn bè”.
[43] nxb Quân đổi Nhân dân, Hà Nội 1954.
[44] “Trần Dần ghi”, trang 47.
[45] “Trần Dần ghi”.
[46] Nguyên Ngọc, “Con đường đi của Phùng Quán, con đường sai lầm điển hình của một người viết văn trẻ”, “Việt Nam Quân đội”, số 4, tháng 4/1958.

[47] Lê Đạt trả lời phỏng vấn RFI.
[48] Vũ Tú Nam, “Sự thực về con người Trần Dần”.
[49] Vũ Tú Nam, “Những ngày thử thách”, nhật ký chép lại, bđd.
[50] Nhật ký “Trần Dần ghi”, trang141.
[51] Bài điếu của Nguyễn Hữu Đang, in lại trong “Trần Dần ghi”, trang 460.
[52] “Văn Nghệ”, California, 2001.
[53] “Trần Dần ghi”, trang 334-335.
[54] Hoàng Cầm, Văn Cao, Lê Ðạt, Trần Dần, Sỹ Ngọc, Tử Phác.
[55] Au revoir, tạm biệt.
[56] “Trần Dần ghi”, trang 244, 245–260.
[57] “Trần Dần ghi”, trang 376.

23 thoughts on “Chương 11: Trần Dần (1926–1997)

  1. Pingback: Mục lục và Lời tựa cho “Nhân Văn Giai Phẩm” và vấn đề Nguyễn Ái Quốc |

  2. Pingback: Chương 29: Nói chuyện với họa sĩ Trần Duy (Hết) |

  3. Pingback: Chương 1: Tìm hiểu phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm” |

  4. Pingback: Chương 02: Lịch trình “Nhân Văn Giai Phẩm” |

  5. Pingback: Chương 03: “Giai phẩm Mùa xuân” |

  6. Pingback: Chương 4: Nguyên nhân Đưa đến cuộc Cách Mạng Mùa Thu của Tư Tưởng |

  7. Pingback: Chương 5: Nội bộ báo “Nhân Văn” |

  8. Pingback: Chương 06: Trí thức và dân chủ tại Việt Nam trong thế kỷ XX |

  9. Pingback: Chương 07: Biện pháp Thanh trừng |

  10. Pingback: Chương 08: Thụy An (1916–1987) |

  11. Pingback: Chương 09: Nguyễn Hữu Đang (1913–2007) |

  12. Pingback: Chương 10: Lê Đạt (1929–2008) |

  13. Pingback: Chương 15: Cuộc cách mạng Hiện đại đầu Thế kỷ XX |

  14. Pingback: Chương 16: Nguyễn Tất Thành |

  15. Pingback: Chương 17: Hội Đồng bào Thân ái – Phong trào Ái quốc Đầu tiên tại Pháp |

  16. Pingback: Chương 18: Nguyễn Ái Quốc lai lịch và Văn bản |

  17. Pingback: Chương 19: Khảo sát Văn bản Nguyễn Ái Quốc |

  18. Pingback: Chương 20: Vì sao Phan Châu Trinh phó thác “Đại sự” cho Phan Khôi ? |

  19. Pingback: Chương 22: Vụ án “Nam Phong” |

  20. Pingback: Chương 24: “Une Voix Dans la Nuit” – Cải cách Ruộng đất và Cải tạo Tư sản |

  21. Pingback: Chương 25: “Une Voix Dans la Nuit” – Vấn đề Trí thức và Độc tài Đảng trị |

  22. Pingback: Chương 26: Nói chuyện với Nhà cách mạng Nguyễn Hữu Đang |

  23. Pingback: Chương 28: Nói chuyện với nhà thơ Hoàng Cầm |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s