Chương 06: Trí thức và dân chủ tại Việt Nam trong thế kỷ XX

Chương 06: Trí thức và dân chủ tại Việt Nam trong thế kỷ XX
–Từ Phan Châu Trinh, Hoàng Đạo đến “Nhân Văn Giai Phẩm”

Những bài viết chủ yếu in trên NVGP gồm hai loại: Loạt bài chính luận trực tiếp định hướng tư tưởng của các nhà trí thức và loạt bài sáng tác dấn thân nói lên khát vọng tự do của các văn nghệ sĩ. Hai thể loại này đan cài và bổ sung cho nhau, tạo nên làn sóng đấu tranh toàn diện cho tự do dân chủ và tự do tư tưởng. Trí thức trong vị trí dẫn đường, được xếp vào loại A. Văn nghệ sĩ, ít “nguy hiểm” hơn, được xếp vào loại B[1].
Vì trí thức và dân chủ là hai trục chính trong cuộc đấu tranh: trí thức dẫn đường và dân chủ là mục đích, cho nên trước khi phân tích nội dung tranh đấu của phong trào NVGP, ta cần tìm hiểu mối tương quan giữa trí thức và dân chủ ở Việt Nam trước và trong thời kỳ NVGP. Nguyễn Mạnh Tường là nhà trí thức duy nhất trong thời kỳ NVGP, đã để lại những trang viết mà ngày nay ta có thể dựa vào như những tư liệu chính trị, xã hội, phản ảnh vai trò của người trí thức trong giai đoạn đấu tranh cho tự do dân chủ những năm 50 ở miền Bắc và hiểu được tại sao chế độ Cộng sản lại “căm thù” trí thức và loại trừ trí thức.

A- Phan Châu Trinh và Dân trị Chủ nghĩa:

Khái niệm tự do dân chủ phát xuất từ Tây phương. Nhưng tự do dân chủ không xa lạ gì với người Việt, bởi, nói như Hoàng Đạo: “Khái niệm tự do dân chủ đã theo chiến hạm Pháp nhập vào nước ta từ cuối thế kỷ XIX”. Đối với những nhà cách mạng Tây học đầu thế kỷ XX đã dùng tiếng Pháp để chống Pháp trên báo ở Pháp và ở Việt Nam, như Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh… tự do dân chủ là điều kiện hiển nhiên và tất yếu của con người, thu nhận trực tiếp qua giáo dục học đường.
Nhưng đối với những nhà nho, tự do dân chủ, phải đi vòng qua tân thư, là những sách mà trí thức Trung Hoa như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu… đã dịch Montesquieu, J.J. Rousseau… ra chữ Hán. Phan Châu Trinh, một trong những nhà nho chủ trương phong trào Duy Tân, đã tiên phong bàn về dân chủ. Sau 14 năm ở Pháp về, cuối năm 1925, ông diễn thuyết tại Hội Thanh niên Sài Gòn, đề tài “Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa”, luận văn cơ bản phân biệt quân chủ và dân chủ, cho một dân tộc chưa thoát vòng nô lệ.
Việt Nam đầu thế kỷ XX, trình độ dân trí còn kém, Phan Châu Trinh chỉ cắt nghĩa ngắn gọn:

Dân trị là cứ bảy năm người dân bầu lại ông Giám Quốc (Tổng Thống) một lần, còn quân chủ, vua là cha truyền con nối. Dân trị có nghị viện do dân bầu lên, giữ quyền lập pháp. Quyền hành pháp giao cho quan tòa, thuộc ngành tư pháp, ở trong chính quyền nhưng có vị trí độc lập.”

Và ông kết luận :

“Nói tóm lại, dân trị tức là pháp trị. Quyền hạn và bổn phận của mỗi người trong nước, bất kỳ người làm việc nhà nước hay là người thường, đều có pháp luật chỉ định rõ ràng, không khác gì là đã có đường gạch sẵn, cứ trong đường ấy mà đi, tự do muốn bước tới bao nhiêu cũng được, không ai ngăn trở cả. Chỉ trừ khi nào xâm lấn đến quyền hạn của người khác thì không được mà thôi”[2].

Sự giáo dục dân chủ cho một quần chúng sống dưới thời phong kiến và nô lệ, được Phan Châu Trinh đề ra từ năm 1925. Hơn mười năm sau, Hoàng Đạo, nhà văn kiêm luật gia, tiếp tục việc giáo dục quyền công dân, quyền làm người trên báo “Ngày Nay”, sử dụng quyền tự do dân chủ để tranh đấu với người Pháp và hướng dẫn dân tộc.

(Phan Châu Trinh với “Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa”)

B- Hoàng Đạo và Dân chủ:

Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long, em Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, là một trong những người lãnh đạo Quốc dân Đảng và là nhà văn Việt Nam đầu tiên sử dụng quyền tự do dân chủ một cách có hệ thống để chống lại thực dân Pháp và giáo dục dân tộc về nhân quyền.
Sau này, Nguyễn Mạnh Tường xác định: “Những người xuất thân trường Luật của Pháp là những người chống Pháp một cách mãnh liệt và có hiệu quả”. Điều này thực không sai nếu ta điểm qua những nhà cách mạng: Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh qua bút hiệu chung Nguyễn Ái Quốc, họ đã viết những bài báo tiếng Pháp, thập niên 1920 ở Paris, rồi đến Nguyễn Tường Long, Nguyễn Mạnh Tường sau này, đều là những người đã học luật.
Hoàng Đạo đỗ vào trường Luật Đông Dương Hà Nội, năm 1924 và tốt nghiệp năm 1927. Từ 1933, trên Phong Hóa, dưới bút hiệu Tứ Ly, ông đã viết những bài châm biếm đả kích toàn bộ hệ thống quan lại của chính quyền thuộc địa và bài trừ hủ tục trong xã hội Việt Nam. Trên báo “Ngày Nay”, từ 1937 đến 1939, ông hoàn tất những hồ sơ lớn về “Vấn đề thuộc địa, Vấn đề cần lao, Công dân giáo dục”, nội dung phê phán chính quyền thực dân, chỉ trích sự vi phạm nhân quyền trong chính sách đánh chiếm thuộc địa của người da trắng, chỉ trích sự vi phạm luật lao động trong chính sách mộ phu và cổ động việc giáo dục công dân về dân quyền và nhân quyền. Loạt bài này căn bản dựa trên tự do dân chủ, quyền làm người, luật lao động, quyền công dân, thoát thai từ tinh thần cách mạng 1789 của Pháp.

(Hoàng Đạo là người đứng ở hàng sau tại vị trí thứ ba –tính từ trái
sang phải– đeo cravate, nhỏ người)

Với người Pháp yêu chuộng tự do dân chủ, Hoàng Đạo gởi tới họ những khát vọng của dân Việt: “Người Nam chỉ ao ước một điều: là được những sự tự do của nền dân chủ và được dần dà coi ngó, đảm đang lấy việc công trong nước của họ. Ngày nào dân Annam có quyền, trong sự tự do, tự kén chọn lấy những người cầm quyền cai trị họ, ngày ấy nguyện vọng của người Nam đã đạt được nhiều rồi vậy”[3].
Kết tội chính sách thuộc địa dã man của Anh, Tây Ban Nha, Hoàng Đạo cho người Pháp biết rằng chính sách thuộc địa của họ là bất hợp pháp và nếu họ không thay đổi chính sách cai trị thì người Việt sẽ nổi lên chống lại.
Loạt bài “Vấn đề thuộc địa”, tổng hợp những lý luận chặt chẽ, kiến thức uyên bác, tầm nhìn rộng về thế giới bên ngoài, về lịch sử chinh phục thuộc địa, về sự tiến hóa của luật pháp.
Trong bức thư ngỏ gởi cựu toàn quyền Varenne, về chỉ dụ báo chí 4/10/1927, Hoàng Đạo viết :

“Tôi không cần phải nhắc lại rằng đạo chỉ dụ ấy đã bắt các báo chí ở đây[4] phải xin phép mới được xuất bản và phép cho xuất bản chính phủ muốn thu về lúc nào cũng được. Tôi không cần phải nói đến tệ hại của chế độ ấy, tôi đã nói nhiều rồi (…)
Muốn rửa sạch cái tiếng không hay đã đem tên ông đặt vào cái chỉ dụ 1927, ông chỉ còn có một phương pháp, là đem hết tài lực của ông mà xin hủy bỏ cái chế độ không hợp với trình độ của dân tộc Việt Nam ấy đi, để chúng tôi được hưởng một chút tự do, một chút quyền lợi về chính trị mà ông bảo phải đi đôi với công việc giáo hóa”[5].

