Phần II : Chương 06–11 (hết) và Phục lục (Cuộc Xét xử Henry Kissinger)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p72

Chương 06: Lời bạt Sau cùng về Chile

Một nguyên tắc hữu dụng ở Washington cho rằng bất kỳ sự tiết lộ muộn nào bởi giới quan chức sẽ chứa tài liệu vốn tồi tệ thậm chí hơn những người yếm thế nghi ngờ. Người ta không cần phải cố gắng và biến đổi điều câu châm ngôn nầy trở thành một luật sắt. Tuy nhiên, vào tháng Chín năm 2000, CIA nôn ra những kết quả của cuộc thẩm tra nội bộ về Chile, vốn đã được yêu cầu về việc đó bởi dự luật sửa đổi Hinchey đối với Đạo luật Quyền hạn Tình báo cho năm tài chánh đó. Và những nhà phê bình và các nhà điều tra cứng rắn nhất bị rút giảm đến kinh ngạc. (Tài liệu được trao cho tôi sau khi tôi đã hoàn thành chương ở trên, và tôi cứ để nó đó hầu duy trì trật tự hiện tại về sự tiết lộ) tôi sao chép lại những dòng đầu chính yếu dưới đây, hầu cũng là bảo tồn lối văn xuôi của riêng Cơ quan Tình báo :

Sự hỗ trợ cho cuộc Đảo chính vào Năm 1970. Theo “Phương hướng II” về chiến lược, CIA tìm cách để xúi giục cuộc đảo chính nhằm ngăn chận ông Allende khỏi nhậm chức sau khi ông ta đã giành được đa số phiếu trong cuộc bầu cử ngày 4 tháng Chín và trước khi, như được đòi hỏi theo hiến pháp bởi vì ông ta đã không giành được phần đại đa số tuyệt đối (i.e. tổng số ghế hoặc số phiếu của một đảng phái phải trên 50 %), Quốc hội Chile tái khẳng định chiến thắng của ông ta. CIA đang làm việc với ba nhóm khác nhau của những người âm mưu. Tất cả ba nhóm làm cho điều đo rõ ràng là bất kỳ cuộc đảo chính nào sẽ đòi hỏi việc bắt cóc vị Tổng Tư lệnh Quân đội, Rene Schneider, vốn là người cảm nhận sâu sắc rằng Hiến pháp yêu cầu rằng Quân đội cho phép ông Allende lên nắm quyền. CIA đồng ý với sự đánh giá đó. Mặc dù CIA cung cấp những vũ khí cho một trong những nhóm, chúng tôi không tìm thấy thông tin nào biểu lộ ý định của những kẻ âm mưu hoặc của CIA là khiến cho vị Tướng bị giết chết. Việc tiếp xúc với một nhóm của những người âm mưu bị dẹp từ trước bởi vì những khuynh hướng thuộc phe cực đoan của nó. CIA đã cung cấp hơi cay, những khẩu súng tiểu liên và đạn dược cho nhóm thứ hai, làm ông ta bị trọng thương trong cuộc tấn công. CIA trước đây đã từng khuyến khích nhóm nầy để tung ra cuộc đảo chính nhưng rút lại sự hỗ trợ trước bốn ngày khi có cuộc tấn công bởi vì, trong sự đánh giá của CIA, nhóm không có thể tiến hành việc đó một cách thành công.

p73

Điều nầy lặp lại một tin vịt cũ theo giả định là phân biệt việc bắt cóc hoặc cưỡng bắt khác việc giết người, và một lần nữa nó nêu ra một câu hỏi gợi sự thích thú : CIA dự định sẽ làm gì với vị Tướng một khi nó đã bắt cóc được ông ta ? (Lưu ý, cũng thế, tính chất thụ động được nghiên cứu bởi đó có bản báo cáo “không tìm thấy thông tin nào biểu lộ ý định của những kẻ âm mưu hoặc của CIA là khiến cho vị Tướng bị giết chết ?” Điều gì sẽ đáp ứng tiêu chuẩn quái lạ nầy ?) Nhưng sau đó chúng tôi tìm hiểu, về băng đảng được cho là ngang ngược vốn thực sự nhận lấy những sự hướng dẫn cho nó một cách nghiêm túc :

Vào tháng 11 năm 1970, một thành viên của nhóm Viaux vốn là người đã tránh được sự bắt bớ, liên lạc lại với Cơ quan và thay mặt cho nhóm, yêu cầu sự tài trợ. Mặc dù Cơ quan không có nghĩa vụ nào đối với nhóm bởi vì nó hành động riêng lẽ, trong nỗ lực để giữ sự tiếp xúc trước đây bí mật, duy trì mối quan hệ tốt đẹp của nhóm, và vì những lý do nhân đạo, một số tiền 35.000 $ đô-la đã được thông qua.

“Những lý do nhân đạo.” Người ta phải thán phục sự sáng tạo hoàn toàn của lời giải thích nầy. Theo giá cả năm 1970, số tiền 35.000 $ ở Chile là một số tiền đáng kể để chi trả. Không phải là loại số tiền mà Trưởng cục Cảnh sát địa phương đã có thể dốc túi chi tiêu cho riêng mình. Người ta muốn biết làm thế nào Ủy ban Bốn mươi và vị Chủ tịch luôn cảnh giác của nó, Henry Kissinger, quyết định rằng cách tốt nhất để tách khỏi một băng đảng được cho là như khẩu pháo bắn bừa (i.e. khó tin tưởng vì tính bạo động) là phải trả cho nó một của cải nhỏ bằng tiền mặt sau khi nó đã nhúng tay vào một vụ giết người đầy máu lạnh.
Cùng một câu hỏi nảy sinh ra trong một hình thức thậm chí gay gắt hơn với sự tiết lộ khác được thực hiện bởi Cơ quan trong chiều hướng của cùng một bản báo cáo. Điều nầy được chạy tít hàng đầu là “Mối quan hệ với ông Contreras.” Manuel Contreras là người đứng đầu quân cảnh mật vụ của ông Pinochet, và trong khả năng đó đã tổ chức cho sự chết chóc, tra tấn, và sự biến mất của vô số người Chile cũng như việc sử dụng vụ gài bom và những kỹ thuật ám sát ở nơi xa xôi như Washington, D.C.
CIA thừa nhận từ trước trong một tài liệu là nó “có những mối quan hệ liên lạc ở Chile với mục đích chính của việc bảo đảm sự trợ giúp trong việc thu thập thông tin tình báo về các mục tiêu bên ngoài. CIA cung cấp những phục vụ trợ giúp nầy trong việc tổ chức nội bộ và việc đào tạo để chiến đấu cho sự lật đổ và sự khủng bố ở nước ngoài, không phải trong việc đấu đá những người chống đối trong nội bộ của chính phủ.”

p74

Đoạn văn xuôi thẳng thừng như thế, được dựa trên sự phân biệt giữa “mối đe dọa bên ngoài” và công việc lộn xộn hơn của kỷ luật độc tài nội bộ, đem lại một câu hỏi –những mối đe dọa bên ngoài là gì ? Chile không có kẻ thù nước ngoài nào, ngoại trừ Argentina, vốn tranh chấp một số quyền đường biển ở kênh Beagle.(14) (Kết quả là, Chile đã giúp bà Thủ tướng Thatcher, Anh Quốc, trong cuộc chiến Falklands năm 1982.) Và ở Argentina, như chúng ta biết, tương tự như thế, CIA tham gia vào việc giúp đỡ chế độ quân sự để tồn tại. Không: trong khi không có những kẻ thù nào bên ngoài để nói đến, chế độ độc tài Pinochet có nhiều, rất nhiều kẻ thù bên ngoài. Họ là những người người Chile đông đảo buộc phải từ bỏ đất nước mình. Một trong những công việc của Manuel Contreras là săn lùng hạ sát họ. Như một báo cáo đưa ra :

Trong suốt khoảng thời gian giữa năm 1974 và 1977, CIA duy trì sự liên lạc với Manuel Contreras, vốn là người sau nầy trở nên tai tiếng vì những hành động vi phạm nhân quyền của ông ta. Cộng đồng chính sách(15) của Chính phủ Hoa Kỳ chập thuận sự liên lạc của CIA với ông Contreras, xem vị thế của ông ta như là người đứng đầu tổ chức tình báo chính ở Chile, như là điều cần thiết để hoàn thành sứ mệnh của CIA, mặc những mối quan tâm mà qua đó mối quan hệ nầy có thể đặt CIA vào hoàn cảnh dễ bị tổn thương đối với những cáo buộc về việc hỗ trợ sự đàn áp nội bộ chính trị.

Sau một ít nhận xét qua lại về sự phân biệt mà không có một sự khác biệt nào (giữa sách lược bên ngoài và “nội bộ”) một báo cáo của CIA nói rõ một cách thẳng thắn :

Đến tháng Tư năm 1975, việc báo cáo của tình báo cho thấy rằng ông Contreras là trở ngại chính đối với một chính sách nhân quyền hợp lý bên trong Hội đồng Quân nhân, nhưng ủy ban liên ngành ra chỉ thị trức tiếp cho CIA tiếp tục mối quan hệ của nó với ông Contreras. Vị Đại sứ Hoa Kỳ tại Chile thúc đẩy Phó Giám đốc Tình báo Trung ương [Tướng Vernon] Walters nhận lấy ông Contreras ở Washington trong những cái lợi của việc duy trì những quan hệ tốt với ông Pinochet. Vào tháng Tám năm 1975, với sự chấp thuận của liên ngành, cuộc họp nầy đã diễn ra.
Vào tháng Năm và tháng Sáu năm 1975, những thành phần bên trong CIA đề nghị việc thành lập một mối quan hệ được trả tiền với ông Contreras để có được thông tin tình báo được giăng mồi trên vị trí độc tôn của ông ta và sự tiếp cận đến ông Pinochet. Đề xuất nầy đã bị bác bỏ, qua việc viện dẫn chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ về những mối quan hệ bí mật với người đứng đầu của một bộ phận tình báo có tai tiếng về những vi phạm nhân quyền. Tuy nhiên, với những thông tin liên lạc không rõ ràng trong việc sắp xếp thời gian cho sự trao đổi nầy, một số tiền trả trong một lần đã được trao cho ông Contreras.

p75

Điều nầy không đòi hỏi quá nhiều sự phân tích câu chữ. Vào một thời gian nào đó sau khi nó đã được kết luận, và bởi CIA vào lúc đó, rằng Manuel Contreras là “một trở ngại chính đối với một chính sách nhân quyền hợp lý,” ông được cho tiền của những Mỹ nộp thuế và nhận được cấp bậc cao ở Washington. Văn bản ghi nhớ của CIA cẩn thận nói rõ rằng, ở nơi mà những nghi ngờ tồn tại, họ được yên lòng bởi “cộng đồng chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ” và bởi “một ủy ban liên ngành.” Nó cũng cố gắng đề nghị, với sự khôi hài vô ý thức, rằng người đứng đầu của cơ quan mật vụ giết người nước ngoài được ban cho một số tiền hối lộ lớn bởi sự sai lầm. Người ta tự hỏi ai là người bị khiển trách cho điều sai lầm ngớ ngẩn nầy, và làm cách nào nó đã vượt qua sự giám sát của Ủy ban Bốn mươi.
Bản báo cáo cũng tự mâu thuẫn với chính nó, cho biết tại một điểm rằng những hoạt động của ông Contreras ở nước ngoài thì không được rõ ràng và tại một điểm khác là :

Trong vòng một năm sau cuộc đảo chính, CIA và những cơ quan khác của Chính phủ Hoa Kỳ nhận biết về sự hợp tác song phương trong số những cơ quan tình báo địa phương nhằm theo dõi các hoạt động của những người chống đối chính trị và, trong ít nhất một ít trường hợp, hạ sát họ. Điều nầy là điềm báo trước về Chiến dịch Kên Kên (Condor) hoạt động, một sự sắp xếp chia sẻ tình báo trong số các quốc gia như Chile, Argentina, Brazil, Paraguay và Uruguay, được thành lập vào năm 1975.

Như thế, bây giờ chúng ta biết : việc quốc tế hóa nguyên tắc của Đội Tử thần đã được biết đến và chấp thuận bởi tình báo Hoa Kỳ và những bậc thầy về chính trị của nó qua hai chính quyền. Người có chức vụ cao có liên quan trong cả chính quyền là Henry Kissinger. “Ủy ban liên ngành” mang ý nghĩa là bất cứ cái gì, và hoặc chính là Ủy ban Bốn mươi, hay Ủy ban Liên ngành về Chile, dấu vết dẫn trở lại cùng một nguồn tài liệu.
Khi rời khỏi Bộ Ngoại giao, ông Kissinger đã thực hiện một cuộc mặc cả bất thường bởi đó (sau khi lần đầu tiên đã vội vã đổi chác chúng cho việc giữ an toàn trên khu nhà Rockefeller tại Pocantico Hill, New York), ông đã tặng những giấy tờ của mình cho Thư viện Quốc hội, trên điều kiện duy nhất là chúng vẫn còn bị niêm phong cho đến sau khi sự qua đời của mình. Tuy nhiên, người bạn của ông Kissinger, Manuel Contreras, đã làm một điều sai lầm khi ông ấy giết chết một công dân Hoa Kỳ, Ronni Karpen Moffitt (phụ tá viên của ông Letelier), trong vụ gài bom trên xe(16) ở Washington mà qua đó cũng đã hạ sát Orlando Letelier (i.e. vị cựu Đại sứ Chile ở Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Allende, đang lưu vong) vào năm 1976. Đến cuối năm 2000, FBI cuối cùng đã tìm kiếm và nhận được quyền lực của trát tòa để xem xét lại những giấy tờ ở Thư viện Quốc hội, một trát tòa mà ông Kissinger phải làm việc chỉ qua những luật sư của mình.

p76

Đó là một sự khởi đầu, nhưng thảm hại khi được so sánh với những nỗ lực của những ủy ban chân lý và công lý ở “Chile, Argentina, Brazil, Paraguay và Uruguay,” những quốc gia có tên ở trên, hiện tại vốn đã xuất hiện từ những năm của chế độ độc tài được kết bạn với ông Kissinger và tìm kiếm cách giải thích đầy đủ. Chúng tôi đang chờ đợi khoảnh khắc khi Quốc hội Hoa Kỳ sẽ mở ra một tiến trình tương tự, và cuối cùng sẽ tuân thủ theo trát tòa thu tập tất cả các tài liệu bị giấu kín vốn che khuất tầm nhìn về những tội phạm chưa bị trừng phạt, được nhúng tay vào trong những tên của chúng tôi.

(Vị cựu Đại sứ Chile ở Hoa Kỳ, Orlando Letelier, đang lưu vong vào
năm 1975, bị ám sát trong vụ gài bom trên xe vào tháng 09/1976)

(Ronni Moffitt, phụ tá viên của Orlando Letelier, ở Viện Nghiên cứu
Chính sách, Washington, D.C., cũng bị thiệt mạng khi đang cùng đi
với người chồng trong xe của ông Letelier, nhưng người chồng sống sót)

(Đài tưởng niệm của ông Letelier and cô Moffitt ở Sheridan Circle,
Washington D.C. với dòng chữ: Công lý–Hòa bình–Phẩm cách)

p77

Chương 07 : Cyprus

Trong tập hai của bộ ba hồi ký của ông ta, vốn có tựa đề là “Years of Upheaval” (“Những năm biến động”), Henry Kissinger tìm thấy chủ đề về thảm họa Cyprus vào năm 1974 quá vụng về đến nổi ông ta quyết định hoãn lại việc suy xét về nó :

Tôi phải bỏ lại việc thảo luận toàn diện về hồi kỳ Cyprus cho một dịp khác, vì nó kéo dài vào trong nhiệm kỳ Tổng thống của ông Ford và những tồn tại di sản của nó chưa được giải quyết đến hôm nay.

Điều nầy lập luận một trạng thái căng thẳng nào đó trên phần của ông ta, nếu chỉ vì những chủ đề về Việt Nam, Cam-pu-chia, Trung Đông, Angola, Chile, Trung Quốc, và Những cuộc Đàm phán Hạn chế Vũ khí Chiến lược (SALT = Strategic Arms Limitation Talks) mà tất cả mang những di sản vốn là “chưa được giải quyết đến hôm nay” và đã chưa được giải quyết sau đó. (Nói rằng những vấn đề nầy “kéo dài vào trong chính quyền Ford” là muốn nói, trong thực thế, không có gì cả ngoại trừ là thời kỳ gián đoạn không tươi sáng nầy giữa hai chính quyền đã thực sự xảy ra, nói theo lịch sử.)
Trong hầu hết cách viết của ông ta về bản thân mình (và, người ta giả định là, trong hầu hết những cách trình bày của ông ta cho những khách hàng của mình) ông Kissinger tuôn ra một ấn tượng mạnh mẽ của một người đàn ông quanh quẩn ở trong nước trong thế giới và ở trên việc kiện tụng của mình. Nhưng có một số lượng những trường hợp khi nó phù hợp với ông ta để ra dáng như là một loại nhân vật Candide(17): ngây ngô, và chuẩn bị yếu kém và dễ dàng bị đánh đổ bởi các sự kiện. Không chút nghi ngờ, bộ tịch màu mè nầy làm ông ta phải trả giá cho một cái gì đó trong quan điểm của lòng tự trọng. Chính là một bộ dạng, hơn thế nữa, mà ông ta thường làm theo một cách chính xác vào lúc khi mà hồ sơ cho thấy là ông ta có nhận thức, và khi sự nhận biết hoặc biết trước sẽ cũng đối mặt ông ta với những buộc tội về trách nhiệm hoặc đồng lõa.

(Tổng thống Gerald Ford và Tổng thư ký Leonid Brezhnev, Liên Xô đang ký
kết bản công bố chung tại cuộc họp Thượng đỉnh Vladivostok, vào ngày
23/11/1974 cho SALT I –Những cuộc Đàm phán Hạn chế Vũ khí Chiến lược I)

(Tổng thống Jimmy Carter and Tổng Thư ký Leonid Brezhnev đang
ký kết hiệp ước SALT II vào ngày 18/06/1979, ở thủ đô Vienna, Ý)

p78

Vấn đề Cyprus vào năm 1974 chỉ là một trường hợp như thế. Ông Kissinger hiện thời lập luận, trong tập ba trì hoãn lâu dài của cuốn hồi ký của mình, “Years of Renewal” (“Những năm Đổi mới”), mà qua đó ông ta bị ngăn chận và phân tâm, do vụ Watergate và sự tan biến của nhiệm kỳ Tổng thống của ông Nixon, từ việc càng lúc quan tâm kịp thời hoặc không theo quy định vào tam giác lực lượng rất quan trọng giữa Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và Cyprus. Đây là một sự phủ nhận kỳ lạ: nhóm chữ “sườn phía nam của NATO” sau đó trở thành một câu nói tầm thường về địa hình chính trị của điều quan trọng đầu tiên, và khoảng cách gần của Cyprus đến Trung Đông là một yếu tố chưa bao giờ mất đi từ tư duy chiến lược của Hoa Kỳ. Không có lý do nào về chính sách trong nước để tránh cho khu vực khỏi hấp dẫn sự chú ý của ông ta. Hơn nữa, chính sự sụp đổ bên trong thẩm quyền của phe Nixon, được dẫn chứng như một lý do cho sự mất trí của riêng ông Kissinger, thật ra, đã ban cho ông ta quyền lực phi thường. Để xác định lại cho rõ ràng một lần nữa : khi ông ta trở thành Bộ trưởng Ngoại giao vào năm 1973, ông ta lo giữ lại chức vụ của mình như là Phụ tá Đặc biệt cho Tổng thống về Vấn đề An ninh Quốc gia hoặc, như chúng ta hiện thời gọi là, Cố vấn An ninh Quốc gia. Điều nầy làm cho ông ta trở thành vị Tổng thư ký đầu tiên và duy nhất nắm giữ để giữ chức Chủ tịch của Ủy ban Bốn mươi ưu tú và bí mật, mà qua đó suy xét và chấp thuận những hành động bí mật của CIA. Trong khi đó, như là vị Chủ tịch của Hội đồng An ninh Quốc gia, ông ta nắm giữ một vị trí nơi mà mỗi kế hoạch tình báo quan trọng phải đi qua bàn làm việc của ông ta. Người phụ tá cho Hội đồng An ninh Quốc gia trước đây của ông ta, Roger Morris, không phóng đại quá nhiều, nếu là có, khi ông ấy nói rằng vị trí kép của ông Kissinger, cộng với danh phận bị xói mòn của ông Nixon, khiến cho ông ta “giữ vai trò không kém hơn vị Tổng trưởng Nhà nước về An ninh Quốc gia.”
Chúng tôi biết từ những nguồn tài liệu khác là ông Kissinger không chỉ là một người quản lý nhỏ nhoi với con mắt để ý đến từng chi tiết, nhưng là một người đàn ông với sự ưu thích về việc can thiệp và phản ứng nhanh. Trong cuốn hồi ký “Nhà Trắng” của một người trong số những cộng tác viên gần gũi nhất của ông ta, vị Tham mưu Trưởng H.R. Haldeman của ông Nixon, chúng tôi tìm hiểu về một trường hợp khi ông Kissinger gần như dồn thúc cuộc khủng hoảng bởi vì ông ta càng lúc hào hứng bởi một số bức ảnh về Cuba được chụp từ trên không. (Những hình ảnh cho thấy những sân đá banh còn đang xây dựng, mà ông ta xem như –qua việc tin là những người Cuba thích thú độc nhất là trò chơi bóng chày– là dấu hiệu của một thiết kế mới và độc ác của Nga Sô.)

p79

Về một trường hợp khác, theo sau việc bắn hạ một chiếc máy bay Hoa Kỳ, ông ủng hộ việc dội bom Bắc Triều Tiên và không trừ sự lựa chọn vũ khí hạt nhân. “The Ends of Power” (“Những kết thúc của Quyền lực”) là tựa đề cuốn sách của ông Haldeman; nó chỉ là một trong nhiều lời chứng nhận, cho thấy sự chú ý tỉnh táo của ông Kissinger đến những nguồn tài liệu có tiềm năng gây rắc rối, và do đó về sự phân biệt có thể xảy ra cho chính mình.
Đây là lời nói đầu cần thiết cho sự suy xét về việc tự minh oan của ông ta trong vấn đề Cyprus, một lời biện hộ vốn phụ thuộc vào uy tín của nó trên sự sẵn lòng của chúng tôi để tin rằng ông Kissinger là hoàn toàn không đủ năng lực và bất lực và trên hết là không được thông báo. Năng lựcc mà ông ta thúc đẩy trường hợp tự từ bỏ nầy, đang biểu lộ ra. Đó cũng điều quan trọng, bởi vì nếu ông Kissinger thực sự có bất kỳ nhận thức nào về các sự kiện mà ông ta mô tả, như thế, ông ta có tội về sự thông đồng trong một mưu toan ám sát một đứng đầu quốc gia thuộc nước ngoài, trong một cuộc đảo chính quân sự kiểu phát-xít, trong sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật Hoa Kỳ (Đạo luật Hỗ trợ Nước ngoài, vốn nghiêm cấm việc sử dụng viện trợ quân sự và dụng cụ của Hoa Kỳ cho các mục đích không-phòng-thủ), trong hai cuộc xâm lược vốn xem thường luật pháp quốc tế, và trong vụ giết người và việc tước bỏ quyền sở hữu của nhiều hàng ngàn thường dân không-chiến-đấu.
Trong việc tìm kiếm để chống lại kết luận nầy, và những ẩn ý ám chỉ của nó, ông Kissinger giao một con tin cho vận may trong cuốn sách “Years of Upheaval” (“Những năm Biến động”) và một vận may khác trong cuốn “Years of Renewal” (“Những năm Đổi mới”). Trong tập trước, ông ta nói thẳng là : “Tôi đã luôn luôn cho là cuộc khủng hoảng kế tiếp thuộc về liên nhóm chủng tộc ở Cyprus sẽ khích động sự can thiệp của Thổ Nhĩ Kỳ,” đó là, ít ra nó sẽ gây ra nguy cơ cho một viễn ảnh cuộc chiến tranh trong phạm vi NATO giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ và chắc chắn sẽ lôi cuốn một phần hải đảo. Mà qua đó, điều nầy quả thật là sự nhận thức chung chung, có thể không bị nghi ngờ bởi bất kỳ người nào thậm chí ít quen thuộc với những vấn đề Cyprus. Trong tập sau cùng, nơi mà ông ta cuối cùng dám nhận lấy sự thách thức vốn đã từ chối một cách ngấm ngầm trong tập trước đó, ông ta hỏi đi hỏi lại đọc giả lý do tại sao bất cứ người nào (như là chính ông ta, quá nặng gánh với vụ Watergate) đáng lý ra sẽ tìm kiếm “một cuộc khủng hoảng ở vùng Đông Địa Trung Hải giữa hai đồng minh NATO.”

p80

Hai lời phát biểu không trung thực nầy cần phải hội đủ điều kiện trong ánh sáng của một lời phát biểu thứ ba, vốn xuất hiện trên trang 199 của cuốn sách “Years of Renewal” (“Những năm Đổi mới”). Ở đây, Tổng thống Makarios(01) của Cyprus được mô tả mà không cần sự tô điểm như là “một nguyên nhân gần của hầu hết những căng thẳng của Cyprus.” Ông Makarios là vị lãnh đạo được bầu một cách dân chủ của một nước cộng hòa hầu như không có vũ khí, mà vào thời điểm đó, nó là một thành viên cộng tác của Cộng đồng Kinh tế Âu châu (EEC = European Economic Community), Liên hiệp Quốc và Khối thịnh Vượng chung. Quyền cai trị của ông ta bị thách thức, và nền độc lập của Cyprus bị đe dọa nầy, bởi chế độ độc tài quân sự tại Athens và chính phủ quân sự hóa cao độ ở Thổ Nhĩ Kỳ, mà cả hai nước tài trợ những tổ chức băng đảng xã hội đen thuộc cánh hữu trên hải đảo, và cả hai nước đều có những kế hoạch thôn tính phần lớn hơn hoặc ít hơn của nó. Mặc điều nầy, sự bạo lực “liên nhóm chủng tộc” đã trên đà suy giảm ở Cyprus qua những năm 1970s. Hầu hết các vụ giết người thực ra là “nội bộ”: của Đảng dân chủ Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Chủ nghĩa Quốc tế của những đối thủ quốc gia và độc tài của họ tương ứng như trên. Nhiều âm mưu ám sát, bởi những kẻ cuồng tín Hy Lạp và Cyprus gốc Hy Lạp, đã được thực hiện trên sinh mạng của chính Tổng thống Makarios. Để mô tả con người của ông ta như là “một nguyên nhân gần” của hầu hết những căng thẳng là tạo ra một phán đoán cực kỳ sai lầm về mặt luân lý.
Cùng sự phán xét sai lầm nầy, tuy nhiên, cung cấp một chìa khóa vốn mở ra lời nói dối tại tâm điểm của cách trình bày của ông Kissinger. Nếu một chính quyền dân sự được bầu ra (và vị lãnh đạo tinh thần của cộng đồng Chính thống Hy Lạp) là “nguyên nhân gần” của những căng thẳng, như thế việc loại bỏ ông ta ra khỏi chính trường là chứng cứ rành rành cho cách chữa bệnh cho những căng thẳng đó. Nếu ai có thể chứng minh rằng có một kế hoạch loại bỏ như thế và rằng ông Kissinger biết trước về việc đó, như thế, điều đó xảy ra theo sau một cách hợp lý và tự nhiên mà qua đó ông ta không ra vẻ đang tìm kiếm một cuộc khủng hoảng –như ông ta yêu cầu chúng tôi không tin một cách đáng thương hại cho chính mình– ngoại trừ một giải pháp. Sự kiện thực tế mà ông ta có một cuộc khủng hoảng, vốn cũng là một tai họa ghê gớm cho Cyprus và khu vực, không thay đổi sự quân bình hay tháo mở được lý luận xảo trá. Đó là điều có thể quy cho một sự kiện thực tế khác có thể quan sát được mà qua đó một mưu toan hầu loại bỏ ông Makarios, mà một “giải pháp” phụ thuộc vào nó, là một sự thất bại trong thực thi. Nhưng những người vốn có ý tìm biện pháp và mong muốn những sự kết thúc không được xá tội bởi sự từ khước của hiện thực nhằm phù hợp với những mưu toan của họ.