Hoàng Đạo không chỉ đòi tự do dân chủ cho người Việt, mà ông đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền cho toàn bộ những dân tộc bị trị trên thế giới. Khi đối đầu với Pháp, ông luôn giữ thái độ bình đẳng của người đòi hỏi người, của một dân tộc đòi hỏi một dân tộc khác. Ông khẩn thiết yêu cầu nước Pháp, một nước tự nhận là quê hương, là nguồn cội của Nhân Quyền, hãy áp dụng cái Nhân Quyền ấy ở Việt Nam.
Loạt bài “Vấn đề cần lao”, phản đối tình trạng người lao động bị bóc lột ở Việt Nam nói riêng và người bóc lột người ở thời đại kỹ nghệ phát triển nói chung, Hoàng Đạo viết :

“Người ta đem phủ một lượt tro lên sự đốn mạt người bóc lột người. Người ta đem những danh hiệu mới, như tờ cam đoan, tờ giao kèo, lao công cưỡng bách, để che đậy sự thực”[6].

Ông phân tích và đứng trên bình diện luật pháp để phê phán những bất cập, phạm pháp trong các chế độ: Lao công cưỡng bách (mộ phu đi rừng cao-su), luật xã hội, luật lao động, vấn đề thanh tra và nghiệp đoàn…
Loạt bài “Công dân giáo dục nhắm vào sựgiáo dục dân chủ”, giải thích cho người Việt hiểu quyền lợi và trách nhiệm của người công dân trong một nước dân chủ, khác với bổn phận một thần dân dưới thời phong kiến: Muốn được tự do, dân chủ, người dân trước hết phải tự ý thức được cái giá phải trả cho tự do, dân chủ, tức là phải ý thức được sự trưởng thành, độc lập của mình, phải hiểu quyền công dân và trách nhiệm của người công dân.
Hoàng Đạo viết :

“Ý tưởng công dân là một ý tưởng mới. Cùng với những ý tưởng khác, có sức mạnh vô cùng, ý tưởng tự do bình đẳng, nhân đạo, công lý, ý tưởng công dân vì một tình cờ trong lịch sử đã theo chiến hạm Pháp nhập vào nước ta vào khoảng cuối thế kỷ trước[7].

Trong loạt bài này, Hoàng Đạo giải thích rõ ràng các khái niệm mấu chốt: hiến pháp, nhân quyền, tự do, ý nghĩa cuộc cách mệnh Pháp, tự do cá nhân, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do chính trị.
Tóm lại, khái niệm tự do dân chủ đã truyền vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, với đoàn quân viễn chinh Pháp, và được mở rộng, dưới thời Pháp thuộc, qua ngả học đường, phát sinh một lớp trí thức tân học, đấu tranh cho dân chủ bằng ngòi bút, và một lớp văn nghệ sĩ mới, sáng tác tự do, xây dựng nền văn học quốc ngữ.
Hoàng Đạo là ngòi bút duy nhất trong thập niên 1930–1940, không những đã đấu tranh cho dân chủ, đòi độc lập với Pháp mà còn giáo dục dân tộc Việt Nam về dân chủ một cách sâu sắc và toàn diện.

C- “Nhân Văn Giai Phẩm” và Dân chủ:

Sau 1954, Nguyễn Hữu Đang đặt trọng tâm tranh đấu tự do dân chủ trên báo “Nhân Văn”. Trong ba số đầu, ông phỏng vấn ba nhà trí thức danh tiếng, không thuộc nhóm “Nhân Văn”: Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh và Đặng Văn Ngữ về vấn đề mở rộng tự do dân chủ, với hai câu hỏi :
1- Theo ý ông, lúc này giới trí thức nói chung và giới văn nghệ nói riêng, cần phải làm những gì để góp phần thực hiện mở rộng tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu và sáng tác ?
2- Theo ý ông và trên cơ sở nhu cầu phát triển của ngành ông thì chúng ta cần phải đem ra thảo luận rộng rãi những vấn đề gì ?

Trả lời hai câu hỏi này, Nguyễn Mạnh Tường đưa ra hai nguyên do thiếu dân chủ: Đảng viên và cán bộ thiếu tinh thần dân chủ và quần chúng chưa thấm nhuần tinh thần dân chủ. Sở dĩ như thế là vì trong kháng chiến, mọi cố gắng phải dồn vào chiến tranh, “quần chúng nghĩ rằng chưa phải lúc đòi hỏi các tự do dân chủ”. Nhưng khi hòa bình rồi, thì vấn đề đòi hỏi tự do dân chủ phải là tất yếu. Riêng ngành Đại học cần hai nguyên tắc dân chủ: “Tác phong của cấp lãnh đạo phải thật sự dân chủ”“việc lựa chọn cán bộ phải dựa vào tiêu chuẩn chuyên môn là chính”.
Đặng Văn Ngữ trả lời : “Dưới một chế độ độc tài không ai dám chỉ trích chính phủ thì còn đâu mà thấy khuyết điểm về tự do dân chủ ?”
Và ông xác định nhiệm vụ của người trí thức : “Trong việc xây dựng tư tưởng tự do và dân chủ, nhiệm vụ chính phải là của trí thức”.
Nhưng ông cũng nhận thấy sự “thiếu tự do tư tưởng, thiếu dũng cảm” của người trí thức :

“Trí thức ở một cương vị thuận lợi và có đủ nhận thức để nhận thấy lãnh đạo có sai lầm, và thực tế là trí thức của ta đã nhận thấy từ lâu một số sai lầm của lãnh đạo. Nhưng trí thức của ta đã thiếu tự do tư tưởng, thiếu dũng cảm nên không dám phê bình xây dựng”.

Đặng Văn Ngữ kết luận : “Để phát triển bất kỳ một ngành nào, vấn đề cần phải đưa ra thảo luận là vấn đề tự do dân chủ”.

(Bác sĩ Đặng Văn Ngữ, nhà trí thức dân chủ)

Đào Duy Anh trả lời :

Những kẻ thù của tự do, người ta đều biết cả. Đó là những tệ nạn quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán, bè phái, những bệnh giáo điều, công thức, sùng bái cá nhân, ngang nhiên trong công tác lãnh đạo văn nghệ và học thuật và cả giới trí thức nữa. Muốn thực hiện tự do dân chủ, thì “giới trí thức là những người thiết tha nhất đối với các thứ tự do ấy chỉ có một cách là đấu tranh. Đấu tranh trong công tác chuyên môn, đấu tranh trong hoạt động xã hội. Đấu tranh bằng hoạt động phê bình, phản phê bình, tự phê bình.

Sự đấu tranh của trí thức không thể là đấu tranh chung chung mà phải có mục đích thực tiễn ở mỗi ngành. Đào Duy Anh viết : “Không ai ngăn cấm anh tự do nghiên cứu, sáng tác, nhưng nếu anh không có phương tiện nghiên cứu sáng tác thì thực tế anh chẳng có quyền đâu. Không ai ngăn cấm anh tự do ngôn luận, nhưng nếu anh không có phương tiện để in sách báo thì thực tế anh cũng chẳng có quyền đâu”.