(Vị Tổng thống đầu tiên của Cộng hòa miền Nam Cyprus, Tổng
Giám mục Makarios III, được Anh Quốc nhìn nhận và hỗ trợ)

p81

Đó là điều, từ hồ sơ và hồi ức của riêng ông Kissinger, cũng như từ hồ sơ của cuộc thẩm tra chính thức sau đó, khá dễ dàng để chứng minh rằng ông ta thực sự có nhận thức trước về kế hoạch hạ bệ và giết chết ông Makarios. Ông ta tự thừa nhận như phần nhiều là chính mình, qua việc ghi chú rằng nhà độc tài Hy Lạp Dimitrios Ioannides, người đứng đầu cảnh sát mật vụ, kiên quyết dựng lên một cuộc đảo chính ở Cyprus và mang hải đảo dưới sự kiểm soát của chính quyền Athens. Đây là một trong những sự kiện thực tế được biết đến nhiều hơn về tình hình, như là sự kiện làm hỗ thẹn hơn mà qua đó Chuẩn tướng Ioannides phụ thuộc vào sự viện trợ quân sự và đồng cảm về chính trị của Hoa Kỳ. Tình trạng cảnh sát trị của ông ta đã bị trục xuất khỏi Hội đồng Âu châu và bị ngăn chận không cho gia nhập vào Cộng đồng Kinh tế Âu châu và đó là phần lớn lợi thế được ban cho bởi sự thỏa thuận của ông ta cho phép Hạm đội Sáu của Hoa Kỳ neo ở “bến cảng nhà,” và chứa chấp một chuỗi các căn cứ không quân Mỹ và tình báo, mà qua đó giữ lại ông ta trong quyền lực. Chính sách nhân hậu nầy là điều gây ra nhiều tranh cãi trong Quốc hội và trên báo chí Mỹ, và cuộc tranh luận trên vấn đề đó là một phần của thức ăn bánh mì hàng ngày của ông Kissinger khá lâu trước khi có màn kịch Watergate.
Như thế, nói chung điều đó được hiểu là chế độ độc tài của Hy Lạp, một khách hàng của Hoa Kỳ, mong muốn nhìn thấy ông Makarios bị lật đổ và đã thực sự cố gắng giết chết ông ta hoặc cho người hạ sát ông ta. (Việc lật đổ và ám sát, theo một cách ngẫu nhiên, là cùng một nghĩa mang ấn tượng sâu sắc trong sự đánh giá nầy; không sự khả dĩ nào để lại một nhà lãnh đạo được lòng tin phục như thế còn sống, và những người vốn tìm cách loại bỏ ông ta, không tránh khỏi có ý muốn ông ta chết đi.) Nói riêng, điều nầy cũng hiểu được. Một bằng chứng nổi bật nhất là điều nầy. Vào tháng Năm của năm 1974, hai tháng trước khi có cuộc đảo chính ở Nicosia mà qua đó ông Kissinger sau nầy đã tuyên bố, là một sự kiện chấn động, ông ta nhận được một văn bản ghi nhớ từ người đứng đầu sở Ngoại vụ Cyprus của ông ta, Thomas Boyatt. Ông Boyatt tóm tắt tất cả những lý do tích lũy và có sức thuyết phục vì tin rằng một cuộc tấn công của chính quyền quân phiệt Hy Lạp vào Cyprus và ông Makarios sắp xảy ra. Ông ta lập luận xa hơn rằng, trong sự thiếu vắng của sự thay đổi trong chiều hướng hành động của Hoa Kỳ đối với chính quyền Athens, qua việc cảnh cáo những nhà độc tài phải chấm dứt, điều đó có thể được giả định rằng Hoa Kỳ không quan tâm đến việc nầy. Và ông ta nói thêm về những gì mà mọi người biết –rằng một cuộc đảo chính như thế, nếu nó cứ được tiến hành, không gì nghi ngờ sẽ khởi động một cuộc xâm lược Thổ Nhĩ Kỳ.

p82

Những văn bản ghi nhớ tiên đoán có rất nhiều giống như thế ở Washington sau cuộc khủng hoảng; chúng thường được đọc sau đó trong lần đầu tiên hoặc bị rỉ ra đến báo chí hay Quốc hội nhằm mục đích làm nổi bật (hoặc bảo vệ) một số tiếng tăm công chức nào đó. Nhưng ông Kissinger bây giờ thừa nhận rằng ông ta đã nhìn thấy tài liệu nầy trong thời gian đó, trong khi bận vào việc qua lại của mình giữa Syria và Israel (cả hai quốc gia trong khoảng nửa tiếng bay của Cyprus). Tuy nhiên, không có một chiều hướng thay đổi nào mang tên ông ta hay mang theo thẩm quyền của ông ta được ban hành cho chính quyền quân phiệt Hy Lạp.
Một thời gian ngắn sau đó, vào ngày 7 tháng Sáu năm 1974, tờ báo National Intelligence Daily (Tình báo Quốc gia Hàng ngày), vốn là loại báo đọc vào bữa ăn sáng hoặc như là kinh thánh của tất cả quan chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại giao, Lầu Năm Góc, và Cơ quan An ninh Quốc gia, đã trích dẫn một báo cáo tại chỗ của Hoa Kỳ có ghi ngày 3 tháng Sáu mà qua đó nói lên quan điểm của nhà độc tài ở Athens :

Ông Ioannides tuyên bố rằng Hy Lạp có khả năng truất bỏ ông Makarios và những người ủng hộ chính yếu của ông ta từ khỏi quyền lực trong hai mươi bốn giờ với ít đổ máu nếu có và không có sự trợ giúp của Tổ chức Quốc gia của những người Chiến đấu Cyprus(18) (Tổ chức du kích EOKA). Những người Thổ Nhĩ Kỳ sẽ lặng lẽ ưng thuận ngầm việc loại bỏ ông Makarios, một kẻ thù trọng yếu… Ông Ioannides phát biểu rằng nếu ông Makarios quyết định trên một loại khiêu khích nào đó hay cực kỳ khích động chống lại Hy Lạp để có được lợi thế về sách lược, ông ta không chắc là liệu ông ta chỉ nên kéo những binh lính ra khỏi Cyprus và để cho ông Makarios tự lo cho chính mình, hoặc loại bỏ ông Makarios một lần cho xong việc và cho Hy Lạp dàn xếp thỏa thuận trực tiếp với Thổ Nhĩ Kỳ về tương lai của Cyprus.

Bản báo cáo nầy và nội dung của nó sau đó được chứng thực trước Quốc hội bởi một nhân viên CIA vốn là người đã từng phục vụ ở thủ đô Athens vào thời điểm có liên quan. Sự kiện thực tế mà qua đó nó làm cho Chuẩn tướng Ioannides dường như khoa trương và ảo tưởng — cả hai thứ mà ông ta có– đáng lý ra nên được nhấn mạnh đến sự nguy hiểm hiển hiện và sắp xảy ra. (EOKA là một nhóm phát-xít bí mật gồm những người Cyprus gốc Hy Lạp, được trang bị và trả lương bởi chính quyền quân phiệt.)
Vào khoảng cùng thời điểm đó, ông Kissinger nhận được cú gọi từ Thượng nghị sĩ J. William Fulbright, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện. Thượng nghị sĩ Fulbright đã được báo cáo ngắn gọn về cuộc đảo chính sắp xảy ra bởi một nhà báo Hy Lạp thâm niên, bất đồng chính kiến ở Washington có tên là Elias P. Demetracopoulos. Ông ta nói với ông Kissinger rằng những bước đáng lý ra nên được thực hiện để ngăn chận hành động có kế hoạch của Hy Lạp và ông ta đưa ra ba lý do.

p83

Lý do thứ nhất là nó sẽ sửa chữa một số thiệt hại tinh thần gây ra bởi sự nuông chiều của chính phủ Hoa Kỳ dành cho chính quyền quân phiệt. Lý do thứ hai là nó sẽ ngăn tránh một cuộc đối đầu giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ trong vùng Địa Trung Hải. Lỳ do thứ ba là nó sẽ củng cố uy tín của Mỹ trên hải đảo. Ông Kissinger bác bỏ việc thực hiện những bước được đề nghị, trên cơ sở quái dị mà ông ta không thể can thiệp vào “những việc nội bộ” của Hy Lạp vào lúc đó khi chính quyền Nixon đang chống lại áp lực từ Thượng nghị sĩ Henry Jackson nhằm liên kết việc trao đổi thương mại của Hoa Kỳ–Liên Xô đến việc di cư tự do của những người Do Thái gốc Nga. Tuy nhiên, kỳ lạ là dòng chữ lý luận nầy, điều đó vẫn không thể nào cho ông Kissinger tuyên bố, như ông ta vẫn làm, rằng ông ta đã không có một lời báo trước nào.
Vì vậy, vẫn không có sự quan tâm của quan chức cao cấp Hoa Kỳ nào được ghi nhận ở chính quyền Athens. Sự khó khăn đôi khi được trình bày như là một trong những giao thức hoặc nghi thức, như thể lề lối bình thường của ông Kissinger là thì thầm và bước đi một cách nhẹ nhàng. Ông Ioannides(01) trên thực tế là người đứng đầu chế độ nhưng theo chuyên nghiệp chỉ là Trưởng cảnh sát mật vụ của nó. Đối với đại sứ Hoa Kỳ, Henry Tasca, đó là điều bất tiện khi thực hiện những tiếp cận ngoại giao với một người mà ông ta mô tả như là “một tên cóm” (i.e. tiếng lóng ám chỉ cảnh sát). Nhưng một lần nữa tôi nhắc nhở bạn rằng Henry Kissinger, ngoài địa vị cao trọng, chính thức về ngoại giao của ông ta, là cũng người đứng đầu của Ủy ban Bốn mươi, và là người giám sát hoạt động bí mật và đang thoả thuận riêng với một chế độ Athens vốn có những liên hệ chặt chẽ với CIA từ lâu. Vào năm 1976, Trụ sở Ủy ban về Tình báo sau nầy diễn đạt vấn đề khá khéo léo trong bản báo cáo của nó :

Ông Tasca, được đảm bảo bởi Trưởng cục CIA rằng ông Ioannides sẽ tiếp tục làm việc chỉ với CIA, và không chia sẻ sự báo động của Văn phòng Hành chánh Bộ Ngoại giao, vui lòng chuyển đi một thông điệp đến nhà lãnh đạo Hy Lạp một cách gián tiếp… Rõ ràng là, tuy nhiên, tòa đại sứ không có một bước tiến hành nào nhằm nhấn mạnh ông Ioannides về chiều sâu của sự quan tâm trên một mưu toan đảo chính ở Cyprus. Phần nầy, qua việc tiếp cận ngoại lệ của CIA đến ông Ioannides, những biểu lộ của ông Tasca cho thấy rằng ông ta có thể không nhìn thấy tất cả tin gởi quan trọng đến và đi từ cục CIA, những ý kiến đưa ra của ông Ioannides về sự ưng thuận của Hoa Kỳ, và sự lãnh đạm được biết nhiều đến của Washington đối với ông Makarios đã dẫn đến sự suy đoán rộng rãi là hoặc những quan chức Hoa Kỳ không chú ý đến những bản báo cáo của các cuộc khủng hoảng đang phát triển hoặc chỉ đơn giản là cho phép nó xảy ra.

p84

Văn bản ghi nhớ của Thomas Boyatt, cảnh cáo một cách chính xác về điều gì sắp xảy ra (và phản ảnh lại quan điểm của nhiều quan chức cấp trung bên cạnh mình), được phân loại như là bí mật và vẫn không bao giờ được phát tán. Khi được yêu cầu để chứng thực tại buổi điều trần ở trên, ông ta bị tại cấm xuất hiện trước Quốc hội ngay từ lúc đầu bởi ông Kissinger. Ông ta cuối cùng chỉ được phép làm như thế nhằm mục đích là ông ta có thể tránh được trát tòa cho việc không tuân lệnh tòa án. Bằng chứng của ông ta được mang vào trong “phiên họp điều hành,” với thính phòng không có ban nhân viên, phóng viên và những dự khách.
Những sự kiện tiếp tục thu thập nhịp độ. Vào ngày 1 tháng Bảy năm 1974, ba quan chức cao cấp của Bộ Ngoại giao Hy Lạp, tất cả trong số họ được biết đến với những quan điểm ôn hòa của họ về vấn đề Cyprus, công khai nộp đơn từ chức. Vào ngày 3 tháng Bảy, Tổng thống Makarios công bố một bức thư ngỏ cho chính quyền quân phiệt Hy Lạp, mà qua đó bày tỏ lời buộc tội trực tiếp về sự can thiệp và âm mưu lật đổ của nước ngoài :

Nhằm làm rõ hoàn toàn, tôi nói rằng những cán bộ thuộc chế độ quân đội Hy Lạp và hỗ trợ và chỉ thị trực tiếp những hoạt động của những kẻ khủng bố thuộc tổ chức bán quân sự EOKA-B(18)… Tôi đã hơn một lần cho đến nay cảm thấy, và trong một vài trường hợp, tôi đã chạm vào, một bàn tay vô hình đang mở rộng từ Athens và đang tìm cách triệt tiêu sự tồn tại nhân sinh của tôi.

Ông ta kêu gọi cho việc rút đi hải đảo Cyprus của những sĩ quan Hy Lạp có trách nhiệm.
Vài ngày sau cuộc đảo chính, mà qua đó, cuối cùng đã xảy ra vào ngày 15 tháng Bảy năm 1974, và khi bị thách thức tại cuộc họp báo về sự thất bại rõ ràng của ông ta nhìn thấy trước hoặc ngăn chận nó, ông Kissinger đã trả lời rằng “thông tin không nằm xung quanh trên những đường phố.” Thực ra, nó hầu như đang ở trên những đường phố. Nhưng quan trọng hơn nhiều và cụ thể hơn nhiều đối với trường hợp nầy, nó đã có sẵn cho ông ta cả ngày lẫn đêm, trong những khả năng về ngoại giao và lẫn trí tuệ của mình. Sự quyết định của ông ta không làm gì cả vì vậy là một quyết định trực tiếp làm một việc gì đó, hoặc để cho một cái gì đó được thực hiện.

p85

Lý luận có thể được đẩy xa hơn một chút. Nếu chúng ta có thể chỉ ra rằng ông Kissinger đang phát biểu một cách giả dối khi ông ta nói rằng ông ta cảm thấy ngạc nhiên bởi cuộc đảo chính tháng Bảy –và chúng ta có thể chỉ ra điều nầy– và nếu chúng ta giả sử rằng việc biết trước được kèm theo bởi sự ù lì không hành động là bằng chứng ít ra là cho sự chấp thuận thụ động, kế đó chúng ta có thể hy vọng tìm thấy cuộc đảo chính, khi nó đến, được nhận lấy bằng sự bày tỏ đồng cảm hay hài lòng nào đó. Thực tế, một cách chính xác đó là điều gì mà chúng tôi thực sự tìm thấy.
Đối với phần còn lại của thế giới, hai điều rõ ràng về cuộc đảo chính. Trước tiên là nó đã bị xúi giục từ chính quyền Athens và được tiến hành không có sự giúp đỡ của lực lượng chính quy Hy Lạp và như thế là sự can thiệp trực tiếp vào những việc nội bộ của một quốc gia bởi một quốc gia khác. Thứ hai là nó đã vi phạm tất cả những hiệp ước đang có chi phối hiện tình của Cyprus. Việc bất hợp pháp rõ ràng và ghê tởm được nhấn mạnh rất nhiều bởi chính Hội đồng Quân nhân, mà qua đó chọn lựa một ám sát khét tiếng thuộc chủ nghĩa ái quốc cuồng tín tên Nikos Sampson(01) làm người thay mặt “Tổng thống” của nó. Ông Sampson ắt hẳn được biết rõ đối với Chủ tịch Ủy ban Bốn mươi như là người nhận sự hỗ trợ tài chánh lâu dài từ CIA; ông ta cũng nhận được tiền cho tờ báo cuồng tín của hắn ta ở thủ đô Nicosia (của Cyprus) là Makhi (Chiến đấu) từ người ủy nhiệm CIA ủng hộ chính quyền Hội đồng Quân ở Athens, ông Savvas Constantopoulos, một nhà xuất bản của cơ quan ủng hộ chính quyền quân phiệt có tên là Eleftheros Kosmos (Thế giới Tự do). Không có một chính phủ Âu châu nào đối đải với ông Sampson như là bất cứ thứ gì ngoại trừ là kẻ hạ đẳng trong xã hội, trong chín ngày ngắn ngủi mà hắn ta nắm giữ quyền lực và tung ra chiến dịch giết người chống lại những đối thủ Hy Lạp thuộc Đảng dân chủ. Nhưng ông Kissinger bảo đặc phái viên Hoa Kỳ ở thủ đô Nicosia tiếp nhận “Ngoại trưởng” của ông Sampson như là một vị Bộ trưởng Ngoại giao, như thế làm cho Hoa Kỳ trở thành chính phủ đầu tiên và duy nhất trên thực tế mở rộng sự nhìn nhận. (Vào thời điểm nầy, điều có thể được nhấn mạnh là, nơi ở của Tổng thống Makarios không được biết đến. Dinh thự của ông ta đã bị dội pháo một cách dữ dội và cái chết của ông ta được công bố trên đài phát thanh của chính quyền quân phiệt. Ông ta thật ra đã làm cuộc trốn thoát của mình, và không thể truyền thanh về sự kiện thực tế trong một vài sau đó ngày –đối với sự bực tức to lớn của những người có vị thế nào đó.)

p86

Bất ngờ, trong cuốn hồi ký “The Truth” (“Sự thật”) của ông ta vào năm 1968, được xuất bản tại Athens vào năm 1986, người đứng đầu sau nầy của các lực lượng vũ trang Hy Lạp, Tướng Grigorios Bonanos, ghi nhận là cuộc tấn công của chính quyền Hội đồng Quân nhân vào Cyprus mang một thông điệp thừa nhận và ủng hộ, được chuyển đến cục tình báo của nó bởi một người không kém hơn chính Thomas A. Pappas –một người trung gian được lựa chọn giữa chính quyền Hội đồng Quân nhân và chính quyền Nixon–Kissinger. (Chúng ta sẽ nghe thêm về ông Pappas trong Chương 9.)

(Nikos Simpson trên thực tế là vị Tổng thống của quốc đảo Cyprus
(15–23/07/1974) kế nhiệm Đức Tổng Giám mục Mikarios sau cuộc đảo
chánh thành công, bị tuyên án 20 năm tù và bị giam giữ ở Pháp, sau đó
được trả về quốc đảo Cyprus vào năm 1990 vì lý do sức khoẻ, mãi đến
năm 1993 được miễn án. Ông ta mất vào năm 2001 vì bệnh ung thư)

Ở Washington, phát ngôn viên báo chí của ông Kissinger là Robert Anderson, thẳng thừng từ chối rằng cuộc đảo chính –sau nầy được mô tả bởi ông Makarios từ bục diễn đàn của Liên Hiệp Quốc như là “một cuộc xâm lược” — tạo thành lập sự can thiếp của nước ngoài. “Không,” ông ta trả lời cho một câu hỏi trực tiếp trên quan điểm nầy. “Theo quan điểm của chúng tôi, đã không có sự can thiệp từ bên ngoài nào cả.” Vị trí siêu thực nầy được nhìn nhận bởi ông Kissinger khi ông ta gặp gỡ với vị Đại sứ của Cyprus và không bày tỏ những lời chia buồn theo tục lệ về cái chết được báo cáo của vị Tổng thống của ông Đại sứ –một “nguyên nhân gần,” mà hiện thời chúng ta học được từ ông ấy, của tất cả sự bực tức. Khi được hỏi xem ông ta vẫn nhìn nhận chính phủ được bầu chọn của ông Makarios như là một chính phủ hợp pháp, ông Kissinger đã từ chối trả lời một cách kiên trì và đáng kinh ngạc. Khi được hỏi xem Hoa Kỳ đang di chuyển hướng tới sự nhìn nhận chế độ Sampson, phát ngôn viên của ông ta đã bác bỏ để từ khước điều đó. Khi ông Makarios đến Washington vào ngày 22 tháng Bảy, Bộ Ngoại giao được hỏi là liệu ông ta sẽ được tiếp nhận bởi ông Kissinger “như là một công dân bình thường, như là một vị Tổng Giám mục, hoặc như là vị Tổng thống Cyprus không.” Muốn câu trả lời ? “Ông [Kissinger] sẽ tiếp kiến Đức Tổng Giám mục Makarios vào ngay thứ Hai” [kiểu chữ đậm được thêm vào]. Mỗi chính phủ khác trên thế giới, qua việc muốn cứu lấy chế độ độc tài Hy Lạp đang sụp đổ nhanh chóng, thừa nhận ông Makarios như là người đứng đầu hợp pháp của nước Cộng hòa Cyprus. Khuynh hướng độc đoán của ông Kissinger trên quan điểm là không có tiền lệ ngoại giao, và lập luận một cách mạnh mẽ cho sự thông đồng và đồng cảm của ông ta với một số ít côn đồ được vũ trang vốn là những kẻ cảm thấy như nhau.
Điều đáng nhấn mạnh là ông Makarios được mời đến Washington trước, như là vị Tổng thống Cyprus được bầu ra và hợp pháp, bởi Thượng nghị sĩ J. William Fulbright của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện và bởi Nghị sĩ đối tác của ông ta là Thomas Morgan, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện.

p87

Công trạng dành cho lời mời nầy thuộc về Elias Demetracopoulos được nhắc đến ở trên, vốn là người đã từ lâu cảnh cáo về cuộc đảo chính và vốn là người bạn của ông Fulbright. Chính ông ta vốn là người đã chuyển lời mời đến ông Makarios, vốn là người lúc đó đang ở London tiếp kiến vị Bộ trưởng Ngoại giao Anh Quốc. Sáng kiến nầy làm vinh quang một loạt các hoạt động chống lại chính quyền Hội đồng Quân nhân của một nhà báo du kích và băng nhóm chí có một người nầy, vốn là người đã thực sự chọc tức ông Kissinger một cách thâm túy và trở thành một đối tượng đặc biệt của sự bất mãn của mình. (Xem Chương 9). Vào ngay lúc khoảnh khắc cuối cùng, và với ân sủng rất nghèo nàn, ông Kissinger buộc phải thông báo rằng ông ta tiếp nhận ông Makarios trong chức vụ Tổng thống của ông ấy và không phải là khả năng giám mục của ông ta.
Kể từ khi chính ông Kissinger cho chúng ta biết rằng ông ta đã luôn luôn biết đến hoặc giả định rằng sự bùng nổ bạo lực ở Cyprus sẽ phát khởi sự can thiệp quân sự củaThổ Nhĩ Kỳ, đến phiên chúng ta có thể giả định rằng ông ta không cảm thấy ngạc nhiên gì khi sự can thiệp như thế xảy đến. Hoặc cũng không có chuyện ông ta ra vẻ lấy làm bối rối rất nhiều. Trong khi chính quyền quân phiệt Hy Lạp vẫn còn nắm quyền, những nỗ lực của ông ta chủ yếu được nhắm trực tiếp đến việc che chắn nó khỏi sự trả đũa. Ông ta phản đối việc trở lại của ông Makarios đến hòn đảo, và phản đối mạnh mẽ việc sử dụng lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ hay Anh Quốc (Anh Quốc đang là một sức mạnh bảo hộ với nghĩa vụ theo hiệp ước và những binh lính đóng quân tại chỗ trên Cyprus) nhằm phá hỏng cuộc đảo chính. Cùng một dự định trì trệ hay ù lì không hành động nầy –được chứng nhận đầy trong cuốn hồi ký của ông ta cũng như trong hồi ký của mọi người khác– được chuyển biến sau đó trở thành những lời nhắc nhở không kém nghiêm ngặt và được lặp đi lặp lại chống lại bất kỳ biện pháp nào nhằm ngăn chận cuộc xâm lược của Thổ Nhĩ Kỳ. Sir Tom McNally, sau nầy là Trưởng cố vấn chính trị chính cho Bộ trưởng Ngoại giao Anh và vị Thủ tướng tương lai, James Callaghan, từ lâu đã tiết lộ rằng ít nhất một lần, ông Kissinger bỏ phiếu “phủ quyết” hành động quân sự của Anh nhằm ngăn chận trước cuộc đổ bộ của Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng điều đó là sau khi những vị đại tá Hy Lạp đã sụp đổ, và nền dân chủ đã được phục hồi cho chính quyền Athens. Không còn là một chính thể khách hàng để bảo vệ.
Điều nầy xem ra có vẻ nghịch lý, nhưng sự đồng cảm lâu dài cho phân vùng của Cyprus, nhiều lần được bày tỏ bởi Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng, làm cho nó có vẻ ít hơn nhiều là như thế.

p88

Sự cấu thành về địa dư dân sinh của hòn đảo (82 % người Hy Lạp đến 18 % người Thổ Nhĩ Kỳ) làm cho nó hợp lý hơn cho phân vùng được áp đặt bởi Hy Lạp. Nhưng một vùng thứ hai tốt nhất bị áp đặt bởi Thổ Nhĩ Kỳ. Và, một khi Thổ Nhĩ Kỳ đã tiến hành hai cuộc xâm lược tàn bạo và chiếm giữ gần hết 40 % lãnh thổ Cyprus, quả thật là ông Kissinger gắng sức rất mãnh liệt để bảo vệ ông Ankara từ bất kỳ sự trả thù nào của Quốc hội vì sự vi phạm hoàn toàn luật pháp quốc tế nầy, và sự lạm đủ loại dụng vũ khí Hoa Kỳ bừa bãi và bất hợp pháp. Ông trở nên rất ủng hộ Thổ Nhĩ Kỳ, quả thật, đến nổi như thể là ông ta chưa bao giờ nghe nói về những vị đại tá Hy Lạp. (Mặc dù việc không thích được bày tỏ của ông ta về các nhà lãnh đạo dân chủ Hy Lạp quay trở lại đưa đến một sự nhắc nhở đôi khi.)
Không phải tất cả những phần tử thuộc chính sách phân chia nầy có thể bị buộc tội theo cá nhân đối với vấn đề của ông Kissinger; ông ta thừa hưởng chính quyền quân phiệt Hy Lạp và sự ghét bỏ chính thức ông Makarios. Tuy nhiên, ngay cả trong đoạn văn xuôi ướt át làm u mê văn xuôi của cuốn hồi ký của mình, ông ta thực sự thừa nhận điều gì đó theo một cách khác hơn có thể được kết luận từ các nguồn tài liệu độc lập. Việc sử dụng những băng tầng bí mật, và việc cản trở tiến trình dân chủ ở đất nước của riêng mình, ông ta tự làm cho chính mình trở thành kẻ đồng lõa trong kế hoạch ám sát chính trị mà qua đó, khi nó đã thất bại, dẫn đến những cái chết của hàng ngàn thường dân, việc nhổ bật gốc bằng bạo lực gần như 200.000 người tị nạn, và việc tạo ra sự cắt đứt đất nước Cyprus một cách bất công và bất ổn mà qua đó phát sinh mối đe dọa nghiêm trọng cho nền hòa bình cả một phần tư thế kỷ sau đó. Những nỗ lực của ông ta giữ cho những hồ sơ được niêm phong thì rất quan trọng trong chính những điều đó; khi những tài liệu xác đáng được mở ra, chúng sẽ tạo hình thành một phần của bản cáo trạng dài hơn.
Vào ngày 10 tháng Bảy năm 1976, Ủy ban châu Âu về Nhân quyền đã thông qua một báo cáo, được chuẩn bị bởi mười tám luật gia xuất sắc và được chủ tọa bởi Giáo sư J.E.S. Fawcett, đưa đến kết quả từ cuộc nghiên cứu một năm trời trong những hậu quả của cuộc xâm lược của Thổ Nhĩ Kỳ. Nó tìm thấy rằng quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đã từng tham gia vào việc cố tình giết chết những thường dân, trong việc hành quyết những tù nhân, trong việc tra tấn và ngược đãi những người bị giam giữ, trong việc trừng phạt tùy tiện tập thể và việc giam giữ số đông những thường dân, và trong những hành vi hiếp dâm, tra tấn, và cướp bóc có hệ thống và không bị trừng phạt.

p89

Một số lượng lớn những con người “bị biến mất,” cả những tù nhân chiến tranh và thường dân, vẫn đang bị “mất tích” từ giai đoạn nầy. Chúng bao gồm một chục người có sổ thông hành Hoa Kỳ, mà qua đó là bằng chứng trong chính nó về một sách lược bừa bãi, khi được tiến hành bởi một đội quân phụ thuộc vào sự viện trợ và vật dụng của Hoa Kỳ.
Có lẽ đó là một sự miễn cưỡng để chấp nhận trách nhiệm của ông ta về những vi phạm trắng trợn nầy, cũng như trách nhiệm của ông ta về cuộc đảo chính bắt nguồn từ ông Sampson, mà qua đó dẫn đến việc ông Kissinger nói hàng chuỗi lời giả dối lạ đời với những người bạn mới Trung Quốc của mình. Vào ngày 2 tháng Mười năm 1974, ông ta tổ chức một cuộc họp cao cấp cao tại ở New York với Qiao Guanhua (i.e. Kiều Quán Hoa), Thứ trưởng Ngoại giao của nước Cộng hòa Nhân dân. Chính là một cuộc họp thực chất trong lần đầu tiên giữa Trung Quốc và Mỹ kể từ chuyến viếng thăm của Deng Xiaoping (i.e. Đặng Tiểu Bình), và thứ tự đầu tiên về kinh doanh là Cyprus. Văn bản ghi nhớ, vốn có đầu đề là “TỐI MẬT / NHẠY CẢM / CHỈ NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC PHÉP XEM,” có ông Kissinger lần đầu tiên bác bỏ lời tuyên bố công khai của Trung Quốc rằng ông ta đã giúp đỡ việc sắp đặt loại bỏ ông Makarios. “Chúng tôi không. Chúng tôi không chống đối ông Makarios.” (Lời tuyên bố nầy được chứng tỏ trực tiếp là nói ngược lại trong cuốn hồi ký của riêng ông ta.) Ông ta nói, “Khi cuộc đảo chính xảy ra, tôi đang ở Moscow,” mà ông ta đã không như thế. Ông ta nói, “những người của tôi không xem những báo cáo tình báo nầy [liên quan đến cuộc đảo chính sắp xảy ra] là hệ trọng,” ngay cả mặc dù họ đã. Ông ta nói rằng không phải Makarios đã xem chúng là hệ trọng, ngay cả mặc dù ông Makarios đã đi đến công khai trong việc tố cáo chính quyền quân phiệt Athens về những kế hoạch đảo chính của nó. Ông Kissinger sau đó tạo ra một lời tuyên bố tuyệt vời “Chúng tôi biết rằng Liên Xô đã bảo những người Thổ Nhĩ Kỳ xâm lược,” mà qua đó sẽ tạo ra một cuộc xâm lược đầu tiên do Liên Xô xúi giục được thực hiện bởi một đội quân NATO và trả lương bằng viện trợ của Hoa Kỳ.
Một kẻ nói dối hay phải có một trí nhớ tốt: ông Kissinger là một người nói dối kỳ diệu với một trí nhớ đáng kể. Vì vậy, có lẽ một số sự việc nói dối cuồng nhiệt nầy được giải thích bởi phần giải nghĩa của nó –do nhu cầu giành lấy những bản năng chống Liên Xô của Trung Quốc. Nhưng toàn thể cách nói dối thì rất ấn tượng đến nổi nó đưa ra một cái gì đó thêm vào, một cái gì đó giống như sự từ chối hoặc ảo tưởng, hoặc thậm chí là một lời thú nhận của người khác.

p90

Chương 08 : Miền Đông Timor(02)

Một lãnh thổ khác, nhỏ nhưng rất quan trọng có sự phân biệt vì bị bỏ qua –hoàn toàn bị bỏ qua– từ cuốn hồi ký của Henry Kissinger. Và kể từ khi miền Đông Timor bị gạt ra khỏi tập ba và tập cuối (trong cuốn sách “Những năm Đổi mới”), nó không có thể hy vọng, giống như đất nước Cyprus, cho sự tu chỉnh vội vàng sau đó. Nó, tóm lại, đã được phun sơn. Và đó là điều dễ dàng hợp lý để hiểu lý do tại sao ông Kissinger hy vọng sẽ tránh được cuộc thảo luận về một quốc gia mà vận mệnh của nó bị ảnh hưởng bởi ông ta rất nhiều.
Hãy để tôi nói về những vấn đề một cách ngắn gọn. Sau sự sụp đổ của chế độ phát-xít Bồ Đào Nha ở thủ đô Lisbon vào tháng Tư năm 1974, phe đế quốc thực dân của đất nước đó đã tan biến với một tốc độ phi thường. Quyền lực đô thị giữ lại sự kiểm soát chỉ trong vùng đất bị bao quanh, Macau, trên bờ biển Trung Quốc, và sau đó trả lãnh thổ nầy về cho Beijing theo hiệp ước vào năm 2000. Ở châu Phi, sau nhiều thăng trầm, quyền lực được thừa hưởng bởi các phong trào giải phóng có khuynh hướng Xã hội Chủ nghĩa, mà qua đó, bởi chiến thuật của họ về chiến tranh du kích, đã mang lại cuộc cách mạng Bồ Đào Nha trước và thành lập những mối quan hệ nồng nhiệt với thế hệ đầu tiên gồm các nhà hoạt động của nó.
Ở miền Đông Timor, nằm trong quần đảo Indonesia, một vùng cô lập thời hậu thuộc địa ngay từ đầu cũng được choán đầy bởi phong trào cánh tả, được biết đến như là FReTiLIn (i.e. Mặt trận Cách mạng cho Đông Timor độc lập(19)) hoặc Mặt trận Giải phóng Đông Timor. Cơ sở phổ biến của phong trào nầy được mở rộng từ Giáo hội Công giáo đến những sinh viên Tây phương hóa và đôi khi Lenin hóa vốn là những người bạn đã mang trở lại quan điểm cách mạng từ “đất mẹ.” Đảng FReTiLIn và những đồng minh của nó có khả năng hình thành một chính phủ nhưng tức thơi bị khuất phục bởi áp lực quá nặng nề từ nước láng giềng Indonesia khổng lồ của họ, sau đó được dẫn dắt bởi nhà độc tài (kể từ khi bị lật đổ và ghét bỏ bởi người dân của riêng ông ta), Tướng Suharto.

(Lá cờ của Đảng FReTiLIn thuộc phe tả, Chủ nghĩa Xã hội)

p91

Nước Bồ Đào Nha, vốn có và vẫn duy trì trách nhiệm pháp lý, thì quá bất ổn và quá xa không thể ngăn chận sự xâm nhập của những đơn vị chính quy của Indonesia vào trong miền Đông Timor và sự khởi đầu của chính sách gây tiêu hao và phá đổ theo chủ nghĩa bành trướng. Chiến lược nầy được theo đuổi bới các vị Tướng ở thủ đô Jakarta, Indonesia, trong một ít ttháng, rõ rệt là lấy cớ “trợ giúp” chống lại những lực lượng FReTiLIn mà qua đó, trong quan điểm về sự kiện thực tế, cố tình gài vào những lực lượng Indonesia. Tất cả sự giả vờ kiểu nầy được vứt bỏ vào ngày 7 tháng Mười Hai năm 1975, khi các lực lượng vũ trang của Indonesia vượt qua biên giới của miền Đông Timor trong sức mạnh, cuối cùng tuyên bố sở hữu nó (trong một hành vi không kém vô pháp luật hơn việc tuyên bố sở hữu Kuwait của Iraq như là “một tỉnh thứ mười chín của chúng tôi”) như là một phần của chính thực Indonesia toàn diện.
Sự đề kháng của người Timor chống lại lời tuyên bố nầy lan ra rất rộng rãi, và bạo lực được đòi hỏi để áp đặt nó thì rất tàn nhẫn và tổng quát hóa, mà qua đó con số của 100.000 cái chết trong làn sóng đầu tiên –có lẽ là 1/6 toàn bộ dân số– được tính đến là cách nói giảm bớt đi.
Ngày tháng cuộc xâm lược của Indonesia –ngày 7 tháng Mười Hai năm 1975– có tầm quan trọng và cũng có ý nghĩa. Vào ngày tháng đó, Tổng thống Gerald Ford và vị Bộ trưởng Ngoại giao của ông ta, Henry Kissinger, kết thúc chuyến thăm chính thức đến thủ đô Jakarta và bay đến hải đảo Hawaii. Kể từ khi họ đã đến mới mẻ từ một cuộc họp với chính quyền quân phiệt của Indonesia, và kể từ khi Hoa Kỳ là nhà cung cấp chính của Indonesia về vũ khí quân sự (và kể từ khi Bồ Đào Nha, một đồng minh của NATO, phá vỡ những mối quan hệ ngoại giao với Indonesia trên quan điểm), dường như điều hợp lý để điều tra là liệu hai nhà lãnh đạo đã cho quân xâm lược bất kỳ ấn tượng nào chẳng khác gì “đèn xanh” không. Vì thế, khi ông Ford và ông Kissinger đáp xuống Hawaii, những phóng viên đã yêu cầu ông Fond cho lời bình luận về cuộc xâm lược Timor. Vị Tổng thống thoái thác.

Ông ta cười và nói: “Chúng ta sẽ nói về chuyện đó sau.” Tuy nhiên, vị Thư ký báo chí Ron Nessen sau đó cho những phóng viên một lời phát biểu nói rằng: “Hoa Kỳ luôn luôn quan tâm đến việc sử dụng bạo lực. Tổng thống hy vọng rằng chuyện đó có thể được giải quyết một cách hòa bình.”

Lời nói thiếu mạch lạc theo nghĩa đen của cách nói chuyện kiểu quan chức nầy –ý tưởng về một giải pháp hòa bình đối với việc sử dụng bạo lực có tính cách đơn phương– có lẽ đã có thể có được một sự mạch lạc bên trong: một hy vọng về một chiến thắng nhanh chóng cho lực lượng đang áp đảo. Ông Kissinger di chuyển sự nghi ngờ nầy gần hơn một chút đến sự hiện thực trong lời bình luận bộc trực của riêng mình, vốn được đưa ra trong khi ông ta vẫn còn trên vùng đất Indonesia và “nói với những thông tấn viên tại thủ đô Jakarta rằng Hoa Kỳ sẽ không nhìn nhận nền cộng hòa được FReTiLIn tuyên bố và rằng Hoa Kỳ hiểu được vị trí của Indonesia về vấn đề nầy.”

p92

Quá khủng khiếp trong những báo cáo theo sau về cuộc thảm sát hàng loạt, hãm hiếp, và việc cố ý sử dụng sự bỏ đói đến nổi mà một bản chất thẳng thắn như thế gần như muốn rơi ra khỏi tập tục. Việc giết hại nhiều nhà báo Úc vốn là những người đã chứng kiến những hành vi tàn bạo của Indonesia, sự tàn phá ở thủ đô Dili, miền Đông Timor, và sự gan lì qua sức đề kháng ở nông thôn của Đảng FReTiLIn dù bị vượt hơn rất nhiều về vũ khí đã khiến cho miền Đông Timor trở nên một tình trạng bối rối hơn là sự quảng cáo cho trật tự mới của thủ đô Jakarta. Ông Kissinger nói chung là cố gắng tránh né bất kỳ cuộc tranh luận nào về sự dính dáng của ông ta trong công cuộc làm tuyệt chủng người dân Timor –sự tham gia đang diễn ra, kể từ khi ông ta cho phép những chuyến hàng vũ khí qua cửa sau đến những người đang làm công việc trừ tiệt tận gốc– và có thể được phụ lực trong việc nầy bởi vị Đại sứ của ông ta ở Liên Hiệp Quốc, Daniel Patrick Moynihan, vốn là người sau nầy tâm sự trong cuốn hồi ký của mình “A Dangerous Place” (“Một nơi nguy hiểm”) rằng, trong lời lẽ tương đối, tổng số người chết ở miền Đông Timor trong suốt những ngày đầu của cuộc xâm lược thì “gần như là một tổng số những thương vong được trải nghiệm qua bởi Liên Bang Sô-Viết trong suốt Thế Chiến thứ II.” Ông Moynihan tiếp :

Hoa Kỳ mong muốn những việc xảy ra như họ ước, và công việc để mang lại điều nầy. Bộ Ngoại giao ước muốn rằng Liên Hiệp Quốc hoàn toàn vô hiệu quả đưa ra chứng minh trong bất cứ phương thức nào mà nó thực hiện. Nhiệm vụ nầy được giao cho tôi, và tôi chấp hành thực hiện với sự thành công không đáng kể.

Những thuật ngữ như “Hoa Kỳ” và “Bộ Ngoại giao” ở đây bị bán rẻ một cách gian lận, bởi một người được cho là bậc thầy viết văn xuôi nầy, vì chúng được sử dụng như là những từ đồng nghĩa ám chỉ Henry Kissinger.
Hai mươi năm sau đó, vào ngày 11 tháng Tám năm 1995, ông Kissinger phải đối mặt với những câu hỏi trực tiếp về chủ đề nầy. Việc công bố và quảng cáo cuốn sách mới nhất sau nầy của ông ta là “Diplomacy” (“Ngoại giao”) tại một buỗi giới thiệu sách được tài trợ bởi tổ chức Trao đổi Học tại Khách sạn Park Central ở New York, ông ta có lẽ (đã bỏ qua vấn đề Timor khỏi cuốn sách và cuộc nói chuyện của mình) đã không lường trước được đợt chất vấn đầu tiên vốn phát sinh từ phía quan khách bên dưới. Constancio Pinto, một nhà lãnh đạo kháng chiến trước đây ở Timor vốn là người đã bị bắt và tra tấn và đã trốn thoát đến Hoa Kỳ, là người đầu tiên đứng lên :
Pinto: Tôi người dân Timor. Tên tôi là Pinto Constancio. Và tôi theo dõi bài nói chuyện của ông ngày hôm nay và nó thực sự thú vị. Một điều mà tôi biết, ông đã không đề cập đến là nơi nầy bị xâm lược bởi Indonesia vào năm 1975. Chính là ở Đông Nam Á. Như kết quả của cuộc xâm lược là 200.000 người dân Timor đã bị giết chết. Theo như tôi biết, Tiến sĩ Kissinger đã có mặt ở Indonesia một ngày trước khi cuộc xâm lược miền Đông Timor. Hoa Kỳ thực sự hỗ trợ Indonesia ở miền Đông Timor. Vì vậy, tôi muốn biết ông đang làm gì vào thời điểm đó.

p93

Kissinger: Tôi đang làm gì vào lúc đó ? Toàn bộ thời gian hay chỉ là về Timor ? Trước hết, tôi muốn cảm ơn quý ông về việc đặt ra câu hỏi theo cách rất lịch sự. Kỳ rồi, một người nào đó từ Timor bám theo sau tôi tại Liên minh Oxford và họ thực tế phá nát nơi đó ra trước khi họ đặt câu hỏi.
Điều mà hầu hết những người vốn làm việc với chính phủ, không hiểu là một trong những kinh nghiệm dồi dào nhất của người đang giữ chức vụ cao. Mà qua đó luôn luôn có những vấn đề nhiều hơn bạn có thể có thể giải quyết ở bất kỳ giai đoạn một nào. Và khi bạn đang ở trong một chính sách toàn cầu và bạn là một quyền lực toàn cầu, thì có rất nhiều vấn đề.
Bây giờ, nói đến vấn đề Timor. Trước hết, bạn phải hiểu Timor là gì, cái gì là Timor, vấn đề Timor là gì. Mỗi hải đảo vốn bị chiếm ngụ bởi người Hà Lan trong giai đoạn thuộc địa, đã được thành lập như là Cộng hòa Indonesia. Ở giữa quần đảo của họ là một hải đảo được gọi là Timor.(02) Hoặc là một hòn đảo được gọi là Timor. Một nửa của nó thuộc về Indonesia và nửa kia của nó thuộc về Bồ Đào Nha –đây là một tình huống.
Bây giờ, tôi không muốn xúc phạm đến quý ông vốn là người đã đặt ra câu hỏi.
Chúng tôi đã có rất nhiều vấn đề để giải quyết. Chúng tôi đã có vào thời điểm đó, có một cuộc chiến tranh đang diễn ra ở Angola. Chúng tôi vừa mới bị đuổi ra khỏi Việt Nam. Chúng tôi đã đang tiến hành những cuộc đàm phán ở Trung Đông, và Lebanon đã nổ tung. Chúng tôi đã đang trên chuyến đi đến Trung Quốc. Có lẽ đáng tiếc là chúng tôi đã không hề nghĩ về Timor. Tôi đang nói cho bạn biết sự thật của vấn đề là gì. Lý do mà chúng tôi ở Indonesia, thực ra là tình cờ. Lúc đầu chúng tôi đã có ý định đi đến Trung Quốc, “chúng tôi” có nghĩa là Tổng thống Ford và chính tôi và một số người khác. Ban đầu chúng tôi đã có ý định đi đến Trung Quốc trong năm ngày. Đây là giai đoạn khi ông Mao đang bị bệnh rất nặng và đã có cuộc biến động ở Trung Quốc. Cái gọi là Tứ Bang đang càng lúc khống chế và chúng tôi đã có một thời gian rất bực bội trong việc đồng ý với Trung Quốc, nơi nào đi được, điều gi nói được. Vì vậy, chúng tôi đã cắt ngắn chuyến đi của chúng tôi đến Trung Quốc. Chúng tôi đi trong hai ngày ở Trung Quốc và sau đó chúng tôi đi một ngày rưỡi ở Philippines và một ngày rưỡi ở Indonesia. Đó là chuyện chúng tôi đã đến Indonesia như thế nào lúc đầu. Vì vậy, đây là thực sự ở đó thời gian để nói với người Trung Quốc chúng tôi không phụ thuộc vào chúng. Vì vậy, việc nầy vào lúc đó thực sự nhằm nói cho Trung Quốc biết là chúng tôi không phụ thuộc vào họ. Vì vậy, đó là chuyện chúng tôi đã đến Indonesia như thế nào.

p94

Vấn đề Timor chưa bao giờ được thảo luận trong chúng tôi khi chúng tôi đang ở Indonesia. Tại phi trường khi chúng tôi sắp sửa rời khỏi, những người Indonesia đã nói với chúng tôi rằng họ sắp chiếm thuộc địa Timor của Bồ Đào Nha. Đối với chúng tôi, việc đó không trông giống như một sự kiện rất quan trọng bởi vì những người Ấn Độ đã chiếm lấy thuộc địa Goa(20) của Bồ Đào Nha mười năm trước đó và đối với chúng tôi, chuyện đó trông giống như một tiến trình khác của việc triệt-thuộc địa hóa. Không ai có một ý tưởng mơ hồ nhất về chuyện gì sẽ xảy ra sau đó, và không ai hỏi ý kiến của chúng tôi, và tôi không biết đúng lý ra chúng tôi nên nói gì nếu một người nào đó đã hỏi ý kiến của chúng tôi. Chuyện đó thực sự là đã được nói với chúng tôi khi chúng tôi sắp rời khỏi.
Bấy giờ, có một bi kịch khủng khiếp của con người ở Timor sau đó. Dân cư của miền Đông Timor đã đề kháng và tôi không biết liệu những số thương vong chính xác không. Tôi chỉ không biết, nhưng chúng chắc chắn là đáng kể và không có câu hỏi nào mà qua đó chính là một bi kịch khổng lồ. Tất cả sự việc mà tôi đang nói với bạn là những gì mà chúng tôi đã biết trong năm 1975. Chuyện nầy không phải là một điều to lớn trên màn hình radar của chúng tôi. Không ai từng nghe nói lần nữa về Goa sau khi những người Ấn Độ chiếm lấy. Và đối với chúng tôi, Timor, hãy nhìn vào bản đồ, nó là một đốm nhỏ của một hải đảo trong một quần đảo lớn, mà một nửa của nó thuộc về người Bồ Đào Nha. Chúng tôi không có lý do để nói rằng những người Bồ Đào Nha nên ở lại đó. Và vì vậy khi những người Indonesia thông báo chúng tôi, chúng tôi cũng không nói “đồng ý” hay “không đồng ý.” Chúng tôi thực sự đang ở tại phi trường. Như thế, đó là sự kết nối chúng tôi với việc đó, nhưng tôi thừa nhận người đặt hỏi một sự kiện thực tế rằng chuyện đó đã là một thảm kịch lớn.
Allan Nairn: Thưa ông Kissinger, tên tôi là Allan Nairn. Tôi là một nhà báo ở Hoa Kỳ. Tôi là một trong những người Mỹ vốn đã sống sót qua vụ thảm sát ở miền Đông Timor vào ngày 12 tháng Mười Một năm 1991, một cuộc thảm sát mà trong suốt thời gian những binh lính Indonesia được trang bị với những khẩu súng M-16 của Mỹ đã bắn hạ ít nhất là 271 thường dân Timor ở phía trước nghĩa trang Công Giáo Santa Cruz khi họ được tập hợp trong hành động than khóc và phản đối ôn hòa. Bây giờ, ông chỉ nói rằng trong cuộc họp của ông với ông Suharto vào chiều ngày 6 tháng Mười Hai 1975, ông đã không thảo luận về Timor, ông đã không thảo luận về nó cho đến khi ông đến phi trường. Thế, tôi đang có ở đây một văn bản sao chính thức của Bộ Ngoại giao về cuộc đối thoại của ông và của Tổng thống Ford với Tướng Suharto,(21) một nhà độc tài của Indonesia. Nó đã được chấp nhận qua Đạo luật Tự do Thông tin. Nó đã được chỉnh sửa theo Đạo luật Tự do Thông tin, vì vậy toàn bộ văn bản không có ở đó.