Nói cụ thể, ví dụ như trong ngành xuất bản, thì phải tranh đấu “cho tư nhân xuất bản dễ dàng, giúp đỡ việc phát hành, cho phương tiện thuận tiện để sáng tác và nghiên cứu, săn sóc sự xuất bản rộng rãi các tác phẩm văn nghệ và đặc biệt chú ý xuất bản những tác phẩm nghiên cứu khoa học.” Trong Đại học phải tranh đấu để Đại học trở thành “một trung tâm nghiên cứu khoa học cao độ” nghĩa là phải đặt tiêu chuẩn chuyên môn lên trên tiêu chuẩn chính trị trong việc lựa chọn chuyên viên.
Trên “Giai phẩm Mùa thu”, tập III, ra ngày 30/10/56, trong bài “Muốn phát triển học thuật”, Đào Duy Anh nêu hai căn bệnh nặng nhất trong học thuật là bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân :

“Ở nước ta thì bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân lại còn trầm trọng hơn, khiến người ta, vô luận bàn về vấn đề gì, cũng đều phải bắt đầu dẫn những đề án của Mác-Ăng-ghen và Lê-nin, hoặc những ý kiến của Sta-lin hay các lãnh tụ khác, để, hoặc phát triển thêm những ý kiến ấy, hoặc gò bó tài liệu, xoay sở thế nào để gán vào khuôn khổ của những công thức rút ra tự những ý kiến ấy (…) Bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân lại dẫn thẳng đến cái tệ tư tưởng độc tôn: hễ thấy ai có ý kiến gì vượt ra ngoài những công thức cũ, những khuôn khổ sẵn có thì người ta chụp ngay cho những cái mũ dễ sợ, như cái danh hiệu cải biến chủ nghĩa chẳng hạn, những mũ như thế rất dễ bịt mồm bịt miệng người ta.
Tư tưởng không tự do thì không thể tự do thảo luận được. Mặc dầu không ai cấm tranh luận — các nhà lãnh đạo vẫn thường nói nên mở rộng tranh luận nhưng trong thực tế thì sự thảo luận đã bị thủ tiêu từ gốc rồi. Nghiên cứu hay nghị luận một vấn đề gì, nhiều người chỉ nơm nớp sợ không khéo thì chệch ra ngoài đường lối tư tưởng chính thống độc tôn. Đối với những người ấy, công tác học thuật trở thành trò xiếc leo dây. Con đường học thuật phải là con đường cái thênh thang mọi người tự do đi lại, chứ không phải sợi dây căng của người làm xiếc. Phải trừ bỏ những bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân để trả lại tự do cho học thuật”.

(Giáo sư Đào Duy Anh, một ngời có tư tưởng dân chủ nêu hai căn bệnh
nặng nhất trong học thuật là bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân)

Trên “Giai phẩm Mùa thu”, tập I, ra ngày 30/8/56, bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” đi tiên phong như ngọn đuốc dẫn đường, Phan Khôi “hỏi tội” lãnh đạo. Ngoài ra, còn có truyện ngắn “Tiếng sáo Tiền kiếp” của Trần Duy, một trong những truyện ngắn hay nhất thời NVGP, nói lên sự bất lực của chính sách tẩy não: không ai có thể tịch thu quá khứ con người. “Bức thư gởi một người bạn cũ” của Trần Lê Văn mô tả một chân dung bồi bút. Bài thơ “Tỉnh giấc Chiêm bao” của Nguyễn Bính thuật lại sự thức tỉnh của một nghệ sĩ sau 9 năm theo cách mạng.
Trên “Nhân Văn” số 1 ra ngày 30/9/56, “Nhân câu chuyện mấy người tự tử” của Lê Đạt là một bài xã luận bằng thơ đả phá chế độ công an trị. Bài “Con người Trần Dần” của Hoàng Cầm kể lại bi kịch của một nhà thơ trẻ, chỉ in có một bài thơ trên báo với nội dung yêu nước, mà bị bắt đi trong một bối cảnh tăm tối, không biết bị giam giữ ở đâu, có thể bị thủ tiêu; đó là một bản cáo trạng thống thiết về tình trạng bắt bớ giam người trái phép, vô luật pháp. Tranh Nguyễn Sáng khắc lại hậu quả của sự khủng bố trên con người Trần Dần.
“Giai phẩm Mùa thu”, tập II, ra cùng ngày với “Nhân Văn” số 1, có các bài: “Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ” của Trương Tửu, “Ông Bình Vôi” của Phan Khôi, “Những người khổng lồ” của Trần Duy, thơ “Cái chổi”chống tham ô lãng phí— của Phùng Quán, “Cũng những thằng nịnh hót” của Hữu Loan, “Em bé lên sáu tuổi” của Hoàng Cầm, “Cuốn sổ tay” của Lê Đại Thanh,… Đây là số báo mạnh mẽ nhất từ trước đến giờ về mặt chống đối chế độ.
Trên “Nhân Văn” số 3 ra ngày 15/10/1956, Trần Đức Thảo trong bài “Nỗ lực phát triển dân chủ”, nhấn mạnh đến sự tự do của người trí thức: “Người trí thức hoạt động văn hóa, cần tự do như khí trời để thở. Có tự do mới đẩy mạnh được sáng tác văn nghệ, nghiên cứu khoa học, cải tiến kỹ thuật. Phát triển tự do là nhu cầu thiết thân đồng thời cũng là nhiệm vụ số 1 của người trí thức cũng như của toàn dân”.
Trên “Nhân Văn” số 4, ra ngày 5/11/1956, Nguyễn Hữu Đang viết bài “Cần phải chính quy hơn nữa”, đặt vần đề xây dựng một nhà nước pháp trị. Phùng Cung trong “Con ngựa già của chúa Trịnh” dùng hình ảnh con ngựa già để chỉ những văn nghệ sĩ phục vụ đảng cũng giống như con ngựa của nhà Chúa, quen thói tôi đòi, vinh thân phì gia, mất hết mọi khả năng sáng tạo. Văn Cao trong “Những ngày báo hiệu mùa xuân”, lại một lần nữa chỉ bọn nịnh thần mà mắng.
“Nhân Văn” số 5, ra ngày 20/11/1956, trong bài “Hiến pháp Việt Nam 1946 và Hiến pháp Trung Hoa bảo đảm tự do dân chủ thế nào ?” Nguyễn Hữu Đang nhắc lại điều 10 của Hiến pháp 1946: Công dân Việt Nam có quyền Tự do ngôn luận – Tự do xuất bản – Tự do tổ chức hội họp – Tự do cư trú, đi lại trong nước và ngoài nước và điều 11: Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam. Nhà ở và thư từ của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật. Trong “Bài học Ba-Lan và Hun-ga-ri” ký tên Người Quan Sát, Lê Đạt cảnh báo: “Nếu muốn tránh một biến cố như biến động Ba Lan thì Đảng phải: ‘cương quyết và mạnh bạo sửa chữa những sai lầm kịp thời và đúng mức, cụ thể là nâng cao đời sống của nhân dân, mở rộng tự do dân chủ’.
Ngày 30/10/56, luật sư Nguyễn Mạnh Tường nổ quả “bom” ngoài luồng “Nhân Văn”, với bài diễn thuyết “Qua những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất xây dựng quan điểm lãnh đạo”, nói trước Mặt trận Tổ quốc.
Sau đây là những bài viết quan trọng của trí thức trong thời kỳ NVGP.