(Tổng Tư lệnh Suharto của Indonesia nhiệm chức trong khoảng
1969–1973 và là vị Tổng thống thứ hai từ tháng 03/1967–05/1998.
Như vậy, khi ông Allan Nairn gọi ông Suharto là vị Tướng khi nhắc
đến cuộc đối thoại vào năm 1975 là sai lầm)

p95

Rõ ràng là từ một phần của văn bản đó thì ở đây, mà qua đó trên thực tế là, ông thực sự đã thảo luận về cuộc xâm lược Timor sắp xảy ra với ông Suharto, một sự kiện thực tế vốn đã được xác nhận với tôi bởi chính Tổng thống Ford trong một cuộc phỏng vấn mà tôi đã có với ông ta. Tổng thống Ford nói với tôi rằng trên thực tế, ông thảo luận về cuộc xâm lược Timor sắp xảy ra với ông Suharto và rằng ông đã đưa ra…
Kissinger: Ai ? Tôi hay ông ấy ?
Allan Nairn: Đó là ông và Tổng thống Ford cùng nhau đã đưa ra sự chấp thuận của Hoa Kỳ cho cuộc xâm lược miền Đông Timor. Có bản ghi nhớ khác thuộc nội bộ của Bộ Ngoại giao vốn được in ra trong một phần trích đoạn lớn ở đây mà tôi sẽ trao cho bất cứ ai trong khán giả của bạn vốn cảm thấy thú vị. Đây là một bản ghi nhớ của cuộc họp vào ngày 18 tháng Mười Hai năm 1975, được tổ chức tại Bộ Ngoại giao. Cuộc họp nầy đã được tổ chức ngay sau khi chuyến trở lại của ông và rằng ông đã mắng nhiếc ban nhân viên của mình vì đã ghi lại trên giấy tờ một phát hiện bởi vị cố vấn pháp lý thuộc Bộ Ngoại giao, ông Leigh, rằng cuộc xâm lược của Indonesia là bất hợp pháp, rằng nó không chỉ vi phạm luật pháp quốc tế, nó đã vi phạm hiệp ước với Hoa Kỳ bởi vì những vũ khí của Hoa Kỳ đã được sử dụng và việc đó rõ ràng từ văn bản sao nầy mà tôi mời bất cứ người nào trong khán giả để xem xét kỹ rằng thứ nhất, ông đã tức giận họ ởi vì ông lo sợ bản ghi nhớ nầy sẽ rò rỉ ra ngoài và thứ hai, bởi vì ông đang hỗ trợ cuộc xâm lược của Indonesia vào miền Đông Timor, và ông không muốn nó được biết đến là ông đang làm điều nầy trái ngược với lời khuyên của những người của riêng ông ở Bộ Ngoại giao. Nếu người ta nhìn vào những hành động công khai, mười sáu tiếng sau khi ông rời khỏi cuộc họp đó với ông Suharto, những binh lính Indonesia bắt đầu nhảy dù xuống Dili, thủ đô của miền Đông Timor. Họ đã đến bờ biển và bắt đầu những cuộc thảm sát vốn lên đến đỉnh điểm trong một phần ba dân số Timor. Ông đã tuyên bố việc tăng gấp đôi ngay lập tức viện trợ quân sự của Hoa Kỳ cho Indonesia vào lúc đó, và trong khi đó tại Liên Hiệp Quốc, một chỉ thị được đưa ra cho Đại sứ Daniel Patrick Moynihan, như ông ấy đã viết trong cuốn hồi ký của mình, là, như ông ta đã viết xuống, nghiên cứu xem làm sao Liên Hiệp Quốc bị hiệu quả cao độ trong bất kỳ những hành động nào mà nó có thể thực hiện trên miền Đông Timor… [những tiếng la hét từ khán giả.]

p96

Kissinger: Nghe nầy, tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta hiện thời có quan điểm…
Allan Nairn: Câu hỏi của tôi, thưa ông Kissinger, câu hỏi của tôi, thưa Tiến sĩ Kissinger, là hai phần. Trước tiên, có phải ông sẽ đưa ra sự khước từ theo Đạo luật Bảo vệ sự Riêng tư nhằm hỗ trợ cho việc mật giải hoàn toàn bản ghi nhớ nầy, như thế chúng tôi có thể nhìn thấy một cách chính xác điều gì mà ông và Tổng thống Ford đã nói với ông Suharto ? Thứ hai, có phải ông sẽ hỗ trợ việc triệu tập nhóm họp của tòa án quốc tế về những tội ác chiến tranh dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc về chủ đề miền Đông Timor và có phải ông sẽ đồng ý tuân theo bản án của nó liên quan đến cách hành xử của riêng ông ?
Kissinger: Tôi muốn nói là, ơm.., thực sự, kiều bình luận nầy là một trong những lý do tại sao cách hành xử của chính sách đối ngoại đang trở nên gần như bất khả thi trong những điều kiện nầy. Đây nhé có một anh bạn vốn là người đã có một sự ám ảnh, anh ta đã có một vấn đề, anh ta thu thập một đóng tài liệu, bạn không biết cái gì nằm trong những tài liệu nầy…
Allan Nairn: Tôi mời khán giả của ông đọc chúng.
Kissinger: Được, hãy đọc chúng. Ơm.., sự kiện thực tế thì trên cơ bản như tôi đã mô tả chúng [những tiếng gõ trên bục diễn thuyết]. Timor không phải là một vấn đề quan trọng trong chính sách của Mỹ. Nếu ông Suharto nêu lên việc đó, nếu ông Ford nói cái gì đó nghe có vẻ khuyến khích, nó không phải là vấn đề quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Dường như đối với chúng tôi là vấn đề chống thực dân mà trong đó những người Indonesia đang chiếm lấy Timor và chúng tôi hoàn toàn không có một lý do nào vào lúc đó để chú ý ít nhiều đến nó.
Thứ hai là, bạn phải hiểu những điều nầy trong bối cảnh của một giai đoạn. Việt Nam vừa mới sụp đổ. Chưa có người nào biết là lý thuyết domino sẽ có ảnh hưởng gì. Indonesia đã là… hiện tại là một quốc gia với dân số 160 triệu và chính là một quốc gia, một quốc gia quan trọng trong khu vực Đông Nam Á. Chúng tôi không đang tìm kiếm sự rắc rối nào với Indonesia và lý do mà tôi phản đối ở Bộ Ngoại giao ghi lại việc nầy trên giấy tờ; nó không phải là điều mà nó được ghi lại trên giấy tờ. Đó là nó đã được lưu hành đến những tòa đại sứ bởi vì nó được bảo đảm để rò rỉ ra ngoài. Nó được bảo đảm sau đó để dẫn đến một cuộc đối đầu công khai nào đó và vì điều tốt hơn hoặc tồi hơn, vị thế cơ bản của chúng tôi trên những vấn đề nhân quyền con người là luôn luôn cố gắng để hiểu xem trước hết nếu chúng tôi có thể thảo luận về chúng, một cách lặng lẽ, trước khi chúng biến thành một cuộc đối đầu công khai. Đây là chính sách của chúng tôi liên quan đến việc di cư từ nước Nga, mà qua đó chúng tôi hóa ra là đúng, và đây là chính sách mà chúng tôi đã cố gắng theo đuổi trong sự liên quan đến Indonesia và bất cứ ai có thể đi và tìm thấy một số tài liệu nào đó và trích ra một câu và cố gắng chứng minh một cái gì đó là cơ bản và bây giờ, tôi nghĩ rằng chúng ta đã nghe đủ về Timor. Nào, chúng ta hãy có một số câu hỏi trên chủ đề khác nào đó, [tiếng vỗ tay từ khán giả.]

p97

Amy Goodman: Thưa Tiến sĩ Kissinger, ông nói rằng Hoa Kỳ đã giành được mọi thứ mà no muốn trong Chiến tranh Lạnh đến thời điểm nầy. Tôi muốn quay trở lại vấn đề Indonesia và trước khi có sự la ó chê bai trong khán giả, chỉ nói như ông nói về Trung Quốc và Ấn Độ, Indonesia là quốc gia thứ tư lớn nhất trên thế giới. Và vì vậy, tôi muốn đặt câu hỏi theo cách hiện thời về miền Đông Timor. Và đó là, giả như điều gì đó đã xảy ra trong hai mươi năm qua, 200.000 người vốn đã bị giết chết, theo Tổ chức Ân xá, theo tổ chức Theo dõi Á châu, thậm chí theo như quân đội Indonesia… Ông có thấy điều đó như là một thành công của Hoa Kỳ không ?
Kissinger: Không, nhưng tôi không nghĩ rằng đó là một chính sách của Mỹ. Chúng tôi không có thể, chúng tôi không chịu trách nhiệm cho mọi thứ vốn xảy ra ở mọi nơi trên thế giới, [tiếng vỗ tay từ khán giả.]
Amy Goodman: Ngoại trừ 90 phần trăm đó của các loại vũ khí được sử dụng trong suốt cuộc xâm lược là từ Liên Hiệp Quốc và nó tiếp tục cho đến ngày hôm nay. Vì vậy, theo cách đó, chúng ta được kết nối một cách mật thiết với Indonesia, thật không may. Vấn đề được đưa ra là, tôi đang tự hỏi xem ông có nghĩ rằng đó là một thành công và cũng liện xem, với ông trên Ban Giám đốc Freeport McMoRan(22) (i.e. một trong những công ty sản xuất kim loại đồng và vàng lớn nhất thế giới), mà nó có hoạt động lớn khai thác vàng lớn nhất trên thế giới ở Indonesia, trong thành phố Irian Jaya (i.e. còn được gọi là thành phố Papua của Indonesia), ông có đang gây áp lực, kể từ khi công ty Freeport là thành phần vận động hành lang lớn như thế trong Quốc hội thay mặt cho Indonesia, nhằm thay đổi chính sách đó và ủng hộ quyền tự quyết cho những người dân miền Đông Timor không ?
Kissinger: Ơm…, Hoa Kỳ như là một liên giới chung chung không có thể sửa chữa mọi vấn đề về việc sử dụng những vũ khí của Mỹ trong những cuộc xung đột dân sự thuần túy. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để ngăn chận điều nầy. Khi tập đoàn công ty tư nhân Mỹ tham gia trong doanh nghiệp tư nhân trong một khu vực xa xôi bị di chuyển khỏi Timor ngoại trừ ở Indonesia, tôi không tin rằng đó là công việc của họ để chính mình bị lôi cuốn vào vấn đề đó bởi vì nếu họ làm thế, như vậy không một doanh nghiệp tư nhân nào của Mỹ sẽ được chào đón ở đó nữa.
Amy Goodman: Nhưng họ làm như thế mỗi ngày, và thành phần hành lang Quốc hội.

p98

Điều thú vị để chú ý, trong câu trả lời cuối cùng đó, sự phân hủy cuối cùng tính chất hiệu quả thông thường của ông Kissinger nếu cấu trúc văn tự như người máy. (Thêm tài liệu về sự dính dáng của ông ta với công ty Freeport McMoRan, và những cổ phần khác của ông ta trong một thể thức phức hợp được tư nhân hóa về quân sự–chính trị–thương mại, xem Chương 10). Cũng là điều hấp dẫn để xem, một lần nữa, những hoạt động của cơ chế chối bỏ của ông ta.
Nếu ông Kissinger và người đỡ đầu của mình, ông Nixon, được nhận diện với bất kỳ một niềm tin cốt lõi nào, đó là điều mà Hoa Kỳ sẽ không bao giờ, hoặc thậm chí dường như, là “người khổng lồ đáng thương, bất lực.” Những tác phẩm và những bài nói chuyện của ông Kissinger được nặng nề chêm vào văn thuật hùng biện về “sự tín nhiệm” và nhu cầu gây ấn tượng với bạn bè và kẻ thù bằng khí khái kiên quyết của người Mỹ. Tuy nhiên, trong phản ứng đối với bất kỳ cuộc thẩm tra nào vốn có thể ám chỉ ông ta có dính líu vào tội phạm và sự thất bại, ông vội làm nhục quốc gia riêng của mình, những người phục vụ chuyên nghiệp của nó, cho thấy rằng họ biết rất ít, quan tâm ít hơn, được thông báo sơ sài và dễ dàng hồi hộp bởi nhịp độ của những sự kiện. Ông ta cũng viện đến chủ nghĩa biệt lập mị dân. Trong những thuật ngữ “báo hiệu,” điều nầy phần nhiều như để tuyên bố rằng Hoa Kỳ là một đối thủ dễ bị hạ vì bất kỳ một nền “cộng hòa chuối” nào có tham vọng hoặc chủ trương đòi lại đất.
Sự đảo ngược nửa mê nửa tỉnh nầy của thuật hùng biện cũng dẫn đến những hồi kỳ được đổi mới hơn của cách nói dối cuồng nhiệt và ngẫu hứng. (Hãy nhớ lại lời tuyên bố của ông ta với Trung Quốc rằng chính là Liên Xô vốn đã phát động cuộc xâm lược Cyprus của Thổ Nhĩ Kỳ.) Ý tưởng mà qua đó việc sáp nhập Timor của Indonesia có thể được so sánh với việc chiếm cứ Goa của Ấn Độ, thì quá vô lý không thể được dẫn chứng ra trong bất kỳ lời biện hộ nào trước đây và kể từ đó. Điều mà ông Kissinger có vẻ thích về sự so sánh là tính chất mau chóng mà qua đó Goa đã bị lãng quên. Điều mà ông ta nhìn sơ qua là việc nó đã bị lãng quên bởi vì (1) nó không phải là một cuộc tắm máu và (2) nó hoàn thành việc triệt-thuộc địa hóa của Ấn Độ. Cuộc tắm máu Timor tượng trương cho sự củng cố thuộc địa hóa của Indonesia. Và rõ ràng, cuộc xâm lược của Indonesia vốn bắt đầu một vài giờ sau khi ông Kissinger đã bước ra khỏi đường băng tại phi trường Jakarta, ắt hẳn đã được lên kế hoạch và chuẩn bị sẵn sàng nhiều ngày trước khi ông ta đến.

p99

Những kế hoạch như thế đáng lý ra đã được biết đến bởi bất cứ tùy viên quân sự nào của tòa đại sứ xứng đáng cái tên, và chắc chắn bởi bất kỳ vị Ngoại trưởng nào đang đến thăm viếng. Chúng tôi có những lời của C. Philip Liechty, một sĩ quan CIA trước đây chuyên về những hoạt động đào tạo ở Indonesia, là :

Ông Suharto đã được bật đèn xanh để làm những gì ông đã làm. Có một cuộc thảo luận trong Tòa Đại sứ và trong sự giao thông với Bộ Ngoại giao về các vấn đề vốn sẽ được tạo ra cho chúng tôi nếu công chúng và Quốc hội càng lúc nhận biết về mức độ và loại viện trợ quân sự vốn đang đi đến Indonesia vào lúc đó. Nếu không có sự hỗ trợ quân sự được tiếp tục mạnh mẽ của Hoa Kỳ, những người Indonesia đã không thể khởi sự.

Giả như trách nhiệm pháp lý và quốc tế đó về vấn đề miền Đông Timor được đặt vào Bồ Đào Nha, một đồng minh NATO lâu đời của Hoa Kỳ, sự quyết định bỏ qua điều nầy, và ở mức tối thiểu được thừa nhận để không nói gì đến những người Indonesia về điều đó, ắt hẳn đã được cân nhắc kỹ lưỡng. Giả như sự quan tâm sâu sắc của ông Kissinger về số phận của đế quốc Bồ Đào Nha –như chúng ta sẽ thấy– điều đó đã có thể là thế thậm chí hơn hẳn việc đó. Điều đó chắc chắn không thể đã là kết quả của sự bất cẩn, hoặc áp lực của những sự kiện khác trên thế giới làm rối trí (lấy một thí dụ được dẫn chứng của riêng ông Kissinger) vùng thuộc địa khác là Angola của Bồ Đào Nha.
Sự ham muốn có vẻ đã không bị lôi cuốn vào có thể –nếu chúng ta nhân từ– đã phát sinh trong phần từ sự kiện thực tế mà ngay cả vị Ngoại trưởng của Indonesia, Adam Malik, thừa nhận trong quân chúng một tổng số người chết giữa 50.000 và 80.000 thường dân Timor trong mười tám tháng đầu cuộc chiến tranh chinh phục của Indonesia (nói cách khác về việc theo dõi
của ông Kissinger) và đã gây ra với những vũ khí mà qua đó ông ta uốn cong pháp luật Mỹ để cung cấp cho những kẻ giết người. Giờ đây, một hình thức dân chủ đã trở lại Indonesia, mà qua đó trong hành động đầu tiên sau chế độ độc tài đã từ bỏ sự sáp nhập và –sau một cuộc tàn sát đẫm máu cuối cùng một lực lượng ít ỏi bởi quân đội đồng minh của nó– đã rút khỏi lãnh thổ, chúng ta có lẽ có thể tìm hiểu một cách chính xác hơn mức độ của cuộc diệt chủng.

p100

Hành vi lén lút của ông Kissinger được thực hiện rất đơn giản qua bức điện thư của Bộ Ngoại giao vào tháng Mười Hai năm 1975 và văn bản ghi nhớ theo sau liên quan đến nó. Trong quan điểm về sự kiện thực tế, những quyết định thiết yếu về các thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha đã được thực hiện trong suốt tháng Bảy trước đó, khi ông Kissinger đã nắm chắc được lệnh cho phép của Tổng thống về một chương trình can thiệp quân sự bí mật được phối hợp với Nam Phi và tướng Mobutu, nhằm áp đặt một chế độ bộ lạc trên Angola. Tháng sau, như sự kiện được ghi nhận trong hồ sơ, ông ta thông báo những tướng lãnh Indonesia rằng ông ta không phản đối sự can thiệp của họ vào miền Đông Timor. Việc mặc cả duy nhất trong tháng Mười Hai liên quan đến sự đòi hỏi mà qua đó Indonesia trì hoãn việc khởi đầu cuộc phiêu lưu tìm thuộc địa của riêng nó cho đến sau khi chiếc máy bay Air Force One dành riêng cho Tổng thống, mang ông Ford và ông Kissinger, đã rời khỏi không phận Indonesia.
Kiểu mẩu “có thể phủ nhận” nầy đã không vứt bỏ được hai vấn đề hợp pháp, cả hai vấn đề trong lãnh vực của Bộ Ngoại giao. Vấn đề thứ nhất là sự vi phạm luật pháp quốc tế bởi Indonesia, trong trường hợp nơi mà quyền phán xét rõ ràng được đặt vào chính phủ Bồ Đào Nha và NATO mà qua đó ông Kissinger (một phần như là kết quả của sự hỗ trợ của nó cho việc “triệt-thuộc địa hóa”) không chấp nhận. Vấn đề thứ hai là sự vi phạm luật pháp Mỹ, mà qua đó nó qu quy định rằng những vũ khí được cung cấp cho Indonesia phải được sử dụng chỉ cho việc tự vệ. Những quan chức của Bộ Ngoại giao, bị ràng buộc bởi pháp luật, cũng thế bị ràng buộc để kết luận rằng sự viện trợ của Hoa Kỳ cho các tướng lãnh trong thủ phủ Jakarta sẽ phải bị cắt bỏ. Văn bản ghi nhớ của họ tổng kết trường hợp nầy là nguyên nhân của cuộc cải lộn nội bộ dữ dội vốn được ghi chép dưới đây, trong một văn bản sao được mật giải của Bộ Ngoại giao :

p101

BÍ MẬT / NHẠY CẢM
VĂN BẢN GHI NHỚ VỀ CUỘC ĐÀM THOẠI

Những người tham dự: Ngoại trưởng [Henry Kissinger]
Phó Ngoại trưởng [Robert] Ingersoll
Thứ trưởng Ngoại vụ
[về các Vấn đề Chính trị, Joseph] Sisco
Thứ trưởng Ngoại vụ [Carlyle] Maw
Phó Thứ trưởng Ngoại vụ
[Lawrence] Eagleburger
Phụ tá Ngoại vụ [Philip] Habib
Monroe Leigh, Cố vấn Pháp lý
Jerry Bremer, Người ghi chép

Ngày tháng: 18 tháng Mười Hai năm 1975

Chủ đề: Chính sách Bộ Ngoại giao
Ngoại trưởng [Kissinger]: Tôi muốn nêu lên một chút ít tình trạng hỗn loạn như địa ngục về cách hành xử của Bộ trong sự vắng mặt của tôi. Cho đến tuần trước, tôi nghĩ rằng chúng ta đã có một nhóm có kỷ luật; hiện nay, chúng ta đã tan biến hoàn toàn thành những mảnh nhỏ. Hãy lấy thí dụ là bức điện thư nầy về vấn đề [miền Đông] Timor. Các bạn biết tâm trí và thái độ của tôi và bất cứ ai vốn biết vị trí của tôi như các bạn biết, phải biết rằng lẽ ra tôi đã không chấp thuận nó. Hậu quả duy nhất là đặt chính các bạn vào hồ sơ. Chính là một sự ô nhục khi đối xử với vị Bộ trưởng Ngoại giao theo cách nầy…
Có sự giải thích có thể có như thế nào cho việc đó ? Tôi đã từng nói với các bạn là ngăn chận nó lại một cách lặng lẽ. Vị trí của anh bạn là làm gì, Phil, sao để việc nầy xảy ra ? Đó là điều không thể hiểu nổi. Đó là điều sai lầm trong thực chất và phương pháp. Chính là một sự ô nhục. Anh bạn có mặt ở đây không ?
Habib: Không. Sự đánh giá của chúng tôi là nếu việc đó sắp sửa trở nên rắc rối, nó sẽ xảy ra trước khi chuyến trở lại của ông. Và tôi được cho biết rằng họ đã quyết định, đó là điều mong muốn để xúc tiến qua bức điện thư.
[Kissinger]:: Vô lý. Tôi đã nói là làm việc đó trong một ít tuần và sau đó bắt đầu lại lần nữa.
Habib: Bức điện thư sẽ không bị rò rỉ ra ngoài.
[Kissinger]: Có, nó sẽ và nó cũng sẽ đi đến Quốc hội và kế đó chúng ta sẽ có những cuộc điều trần về nó.

p102

Habib: Tôi đã đi vắng. Tôi được cho biết qua điện thư rằng nó đã xảy ra.
[Kissinger]: Điều đó có nghĩa là có hai bức điện thư chứ ! Và điều đó có nghĩa là hai mươi người đã nhìn thấy nó.
Habib: Không, tôi đã lấy nó lại –qua một thông tuyến– nó chỉ là một bài diễn thuyết vô nghĩa của một đoạn văn và khó hiểu; vì vậy, tôi biết nó đang nói về điều gì. Tôi được cho biết răng ông Leigh đã nghĩ rằng có một yêu cầu pháp lý để làm điều đó.
Leigh: Không, tôi nói rằng điều đó có thể làm được theo hành chính. Nó không nằm trong sự quan tâm của chúng tôi để làm điều đó trên cơ sở pháp lý.
Sisco: Chúng tôi được cho biết rằng ông đã quyết định là chúng tôi phải ngưng lại.
[Kissinger]: Từ từ nào, từ từ nào. Tất cả các bạn đều biết quan điểm của tôi về vấn đề nầy. Bạn phải có danh phận là một viên chức FS0-8 [Viên chức Ngoại giao, Cấp Tám] vốn là người biết rõ về việc đó. Điều đó sẽ có tác động tàn phá trên Indonesia. Có một khuynh hướng tự hủy hoại nầy trong cùng cực ở đây. Không ai đã phàn nàn rằng nó là cuộc xâm lược.
Leigh: Những người Indonesia đang vi phạm một thỏa thuận với chúng ta.
[Kissinger]: Những người Israel khi họ đi vào trong Lebanon –Lần cuối cùng mà chúng ta phản đối điều đó là khi nào ?
Leigh: Đó là một tình huống khác biệt.
Maw: Chính là sự tự vệ.
[Kissinger]: Và có phải chăng chúng ta không thể phân tích được một chính phủ Cộng sản nằm ở giữa Indonesia như là sự tự vệ ?
Leigh: Thế,…
[Kissinger]: Kế đó, có phải bạn nói rằng binh khí không thể được sử dụng cho việc bảo vệ ?
Habib: Không, chúng có thể được sử dụng cho việc bảo vệ Indonesia.
[Kissinger]: Bây giờ, hãy nhìn vào chủ đề cơ bản nầy vốn đang lọt ra ngoài về vấn đề Angola. Những SOB (i.e. thằng chó đẻ) nầy đang rò rỉ ra tất cả thứ nầy cho [phóng viên của tờ báo New York Times] Les Gelb.

p103

Sisco: Tôi có thể cho ông biết là ai.
[Kissinger]: Ai ?
Sisco: [thành viên của Hội đồng An ninh Quốc gia, William] Hyland đã nói với anh ta.
[Kissinger]: Từ từ nào –Hyland đã nói…
Sisco: Ông ấy nói rằng ông ta đã báo cho anh Gelb.
[Kissinger]: Tôi muốn những người nầy biết rằng sự quan tâm của chúng ta ở Angola không phải là sự thịnh vượng về kinh tế hoặc một căn cứ Hải quân. Nó phải liên quan đến USSR (i.e. Liên bang Sô-Viết) đang hoạt động 13.000 km từ quê nhà khi tất cả các nước nhỏ xung quanh đang yêu cầu cho sự giúp đỡ của chúng ta. Điều nầy sẽ ảnh hưởng đến những người Âu châu, Liên Xô, và Trung Quốc.
Về vấn đề Timor, mà qua đó sẽ bị rò rỉ trong ba tháng sau, và nó sẽ lọt ra rằng ông Kissinger đã bác bỏ nghị quyết của giới quan chức thanh bạch của mình và vi phạm pháp luật. Có bao nhiêu người trong văn phòng L [văn phòng cố vấn pháp luật] biết về điều nầy ? [kiểu chữ nghiêng và đậm được thêm vào.]
Leigh: Ba.
Habib: Có ít nhất hai người trong văn phòng của tôi.
[Kissinger]: Cộng thêm mọi người trong cuộc họp nầy; như thế, bạn đang nói vào khoảng không dưới 15 hoặc 20. Bạn có trách nhiệm để nhận biết rằng chúng ta đang sống trong một tình hình mang tính cách mạng. Mọi thứ trên giấy tờ sẽ được sử dụng chống lại tôi.
Habib: Chúng tôi làm việc đó và luôn luôn lưu tâm đến điều đó.
[Kissinger]: Mỗi ngày một số SOB (i.e. thằng chó đẻ) trong Bộ đang triển khai về Angola nhưng không ai đang bảo vệ Angola. Thử tìm cho tôi xem có một đoạn trích dẫn nào trong bài viết của anh chàng Gelb đang bênh vực cho chính sách của chúng ta ở Angola.
Habib: Tôi nghĩ rằng những việc rò rỉ và sự bất đồng chính kiến là gánh nặng mà ông phải mang.
[Kissinger]: Nhưng những người phụ trách Bộ nầy đã có thể làm đau lòng Văn phòng AF [Bureau for African Affairs: Văn phòng về Vấn đề Phi châu.]
Ingersoll: Tôi được cho biết rằng nó đến từ phía trên dòng sông. (i.e. ám chỉ cấp trên nữa).
Eagleburger: Làm gì có.

p104

[Kissinger]: Đừng có lố bịch. Điều đó được trích dẫn ở đó. Hãy đọc bài viết của anh chàng Gelb. Có phải [Phụ tá Ngoại vụ về các Vấn đề Phi châu, William] Schaufele được gọi vào và được cho biết là nhà của ông ta đang bị kiểm soát không ? Đây không phải là thứ liên minh thiểu số. Chúng ta sắp sửa bị thua lớn. Tổng thống nói với Trung Quốc rằng chúng tôi sẽ đứng vững ở Angola và hai tuần sau đó chúng ta ra khỏi. Tôi đi đến một cuộc họp của NATO và trong khi đó những việc rò rỉ của Bộ là chúng tôi đang lo lắng về một căn cứ Hải quân và nói rằng đó là một việc làm quá mức hoặc kém khôn ngoan của ông Kissinger.
Tôi không quan tâm về dầu khí hoặc căn cứ nhưng tôi thực sự quan tâm về sự phản ứng của Phi châu khi họ nhìn thấy những người Sô-Viết khởi động và chúng ta không làm bất cứ điều gì. Nếu những người Âu châu sau nầy nói với chính mình rằng nếu họ không thể giữ được thủ đô Luanda, làm thế nào họ có thể bảo vệ châu Âu ? Người Trung Quốc sẽ nói rằng chúng tôi là một đất nước vốn sắp thiếu đất ở Đông Dương cho 50.000 người và hiện nay đang thiếu hụt ở Angola cho ít hơn 50 $ triệu đô-la. Nơi đâu là cuộc họp ở đây ngày hôm qua ? Có bất kỳ nơi nào không ?

[Kissinger]: Điều đó không có thể là sự thỏa thuận của chúng ta với Indonesia nói rằng binh khí thì chỉ dành cho những mục đích nội bộ. Tôi nghĩ, các bạn sẽ tìm thấy rằng nó nói là chúng được sử dụng một cách hợp pháp cho việc tự vệ.
Có hai vấn đề khó khăn. Những thành tích của một trường hợp mà các bạn có bổn phận nâng lên với tôi. Vấn đề thứ hai là làm cách nào để đặt những thành tích nầy lên tôi. Nhưng
đặt nó vào trong một bức điện thư cách 30 giờ trước khi tôi trở lại, nếu biết những bức điện thư được xem xét như thế nào trong tòa nhà nầy, bảo đảm rằng điều đó sẽ là một thảm họa quốc gia và vượt quá bất cứ điều gì mà [Phó Cố vấn Pháp lý George] Aldrich có trong đầu óc nóng sốt của mình.

Tôi đã lo xong chuyện đó với chuyện hành chính bằng cách ra lệnh cho Carlyle [Maw] không làm bất kỳ những cuộc buôn bán mới nào. Tình hình sẽ trở nên tốt hơn như thế nào trong sáu tuần lễ ?

(Cộng hòa Angola với thủ đô Luanda, nằm phía tây nam của châu Phi)

Habib: Họ có thể cho người dọn sạch nó trước thời gian đó.
[Kissinger]: Bộ đang tan rã và đã đạt đến điểm nơi mà nó bất tuân những mệnh lệnh rõ ràng.
Habib: Chúng tôi đã gởi đi bức điện thư bởi vì chúng tôi nghĩ rằng nó được cần đến và chúng tôi nghĩ rằng nó cần đến sự chú ý của ông. Đấy là mười ngày trước.
[Kissinger]: Vô lý. Tôi nhận được điện thư khi nào, Jerry ?

p105

Bremer: Không trước cuối tuần. Tôi nghĩ, có lẽ vào ngày Chúa Nhật.
[Kissinger]: Bạn phải biết quan điểm của tôi trên việc nầy là gì. Không ai vốn là người đã từng làm việc với tôi trong hai năm qua, đã không thể biết quan điểm của tôi sẽ là gì về vấn đề Timor. [kiểu chữ nghiêng được thêm vào.]
Habib: Vậy, chúng ta hãy nhìn vào nó –nói với ông Leigh. Vẫn còn có một số yêu cầu pháp lý. Tôi không thể hiểu tại sao nó lọt ra ngoài nếu không được yêu cầu về mặt pháp lý.
[Kissinger]: Tôi có sai lầm không trong việc giả định rằng những người Indonesia sẽ bùng lên trong sự giận dữ nếu họ nghe về điều nầy ?
Habib: Vậy, đó là điều tốt hơn là một sự cắt đứt, việc đó có thể được thực hiện ở mức thấp.
[Kissinger]: Chúng ta có bốn tuần trước khi Quốc hội trở lại. Còn nhiều thời gian chán.
Leigh: Một cách để giải quyết sự cắt đứt về hành chính sẽ là việc mà chúng ta đang nghiên cứu tình hình.
[Kissinger]: Và 36 tiếng đồng hồ sẽ là một nan đề lớn không ?
Leigh: Chúng tôi đã có một cuộc họp trong văn phòng của ông Sisco và quyết định gởi đi một thông điệp.
[Kissinger]: Tôi biết luật pháp là gì nhưng nó có thể là như thế nào trong lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ đối với chúng ta để từ bỏ Angola và đối xử tồi tệ với những người Indonesia ? Một khi, việc đó nằm trên giấy tờ, sẽ có rất nhiều những viên chức FS0-6 (i.e. Viên chức Ngoại giao, Cấp Sáu) vốn là những người có thể làm chính họ cảm thấy thỏa thích, vốn là những người có thể viết cho Nhóm người Diễn đàn Tự do về mọi thứ mặc dù tôi sẽ hóa ra là đúng vào lúc cuối.

p106

Habib: Vấn đề khó khăn thứ hai về việc rò rỉ những bức điện thư thì khác biệt.
[Kissinger]: Không, chính là một sự kiện thực nghiệm.
Eagleburger: Anh Phil, chính là một sự kiện thực tế. Anh không thể nói rằng bất kỳ bức điện thư loại NODIS nào [(“No Distributions”) “Không phân phối”: mức độ hạn chế nhất của sự phân loại tài liệu mật] cũng sẽ bị rò rỉ nhưng anh không thể tin tưởng vào ba đến 6 tháng sau đó nếu một người nào đó hỏi về nó [theo nguyên văn] trong Quốc hội. Nếu nó là một phần của hồ sợ được ghi xuống, cuối cùng nó sẽ bị lôi ra.
[Kissinger]: Các bạn có một nghĩa vụ đối với lợi ích quốc gia. Tôi không quan tâm nếu chúng tôi bán dụng cụ cho Indonesia hay không. Tôi không được gì từ việc đó. Tôi không được món tiền huê hồng nào. Nhưng các bạn có nghĩa vụ phải nghĩ ra cách nào để phục vụ đất nước của mình. Bộ Ngoại vụ không phải là để phục vụ cho chính nó. Chữ vụ có nghĩa là phục vụ cho Hoa Kỳ và không phải là phục vụ cho Bộ Ngoại vụ.
Habib: Tôi hiểu điều đó. Đó là điều gì mà bức điện thư nầy sẽ làm gì.
[Kissinger]: Ngay khi các bạn đặt điều nầy vào trong hệ thống, các bạn không thể giải quyết nó mà không có một phát hiện.
Leigh: Có một câu hỏi duy nhất. Chúng ta sẽ nói gì với Quốc hội nếu chúng ta bị hỏi ?
[Kissinger]: Chúng tôi cắt đứt nó đi trong khi chúng tôi đang nghiên cứu nó. Chúng tôi có ý định bắt đầu lại vào tháng Giêng.

Việc chuyển giao những vũ khí hạng nặng cho việc sử dụng chống lại những mục tiêu dân sự quả thật đã tiếp tục lại vào tháng Giêng năm 1976, sau một khoảng thời gian gián đoạn
ngắn ngủi mà qua đó Quốc hội đã bị lừa dối khi được quảng cáo. Rất đặc biệt là không ai, phải nói là như thế, bước ra khỏi cuộc họp nầy; những công chức của vị Tổng thư ký là bất cứ thứ gì ngoại trừ sự “thanh bạch.” Tuy thế, điều có thể được ghi nhận về ông Kissinger mà qua đó, trong sự trái ngược hoàn toàn đối với những lời phát biểu công khai của ông ta, ông ta:

1. Nhẫn nhịn bất kỳ sự nhắc nhở nào về đất nước Goa.
2. Đã không bận tâm che giấu những quan điểm được bám giữ từ lâu về vấn đề, qua việc mắng nhiếc những thuộc hạ của mình vì quá đông đến nổi không thể biết họ.
3. Không giả vờ khi phải tiếp nhận bất ngờ bởi những sự kiện ở miền Đông Timor.
4. Thừa nhận rằng ông ta đã vi phạm pháp luật.
5. Cảm thấy đó là điều cần thiết để chối bỏ là ông ta có thể thu được lợi nhuận riêng từ những chuyến hàng vũ khí, một sự chối bỏ mà không ai đã hỏi ông ta về điều đó.

p107

Rõ ràng là, có một biện chứng trong tâm trí của ông Kissinger giữa vấn đề Angola và miền Đông Timor, cả hai đất nước đó cách xa nhiều cây số từ những biên giới của Hoa Kỳ hoặc Nga Xô, nhưng cả được xem như là những thử nghiệm về phẩm giá của riêng ông ta. (Những “tiểu quốc xung quanh” mà ông ta ám chỉ đến trong trường hợp của nước Angola là sự tách biệt chủng tộc từ Nam Phi và đất nước Zaire của Tướng Mobutu: là phần lớn trong số những tiểu quốc của châu Phi, như là một vấn đề của hồ sơ, đã phản đối sự can thiệp của ông ta vào phía chế độ bộ lạc và những dân quân ủng hộ Nam Phi ở đất nước Angola. Những chế độ được ân huệ của ông ta đã sụp đổ từ lâu trong sự nhục nhã; Hoa Kỳ bấy giờ nhìn nhận nhóm MPLA (i.e. Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola(23) thân Sô-Viết, thuộc Đảng Lao động), với tất cả những sự biến dạng của nó, như là một chính phủ Angola hợp pháp. Và dĩ nhiên, không một người Âu châu nào từng cảm thấy rằng số phận của Tây phương được xoay quanh canh bạc của ông Kissinger tại thủ đô Luanda.)

(Mobutu Sese Seko Kuku Ngbendu wa Za Banga –còn được gọi tắt là
Mobutu Sese Seko là vị Tổng thống của Cộng hòa Congo trong nhiệm
kỳ 11/1965–05/1997. Tên nước Congo được ông ta đổi thành Zaire
vào năm 1971. Tác giả đã gọi chức vụ ông ta là Tướng là sai lầm)

(Vị lãnh tụ của MPLA, Agostinho Neto, cũng là vị Chủ tịch Angola
đầu tiên, thuộc phe thân Cuba mặc dù vẫn giữ nhũng quan hệ chặt
chẽ với Sô-Viết và khối Cộng sản)

(Lá cờ của Đảng Lao động Angola với nhóm MPLA thân Cộng)

Mà qua đó ông Kissinger hiểu chủ quyền pháp lý tiếp tục của Bồ Đào Nha ở miền Đông Timor được thể hiện bằng văn bản ghi nhớ NODIS của một cuộc họp tại Doanh trại David giữa chính ông ta, Tướng Suharto và Tổng thống Ford vào ngày 5 tháng Bảy năm 1975 trước đó. Hầu như mỗi dòng của văn bản đã bị xóa bởi việc soạn thảo chính thức, và phần lớn cuộc thảo luận không làm sáng tỏ lắm, ngoại trừ về sự nóng lòng của chính quyền cung cấp dụng cụ hải quân, không quân và quân sự cho chính quyền quân phiệt, nhưng tại một điểm, ngay trước khi ông Kissinger bước vào, Tổng thống Ford hỏi người khách của mình, “Những người Bồ Đào Nha đã định ngày tháng cho việc cho phép những người Timor thực hiện sự chọn lựa của họ chưa ?” Toàn bộ câu trả lời bị xóa sạch hoàn toàn bởi việc gạch xóa đi và để cho nó không bao giờ được nói rằng Bộ Ngoại giao của ông Kissinger không biết là Bồ Đào Nha đã được ban quyền, thật là được ủy quyền, để tổ chức cuộc bầu cử tự do cho người dân Timor. Không chắc là ông Suharto, trong câu trả lời bị cắt bỏ, đang làm yên lòng những chủ khách của mình là một cuộc bầu cử tự do như thế sẽ được chiến thắng bởi những ứng cử viên ủng hộ việc sáp nhập của Indonesia.
Vào ngày 9 tháng Mười Một năm 1979, một cột báo của Jack Anderson trên tờ báo Washington Post công bố một cuộc phỏng vấn về miền Đông Timor với cựu Tổng thống Ford và một số lượng những tài liệu tình báo mật liệt của Hoa Kỳ liên quan đến việc xâm lược năm 1975. Một trong những giấy tờ mật liệt mô tả về việc những tướng lãnh của Indonesia thúc đẩy ông Suharto như thế nào “để cho phép sự can thiệp quân sự trực tiếp,” trong khi một người khác thông báo cho các Ngài Ford và Kissinger rằng ông Suharto đó sẽ nêu lên vấn đề miền Đông Timor tại cuộc họp vào tháng Mười Hai năm 1975 của họ và sẽ “cố gắng và gợi ra một thái độ cảm thông.” Một ông Ford tương đối chân chất vui mừng bảo ông Anderson rằng sự lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ “phải là bên phía Indonesia.” Ông ta có thể hoặc không thể nhận biết rằng theo cách đó, ông ta đang đưa ra lời nói dối về mọi thứ vốn từng được nói bởi ông Kissinger về đề tài nầy.

p108

Chương 09 : Một “Công việc Ướt đẩm”(24) ở Washington ?

Như chúng ta đã từng nhiều hơn một lần nhìn thấy, ông Kissinger có khuynh hướng cá nhân hóa vấn đề chính trị của mình. Những chính sách của ông ta đã trực tiếp và cố ý dẫn đến những cái chết của hàng trăm ngàn người vô danh, nhưng cũng đã dính líu đến việc nhắm vào một số cá nhân phiền toái –Tướng Schneider (của Chile), Đức Tổng Giám mục Makarios (của Cyprus), nhà chính trị Sheikh Mujib (của Bangladesh). Và, như chúng ta cũng đã nhiều hơn một lần để mắt đến, ông Kissinger có một sự thích thú đặc biệt đối với mối thù Washington truyền kiếp và sự trả thù quy tụ vào nơi.
Dường như có thể là hai khuynh hướng nầy hội tụ trong một trường hợp duy nhất: một kế hoạch bắt cóc và hạ sát một người đàn ông có tên là Elias P. Demetracopoulos. Ông Demetracopoulos là một nhà báo Hy Lạp xuất sắc với một hồ sơ không tiền khoáng hậu về sự chống đối chế độ độc tài vốn đã làm biến dạng quê hương của ông ta trong khoảng năm 1967 và 1974. Theo khoảng thời gian của những năm tháng đó, ông ta đã xem quê hương của mình ở Washington, tự mưu sinh như là một nhà tư vấn cho một công ty tài chánh có tiếng. Vô số những Thượng nghị sĩ, dân biểu, nhân viên trong Quốc hội, nhà ngoại giao và những phóng viên đã chứng thực cho chiến dịch phi thường chỉ có một người của vận động hành lang và thông tin mà ông ta đã chiến đấu chống lại bọn băng đảng quân sự vốn là những kẻ đã chiếm đoạt quyền lực ở thủ dô Athens, Hy Lạp. Kể từ khi cùng một chính quyền quân phiệt đó
hưởng được sự cảm thông về những quan tâm quyền lực ở Washington, ông Demetracopoulos buộc phải chiến đấu trên hai mặt trận, và tạo nên (như sẽ không lâu xuất hiện) một số kẻ thù có thế lực.

(Nhà báo Hy Lạp, Elias P. Demetracopoulos lưu vong và tái định cư ở
Washington D.C. từ năm 1967 –nơi mà ông ta vận động hành lang chống
lại chính quyền quân phiệt Hy Lạp. Trong hình là cuộc họp báo
vào năm 2010 lúc ông ta được 82 tuổi)

p109

Sau sự sụp đổ của chế độ độc tài Hy Lạp vào năm 1974 –một sự sụp đổ được gây ra bởi những sự kiện mà tôi thảo luận trong Chương 7 về Cyprus ở trên– ông Demetracopoulos có được sự tiếp cận những hồ sơ của cảnh sát mật vụ ở Athens, và khẳng định những gì mà ông ta đã từng nghi ngờ từ lâu. Đã có hơn một lần mưu toan được thực hiện để bắt cóc và loại trừ ông ta. Những hồ sơ được giữ bởi KYP –tiếng Hy Lạp tương đương với CIA– tiết lộ rằng nhà độc tài sau nầy George Papadopoulos và Phó trưởng phòng an ninh Michael Roufogalis nhiều lần tiếp xúc với phái đoàn quân sự Hy Lạp ở Washington với sự kết thúc trong quan điểm nầy một cách rõ ràng. Được đóng dấu với dòng chữ “VĂN BẢN TÌNH BÁO(25): CHỈ NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC PHÉP XEM” –sự phân loại bảo mật cao nhất– văn bản luân lưu nầy dính líu đến rất nhiều những âm mưu. Họ có cùng một mong muốn, đó là điều thú vị đáng lưu ý, là nhìn thấy ông Demetracopoulos bị chộp lén từ Washington và bị trả về quê hương. Một vụ ám sát tại Washington đã có thể là điều làm xấu hổ; hơn nữa dường như đã có một nhu cầu để thẩm vấn ông Demetracopoulos trước khi tống khứ ông ta đi. (Chính quyền quân phiệt Hy Lạp đã bị trục xuất vào năm 1970 bởi Hội đồng châu Âu vì sử dụng hình thức tra tấn có hệ thống của nó đối với người đối lập về chính trị, và một loạt những cuộc xét xử công khai được tổ chức tại thủ đô Athens sau năm 1974 đã cam kết với những kẻ tra tấn và những bậc thầy về chính trị của họ cho những kỳ hạn lâu dài của sự giam cầm.) Một đề nghị được đưa ra là lén đưa ông Demetracopoulos lên chiếc máy bay dân sự Hy Lạp, một ý kiến khác là đặt ông ta vào chiếc máy bay quân sự Hy Lạp, và vẫn có một ý kiến khác là đưa ông ta lên chiếc tàu ngầm. (Nếu không phải là hồ sơ chứng minh về sự phi lý và điên rồ trong số các nhà lãnh đạo của chính quyền quân phiệt, người ta có thể bị cám dỗ gạt bỏ đi ít nhất là một phần ba của những kế hoạch nầy như là một sự tưởng tượng.) Một câu nổi bậc từ bức điện thư thuộc loại VĂN BẢN TÌNH BÁO :

Chúng ta có thể tin cậy vào sự phối hợp của các cơ quan khác nhau của chính phủ Hoa Kỳ, ngoại trừ sự đánh giá về phản ứng của Quốc hội là khốc liệt.