a- Phan Khôi: “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”:
Lê Đạt tuyên bố: “Mặc dầu Phan Khôi không lãnh đạo trực tiếp tờ ‘Nhân Văn‘, nhưng trong thâm tâm tôi, bao giờ tôi cũng coi ông là người lãnh đạo tờ ‘Nhân Văn’ ”[8]. Lê Đạt nói lên ý kiến chung của những ai đã đọc các bài Phan Khôi viết trong thời kỳ NVGP, đã thấy sự can trường của người đứng ra lãnh trọng trách chủ nhiệm một tờ báo đòi tự do dân chủ, đối lập với chính quyền Cộng sản. Trong thời kỳ NVGP, Phan Khôi có hai bài viết chính: bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”[9]và truyện ngắn “Ông Bình Vôi”[10].
“Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, là một trong những tác phẩm chủ chốt của phong trào NVGP, nhắm vào ba vấn đề thời sự văn học đương thời, nhưng vẫn còn là thời sự văn học hôm nay: Vấn đề tự do của văn nghệ sĩ. Vụ đàn áp “Giai phẩm Mùa xuân”. Và vụ giải thưởng văn học 1954–1955. Với ngòi bút sắc sảo, tác phong “ngự sử văn đàn”, Phan Khôi vạch trần những tác hại của đám quan trường nhất phẩm triều đình: Ông chỉ trích Trường Chinh ăn nói bừa bãi, chất vấn gắt gao; Tố Hữu, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, những người tổ chức và thi hành việc đánh Trần Dần. Phan Khôi tách bạch hai giai cấp: Lãnh đạo văn nghệ và Quần chúng văn nghệ và ông phê phán ba vấn đề thực tiễn :
1/ Vấn đề tự do của văn nghệ sĩ: Sau khi đưa ra những dẫn chứng cụ thể về việc lãnh đạo nghiệt ngã bắt bẻ nhà văn phải viết theo đúng đường lối của Đảng, Phan Khôi hỏi thẳng lãnh đạo: chính trị muốn đạt đến cái mục đích của nó thì cứ việc dùng khẩu hiệu, biểu ngữ, thông tri, chỉ thị, không được hay sao mà phải dùng đến văn nghệ sĩ ? Rồi ông buộc tội: “Lãnh đạo đã xâm phạm mỗi ngày một hơn vào quyền riêng nghệ thuật của văn nghệ sĩ.”
2/ Về vụ “Giai phẩm Mùa xuân”: Chất vấn ban chủ tọa Hội Văn nghệ về việc tổ chức hội họp đánh Trần Dần, Phan Khôi hỏi :

“Hội Văn nghệ khai hội từ 7 giờ tối đến 1 giờ sáng để phê bình bài thơ Trần Dần, mà kỳ thực là hỏi tội Trần Dần, một mầm non văn nghệ. Hỏi độc tội một Trần Dần thôi là cái ngón chính trị tài tình lắm đấy, để cô lập Trần Dần và phân hóa lũ người trong “Giai Phẩm”, cái ngón ấy đã thành công.
Tôi nhớ có một vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ “Người” viết hoa. Lấy lẽ rằng chữ “Người” viết hoa lâu nay chỉ để xưng Hồ Chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ “Người” không phải để xưng Hồ Chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như ở trong chiêm bao, chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê Mỗ tố cáo ông Nguyễn Mỗ trước ngai vàng, rằng trong phép viết, chỉ có chữ nào thuộc về hoàng thượng mới phải đài[11] thế mà tên Nguyễn Mỗ viết thư cho bạn, dám đài chữ không phải thuộc về hoàng thượng. Nhưng may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình đang ngồi trong phòng họp Hội Văn nghệ”.

Những lời trên đây, tưởng Phan Khôi nói với đám nhất phẩm, nhưng không, đó là những lời ném thẳng vào bệ rồng. Ông không thèm hỏi tội bày tôi nữa, mà đi ngược lên trên, đến manh mối sau cùng, tới lãnh tụ tối cao, qua những chữ: Người, sân rồng, Hoàng thượng, ngai vàng, để xác định: Sự sùng bài lãnh tụ phải đến từ chính lãnh tụ. Nếu lãnh tụ không muốn được tôn sùng, nếu lãnh tụ ưa sự bình đẳng, dân chủ, thì kẻ dưới quyền không thể xu nịnh tâng bốc được. Trước Phan Khôi và sau Phan Khôi, chưa có nhà văn nào dám mạnh mẽ trực tiếp phê bình Hồ Chí Minh như thế.
3/ Về giải thưởng văn học năm 54–55: ba tác phẩm “Mưa sao” của Xuân Diệu, “Truyện anh Lục” của Nguyễn Huy Tưởng và “Nam Bộ mến yêu” của Hoài Thanh đều chiếm giải. Phan Khôi phê bình :

“Cả ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong ban Chung khảo. Nếu ở trong ban Chung khảo mà thôi còn khá, thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở ban Sơ khảo nữa, sao lại có thể như thế ? Trường thi phong kiến xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn sạch tiếng: Một người nào có con em đi thi, thì người ấy có được cắt cử cũng phải “hồi tỵ”, không được chấm trường. Bây giờ đến cả chính mình đi thi mà cũng không “hồi tỵ”: một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái “miệng” đã bị “vú lấp”.

Qua việc trao giải thưởng văn nghệ, Phan Khôi mỉa mai sự gian dối, ám muội trong các địa hạt khác ở “thời đại Hồ Chí Minh”, nói rằng đã đổi mới rồi, mà sao con người lại “thanh liêm” kiểu ấy, bởi “mọi cái miệng đã bị vú lấp mất rồi”. Về việc Hồ Chí Minh viết “truyện mẫu” cho nhà văn viết theo, Phan Khôi bảo : “Nhược bằng bắt mọi người viết phải viết theo một lối với mình, thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết”. Về việc Đảng dạy dỗ các nhà thơ nhà văn sáng tác theo chỉ thị, Phan Khôi bảo : “Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu !”
Những lời khẳng khái của Phan Khôi trong thời kỳ NVGP đã trở thành biểu tượng của tinh thần bất khuất Phan Khôi trước mọi áp lực tư tưởng. Bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” là văn bản “hỏi tội triều đình” trực tiếp và gay gắt nhất, cho đến nay chưa một trí thức nào dám làm.
Văn bản này sẽ mãi mãi trụ lại như bài văn tiêu biểu cho sự can trường của một nhà trí thức trong thế kỷ XX, đương đầu với sự độc tài của một thể chế, không khác gì bài sớ dâng vua trảm tấu bọn gian thần thời phong kiến.
Chính văn bản này đã khiến giới cầm bút nhìn thấy ở Phan Khôi một nhà lãnh đạo văn nghệ đích thực, và những trí thức khác như Trương Tửu, theo gương Phan Khôi dứt khoát bước vào diễn đàn NVGP.

(Phan Khôi và “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”)

b- Trương Tửu: Bệnh sùng bái cá nhân
trong giới lãnh đạo văn nghệ
:

Trương Tửu bước vào diễn đàn với lập luận chặt chẽ và đanh thép của nhà phê bình, ông viết hai bài quan trọng về tự do tư tưởng: “Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ”[12]“Văn nghệ và chính trị”[13] với phần hai là “Tự do tư tưởng của văn nghệ sĩ và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Bôn-sê-vích”[14].
Hai bài viết này xác định Trương Tửu là một trong những người lãnh đạo tư tưởng của phong trào NVGP.
“Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ”, tường thuật lịch sử đấu tranh dân chủ của văn nghệ sĩ trong kháng chiến. Trương Tửu đi vào thẳng vấn đề: “Tôi viết bài này, nối gót nhà văn lão thành dũng cảm Phan Khôi, góp ý kiến phê bình lãnh đạo văn nghệ, đặc biệt sự sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ”.
Ông xác định bệnh sùng bái cá nhân là bệnh của lãnh đạo văn nghệ :

Sùng bái cá nhân là một bệnh phổ biến trong giới lãnh đạo văn nghệ (…) Tôi không nói đó là bệnh của văn nghệ sĩ; vì rằng, hôm qua cũng như hôm nay, người văn nghệ sĩ tự trọng không bao giờ thừa nhận sự sùng bái cá nhân. Nghệ thuật là sáng tạo, là tự do. Sùng bái cá nhân là phục tùng mù quáng, là nô lệ. Hai thứ đó như nước với lửa; có cái này thì không có cái kia được”.