Đây là sự đánh giá đúng mức: cơ quan CIA và NSC(26) nói riêng, nổi tiếng là thân thiện với chính quyền quân phiệt, trong khi ông Demetracopoulos hưởng được lợi ích của nhiều tình bạn trong số những Thượng nghị sĩ và thành viên của Hạ viện.
Việc tìm tòi để khám phá ra loại “phối hợp” ra sao mà những cơ quan Hoa kỳ đã có thể đã đưa ra, ông Demetracopoulos vào năm 1976 thuê một luật sư –William A. Dobrovir thuộc của công ty pháp lý Dobrovir, Oakes và Gebhardt ở Washington, D.C. — và tiến hành việc kiện tụng theo Đạo luật Tự do Thông tin và Đạo luật Bảo vệ sự Riêng tư.

p110

Ông ta có thể có được nhiều trăm tài liệu từ cơ quan FBI, CIA và Bộ Ngoại giao, cũng như Bộ Tư pháp và Lầu Năm Góc. Một số lượng những giấy tờ nầy chỉ ra rằng những bản sao đã được giao cho Hội đồng An ninh Quốc gia, sau đó là phạm vi ảnh hưởng của Henry Kissinger. Tuy nhiên, những yêu cầu cho việc cung cấp tài liệu từ nguồn nầy thì vô tác dụng. Như được ghi nhận trước đây, ông Kissinger khi rời khỏi chức vụ đã tạo ra một thứ con tin bảo đảm cho những giấy tờ của riêng mình –việc sao chép chúng, phân loại chúng như là “riêng tư,” và chuyển nhượng chúng cho Thư viện Quốc hội trên điều kiện là chúng được giữ một cách kín đáo. Như thế, ông Demetracopoulos gặp phải một bức tường đá tảng khi ông ta dùng đến pháp luật để thử và nạy lên bất cứ thứ gì từ NSC.(26) Vào tháng Ba năm 1977, tuy nhiên, NSC cuối cùng đã trả lời cho bước đầu về pháp lý được lặp đi lặp lại bằng cách cho ra một “bảng mục lục cốt lõi trong máy tính” của những hồ sơ vốn đã được cất giữ về ông Demetracopoulos. Theo từng trang qua bảng mục lục nầy, sự chú ý của ông ta bất ngờ bắt gặp dòng chữ sau đây :

7024513 TÀI LIỆU = 5 TRONG 5 TRANG = 1 TRONG 1 TRANG.
NHỮNG CHỮ CHÍNH YẾU NHẬN BIẾT ĐƯỢC. NHỮNG NGHỊ SĨ NHƯ ÔNG MOSS, ÔNG BURDICK, ÔNG GRAVEL. VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ÔNG DEMETRACOPOULOS.

CHẾT TRONG NHÀ TÙ Ở ATHENS NGÀY 701218.

“Ừ, đó không phải là chuyện mỗi ngày,” ông Demetracopoulos nói khi tôi phỏng vấn ông ta, “mà bạn đọc về cái chết của riêng bạn trong một tài liệu của nhà nước.” Luật sư của ông ta buộc phải đồng ý, và viết một loạt thư cho ông Kissinger yêu cầu về những bản sao của hồ sơ mà qua đó bảng mục lục đề cập đến. Trong bảy năm –một lần lặp lại, trong bảy năm– ông Kissinger từ chối ban đặc ân cho luật sư của ông Demetracopoulos với câu trả lời. Khi ông ta cuối cùng thực sự đáp lại, việc đó chỉ qua luật sư của riêng mình, vốn là người đã viết là :

Những nỗ lực được thực hiện nhằm tìm kiếm qua đóng hồ sơ thu thập cho những bản sao của những tài liệu vốn thích ứng với sự mô tả được cung cấp… Không có những bản sao nào như thế có thể được tìm thấy.

“Những nỗ lực đã được thực hiện” là, dĩ nhiên, một phần trong tình trạng bối rối mà có thể mô tả cho một cuộc điều tra chiếu lệ nhất. Do đó, chúng tôi chỉ còn lại với câu hỏi: Có phải ông Kissinger biết về, hoặc phê duyệt, hoặc hình thành một phần của, thứ “phối hợp của các cơ quan khác nhau của chính phủ Hoa Kỳ” đó mà qua đó những kẻ nước ngoài chuyên quyền bạo ngược đã và đang tin cậy vào một trù hoạch bắt cóc, tra tấn và hành quyết ?
Để bắt đầu với một câu hỏi hiển nhiên: Tại sao một nhân vật tầm cỡ như ông Kissinger hoặc là nên biết về, hoặc là quan tâm về, sự tồn tại của một nhà báo đơn thân đối kháng chính kiến ? Câu hỏi thì dễ dàng được trả lời : hồ sơ cho thấy là ông Kissinger biết rất rõ ai là ông Demetracopoulos, và ghét cay ghét đắng ông ta trở thành cuộc mặc cả.

p111

Hai người đàn ông đã thực sự gặp gỡ ở Athens vào năm 1956, khi ông Demetracopoulos chủ tọa một buổi ăn trưa tại khách sạn Grande Bretagne cho vị giáo sư thỉnh giảng. Qua thập kỷ tới, ông Demetracopoulos đã nổi bật trong số những thứ về việc cảnh cáo, và đối kháng, sự can thiệp quân sự vào chính trị Hy Lạp. CIA bênh vực chung chung cho hành động can thiệp như thế và duy trì những kết nối mật thiết với những người vốn đang lên kế hoạch cho việc đó: trong tháng Mười Một năm 1963, Giám đốc CIA, John McCone, đã ký vào một thông điệp nội bộ yêu cầu về “bất kỳ dữ kiện gây xúc phạm lớn lao vốn có thể dùng để từ chối [ông Demetracopoulos] được phép vào Hoa Kỳ trong những lần sau nầy.” Thật ra, không có thông tin nào gây xúc phạm như thế hiện có, vì thế khi cuộc đảo chính xảy ra, ông Demetracopoulos có thể định cư ở Washington, D.C., và bắt đầu chiến dịch lưu vong của mình.
Ông ta bắt đầu việc đó khá thuận tiện, nhờ vào việc cung cấp “dữ kiện gây xúc phạm” về chiến dịch vận động tranh cử vào năm 1968 của ông Nixon và ông Agnew. Chiến dịch nầy –đã thực sự bị ô uế đủ tồi tệ rồi bởi sự phản bội những cuộc đàm phán hòa bình Việt Nam– cũng đang nhận được những số tiền đóng góp bất hợp pháp từ chế độ độc tài quân sự Hy Lạp.
Số tiền đến từ Michael Roufogalis ở cơ quan mật vụ KYP và được chuyển qua, bằng tiền mặt, cho John Mitchell bởi một doanh nhân Mỹ gốc Hy Lạp, cực kỳ bảo thủ có tên là Thomas Pappas. Tổng số tiền bị dính líu là 549.000 $ đô-la –một số tiền đáng kể theo bản vị tiền tệ trong ngày. Việc thu nhận của nó là bất hợp pháp gấp đôi: những chính phủ nước ngoài đều bị cấm thực hiện những đóng góp tiền bạc cho chiến dịch vận động tranh cử (nói chung, như là những người ngoại quốc), và giả như là cơ quan KYP đang trong tình trạng tiếp nhận những trợ cấp của CIA, có sự nguy hiểm hơn nữa tồn tại mà qua đó tiền bạc của tình báo Mỹ đang được tái sử dụng trở lại vào trong tiến trình chính trị của Mỹ –trong sự vi phạm trực tiếp điều lệ của của riêng CIA.

(Thomas A. Pappas, nhà kinh doanh Mỹ gốc Hy Lạp, từng bị dính
líu đến số tiền đóng góp từ chính quyền quân phiệt Hy Lạp cho
chiến dịch vận động tranh cử của ông Nixon vào năm 1968)

Vào năm 1968, ông Demetracopoulos mang những phát hiện của mình đến Larry O’Brien, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Dân chủ, vốn là người ban hành lời kêu gọi cho một cuộc điều tra vào trong những hoạt động của ông Pappas và những quan hệ nồng ấm tồn tại giữa chiến dịch vận động tranh cử của Nixon–Agnew và chính quyền quân phiệt Athens. Một số lượng những nhà sử học kể từ đó đã suy đoán như là liệu có phải chính là bằng chứng cho việc nầy là “sự kết nối với Hy Lạp,” với tiềm năng rất lớn của nó đối với sự thiệt hại, mà qua những kẻ trộm của ông Nixon và ông Mitchell đang tìm kiếm khi họ đột nhập vào văn phòng ở khu Watergate của ông O’Brien dưới sự che chở của màn đêm. Một sức nặng đáng kể được thêm vào quan điểm nầy bởi một sự kiện thực tế nổi bật: khi Nhà Trắng của ông Nixon đang tìm kiếm “số tiền bịt miệng” cho những kẻ trộm, nó quay sang Thomas Pappas để lấy tin tức.

p112

Sự hiểu biết nguy hiểm của ông Demetracopoulos về những đóng góp tiền bạc bí mật cho chiến dịch vận động tranh cử, và việc vận động hành lang chính trị không ngừng của ông ta trên nhà Quốc hội và trên báo chí chống lại chế độ khách hàng của ông Nixon và ông Kissinger ở Athens, đã thu hút sự chú ý không mong muốn đến ông ta. Sau nầy, ông ta đã kiện cả cơ quan FBI và lẫn CIA –trở thành người đầu tiên từng làm như thế một cách thành công– và nhận được những sự thú nhận bằng giấy trắng mực đen từ cả hai cơ quan rằng họ có trong tay “không một thông tin xúc phạm nào” về ông ta. Trong quá trình diễn tiến của những vụ thưa kiện nầy, ông ta bảo mật sự thừa nhận từ William Webster, sau nầy là giám đốc FBI, rằng ông ta đã từng bị đặt dưới sự giám sát “khá mở rộng” vào và giữ những ngày tháng như sau: ngày 9 tháng Mười Một năm 1967 và ngày 2 tháng Mười năm 1969; ngày 25 tháng Tám năm 1971 và 14 tháng Ba năm 1973; và ngày 19 tháng Hai và 24 tháng Mười năm 1974.
Không nhận biết về mức độ chính xác của sự giám sát nầy, ông Demetracopoulos tuy thế đã hơn một lần tìm thấy chính mình bị chạm lướt qua bởi một bàn tay nặng nề. Vào ngày 7 tháng Chín 1971, ông ta đang ăn trưa tại Câu lạc bộ Đua ngựa thanh lịch Washington với vị Trưởng hầu cận của ông Nixon, Murray Chotiner, vốn là người nói với ông ta một cách thẳng thừng, “Hãy ngưng đi, Pappas. Anh bạn có thể gặp rắc rối. Anh bạn có thể bị trục xuất. Đó không phải là đướng lối chính trị khôn ngoan. Bạn biết, Tom Pappas là bạn của Tổng thống.” Tháng sau, vào ngày 27 tháng Mười năm 1971, ông Demetracopoulos đang ăn trưa với một nhà báo bình luận, Robert Novak, tại Sans Souci và bị đe dọa bởi chính ông Pappas, vốn là người bước qua tứ bàn ăn bên cạnh để bảo ông ta và ông Novak rằng ông Demetracopoulos có thể gây rắc rối cho bất cứ người nào vốn là người muốn ông ấy điều tra. Vào ngày 12 tháng Bảy trước đó, ông Demetracopoulos đã điều trần trước tiểu ban Âu châu thuộc Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, được chủ tọa bởi Dân biểu Benjamin Rosenthal của New York, về ảnh hưởng của Thomas Pappas trên chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và chế độ độc tài Athens (và ngược lại). Trước khi sự chứng nhận bằng lời của ông ta có thể được in ra, một nhân viên thuộc Bộ Tư pháp xuất hiện tại văn phòng của tiểu ban và yêu cầu một bản sao của lời phát biểu. Ông Demetracopoulos sau đó, vào ngày 17 tháng Chín, đã đưa ra một văn bản ghi nhớ về các hoạt động của ông Pappas đến cùng một tiểu ban. Chứng thư của ông ta kết thúc như sau: “Cuối cùng, tôi đã đệ trình riêng lẻ đến tiểu ban những tin tức về bằng chứng theo tài liệu mà tôi tin tưởng sẽ là hữu ích.” Câu tuyên bố nầy, Rowland Evans và Robert Novak đã viết trong cột báo cung cấp thông tin của họ, đã gây ra “sự bấn loạn cực kỳ trong Nhà Trắng của ông Nixon.”

p113

Những tiết lộ sau đó đã làm cho chúng tôi quen thuộc với bầu không khí một phần là thành viên mafia và một phần là nước cộng hòa “chuối” ở Washington trong suốt những năm đó; đó là điều vẫn còn rất sửng sốt đối với ông Demetracopoulos khi nhận được một lá thư từ bà Louise Gore. Bà Gore kể từ khi đã trở nên lừng danh hơn như là người em họ của Phó Tổng thống Albert Gore và là bà chủ của khách sạn Fairfax ở Washington, D.C., nơi mà nhà chính trị bé con lớn lên. Bà ta sau đó khá nổi tiếng trong cánh hữu của riêng mình: như là Thượng nghị sĩ thuộc Đảng Cộng hòa từ tiểu bang Maryland, và như là người phụ nữ vốn đã giới thiệu Spiro Agnew cho Richard Nixon. Bà ta là một người thân cận của Tổng Chưởng lý Mitchell, và đã từng được cử như là người đại diện của ông Nixon cho UNESCO. Ông Demetracopoulos đã sống, cùng với nhiều nghị sĩ và các loại người chính trị, như là người thuê mướn một căn buồng trong khách sạn của bà ta. Ông ta cũng đã từng là một người bạn của bà ta kể từ năm 1959. Vào ngày 24 tháng Giêng năm 1972, bà ấy viết cho ông ta :

Elias thân –
Tôi đã đi đến buổi ăn trưa của Perle [là Perk Mesta] vì Martha Mitchell, ngày hôm qua và ngồi bên cạnh ông John. Ông ta giận dữ với bạn –và lời chứng nhận của bạn chống lại ông Pappas. Ông ta tiếp tục đe dọa cho người trục xuất bạn.
Lúc đầu, tôi đã cố gắng hỏi ông ta xem ông ta có bất kỳ lý do nào để nghĩ rằng bạn dám có thể bị trục xuất và ông ta đã không có bất kỳ câu trả lời nào –Nhưng sau đó đã cố gắng quật ngược bằng cách hỏi tôi những gì tôi biết về bạn và tại sao chúng ta là bạn bè.
Việc đó thực sự vuột ra khỏi tầm tay. Đó là tất cả những gì mà ông ta đã nói lan man trong suốt bữa ăn trưa và mọi người ở bàn ăn đang lắng nghe…

Trong số những người có mặt tại bàn ăn là George Bush, kế đó là vị Đại sứ tại Liên Hiệp Quốc, và nhiều nhà ngoại giao khác. Việc thiếu sự kiềm chế và cách không khéo xử sự của Tổng Chưởng lý, vào một dịp như thế và tại ngay bàn ăn của bà chủ nhà huyền thoại Perle Mesta, rõ ràng là có triệu chứng bị chọc tức đáng kể, thậm chí giận dữ.

(Perle Reid Mesta (1889–1975) là một người thuộc giai cấp thượng lưu Mỹ,
nữ chủ chính trị, và là vị Đại sứ Mỹ tại Luxembourg (1949–1953). Bà ta được
biết đến như là “nữ chủ với sự tuyệt vời nhất” trong những buổi tiệc xa hoa của
mình gồm các ngôi sao sáng nhất của Washington, D.C., xã hội, bao gồm
những họa sĩ, nghệ sĩ và nhiều nhân vật chính trị quốc gia cấp cao nhất)

p114

Tôi đã liên kết nền tảng nầy nhằm mục đích chỉ ra rằng ông Demetracopoulos đang chịu sự giám sát, rằng ông ta nắm giữ thông tin gây tổn hại to lớn cho chế độ khách hàng quan trọng theo chính sách Nixon–Kissinger, và rằng nhân dạng của ông ta được biết rõ đối với những người cầm quyền, ở Washington và lẫn Athens. Vị Đại sứ Hoa Kỳ tại Athens vào lúc đó là Henry Tasca, một người bạn chí thân của ông Nixon và ông Kissinger với thái độ rất khoan dung đối với chế độ độc tài. (Ông ta sau nầy chứng nhận trong một phiên họp kín của Quốc hội rằng ông ta đã từng biết về những số tiền chi trả vào năm 1968 bởi cảnh sát mật vụ Hy Lạp cho chiến dịch tranh cử của ông Nixon.) Vào tháng Bảy năm 1971, không lâu sau khi ông Demetracopoulos điều trần trước tiểu ban của Dân biểu Rosenthal, ông Tasca đã gởi đi một bức điện thư bí mật dài bốn trang từ thủ đô Athens. Nó bắt đầu như sau :

Trong một thời gian nào đó, tôi đã từng cảm thấy rằng Elias Demetracopoulos nghe nói về một âm mưu được sắp xếp rất kỹ lưởng vốn xứng với một cuộc điều tra nghiêm túc. Chúng ta đã từng nhìn ông ta có ảnh hưởng như thế nào trong việc chiến đấu chống lại chính sách hiện nay của chúng ta ở Hy Lạp. Mục đích của ông là gây thiệt hại những mối quan hệ của chúng ta với Hy Lạp, làm lỏng lẻo liên minh NATO của chúng ta và làm suy yếu vị thế bảo an của Hoa Kỳ ở khu vực miền Đông Địa Trung Hải.

Điều nầy chắc chắn đang nắm lấy ông Demetracopoulos một cách nghiêm trọng. Đoạn văn kết thúc cũng thế, mà qua đó đọc thấy như sau :

Vì vậy tôi đang mang ra vấn đề đến sự chú ý riêng của bạn với hy vọng rằng một cách nào đó sẽ được tìm thấy nhằm đẩy mạnh cuộc điều tra về ông Demetracopoulos để nhận diện những nhà tài trợ, những nguồn ngân quỷ, những ý định, những phương pháp làm việc và những người bạn đồng mưu của ông ta… Tôi mang ra vấn đề nầy đến sự chú ý của bạn hiện thời, qua việc tin tưởng rằng như là một dân cư nước ngoài ở Hoa Kỳ, việc có thể là nộp ông ta cho loại tìm kiếm và điều tra chuyên nghiệp của FBI mà qua đó sẽ mở ra một số bí ẩn.

Bức điện thư đã được gởi, như thông thường là từ vị Đại sứ, đến Bộ trưởng Ngoại giao William Rogers. Tuy thế, nó cũng được gởi –rất ư là bất thường– đến Tổng Chưởng lý John Mitchell. Nhưng Mitchell, như chúng ta đã hiểu, là vị Chưởng lý duy nhất từng phục vụ cho Ủy ban Bốn mươi có giám sát của Henry Kissinger, mà qua đó ông ta quan sát được những hoạt động bí mật.

p115

Bộ Ngoại giao bày tỏ chủ trương một cách chính đáng rằng “Bộ Tư pháp làm mọi thứ có thể để xem chúng ta có thể làm nên một vụ thưa kiện Cơ quan Mật vụ Nước ngoài, hoặc bất kỳ loại thưa kiện nào cho vấn đề đó” chống lại ông Demetracopoulos. Dĩ nhiên, như sau nầy được thừa nhận, những cuộc điều tra không tìm thấy gì cả. Cái ảnh hưởng được sử dụng bởi ông Demetracopoulos không xuất phát từ bất cứ nguồn lực nham hiểm hoặc mối quan hệ nào. Nhưng khi ông ta nói rằng chế độ độc tài Hy lạp đã chà đạp xã hội của riêng nó, sử dụng chế độ kiểm duyệt và tra tấn, đe dọa Cyprus, và tự mua chuộc ảnh hưởng chính trị ở Washington, ông ta đang thốt ra những sự thật có dữ kiện mạnh mẽ. Chính ông Nixon xác nhận sự kết nối, giữa chính quyền quân phiệt Hy Lạp và ông Pappas và ông Tasca và một dòng chảy tiền bạc dơ bẩn hai chiều, trên cuốn băng thu âm của Nhà Trắng sau vụ Watergate được ghi ngày 23 tháng Năm năm 1973. Ông ta đang nói chuyện với người thư ký thân tín, nổi tiếng của mình, Rose Mary Woods :

(William Pierce Rogers (1913–2001), là vị Ngoại trưởng tiền nhiệm
(01/1969–09/1973) đối với Henry Kissinger, dưới chính quyền Nixon)

Cái ông Tom Pappas già, bạn tốt, như bạn có lẻ biết hoặc nghe nói đến, nếu bạn đã chưa nghe nói, đó là sự thật, ông ta đã giúp đỡ, theo yêu cầu của ông Mitchell, gây quỹ cho một số bị cáo… Ông ta lên đây để gặp tôi vào ngày 7 tháng Ba, ông Pappas đã đến thực sự. Ông Pappas đến gặp tôi về chuyện Đại sứ ở Hy Lạp, mà ông ta muốn –ông ta muốn giữ Henry Tasca ở đó.

Cùng một chế độ độc tài nầy, vào tháng Sáu năm 1970, đã thu hồi tư cách công dân Hy Lạp của ông Demetracopoulos, vì vậy ông ta là người vô tổ quốc, chỉ đi lại bằng giấy tờ bản sao mỏng manh cho phép ông ta rời khỏi để tái nhập cảnh Hoa Kỳ. Sự kiện thực tế nầy gánh lấy tầm quan trọng của riêng nó vào tháng Mười Hai năm 1970, khi người cha bị mù của ông ta qua đời vì bệnh viêm phổi, một mình, ở Athens. Ông Demetracopoulos tìm cách xin phép trở về nhà dưới sự giám sát của người hướng dẫn an toàn, như là một giấy tờ qua cổng, và có thể kêu gọi nhiều bạn bè ở Quốc hội trong nỗ lực nầy. Trong số họ là những Thượng nghị sĩ như Frank E. Moss thuộc tiểu bang Utah, Quentin N. Burdick thuộc tiểu bang Bắc Dakota, và Mike Gravel thuốc tiểu bang Alaska, vốn là những người đã ký tên vào một bức thư đề ngày 11 tháng Mười Hai cho chính phủ Hy Lạp và cho vị Đại sứ Tasca. Thượng nghị sĩ Edward Kennedy của tiểu bang Massachusetts và Thượng nghị sĩ William Fulbright của tiểu bang Arkansas cũng bày tỏ sự quan tâm cá nhân.
Không phải là chế độ Athens hoặc cũng không phải là ông Tasca đã trả lời trực tiếp, nhưng vào ngày 20 tháng Mười Một, bốn ngày sau khi người đàn ông già nua đã qua đời đã mà không có sự viếng thăm nào từ người con duy nhất của mình, những Thượng nghị sĩ như ông Moss, ông Burdick, và ông Gravel nhận được điện tín từ tòa đại sứ Hy Lạp ở Washington. Bức điện tín nầy hướng dẫn họ rằng ông Demetracopoulos đáng lý ra nên trực tiếp đến tòa đại sứ nộp đơn : một đòi hỏi quái dị để giải thích về một người đàn ông mà sổ thông hành và quyền công dân của ông ta vừa mới bị hủy bỏ bởi chế độ độc tài.

p116

Trong khi đó, ông Demetracopoulos nhận được một cú điện thoại tại nhà của mình, trực tiếp từ Thượng nghị sĩ Kennedy, khuyên ông ta đừng chấp nhận bất kỳ sự đưa ra nào về việc hướng dẫn an toàn từ Hy Lạp ngay cả cho dù ông ta đã được ban cho điều đó. Nếu chính ông Demetracopoulos có mặt tại đại sứ quán của chính quyền quân phiệt, ông ta dám có thể đã bị giữ lại và bắt cóc, phù hợp với một trong những kế hoạch mà bây giờ chúng ta biết đến, đã được chuẩn bị sẵn sàng cho việc “biến mất” của ông ta. Dĩ nhiên, một âm mưu như thế đã sẽ là việc cực kỳ khó khăn để thực hiện trong sự thiếu vắng sự “phối hợp” nào đó –ít ra là mắt nhắm mắt mở– từ những quan chức tình báo địa phương của Hoa Kỳ.
Việc luân lưu điện thư được mật giải giữa Đại sứ Tasca tại Athens, vị Phó của ông Kissinger, Joseph Sisco, tại Bộ Ngoại giao, cho thấy rằng mối nghi ngại của Thượng nghị sĩ Kennedy được chứng minh là rất đúng hơn tưởng. Trong bức điện thư ghi ngày 14 tháng Mười Hai từ ông Sisco đến ông Tasca, vị Đại sứ được cho biết: “Nếu GOG [Goverment of Greek: Chính phủ Hy Lạp] cho phép ông Demetracopoulos nhập cảnh, hoàn toàn rõ ràng là chúng ta phải tránh bị đặt vào một vị thế bảo đảm bất kỳ những cam đoan nào mà qua đó ông ta có thể có khả năng khởi hành.” Đồng tình với câu phát biểu dị thường nầy, ông Tasca thêm rằng có khả năng là Thượng nghị sĩ Gravel tham dự đám tang người cha của ông Demetracopoulos. Ông Elias đã viết cho vị Đại sứ, “chắc chắn hy vọng sẽ khai thác chuyến thăm của Thượng nghị sĩ bằng cách cung cấp một cách nào đó cho việc chứng minh rằng những điều kiện ở đây thì ức chế như khi ông ta đại diện cho họ có mặt. Ông ta (i.e. ông Demetracopoulos) thậm chí có thể cố gắng sắp xếp cho việc thị uy bằng bạo lực nào đó, như là một quả bom nhỏ.”
Sự phi lý của điều nầy –ông Demetracopoulos không có bất cứ một hồ sơ nào về việc ủng hộ hoặc thực thi bạo lực, như ông Tasca mơ hồ nhận ra bằng cách dựng chuyện một quả bom theo giả thuyết, một quả bom “nhỏ”– cũng có bề mặt ác tính của nó. Ý kiến được đưa ra ở đây chỉ là một kiểu chứng cớ vắng mặt hoặc xúi giục hoặc lý do không thành thật mà chính quyền quân phiệt có thể cần đến cho việc mưu hại, hoặc để che đậy sự “biến mất.” Toàn bộ việc đáp từ qua lại bốc mùi những việc ưu tiên thầm lặng của đại sứ quán và lẫn Bộ Ngoại giao, mà qua đó phản ảnh sự khinh miệt của họ đối với những vị Thượng nghị sĩ được dân cử của Hoa Kỳ, sự thù ghét của họ về sự đối lập, và nhu cầu của họ để làm hài lòng một nhóm gồm những tay băng đảng Hy Lạp vốn là những kẻ hiện thời đang chấp hành một cách đúng đắn thời hạn tù chung thân.
Bây giờ, hãy nhìn lại một lần nữa tại bảng mục lục trong máy tính nôn ra, sau những năm kiện tụng, từ những hồ sơ NSC(26) của ông Kissinger. Nó mang ngày 18 tháng Mười Hai, năm 1970 và dường như báo cho những Thượng nghị sĩ như là ông Moss, ông Burdick và ông Gravel rằng ông Demetracopoulos đã gặp phải sự kết thúc của mình trong một nhà tù ở Athens. Có phải đây là một kế hoạch dự phòng để đối phó với những việc bất ngờ ? Một câu chuyện che giấu ? Miễn là Tiến sĩ Kissinger duy trì sự im lặng bướng bỉnh của mình, và quyền kiểm soát trên những giấy tờ nhà nước “riêng tư” của mình, đó sẽ là điều không thể nào xác định được.

p117

Cùng một tính toán áp dụng cho nỗ lực mưu toan thứ hai trên ông Demetracopoulos mà qua đó chúng ta đã từng biết đến. Sau khi đã tránh được cái bẫy mà dường như đã được giăng ra cho ông ta vào năm 1970, ông Demetracopoulos tiếp tục việc tuôn ra những rò rỉ tin tức và những tiết lộ hàng loạt của mình, nhắm vào việc làm mất uy tín chính quyền quân phiệt Hy Lạp và làm xấu hổ những người bạn Mỹ của nó. Ông ta cũng trở thành tiếng nói quan trọng cảnh báo về những trù hoạch của chính quyền quân phiệt trên nền độc lập của Cyprus và về sự thờ ơ của Hoa Kỳ (hoặc sự đồng lõa) đối với chính sách đó. Trong khả năng nầy (được thảo luận chi tiết trong Chương 7), ông ta trở thành một nguồn phiền toái cho Henry Kissinger. Điều nầy có thể được thiết lập không mấy khó khăn. Trong một giấy tờ báo cáo cuộc họp được trình cho Tổng thống Gerald Ford vào tháng Mười năm 1974, có những mục tham khảo chỉ đến “giấy tờ bản sảo” về ông Demetracopoulos, chỉ đến “văn bản ghi nhớ riêng về xúc phạm” nói về ông ta, và chỉ đến “văn bản ghi nhớ dài của ông Kissinger” về ông ta. Một lần nữa, và mặc những yêu cầu được lặp đi lặp lại từ những luật sư, ông Kissinger đã từ chối trả lời bất kỳ những câu chất vấn nào về việc nơi nào cất giữ những giấy tờ nầy, hoặc hé ra bất kỳ ánh sáng nào trên những nội dung của chúng. Tuy nhiên, Hội đồng An ninh Quốc gia của ông ta yêu cầu cơ quan FBI tích lũy bất kỳ thông tin nào vốn có thể làm mất uy tín ông Demetracopoulos, và giữa năm 1972 và 1974, theo những giấy tờ từ khi được liệt bỏ, Cơ quan (i.e. FBI) cung cấp cho ông Kissinger tài liệu vu khống và giả tạo liên quan đến, trong số những thứ khác, chuyện lãng mạn mà ông Demetracopoulos bị cáo buộc là tiến hành với một người phụ nữ hiện nay đã qua đời, và mối quan hệ được cho là thế giữa ông ta và Daniel Ellsberg, người rò rỉ tin tức về những “Giấy tờ của Nhà Năm Góc” lừng danh, một người đàn ông mà ông ta chưa bao giờ gặp.
Điều nầy có thể ra vẻ không quan trọng, nếu không vì cuốn hồi ký của Constantine Pannayotakos, vị Đại sứ của chính quyền quân phiệt Hy Lạp tại Washington, D.C.
Sau khi đến để nhận chức vụ của mình vào tháng Hai năm 1974, như vị Đại sứ đã viết trong cuốn hồi ký của mình sau nầy, có tựa đề là “In the First Line of Defense” (“Trong Hàng Phòng thủ Tiền phương”) :

Tôi đước thông báo về một số kế hoạch bắt cóc và vận chuyển Elias Demetracopoulos đến Hy Lạp; kế hoạch vốn nhắc tôi nhớ về những phương pháp của mật vụ KGB…
Vào ngày 29 tháng Năm, một tài liệu được chuyển đến tôi từ Angelos Vlachos, Tổng thư ký của Bộ Ngoại giao, đưa ra những quan điểm của vị Đại sứ Hoa Kỳ, Henry Tasca, mà qua đó ông ta tán thành, về phương thức hiệu quả nhất trong việc đối phó với những âm mưu và toàn diện hoạt động của ông Demetracopoulos. Những quan điểm của ông Tasca được bao gồm trong một văn bản ghi nhớ về cuộc đàm thoại với Bộ trưởng Ngoại giao Spyridon Tetenes vào ngày 27 tháng Năm.

p118

Cuối cùng, một ý tưởng tuyệt vời khác của những thành viên lỗi lạc nhất của Bộ Ngoại giao ở Athens, được chuyển đến tôi vào ngày 12 tháng Sáu, là cho tôi tìm kiếm sự góp ý hữu ích về việc hủy diệt Elias Demetracopoulos từ George Churchill, Giám đốc Hành chánh Hy Lạp tại Bộ Ngoại giao, vốn là một trong những kẻ thù cay độc nhất của ông ta [kiểu chữ in nghiêng và đậm được thêm vào].

(Trong tiếng Hy Lạp, chữ được in nghiêng ở trên là exoudeterosi. Nó khá mạnh mẽ. Nó thường được dịch ra như là “hủy diệt,” mặc dù chữ “loại bỏ” có thể là một hình thức thay thế nhẹ nhàng. Nó không phải là một phương thức cho việc gây phiền toái hoặc việc gây cản trở một cá nhân, nhưng cho việc loại bỏ ông ta.) Vị Đại sứ Panayotakos sau nầy đã viết một bức thư chi tiết, vốn nằm trong sự cất giữ của tôi, mà qua đó ông ta có nhận thức trực tiếp về một kế hoạch bắt cóc ông Demetracopoulos từ Washington. Lời chứng nhận của ông ta được chứng thực bởi một văn bản có tuyên thệ mà tôi cũng cất giữ, được ký kết theo hình phạt về tội khai man bởi Charalambos Papadopoulos. Ông Papadopoulos lúc đó là Tham tán Chính trị cho tòa đại sứ Hy Lạp –đứng vị trí thứ ba– và được mời ăn trưa tại một Câu lạc bộ Đua ngựa gần đó, vào cuối tháng Năm hoặc đầu tháng Sáu năm 1974, bởi vị Đại sứ Panayotakos và một phụ tá tùy viên quân sự, Trung tá Sotiris Yiounis. Tại bữa ăn trưa, ông Yiounis bắt đầu câu hỏi về việc bắt cóc ông Demetracopoulos, vốn là người bị buộc phải đưa lậu lên chiếc tàu ngầm Hy Lạp thuộc NATO tại một bến cảng ở tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ.
Ông Papadopoulos, vốn là vị Đại sứ Hy Lạp ở Pakistan vào lúc ông ta tuyên thệ cho văn bản tuyên chứng của mình, kể từ đó đã cho biết là ông ta cam đoan rằng Henry Kissinger hoàn toàn nhận biết về hoạt động được đề ra, và “chắc hẳn nhất là vui lòng hành động như là một cái dù” của nó. Đến giai đoạn đó, chính quyền quân phiệt Hy Lạp chỉ có một ít tuần lễ để sống bởi vì những tội ác của nó ở Cyprus. Kể từ khi sự sụp đổ của chế độ độc tài, thậm chí bằng chứng mở rộng hơn về những kế hoạch ám sát của chính quyền quân phiệt đã được phát hiện, nếu chỉ ở nơi kết thúc âm mưu thuộc Athens. Nhưng đây không phải là một chế độ vốn từng hành động mà không có “sự hiểu biết” của Washington.

p119

Những nỗ lực để khai quật chi tiết hơn cũng được thực hiện ở Washington. Vào năm 1975, những Thượng nghị sĩ như là George McGovern và James Abourezk, được phụ lực bởi Dân biểu Don Edwards của Ủy ban Tình báo Hạ viện, đã yêu cầu Thượng nghị sĩ Frank Church bao gồm âm mưu bắt cóc chống lại ông Demetracopoulos trong công việc điều tra của ủy ban nổi tiếng của mình về tình báo Mỹ. Như được tường thuật lần đầu tiên bời tờ báo New York Times và sau đó được xác nhận bởi Seymour Hersh, ông Kissinger đã can thiệp một cách cá nhân vào những chuyện của ông Church, qua việc trích dẫn những vấn đề nghiêm trọng nhưng không xác định về vấn đề an ninh quốc gia, để cho người đóng lại hướng đi của cuộc điều tra nầy.
Một số điều nầy có vẻ tuyệt vời, nhưng chúng ta thực sự biết rằng ông Kissinger đang tiến hành một cuộc trả thù tận diệt chống lại ông Demetracopoulos (cũng như vị Đại sứ Henry Tasca); chúng ta thực sự biết rằng ông Kissinger bị lôi cuốn vào việc thông đồng ở mức độ cao với chính quyền quân phiệt Hy Lạp và có sự hiểu biết trước về âm mưu ám sát Tổng Giám mục Makarios; và chúng ta thực sự biết rằng ông ta đã sử dụng tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Chile để chuyển lậu những vũ khí cho việc hạ sát Tướng Rene Schneider theo hợp đồng. Câu chuyện giấu kín trong trường hợp đó, cũng thế, đó là những kẻ khủng bố được thuê, “chỉ là” cố gắng bắt cóc ông ấy…
Chúng ta cũng biết rằng hai khách hàng của Ủy ban Bốn mươi của ông Kissinger, Tướng Pinochet và Đại tá Manuel Contreras, đã lợi dụng tòa đại sứ Chile tại Washington để mưu sát nhà lãnh đạo bất đồng chính kiến Orlando Letelier, không lâu sau khi được nhận tiền và được tâng bốc và trong một trường hợp được trả bởi ông Kissinger và những người đại diện của ông ta.
Như thế, câu chuyện về ông Demetracopoulos, được kể ra ở đây đầy đủ trong lần đầu tiên, tạo nên một trường hợp prima facie (i.e. hiển nhiên) mà Henry Kissinger ít ra nhận biết về kế hoạch bắt cóc và thẩm tra, và gần như chắc là giết chết, một nhà báo dân sự ở Washington, D.C. Nhằm mục đích được tẩy sạch sự nghi ngờ và giải thích sự ám chỉ bí ẩn đến cái chết của ông Demetracopoulos trong những kho lưu trữ tài liệu của riêng mình, ông Kissinger chỉ cần làm cho những kho lưu trữ hồ sơ giống y đó cuối cùng có thể được tiếp cận –nếu không sẽ bị trát tòa đòi hỏi để làm như thế.

p120

Chương 10: Lời bạt : Tỷ suất Lợi nhuận

Trong cuộc họp điên tiết của ông ta tại Bộ Ngoại giao vào ngày 18 tháng Mười Hai năm 1975, ngay sau khi khoảnh khắc đồng lõa của ông ta với những tướng lãnh Indonesia trên vấn đề miền Đông Timor (xem những trang 101–106), ông Kissinger buông ra lời chối bỏ kỳ dị sau đây :

“Tôi không quan tâm nếu chúng tôi bán dụng cụ cho Indonesia hay không. Tôi không được gì từ việc đó. Tôi không được món tiền huê hồng nào.”

Người ta đã có thể cứ cho là một vị Ngoại trưỏng phục vụ cho quốc gia không có một món lời trực tiếp nào trong việc buôn bán những vũ khí cho một chế độ độc tài nước ngoài; không ai tại cuộc họp đã đưa ra bất kỳ ý kiến nào như thế. Kỳ đị làm sao là ông Kissinger phủ nhận trên luận điệu vốn đã không được tạo ra: trả lời một câu hỏi mà nó đã không được đặt ra.
Không phải là điều có thể để phát biểu với sự chắc chắn khi ông Kissinger bắt đầu thu lợi nhuận một cách riêng từ sự liên hiệp của mình với giới cầm quyền ở Indonesia, hoặc cũng không có thể dám chắc một cách khẳng định rằng lợi nhuận nầy là một phần của bất kỳ “sự hiểu biết” nào vốn có nguồn gốc trong năm 1975. Chỉ là có một sự tương đồng hoàn hảo giữa ý định về chính sách đối ngoại của ông Kissinger và những kết nối về kinh doanh của riêng ông ta. Người ta có thể gọi nó là một sự hài hòa về những lợi ích, hơn là một cuộc xung đột.
Trong sáu năm sau khi ông ta rời khỏi chức vụ, ông Kissinger thành lập một công ty tư vấn tư nhân có tên là Kissinger Associates (Hiệp hội Kissinger), vốn tồn tại để làm trơn tru và tạo thuận lợi cho sự tiếp xúc giữa những tập đoàn kinh doanh đa quốc gia và những chính phủ nước ngoài.

p121

Danh sách khách hàng là điều bí mật, và những hợp đồng với công ty “Associates” (“Liên hiệp”) chứa một khoản cấm đoán bất kỳ sự đề cập nào về việc sắp xếp, ngoại trừ những khách hàng doanh nghiệp bao gồm hoặc đã từng bao gồm American Express, Shearson Lehmann, Arco, Daewoo của Hàn Quốc, H.J. Heinz, ITT Lockheed, Anheuser Busch, the Banca Nazionale del Lavoro, Coca-Cola, Fiat, Revlon, Union Carbide, và Ngân hàng Midland. Những người bạn “liên kết” đồng hành đầu tiên của ông Kissinger là Tướng Brent Scowcroft và Tướng Lawrence Eagleburger, cả hai người họ đã từng làm việc gần gũi với ông ta trong chính sách đối ngoại, và những ngành an ninh quốc gia của chính phủ.
Nhiều thí dụ về một sự hòa hợp giữa công ty nầy và những tuyên bố về chính sách của ông Kissinger có thể được dẫn chứng. Một thí dụ được biết đến nhiều nhất có lẽ là về nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc. Ông Kissinger hỗ trợ nhiều tập đoàn công ty Mỹ, đáng chú ý là công ty H.J. Heinz, nhằm có được sự tiếp cận vào thị trường Trung Quốc. Như nó được diễn đạt một cách bóng bẩy bởi Anthony J.F. O’Reilly, Giám đốc điều hành của công ty Heinz :

Ông Kissinger và những cộng sự viên của mình đã làm một sự đóng góp thực tế, và chúng tôi nghĩ rằng họ riêng biệt hữu ích trong các quốc gia với những nền kinh tế kế được kế hoạch hóa tập trung hơn, nơi mà những tay chơi chính và tính chất hoạt năng trong số các tay chơi chính là điều quan trọng chủ yếu. Điều nầy riêng biệt đúng ở Trung Quốc, nơi mà ông ta là một nhân vật nổi tiếng và được nhìn bằng sự tôn trọng riêng biệt. Về vấn đề Trung Quốc, trên cơ bản, chúng tôi đang tiến hành tốt đẹp trong việc thiết lập sự có mặt của công ty sản xuất thức ăn cho trẻ em ở đó trước khi ông Henry tham gia vào. Nhưng một khi chúng tôi quyết định di chuyển, ông ta có những quan điểm thiết thực đưa ra: như là về mối quan hệ giữa Đài Loan và Beijing. Ông ta thật là hữu ích trong việc nhìn thấy rằng chúng tôi đã không tiến hành những bước vốn có thể đã không là hữu ích ở Beijing. Sự xác đáng của ông ta biến đổi một cách rõ ràng từ thị trường nầy đến thị trường khác, nhưng có lẽ ông ta giỏi nhất trong việc giúp đỡ với những tiếp xúc trong thế giới tối mờ đó nơi mà điều đó cần đến.

Thuật ngữ Trung Quốc về khu vực giao dịch tối mờ nầy là guan-xi. Trong cách nói ít phê phán của người Mỹ, nó có lẽ sẽ dịch ra như là “tiếp cận” hoặc “việc bán rong qua ảnh hưởng chính trị” (i.e. dùng ảnh hưởng chính trị trên danh nghĩa của người khác trong việc trao đổi cho những đặc ân hoặc tiền bạc).

p122

Việc bán thức ăn trẻ em ở Trung Quốc xem ra có vẻ là khá vô hại, nhưng khi chế độ Trung Quốc quay súng và xe tăng của nó vào những trẻ em của riêng nó ở Thiên An Môn vào năm 1989, nó không có người bênh vực nào trung thành hơn so với Henry Kissinger. Tranh luận rất mạnh mẽ chống lại những sắc lệnh, ông ta viết rằng “Trung Quốc vẫn còn quá quan trọng đối với vấn đề an ninh quốc gia của Mỹ không thể tạo nguy cơ cho mối quan hệ trên những cảm xúc về một khoảnh khắc.” Lấy quan điểm của Deng Xiaopng (i.e. Đặng Tiểu Bình) về cuộc biến động dân chủ, và thậm chí cả quan điểm của những người mà chúng ta bây giờ giả định là đã từng thúc ép ông Deng từ cánh hữu, ông ta nói thêm, “không một chính phủ nào trên thế giới đã sẽ khoan thứ cho việc cho người chiếm lấy một quảng trường chính của thủ đô của nó trong tám tuần lễ bởi hàng chục ngàn người biểu tình.” Tất nhiên, một số chính phủ có thể đã tìm ra cách để gặp gỡ với các người lãnh đạo của những người biểu tình đó… Cũng có lẽ là những dịch vụ của ông Kissinger được giữ lại bởi những chế độ kiểu Stalin của Romania, Tiệp Khắc và Đông Đức, mà qua đó không chịu nổi dù chỉ là sự láo xược của quần chúng như thế sau nầy trong cùng một năm.

(Cuộc đàn áp dã man nhất của Trung Cộng trên những người dân của chính
họ trong thời cận đại vào năm 1989 tại Thiên An Môn (Tiananmen Square)
với hơn 1.000 chết và 3.000 bị thương, và những cuộc bắt bớ và thủ tiêu mờ
ám theo sau cuộc biến động dân chủ. Theo tác giả cho là chính ông Kissinger
lên tiếng bênh vực cho hành động tàn ác nầy của chính quyền Trung Cộng)

Hoặc cũng không phải “việc bán rong qua ảnh hưởng chính trị” của ông Kissinger bị hạn chế trong những sản phẩm dinh dưỡng của công ty Heinz. Ông ta hỗ trợ công ty Atlantic Richfield / Arco để đưa vào thị trường những mỏ dầu ở Trung Quốc. Ông ta đã giúp ITT (một liên doanh vốn có lần đã giúp đỡ ông ta lật đổ chính phủ đắc cử của Chile) tổ chức một cuộc họp mở đường của hội đồng quản trị ở Beijing, và ông ta làm những dịch vụ tương tự cho công ty David Rockefeller và Ngân hàng Manhattan Chase, mà qua đó tổ chức một cuộc họp ủy ban cố vấn quốc tế tại thủ đô của Trung Quốc và gặp gỡ với chính ông Deng.
Sáu tháng trước khi cuộc thảm sát ở Thiên An Môn xảy ra, ông Kissinger thiết lập một công ty hợp tác đầu tư hạn chế có tên là Chinese Ventures (Kinh doanh Mạo hiểm Trung Quốc), mà qua đó cá nhân ông ta là Chủ tịch, Giám đốc điều hành, và là Trưởng hội viên. Cuốn sách tài liệu nhỏ của nó giải thích một cách hữu ích là công ty Kinh doanh Mạo hiểm Trung Quốc chỉ tự tham gia với những dự án mà nó “hưởng được sự ủng hộ không ai nghi vấn của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc.” Động thái nầy đã chứng minh sự non kém: môi trường cho sự đầu tư trên vùng trung thổ của Trung Quốc trở nên ảo tưởng sau cuộc đàn áp vốn theo sau những cuộc tàn sát ở Thiên An Môn, và những sắc luật hạn chế được thông qua bởi Quốc hội.

p123

Điều nầy không có nghi ngờ là đã góp phần cho sự bực tức của ông Kissinger vì những lời chỉ trích của ông Deng. Nhưng trong khi công ty Kinh doanh Mạo hiểm Trung Quốc kéo dài sự tồn tại của nó, nó đã thu hút những cam kết về tài chánh to lớn từ American Express, Coca-Cola, Heinz và một tập đoàn khai thác mỏ và chiết xuất khoáng chất to lớn có tên là Freeport McMoRan, mà qua đó đầu tư nhiều hơn trong một thời điểm.
Phần nhiều những hành vi cực đoan nhất của ông Kissinger đã được thực hiện, chỉ là vẻ bề ngoài, trong danh nghĩa chống cộng. Vì vậy, đó là điều buồn cười khi tìm thấy ông ta tận dụng chính mình trên danh nghĩa của một chế độ vốn có thể bảo đảm cho việc đầu tư an toàn bởi vì một lệnh cấm trên những tổ chức công đoàn, một hệ thống nhà tù lao động nô lệ, và một ý thức hệ độc đảng. Cũng không phải Trung Quốc là thí dụ duy nhất ở đây. Khi Lawrence Eagleburger rời khỏi Bộ Ngoại giao vào năm 1984, đã từng là vị Đại sứ tại Nam Tư, ông ta đồng thời trở thành người hợp tác của công ty Hiệp hội Kissinger, Giám đốc của một ngân hàng con Ljubljanska Banka (i.e. là ngân hàng NLB = Nova Ljubljanska Banka ở thủ đô Ljubljana, nước Cộng hòa Slovenia), một ngân hàng sau nầy được làm chủ bởi chế độ Belgrade, và là người đại diện của Mỹ cho xe hơi loại nhỏ hiệu Yugo. Công ty Yugo chính thức trở thành một khách hàng của công ty Hiệp hội Kissinger, như mối quan tâm của công ty xây dựng Nam Tư có tên là Enerjoprojeckt. Công ty Yugo là điều thú vị riêng biệt bởi vì nó được sản xuất bởi tập đoàn to lớn được nhà nước điều hành mà nó cũng được hoạt động như là một công ty liên hợp về kỹ nghệ quân sự và sản xuất vũ khí của Nam Tư. Công ty liên hợp nầy sau đó đã bị chiếm giữ bởi Slobodan Milosevic, cùng với nguồn tiếp sức khác của cái gì đã từng là Quân đội Quốc gia Nam Tư, và được sử dụng để theo đuổi những cuộc chiến tranh xâm lược chống lại bốn nước cộng hòa láng giềng. Luôn luôn trong suốt cuộc khủng hoảng kéo dài nầy, và một cái gì đó không còn thích hợp với nhiều người trong số những đồng nghiệp thường hiếu chiến của ông ta, Henry ông Kissinger thúc đẩy một chính sách kiên trì về hòa hợp hòa giải với chế độ Milosevic. (Ông Eagleburger đúng lúc gia nhập trở lại Bộ Ngoại giao như là Phó Ngoại trưởng và không lâu, trở thành Ngoại trưởng. Đó là như thế.)