Rồi ông dẫn chứng những cử chỉ, thái độ sùng bái cá nhân của các lãnh đạo văn nghệ, từ Lưu Trọng Lư đến Tố Hữu, mà theo ông, đó là những kẻ có tâm lý “bảo hoàng hơn vua”, “ở cửa miệng họ, bao giờ ta cũng bắt gặp cái điệp khúc bất di bất dịch này: Đảng không bao giờ sai lầm. Rồi từ chỗ nói: Đảng không bao giờ sai lầm, họ tiến đến chỗ nói: các cá nhân lãnh đạo Đảng không bao giờ sai lầm.
Họ sùng bái cá nhân để làm gì ? Trương Tửu trả lời:

Họ sùng bái một người (cấp trên) để vạn người (cấp dưới) sợ cá nhân họ. Nhờ phương châm ấy, họ bám vào gót giầy cấp ủy ban này, cấp ủy ban khác, leo dần lên thang danh lợi, oai quyền hống hách, đàn áp cấp dưới, khinh miệt quần chúng, báo cáo lên trên thì xuyên tạc sự thực có dụng ý, lãnh đạo anh em thì mệnh lệnh độc tài. Họ sùng bái cá nhân là để trục lợi. Họ chỉ có thể tiến thân bằng đường lối ấy.”

Nhưng vẫn có những nghệ sĩ như Tô Ngọc Vân, Sĩ Ngọc :

“Ai cũng còn nhớ, năm 1948, cố hoạ sĩ Tô Ngọc Vân đã tranh luận khá gay gắt với ông Trường Chinh về vấn đề: quần chúng phê bình nghệ thuật. Ngòi bút tranh luận của Tô Ngọc Vân chứng tỏ một khối óc độc lập, một tâm hồn có cá tính không vì uy quyền của lãnh tụ này hay lãnh tụ khác mà thủ tiêu ý kiến riêng của mình”.

Vẫn 1948, trong một buổi nói chuyện khác ở Thanh Hóa có đoạn ông Trường Chinh lớn tiếng mạt sát họa phái lập thể chủ nghĩa (của Picasso). Ông cho họa phái ấy (…) chỉ là những cái nấm độc mọc trên trạng thái thối tha của chế độ tư bản chủ nghĩa ở Âu châu đầu thế kỷ 20. Sau buổi nói chuyện này, hoạ sĩ Sỹ Ngọc đã viết một bài nói về chủ nghĩa lập thể trong tạp chí “Sáng Tạo” số 4 để gián tiếp bác ý kiến của ông Trường Chinh.
Trương Tửu xác định lại nhiệm vụ của văn nghệ sĩ trong cách mạng kháng chiến :

“Người văn nghệ sĩ kháng chiến đi tìm chân lý, đi tìm chính nghĩa, đi tìm tự do (…) họ không thể sùng bái bất cứ cá nhân nào, không thể thừa nhận bất cứ uy quyền độc đoán nào, chống lại bất cứ sức áp chế tư tưởng nào.
Còn lãnh đạo văn nghệ: giống như bọn thầy bùa phong kiến, các nhà lãnh đạo văn nghệ của chúng ta muốn “yểm” tất cả các tâm hồn cứng rắn và tự do cho đến trở thành những hòn đất thó “tròn méo mặc dầu tay kẻ nặn”. Những lá bùa của họ chế tạo ra kể cũng đã khá nhiều: mất lập trường, phạm chính sách, phá đoàn kết, phá tổ chức, vô kỷ luật, chống Đảng, địch lợi dụng, có vấn đề, bất mãn cá nhân, óc địa vị, v.v… còn gì nữa ?”

Sự đe nẹt của lãnh đạo văn nghệ đã ảnh hưởng đến một số người : “Và phải nói ngay rằng ngần ấy lá bùa yểm cũng đã linh nghiệm ít nhiều. Một số văn nghệ sĩ non gan (…) biến thành những tên thư lại văn nghệ xu nịnh trục lợi”.
Nhưng không phải ai cũng chịu khuất phục : “Còn một số không khuất phục, kịch liệt phê phán tác phong và đường lối lãnh đạo của thường vụ Hội thì bị chụp mũ, bị chèn ép, bị “trù”, bị hành hạ, bị gạt sang một bên”.
Tình trạng trù dập, chụp mũ này, dẫn đến hậu quả :

Cuộc đấu tranh âm ỷ dai dẳng chống lãnh đạo độc đoán, quan liêu, bè phái, trong những năm cuối kháng chiến, khi hoà bình trở lại, đã bùng nổ. Khởi điểm là ở trong Phòng Văn nghệ Quân đội. Trần Dần, Phùng Quán, Trần Công, Tử Phác, Hoàng Cầm (…) yêu cầu trao trả quyền điều khiển văn nghệ cho văn nghệ sĩ, yêu cầu tự do trong sáng tác và sinh hoạt văn nghệ. (…) Điểm cuối cùng của nó là lớp học tập lý luận văn nghệ tháng Tám vừa qua ở trụ sở Hội Văn nghệ. Suốt mười tám ngày, anh em văn nghệ sĩ trong Đảng cũng như ngoài Đảng đã đứng dậy đồng thanh tố cáo những hành động và thái độ độc tài, bè phái của ban lãnh đạo văn nghệ”.

Sau khi tóm tắt tình hình toàn bộ đời sống văn nghệ từ kháng chiến đến lớp học tập dân chủ 18 ngày, Trương Tửu kêu gọi :

“Đã đến lúc phải sa thải những “nhà lãnh đạo” thiếu tư cách mà quần chúng tuyệt đối không tin tưởng nữa để quần chúng văn nghệ tự tay mình điều khiển công việc chuyên môn của mình một cách thực sự dân chủ”.
“Đã đến lúc phải thanh toán lối đàn áp tự do tư tưởng, khinh miệt quần chúng, mệnh lệnh, độc đoán, bè phái chủ nghĩa do bệnh sùng bái cá nhân đẻ ra, để mở đường cho trăm hoa đua nở, trăm nhà đua nói”.
Và đây là nguyện vọng của văn nghệ sĩ:
“Họ muốn tiêu diệt bệnh sùng bái cá nhân trong việc lãnh đạo văn nghệ đã cản trở sức phát triển nghệ thuật”.
“Họ muốn chấm dứt lề lối mệnh lệnh, độc đoán, quan liêu, bè phái, chụp mũ, trong sự lãnh đạo văn nghệ, giành lại quyền tự do tư tưởng bị chà đạp bấy lâu nay; vì thiếu tự do tư tưởng thì nghệ thuật sẽ co quắp, mòn mỏi như cụm hoa thiếu ánh sáng mặt trời”.
“Họ muốn công việc lãnh đạo văn nghệ phải trả lại cho những văn nghệ sĩ – bất kể trong Đảng hay ngoài Đảng – được quần chúng văn nghệ tự ý lựa chọn và tín nhiệm”.

Bài “Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ” trên “Giai phẩm Mùa thu”, tập II, xác định đường lối quyết liệt đòi dân chủ của nhóm NVGP, Trương Tửu tố cáo toàn diện bộ mặt lãnh đạo văn nghệ, và qua đó ông phê phán bộ mặt lãnh đạo nói chung.
Trong bài “Văn nghệ và chính trị”, trên “Giai phẩm Mùa thu”, tập III,ông đi sâu vào vấn đề tự do sáng tạo.

(Nhà phê bình Trương Tửu và hình bìa “Giai phẩm Mùa thu”
tập II ra ngày 30/09/1956 với bài “Bệnh sùng bái cá nhân
trong giới lãnh đạo văn nghệ” của chính tác giả trong đó)

c- Văn nghệ và chính trị:
Đối diện với Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, những người có tư tưởng quốc gia, triệt để chống lại quan niệm Đấu tranh Giai cấp của Cộng sản, Trương Tửu là người Cộng sản đệ tứ, đứng trên quan niệm Đấu tranh Giai cấp để đòi hỏi tự do dân chủ. Trước tiên, ông xác định quan hệ mật thiết giữa chính trị và văn nghệ :

“Văn nghệ, tự thân nó, tất yếu phải mang chính trị tính và có tác dụng chính trị vì Văn nghệ, căn bản, là một thể cách nhận thức và tái tạo thế giới thực tại, một thể cách biến cải xã hội, biến cải con người bằng đường lối thẩm mỹ. Cho nên, người nghệ sĩ khi sáng tác bắt buộc phải “dấn thân”, nhưng sự dấn thân ở đây có tính cách “Đấu tranh Giai cấp”, ông viết : “Sáng tác văn nghệ là tự xác định một thái độ, một lập trường đối với cuộc Đấu tranh Giai cấp đương thời”.”

Đồng ý hay không đồng ý với quan niệm Đấu tranh Giai cấp của Trương Tửu, nhưng không ai có thể phủ nhận tính thuyết phục trong bài viết của ông. Vẫn đứng trên quan niệm Đấu tranh Giai cấp, chống lại các chế độ người bóc lột người, ông viết về thời cổ điển: “Lịch sử văn nghệ căn bản là lịch sử chiến đấu của những văn nghệ sĩ nhân đạo chủ nghĩa đối kháng với chế độ áp bức con người, bảo vệ quyền tự do tư tưởng, tự do nói sự thực trong tác phẩm”. Mà sự thực là điều mà các chế độ độc tài ghê sợ nhất tuy nhiên các văn nghệ sĩ cổ điển đã không ngại chiến đấu cho sự thực trong tác phẩm của mình :

“Đó cũng là thái độ của tất cả những văn nghệ sĩ cổ điển Đông và Tây –của những Đỗ Phủ, Nguyễn Du, Molière, Heine, Rousseau, Diderot v.v… Họ dũng cảm bảo vệ tự do tư tưởng, tự do nói thực đến kỳ cùng trước sức tấn công hiểm độc của các giai cấp bóc lột (…) Thiếu chân lý đó, không thể có tác phẩm nghệ thuật thực sự quan trọng được (…) Muốn sáng tạo ra một thế giới độc đáo, văn nghệ sĩ phải có một cái nhìn độc đáo, một nhận thức độc đáo về thực tại, một trí tưởng tượng độc đáo, một lối nói độc đáo. (…) Phải tự do nhìn sự thực, tự do xúc cảm, tự do suy nghĩ, tự do tưởng tượng, tự do vận dụng ngôn ngữ nghệ thuật– để có thể phản ánh hiện thực một cách trung thành. Tự do đây có nghĩa là: chống lại mọi áp bức tư tưởng, mọi mệnh lệnh, mọi công thức, mọi quyền uy bắt mình nói điều mình không muốn nói, nghĩ điều mình không muốn nghĩ, nhận là đúng điều mình cho là sai, yêu những cái mà mình ghét, ca tụng những cái mà mình phản đối. Không có tự do ấy, sự sáng tác của văn nghệ sĩ sẽ giả tạo. Giả tạo là kẻ thù của nghệ thuật. Giả tạo là tiêu diệt nghệ thuật. Một tác phẩm văn nghệ không tiết ra từ những cảm nghĩ thành thực và sâu sắc của chính tâm hồn tác giả sẽ là một phản ảnh nhạt nhẽo của thực tại. Nó khô khẳng vì thiếu chất sống. Nó bất thành nghệ thuật, và do đó, chẳng xúc động được ai cả.”

Trương Tửu đã viết những lời kêu gọi và biện hộ tha thiết cho sự tự do của văn nghệ sĩ. Ông kêu gọi người nghệ sĩ phải có can đảm là mình trong những điều kiện xã hội bắt họ không được là mình. Phải tự do nhìn, cảm, nghĩ, nói theo chủ định cá nhân của mình,trong những điều kiện xã hội buộc họ phải nhìn, cảm, nghĩ, nói theo những công thức thống trị.
Trương Tửu kết luận : “Người văn nghệ sĩ sống bằng tự do tư tưởng. Tự do tư tưởng của văn nghệ sĩ là bất khả xâm đoạt. Không có tự do tư tưởng thì không thể có nghệ thuật chân chính được. Đó là một chân lý bất di bất dịch”.
“Văn nghệ và chính trị” là bài viết đấu tranh cho tự do tư tưởng hay nhất và mạnh mẽ nhất trong thời kỳ NVGP, xác định Trương Tửu là nhà phê bình văn học duy nhất dám đứng lên chống lại sự độc tài đảng trị, trong khi Vũ Ngọc Phan im lặng, Hoài Thanh trở thành bồi bút cho Đảng.

d- Lê Đạt: “Nhân câu chuyện mấy người tự tử”:
Lê Đạt trên “Nhân Văn” số 1 ngày 20/9/56, mượn câu chuyện thời sự trên báo: một đôi tình nhân tự tử, để gợi lại chuyện riêng của mình –Lê Đạt yêu Thúy Thúy, một nghệ sĩ sân khấu và ly dị người vợ cốt cán, nên bị cấp trên khiển trách– cũng là chuyện tình duyên bị đảng áp chế của những Trần Dần, Hoàng Cầm, Tử Phác, Đặng Đình Hưng… Bài thơ vượt trên bi kịch cá nhân, để tố cáo sự độc tài đảng trị kiểm soát đến cả tim người:
Chế độ ta không cấm họ yêu nhau
Mà sao họ chết ?
Người công an đứng ngã tư đường phố
Chỉ huy
bên trái
bên phải
xe chạy
xe dừng
Rất cần cho việc giao thông.
Nhưng đem bục công an
máy móc
đặt giữa tim người
Bắt tình cảm ngược xuôi
theo đúng luật đi đường nhà nước
Có thể gây rất nhiều chua xót
ngoài đời

Từ bi kịch đôi tình nhân, Lê Đạt nhìn lại mình, bấy lâu ngủ quên trong chế độ :
Thơ tôi bị cuộc đời ruồng bỏ
Vì tôi đã ngủ quên trong chế độ
Vẽ phấn bôi son, tô toàn màu đỏ
La liệt đầy đường hoa nở
chim kêu (…)
Giữa năm Cộng hoà lớn khôn mười một tuổi
Vẫn còn lọt lưới
nhiều thói “an nam”
Dán nhãn hiệu
“Made in Cách mạng”
Ngang nhiên xúc phạm con người
Đẩy họ đi tự tử

Nay bừng tỉnh, nhà thơ kêu gọi mọi người, hãy “quét sạch mây đen”, “chặt hết gông xiềng” :
Phải quét sạch mây đen
cho chân trời rộng mở
Chặt hết gông xiềng
cho những cánh tung lên
Ngày và đêm
mộng bay đầy cuộc sống
Khát vọng theo khát vọng
Không gì ngăn cản con người

Bài thơ chiếm trọn trang ba của tờ báo, có vị trí một bài xã luận, xác định lập trường chính trị của Lê Đạt và “Nhân Văn”. Hai câu: “Đem bục công an máy móc đặt giữa tim người. Bắt tình cảm ngược xuôi theo đúng luật đi đường nhà nước” đã khắc ghi vào tim người Việt, mọi nơi, mọi thời, bức hình chế độ công an trị rõ nhất, trên đất nước Việt Nam.

(Nhà thơ Lê Đạt và bài thơ nổi tiếng “Nhân câu chuyện mấy người tự tử”
đăng trên báo “Nhân Văn” số 1 vào ngày 20/09/1956)

e- Nguyễn Mạnh Tường: “Qua những sai lầm trong
Cải cách Ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo”
:

Sau Hoàng Đạo dưới thời Pháp thuộc, Nguyễn Mạnh Tường là người dùng lý lẽ luật pháp để phê bình những sai lầm về mọi mặt trong chính sách cai trị của Đảng Cộng sản, chủ yếu qua buổi diễn thuyết “Qua những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo” nói tại Mặt trận Tổ quốc ngày 30/10/1956.
Sau khi nghe Trường Chinh đọc bản tự phê bình của Đảng Lao động về chính sách Cải cách Ruộng đất, với tài hùng biện nổi tiếng, Nguyễn Mạnh Tường đã điễn thuyết trong 6 tiếng trước Mặt trận Tổ quốc.
Bằng giọng mỉa mai, chua xót, Nguyễn Mạnh Tường trả lời Trường Chinh :

“Tôi phấn khởi được nghe bản phê bình của Đảng Lao động do ông Trường Chinh đọc trước Hội nghị. Nhưng tôi cũng phải thú rằng lòng phấn khởi của tôi một phần bị giảm đi, vì tôi nhớ lại kết quả tai hại của các sai lầm đã phạm trong công cuộc Cải cách Ruộng đất. Tôi xin phép các vị được kính cẩn nghiêng mình trước kỷ niệm những người vô tội đã chết oan, không phải vì bàn tay của địch mà chính của ta. (…) Trái lại, các người chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách Ruộng đất này, lúc tắt thở, cay đắng đau xót vì chết với một ô danh”.

Đây là một bài chính luận sâu sắc, nội dung phân tích những sai lầm của chế độ, đi từ sai lầm Cải cách Ruộng đất ở thôn quê, sang sai lầm trong chế độ mậu dịch ở thị thành, tất cả nằm trong bản chất thiếu dân chủ của chế độ. Ông truy nguyên nguồn gốc những sai lầm và trình bày những nguyên tắc mới để sửa sang lại guồng máy luật pháp, chính trị của đất nước. Ông hỏi tội trực tiếp cấp lãnh đạo cao nhất :

“Những người lãnh đạo, có trách nhiệm vụ Cải cách Ruộng đất làm cho bao nhiêu người chết oan, không thể chỉ đứng ra xin lỗi, hoặc nhận là Đảng đã sai lầm, mà xong đâu[15]. Xin lỗi không phải là hành động luật pháp. Giết người rồi, không thể chỉ xin lỗi mà xí xoá được. Trong một nước dân chủ thực sự, thì Quốc hội phải lập một ủy ban điều tra, phải đưa họ ra toà, và toà sẽ phân xử, kết án, tùy theo trách nhiệm nặng nhẹ của mỗi người, từ lãnh đạo cao nhất xuống dưới.”

Đầu tiên hết, ông phân tích tình hình chính trị xã hội Việt Nam, bằng những chất vấn :

“Tình hình nước ta hiện thời ra sao ? Tình hình ấy có bi quan không ?
Về Mậu dịch nửa năm nay, đồng bào ca thán như thế nào, ta đã biết. Nào chèn ép các nhà kinh doanh tư nhân, nào lãng phí bao nghìn triệu trong khi thực hiện chính sách, nào tàn nhẫn với các người bán sức lao động cho mình, nào đưa ra thị trường sữa hư mà không bao giờ nghĩ đến tính mệnh của người ốm, của trẻ sơ sinh, nào tung ra bơ hỏng, thuốc lá mốc, phạm đến sức khỏe của nhân dân, nào bất lực trước hiện tượng vật giá ngày càng lên trong khi nhiệm vụ của mình là phải bình ổn nó. Có thể nói được, suốt ngày đêm không đâu là không có lời oán trách Mậu dịch”.

Sau khi tổng kết tình trạng bi quan về kinh tế, xã hội, Nguyễn Mạnh Tường trở lại vấn đề Cải cách Ruộng đất, ông hỏi :

“Chúng ta đã sai lầm nghiêm trọng trong “Cải cách Ruộng đất”, nhưng bây giờ phải tìm hiểu xem sai ở đâu ? Vì sao mà sai ?
Đường lối cách mạng đề ra là người cày phải có ruộng, trên nguyên tắc điều ấy là đúng, không ai chối cãi. Nhưng khi thi hành chính sách này người ta đã coi thường sinh mạng con người, và vi phạm luật pháp: Khi đưa ra khẩu hiệu “thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch” thì khẩu hiệu này không những quá tả một cách vô lý mà phản lại cách mạng là đằng khác nữa (…) Khẩu hiệu của pháp lý thì khác hẳn: “Thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan”.”

Rồi Nguyễn Mạnh Tường nhắc lại những nguyên tắc cơ bản của pháp lý : “Không phạt các tội đã phạm quá lâu rồi mà bây giờ mới khám phá ra. Chỉ một mình phạm nhân chịu trách nhiệm việc mình làm, không có trách nhiệm chung của vợ con, gia đình. Muốn kết án một người phải có bằng chứng xác đáng. Thủ tục điều tra, xét xử phải bảo đảm quyền lợi của bị tố nhân. Bị tố nhân có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình.
Nhưng những nguyên tắc cơ bản này không được áp dụng trong Cải cách Ruộng đất. Sở dĩ có sai lầm như vậy vì ba nguyên do: Quan điểm ta–địch, thù–bạn mơ hồ. Bất chấp pháp luật. Bất chấp chuyên môn. Vì ta–địch, thù–bạn mơ hồ, cho nên bao nhiêu bi kịch đẫm máu xảy ra, có “những người suốt đời hi sinh cho sự nghiệp cách mạng, rồi bỗng nhiên phải truất quyền, khai trừ ra khỏi Đảng, tống giam, thậm chí có khi bị giết nữa”. Trong cuộc Cải cách Ruộng đất, bao nhiêu “chiến sĩ cách mạng thành tích lộng lẫy” cũng “bị kết án là phản động, cường hào gian ác và, sau khi nhận tội, bị tống giam hay bị hành hình”.
Những cán bộ hành xử như vậy, nếu vì “chủ mưu phá hoại” thì phải đưa ra toà, còn nếu vì điên cuồng thì phải đem đi chữa bệnh thần kinh. Vì chính trị bất chấp pháp luật cho nên, muốn xử tử ai cũng được : “Quyền xử tử người một cách đơn giản như vậy trái với luật pháp”.
Vì bất chấp chuyên môn cho nên :“khi chọn một người vặn lái ô tô, ta không hỏi người ấy có bằng vặn lái và đã vặn lái bao năm, ta chỉ hỏi: ‘Có lập trường không ?’ Kết quả là từ hai năm nay, riêng trong thủ đô Hà Nội, hàng trăm tai nạn xảy ra do các người vặn lái ô tô có lập trường mà không nắm chuyên môn. Khi đưa tới bệnh viện một bệnh nhân cấp cứu, vấn đề mang ra thảo luận trước tiên là: Bệnh nhân thuộc thành phần giai cấp nào ? Chữa cho địa chủ thì “mất lập trường”. Để nó chết mới chứng minh mình có “lập trường giai cấp” (hiện tượng do B.s. Nguyễn Xuân Nguyên đưa ra) (…) Tại sao có những hiện tượng quái gở như vậy ? Là vì chính trị chiếm đóng tất cả các khu vực trong nhận thức của chúng ta làm chúng ta mất cả cái nhân đạo tối thiểu của con người, làm chúng ta khước từ các chân lý”.
Quốc hội thành lập đã mười năm –từ 1946 đến 1956. “Nhưng quyền lập pháp của Quốc hội ở đâu ? Dư luận quần chúng quan niệm rằng Quốc hội chỉ có quyền thông qua các chính sách mà thôi. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, trong Hiến pháp cũng như trong các sắc lệnh, đạo luật, nguyên tắc dân chủ đã được ban bố”. Nhưng trong thực tế: “người dân không có quyền, không có phương tiện nói lên ý kiến của mình, tham gia xây dựng các chính sách của Chính phủ”.

Đề nghị sửa chữa sai lầm do thiếu một chế độ pháp trị chân chính, một chế độ dân chủ thực sự, Nguyễn Mạnh Tường lập luận: “Vì không có một chế độ pháp trị chân chính cho nên mới xảy ra vụ Cải cách Ruộng đất”.
Và sau khi xảy ra rồi, thì :

“Phải lập một ủy ban điều tra gồm các vị đại biểu Quốc hội, Mặt trận, Đảng Lao động với sự cộng tác của các vị thẩm phán cao cấp, giàu kinh nghiệm để lập một hồ sơ theo phương pháp pháp lý đã nhận định, trên quá trình đi từ lãnh đạo qua chỉ đạo đến chỗ thực hiện chính sách, trách nhiệm ở chỗ nào và do những ai phải chịu. Sau khi kết thúc cuộc điều tra, ủy ban ấy sẽ phân tách trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý. Ai chịu trách nhiệm chính trị sẽ trả lời trước Quốc hội biến thành Tòa án Tối cao. Ai chịu trách nhiệm pháp lý sẽ trả lời trước các Tòa án Tư pháp. Dưới con mắt của quần chúng theo dõi xây dựng cuộc điều tra và xét xử, công lý phát huy, không còn ai thắc mắc nữa”.

Làm như thế mới đúng quy tắc của một chế độ dân chủ. Một chế độ thực sự dân chủ “trong đó người dân được làm chủ trên đất nước không những trong hiến pháp, mà cả trong thực tế nữa”. Và ông nhấn mạnh : “Lịch sử các phong trào cách mạng trong hơn một thế kỷ nay, chưa bao giờ, chưa ai có thể ngăn cản được một phong trào quần chúng tranh đấu đòi các tự do dân chủ.
Tóm lại, các nhà trí thức trong NVGP nói với một quần chúng đã quen biết với dân chủ, có ý thức, có trình độ về dân chủ, khác hẳn với lối viết giản dị và giáo khoa của Phan Châu Trinh đầu thế kỷ XX, nói với một quần chúng mới phôi thai về dân chủ. Và cũng khác cách viết khoa học, tự tin và tự hào dân tộc của Hoàng Đạo đối đầu với thực dân Pháp. Như vậy đủ thấy rằng từ đầu đến giữa thế kỷ XX, trong đầu óc người Việt Nam, tự do dân chủ đã có những biến chuyển lớn lao, chứ không hề dậm chân tại chỗ.
Từ khi đảng Cộng sản dập tắt phong trào NVGP, dẹp tan tư tưởng tự do dân chủ, giữ địa vị độc tôn cai trị, coi tất cả những đảng phái đối lập là thù nghịch, là phản động, và nhất là không còn giáo dục học sinh về quyền công dân, quyền con người nữa, thì người Việt mới lại rơi vào vòng u tối, không ý thức được tự do dân chủ là quyền thiết yếu của con người, và chúng ta mới phải nghe những lập luận thoái hóa của những “trí thức” đưong thời, coi sự sùng bái lãnh tụ là “bẩm sinh” là tất yếu; loại trừ quyền tự do dân chủ, như một sản phẩm của phương tây, không phù hợp với Việt Nam.

“Phê bình lãnh đạo văn nghệ” của Phan Khôi, “Văn nghệ và chính trị” của Trương Tửu và “Qua những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo” của Nguyễn Mạnh Tường là ba văn bản quan trọng nhất thời kỳ NVGP, nói lên tinh thần bất khuất của người trí thức dưới chế độ Cộng sản và giải thích tại sao Cộng sản phải tiêu diệt trí thức.

(Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (trái) và Giáo sư Hoàng Xuân Hãn (phải)
tại Paris vào năm 1989. Sau bài phân tích và phê bình về “Cải cách
Ruộng đất”, mặc dù được ban lãnh đạo Cộng sản nhiệt liệt ca ngợi,
nhưng sau đó Luật sư bị trù dập một cách mãnh liệt suốt cuộc đời bởi
chính những người Cộng sản từng vỗ tay hoan hô ông ta)

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]
[16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29]

===========================================

Phụ Chú :
[1] Nhật ký “Trần Dần ghi”, trang 245.
[2] Phan Châu Trinh, “Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa”. Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Dương soạn, nxb Đà Nẵng, 1995, trang 792–818.

[3] Hoàng Đạo, “Vấn đề thuộc địa, Thuộc địa Pháp–Chính sách”, “Ngày Nay” số 80, 10/10/1937.

[4] Hoàng Đạo muốn nói đến Trung và Bắc, vì Nam kỳ là nhượng địa, được hưởng quyền tự do báo chí như ở các thuộc địa của Pháp.

[5] “Thư ngỏ cho ông cựu toàn quyền Varenne”, “Ngày Nay”, số 130, 1/10/38.
[6] Hoàng Đạo, “Vấn đề cần lao, Nô lệ trá hình”, “Ngày Nay”, số 133, 22/10/38.
[7] Hoàng Đạo, “Công dân giáo dục”, “Ngày Nay”, số 160, 6/5/39.
[8] Lê Đạt trả lời phỏng vấn RFI.
[9] “Giai phẩm Mùa thu” tập I,29/8/1956
[10] “Giai phẩm Mùa thu” tập II, 30/9/1956.
[11] “Đài” là tôn xưng. Ngày trước, khi viết chữ Hán, nếu gặp những chữ như: Cung vua, Lăng tẩm, Miếu hiệu vua chúa… thì phải đài chữ, tức là viết cao hơn chữ thường để tỏ ý tôn kính.

[12] “Giai phẩm Mùa thu” tập II, 30/9/56.
[13] “Giai phẩm Mùa thu” tập III, 30/10/56.
[14] “Giai phẩm Mùa đông” tập I, 28/11/56.
[15] Nguyễn Mạnh Tường muốn nói đến việc: Hồ Chí Minh khóc và xin lỗi quốc dân. Võ Nguyên Giáp thay mặt Đảng xác nhận 7 điểm sai lầm trong Cải cách Ruộng đất.

23 thoughts on “Chương 06: Trí thức và dân chủ tại Việt Nam trong thế kỷ XX

  1. Pingback: Mục lục và Lời tựa cho “Nhân Văn Giai Phẩm” và vấn đề Nguyễn Ái Quốc |

  2. Pingback: Chương 29: Nói chuyện với họa sĩ Trần Duy (Hết) |

  3. Pingback: Chương 1: Tìm hiểu phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm” |

  4. Pingback: Chương 02: Lịch trình “Nhân Văn Giai Phẩm” |

  5. Pingback: Chương 03: “Giai phẩm Mùa xuân” |

  6. Pingback: Chương 4: Nguyên nhân Đưa đến cuộc Cách Mạng Mùa Thu của Tư Tưởng |

  7. Pingback: Chương 5: Nội bộ báo “Nhân Văn” |

  8. Pingback: Chương 07: Biện pháp Thanh trừng |

  9. Pingback: Chương 08: Thụy An (1916–1987) |

  10. Pingback: Chương 09: Nguyễn Hữu Đang (1913–2007) |

  11. Pingback: Chương 10: Lê Đạt (1929–2008) |

  12. Pingback: Chương 11: Trần Dần (1926–1997) |

  13. Pingback: Chương 15: Cuộc cách mạng Hiện đại đầu Thế kỷ XX |

  14. Pingback: Chương 16: Nguyễn Tất Thành |

  15. Pingback: Chương 17: Hội Đồng bào Thân ái – Phong trào Ái quốc Đầu tiên tại Pháp |

  16. Pingback: Chương 18: Nguyễn Ái Quốc lai lịch và Văn bản |

  17. Pingback: Chương 19: Khảo sát Văn bản Nguyễn Ái Quốc |

  18. Pingback: Chương 20: Vì sao Phan Châu Trinh phó thác “Đại sự” cho Phan Khôi ? |

  19. Pingback: Chương 22: Vụ án “Nam Phong” |

  20. Pingback: Chương 24: “Une Voix Dans la Nuit” – Cải cách Ruộng đất và Cải tạo Tư sản |

  21. Pingback: Chương 25: “Une Voix Dans la Nuit” – Vấn đề Trí thức và Độc tài Đảng trị |

  22. Pingback: Chương 26: Nói chuyện với Nhà cách mạng Nguyễn Hữu Đang |

  23. Pingback: Chương 28: Nói chuyện với nhà thơ Hoàng Cầm |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s