(Xe hơi loại nhỏ hiệu Yugo, còn có tên khác là Zastava Koral, được sản xuất
bởi tập đoàn Zastava của nước Yugoslavia (Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Nam Tư) và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Serbia. Nó được thiết kế ở Ý
dưới tên Fiat 144 như là một tên khác của Fiat 127)

(Slobodan Milošević, gốc Nam Tư, là Chủ tịch Seberia (1989–1997) thuộc
Đảng Xã hội Chủ nghĩa và sau đó là Chủ tịch Yugoslav (1997–2000) thuộc
Đảng Cộng sản. Ông ta mất trong xà lim vào năm 2006 sau cuộc xét xử của
UN về tội ác chiến tranh vào năm 1999 với trọng tội là cuộc diệt chủng ở
Bosnia trong cuộc Chiến tranh Kosovo (02/1998–06/1999))

p124

Một thí dụ khác về thủ đoạn của ông Kissinger là sự dính líu kép của “Hiệp hội” với Saddam Hussein. Khi ông Saddam đang lên cao trong quyền lực vào cuối những năm 1980s, và có đường thông giao của mình với Bộ Thương mại và Nông nghiệp ở Washington, và ném tiền xung quanh giống như chàng thủy thủ say rượu trong châm ngôn (và sử dụng vũ khí hơi độc và hóa học trên dân cư Kurd của mình mà không có một tiếng thì thầm nào từ Washington), Diễn đàn Doanh nghiệp Mỹ–Iraq cung cấp một cái máy chơi bài bạc thực sự của những tiếp xúc, hợp đồng, và những cơ hội. Người hợp tác của ông Kissinger, Alan Stoga, vốn là người cũng đã từng là một nhà kinh tế có gắn bó với Ủy ban về Trung Mỹ của ông ta có từ thời Reagan, mô tả những nét nổi bậc một cách đáng chú ý đến chuyến đi đến Baghdad trên Diễn đàn. Cùng lúc đó, công ty của ông Kissinger đại diện công ty Banco del Lavoro Nazionale mờ ám của Ý, mà qua đó sau nầy bị lộ ra là đã từng thực hiện những khoản tiền vay bất hợp cho chế độ Hussein. Như thường lệ, mọi thứ là hợp pháp. Điều đó luôn luôn là thế, khi tầng lớp trung lưu gặp gỡ tầng lớp Trung Đông thấp hơn.
Trong cùng một năm –1989– ông Kissinger đã làm sự kết nối có lợi của mình với công ty Freeport McMoRan, một công ty được toàn cầu hóa có trụ sở tại tiểu bang New Orleans. Công việc kinh doanh của nó là một kiểu cổ điển của việc chiết xuất dầu, khí đốt và những khoáng sản. Vị Chủ tịch của nó, James Moffett, có thể đã có được những danh hiệu ưu thích được ban cho bởi những trang báo về kinh doanh và tài chính, vượt ngoài bất kỳ nghi ngờ nào là “khoa trương,” “gian manh,” và là “một nhà tư bản đầu tư mạo hiểm.”
Vào năm 1989, công ty Freeport McMoRan trả cho Hiệp hội Kissinger một số tiền giao trước là 200.000 $ và tiền lệ phí là 600.000 $, chưa kể đến lời hứa 2 % tiền huê hồng trên tiền kiếm được trong tương lai. Công ty Freeport McMoRan cũng tạo cho ông Kissinger trở thành một thành viên của ban điều hành của nó, ở một mức lương hàng năm ít nhất là 30.000 $. Vào năm 1990, hai mối quan tâm đi vào công việc kinh doanh ở Miến Điện, một đất nước áp bức ác liệt nhất trong tất cả quốc gia thuộc khu vực Nam Á. Công ty Freeport McMoRan sẽ khoan lấy dầu và khí đốt, theo thỏa thuận, và một khách hàng khác của ông Kissinger, công ty Daewoo (mà sau nầy chính nó là cột trụ cho tập đoàn kinh doanh dễ bị mua chuộc của một chế độ vô lương tâm Hàn Quốc) sẽ xây dựng nhà máy.

p125

Tuy nhiên, vào năm đó, những tướng lãnh của Miến Điện, dưới một danh xưng tập thể, tuyệt vời của họ là SLORC (State Law and Order Restoration Counsil: Hội đồng Luật Nhà nước và Vãn hồi Trật tự), bị thua trong cuộc bầu cử phổ biến cho phe đối lập dân chủ được dẫn đầu bởi bà Aung San Suu Kyi và quyết định hủy bỏ kết quả. Sự phát triển nầy –tuy thế, tạo ra những cuộc kêu gọi còn gây khó chịu hơn cho sự cô lập chính quyền quân phiệt Miến Điện– không thuận lợi cho bộ ba Kissinger–Freeport–Daewoo, và trù hoạch trôi qua.

(Daw Aung San Suu Kyi, là nhân vật đối lập với chính quyền quân phiệt
Miến Điện, Chủ tịch của Đảng Liên Hiệp Quốc gia cho Dân chủ. Mặc dù
chiếm được đại đa số phiếu và ghế trong Nghị viện sau khi bà ta bị quản
thúc tại nhà trong vòng 15 năm –được thả ra vào tháng 11/2010)

Nhưng năm sau, vào tháng Ba năm 1991, ông Kissinger đã trở lại tại Indonesia với ông Moffett, đóng lại một thỏa thuận về tờ giấy phép ba mươi năm được quyền tiếp tục khai thác vàng khối và mỏ đồng. Quặng mỏ là vấn đề quan trọng hàng đầu trong ba lý do. Thứ nhất, nó được vận hành như là một phần của công ty Kinh doanh Mạo hiểm liên doanh với chính phủ quân sự Indonesia, và với người lãnh đạo của chính phủ đó, vị Tướng hiện nay bị lật đổ, Suharto. Thứ hai, nó nằm trên hải đảo Irian Jaya (trong một khu vực trước đây được biết đến như là miền Tây Irian): một phần của quần đảo mà qua đó –chung đụng với miền Đông Timor– chỉ thuộc về Indonesia theo quyền sở hữu từ cuộc chinh phục tùy tiện. Thứ ba, những hoạt động của nó khởi đầu vào năm 1973 –hai năm trước khi Henry Kissinger đến thăm Indonesia và Indonesia và giúp giải tỏa cuộc tắm máu của Indonesia ở miền Đông Timor trong khi mở ra một dòng chảy đủ loại vũ khí đến những hợp tác viên kinh doanh trong tương lai của mình.
Điều nầy có thể mang nghĩa không hơn là một “sự hài hòa lợi ích” mà tôi đưa ra ý kiến ở trên. Không hơn là, nói cách khác, một sự trùng hợp ngẫu nhiên hạnh phúc. Điều gì đó không phải là chuyện trùng hợp ngẫu nhiên là sau đây :

Khu mõ Grasberg khổng lồ của công ty Freeport McMoRan ở Irian Jaya bị cáo buộc về việc tạo ra một thảm họa môi trường và xã hội. Vào tháng Mười năm 1995, tập đoàn OPIC ( Overseas Private Investment Corporation: Tập đoàn Kinh doanh Tư nhân Đầu tư Nước ngoài), một cơ chế liên bang vốn tồn tại để giúp đỡ các công ty Hoa Kỳ ở nước ngoài, đã quyết định hủy bỏ bảo hiểm đầu tư của công ty Freeport McMoRan cho sự rủi ro về chính trị –một yếu tố chính mà qua đó ông Kissinger đã đưa ra những cam đoan dỗ dành vào năm 1991. Tập đoàn CIPO kết luận rằng khu mỏ Grasberg đã “tạo ra và tiếp tục đặt ra về môi trường không hợp lý hoặc đòi hỏi nhiều quan tâm, những hiểm nguy về sức khỏe hoặc sự an toàn liên quan đến những con sông vốn đang bị ảnh hưởng bởi những chất thải, hệ thống sinh thái trên vùng đất xung quanh, và những dân cư địa phương.”

p126

Những “dân cư địa phương,” vốn là những người đã đến sau cùng trên danh sách đó, là những người Amungme, mà những người nổi lên phản đối của họ chống lại việc hiếp dâm môi trường, và những điều kiện làm việc trong khu mỏ, đã gặp phải những binh lính chính quy Indonesia tại sở của công ty Freeport McMoRan, và theo những mệnh lệnh của ông Suharto. Vào tháng Ba năm 1996, việc bạo loạn trên quy mô rộng gần như đóng cửa khu mỏ với cái giá của bốn người chết và nhiều người bị thương.

(Indonesia (màu xanh nhạt) trong vùng Nam Á, nơi góc phải là vùng
miền Tây Papua thuộc Indonesia, với thủ phủ Jayapura của nó)

(Khu mõ vàng Grasberg của công ty Freeport McMoran trên vùng Cao nguyên
của Indonesia, nơi sinh sống của thổ dân Amungme. Đường ranh phân chia bên
trái là miền Tây Papua và miền Đông Papua –hiện nay được gọi là Papua New
Guinea là một quốc gia độc lập từ năm 1975, từng thuộc về Úc trước đây)

(Những thổ dân Amungme, vào khoảng 13.000 người vào năm 2013,
có ngôn ngữ riêng là Damal, sinh sống trên vùng Cao nguyên thuộc tỉnh
Papua, Indonesia, đang chuẩn bị đánh trả những binh lính Indonesia)

Công ty Freeport McMoRan nâng cao chiến dịch vận động hành lang mạnh mẽ ở Washington, với sự giúp đỡ của ông Kissinger, để có được bảo hiểm OPIC của nó được phục hồi. Cái giá cho việc tạo ra một quỹ tín nhiệm 100 triệu đô-la cho việc sửa chữa khu Grasberg sau khi nó, và hệ sinh thái xung quanh của nó, cuối cùng đã được nhặt dọn sạch sẽ. Tất cả điều nầy trở thành vấn đề bàn luận về việc lật đổ chế độ độc tài Suharto, việc tạm giữ chính ông Suharto, và việc vạch ra của một mối quan hệ rộng lớn của “bè bạn tư bản chủ nghĩa” dính dáng ông ta, gia đình của ông ta, các đồng nghiệp quân sự của ông ta, và một số tập đoàn kinh doanh đa quốc gia được ưu ái nào đó. Cuộc cách mạng chính trị nầy cũng phục hồi, với một tổn phí về nhân mạng không thể tính được, nền độc lập của miền Đông Timor. Thậm chí đã có một đề nghị về cuộc điều tra những tội ác chiến tranh và một tòa án nhân quyền, nhằm giải quyết một phần nào đó của sự đánh giá trong những năm tháng phạm tội diệt chủng và chiếm đóng. Một lần nữa, Henry Kissinger đã phải lướt mắt qua bản tin với sự lo lắng và tự hỏi liệu những tiết lộ thậm chí tồi tệ hơn có sắp xảy đến cho ông ta không. Điều đó sẽ là một sự ô nhục quốc gia và quốc tế nếu câu trả lời cho câu hỏi nầy được bỏ lại cho những Indonesia cướp phá và thiếu quản lý, hơn là trút vào Quốc hội Hoa Kỳ vốn đã từ lâu lẫn tránh trách nhiệm đúng đắn của nó. Chủ đề đang chờ đợi vị thẩm phán của nó.

p127

Chương 11 : Pháp luật và Công lý

Mặc dù người ta không thể làm gì hơn là “thương xót” một số lượng trẻ em bị tàn sát, hiện thời có phương tiện ngăn chận một khía cạnh riêng biệt của nguyên tắc thủ đoạn tránh làm ra quá nhiều thiệt hại. Hầu hết những bọn tội phạm quốc tế nằm ngoài tầm với của những pháp luật do con người tạo ra; ông Dimitrios ngẫu nhiên nằm trong phạm vi vói đến của một luật lệ. Ông đã nhúng tay vào ít nhất hai vụ giết người và vì thế đã vi phạm pháp luật một cách chắc chắn như thể ông ta đã bị bỏ đói và đánh cắp một ổ bánh mì.

Eric Ambler, “The Mask of Dimitrios” (“Mặt nạ của ông Dimitrios”).

Như Henry Kissinger bây giờ hiểu được, có những kẽ hở và chỗ rách ngày càng đáng chú ý trên chiếc áo choàng miễn nhiễm vốn đã từng bao phủ ông ta cho đến nay. Những sự tiến triển gần đây trong luật pháp quốc gia và quốc tế đã làm cho vị thế của ông ta trở thành một vị thế bị phơi bày và, quả thật, dễ bị tổn thương. Để tiện lợi hơn, những vùng khác biệt của pháp luật có thể được gơm lại thành nhóm dưới bốn đề mục chính :

1. Luật Nhân quyền Quốc tế: Luật nầy bao gồm các giao ước lớn và rất ấn tượng về quyền của một cá nhân trong sự tương quan với nhà nước; nó cũng bảo vệ một cá nhân từ những người hành động khác trong một cộng đồng quốc tế vốn là những người có thể vi phạm những quyền đó. Theo sau từ bản “Tuyên ngôn những Quyền của Con người” của cuộc Cách mạng Pháp, luật nhân quyền quốc tế tuyên bố rằng những hiệp hội chính trị thì hợp pháp chỉ trong chừng mực nào đó khi chúng bảo tồn phẩm giá và phúc lợi của những cá nhân, một quan điểm vốn thách thức đặc quyền chính trị thực tiển được đưa vì “lợi ích quốc gia.” Hoa Kỳ được trực tiếp liên kết với việc đỡ đầu phần nhiều những giao ước nầy và đã phê chuẩn nhiều điều khoản khác.

p128

2. Luật Xung đột Vũ trang: Hơi thay đổi và không đồng đều, luật nầy tượng trưng cho sự xuất hiện dần dần của sự đồng thuận pháp lý về điều gì được cho phép, và điều gì không, trong suốt tình trạng của cuộc chiến tranh. Nó cũng bao gồm những thỏa thuận khác nhau về lòng nhân đạo vốn định rõ “luật chiến tranh” theo thông lệ và nỗ lực giảm thiểu yếu tố nghịch lý trong cuộc tranh luận xưa nay.
3. Luật Hình sự Quốc tế: Luật nầy liên quan đến bất kỳ cá nhân nào, bao gồm một mật thám của bất kỳ nước nào, vốn là người nhúng tay vào những hành động tàn bạo trực tiếp và nghiêm trọng chống lại hoặc là những công dân “của riêng” mình hoặc những công dân của một nước khác; những điều được bao gồm ở đây là tội diệt chủng, những tội ác chống lại nhân loại, và những tội phạm chiến tranh khác. Quy chế La Mã, vốn cũng thiết lập một Tòa án Hình sự Quốc tế cho việc xét xử những cá nhân, bao gồm những người phạm tội thuộc chính phủ, là một hiệp ước rõ ràng được lập thành điều lệ của luật lệ nầy như được sửa đổi và cập nhật kể từ tòa án Nuremberg trước đó. Nó phải có những chữ ký của hầu hết những chính phủ cũng như chữ ký của Hoa Kỳ kể từ ngày 31 tháng Mười Hai năm 2000.
4. Luật Trong nước và Luật Bồi thường Dân sự : Hầu hết những chính phủ có những luật lệ tương tự vốn chi phối những tội phạm như là giết người, bắt cóc, và ăn cắp, và phần nhiều trong số họ đối xử với bất kỳ người phạm tội nào từ bất cứ quốc gia đều giống nhau. Những luật nầy trong nhiều trường hợp cho phép một công dân của bất kỳ quốc gia nào tìm cách đền bù ở những tòa án của quốc gia “chủ” của người phạm tội hoặc quốc gia của tư cách người công dân. Trong luật pháp Hoa Kỳ, một quy chế thích hợp riêng biệt là Đạo luật Khiếu kiện Lỗi lầm cho Ngoại nhân.

Hoa Kỳ bao dung nhất trong việc ban quyền miễn tố đối với chính nó và một phần miễn tố đối với những người phục vụ của nó, và chậm chạp nhất trong việc gắn bó với những hiệp ước quốc tế (việc phê chuẩn Công ước tội Diệt chủng chỉ mới vào năm 1988 và việc ký kết Công ước về Quyền Dân sự và Chính trị chỉ mới vào năm 1992). Và các quy định của Quy chế La Mã, mà qua đó sẽ đặt Kissinger vào sự trừng phạt thảm khốc nếu chúng đã là luật lệ từ thời gian sớm như năm 1968, là không hồi tố. Những nguyên tắc của tòa án Nuremberg, tuy nhiên, trong năm đó được công bố theo quy ước quốc tế để không có một quy chế nào về mặt hạn chế. Luật pháp thường lệ của quốc tế sẽ cho phép bất kỳ quốc gia có ký kết nào (một lần nữa miễn cho Hoa Kỳ) tiến hành việc thưa kiện ông Kissinger cho những tội ác chống lại nhân loại ở Đông Dương.

p129

Quan trọng hơn là, những tòa án liên bang của Hoa Kỳ đã được tìm thấy có khả năng sử dụng thẩm quyền xét xử trên những tội phạm như là việc ám sát, bắt cóc, và khủng bố, Ngay cả khi những tội ác nầy theo giả định là đuợc bảo vệ bởi học thuyết của nhà nước hoặc quyền miễn tố tối cao. Trong số một khối những trường hợp mang tính bước ngoặt, một trường hợp nổi bật nhất là sự phát hiện, của Tòa án D.C. Circuit (i.e. The United States Court of Appeals for the District of Columbia Circuit: Tòa Thượng thẩm cho Khu vực Columbia Circuit của Hoa Kỳ, là một tòa án thượng thẩm liên bang) vào năm 1980, liên quan đến vụ giết người bằng bom trên xe, bởi những mật vụ của ông Pinochet, nhắm vào Orlando Letelier và Ronni Moffitt. Tòa án tuyên bố rằng “bất cứ những lựa chọn chính sách gì có thể hiện có cho một quốc gia nước ngoài,” chế độ Pinochet “không có ‘quyền làm theo ý mình’ để đưa vào cách hành xử được trù hoạch nhằm để dẫn đến kết quả trong việc ám sát một cá nhân hoặc những cá nhân, một hành động mà qua đó rõ ràng là trái ngược với những giới luật của nhân loại như được nhìn nhận trong cả luật pháp quốc gia và quốc tế.” Nói theo cách tương quan thuận nghịch, điều nầy sẽ áp dụng cho một quan chức Mỹ đang tìm cách ám sát một người Chile. Việc ám sát là bất hợp pháp cả như là một hành động riêng tư và lẫn công khai khi Henry Kissinger nắm quyền lực và khi các cuộc tấn công vào Tướng Schneider của Chile và Tổng thống Makarios của Cyprus đã diễn ra.
Như theo báo cáo của ông Hinchey lên Quốc hội vào năm 2000, hiện tại chứng minh rằng thấy rằng những mật vụ của chính phủ Hoa Kỳ là một toán biết về những hành động tra tấn, giết người, và “thủ tiêu” bởi những Đội Thần chết của ông Pinochet, những công dân Chile sẽ có thể tiến hành thưa kiện ở Mỹ theo Đạo luật Khiếu kiện Lỗi lầm cho Ngoại nhân, mà qua đó ban cho những tòa án liên bang Hoa Kỳ “quyền tài phán vấn đề chủ thể” trên một khiếu kiện khi một người không phải là công dân Mỹ kiện một vấn đề dân sự sai trái cố tình vi phạm hiệp ước Hoa Kỳ hay luật quốc tế khác. Những thân nhân Chile của người “bị biến mất” và của Tướng Schneider gần đây đã bày tỏ sự quan tâm trong việc làm như thế, và được góp ý bởi nhiều luật sư quốc tế rằng Henry Kissinger quả thật sẽ phải chịu trách nhiệm theo những thủ tục tố tụng như thế.
Đạo luật Khiếu kiện Lỗi lầm cho Ngoại nhân cũng sẽ cho phép những nạn nhân trong những quốc gia khác, như là Bangladesh hay Cam-pu-chia, tìm kiếm những thiệt hại từ ông Kissinger, theo mô hình của vụ kiện gần đây được tổ chức ở New York chống lại Li Peng(27) (i.e. Lý Bằng), trong số những quan chức Cộng sản Trung Quốc chịu trách nhiệm nhiều nhất cho cuộc thảm sát vào năm 1989 ở Thiên An Môn.

(Li Peng (Lý Bằng), vị Thủ tướng thứ tư (03/1988–03/1998) của Cộng
hòa Nhân dân Trung Quốc, là người phải đứng ra chịu trách nhiệm cho
cuộc thảm sát Thiên An Môn cho Đảng Cộng sản Trung Quốc)

p130

Một cơ thể rất quan trọng của lý thuyết pháp lý có thể đưa ra để quy vào sự ứng dụng “Luật pháp theo thông lệ” đối với việc dội bom vào những thường dân ở Đông Dương. Công ước tội Diệt chủng đã không được phê chuẩn bởi Hoa Kỳ cho mãi đến năm 1988. Vào năm 1951, tuy nhiên, nó được công bố bởi Tòa án Công lý Quốc tế là một luật quốc tế thông lệ. Công việc của Hội đồng Luật pháp Quốc tế thì hoàn toàn thuận lý với quan điểm nầy. Có thể sẽ có cuộc tranh luận trên vấn đề liệu vô số nạn nhân có phải là một “nhóm được bảo vệ” theo luật pháp hiện có và cũng như đối với vần đề liệu cách đối xử của họ có phải là bừa bãi vừa phải, nhưng một lập luận như thế sẽ đặt những gánh nặng trên việc biện hộ cũng như việc truy tố.*
Một sự phát triển quan trọng gần đây là việc thực thi luật pháp của những quốc gia thứ ba –đáng chú ý là Tây Ban Nha– về những luật lệ quốc tế vốn ràng buộc tất cả các nước. Baltasar Garzon, vị Thẩm phán Tây Ban Nha vốn là người đã khởi xướng việc truy tố thành công Tướng Pinochet, đã cũng bảo đảm được sự giam giữ ở Mexico một thủ phạm tra tấn người Argentina, Ricardo Miguel Cavallo, vốn là người hiện nay bị giam giữ trong tù đang chờ đợi việc dẫn độ. Nghị viện của Bỉ gần đây đã trao quyền cho những tòa án Bỉ áp đặt quyền tài phán trên những tội ác chiến tranh và những xâm phạm Công ước Geneva được nhúng tay vào ở bất cứ nơi nào trên thế giới bởi một công dân của bất cứ quốc gia nào. Sự thực thi nầy, vốn đang trên đà gia tăng, tối thiểu có ảnh hưởng trên việc hạn chế khả năng của một số người trốn ra nước ngoài hoặc tránh né việc bị dẫn độ. Hà Lan, Thụy Sĩ, Đan Mạch, và Đức, tất cả các nước đó gần đây đã sử dụng những Công ước Geneva để truy tố những kẻ tội phạm chiến tranh cho những hành động cố ý chống lại những người vô quốc tịch nầy đến những người vô quốc tịch khác. Sự quyết định của Thượng nghị viện Anh Quốc trong vấn đề về ông Pinochet cũng đã nhạo báng phủ nhận sự biện hộ về “quyền miễn tố tối cao” cho những hành động được cố tình thực hiện bởi một chính phủ hoặc bởi những người theo những mệnh lệnh của chính phủ. Điều nầy đến lúc đã dẫn đến việc truy tố ông Pinoche trong đất nước của riêng mình.
Vẫn còn lại một câu hỏi về luật pháp Mỹ. Chính ông Kissinger thừa nhận rằng (xem trang 105) ông ta biết là phạm luật trong việc tiếp tục cung cấp những loại vũ khí của Mỹ cho Indonesia, mà qua đó đến lượt chúng được sử dụng để vi phạm tính chất trung lập của một lãnh thổ láng giềng và làm phát sinh những tội phạm trắng trợn chống lại nhân loại.
==============
* Đặc biệt là hãy đọc bài viết của Nicole Barrett: “Holding Individual Leaders Responsible for Violations of Customary International Law” (“Quy kết những Cá nhân Lãnh đạo chịu Trách nhiệm cho những Vi phạm Luật Quốc tế Thông lệ”), do tổ chức Columbia Human Rights Law Review (HRLR) đăng tải, vào mùa xuân năm 2001. (i.e. HRLR là tổ chức Xem xét Luật Nhân quyền thuộc Đại học Luật Columbia, được thành lập bởi những sinh viên vào năm 1967).
==============

p131

Ông Kissinger cũng phải đối mặt với sự rắc rối về pháp lý trên phần của ông ta trong việc thanh lọc chủng tộc trên hải đảo thuộc địa Anh Quốc, Diego Garda, vào đầu thập niên 1970s, khi những dân cư bản địa bị buột dời chỗ ở để tạo khoảng trống cho một căn cứ quân sự Hoa Kỳ. Những luật sư của những dân đảo Chagos đã thực sự giành được một phán quyết trong các tòa án Anh Quốc về vấn đề nầy, mà qua đó hiện thời đang di chuyển đến buổi điều trần tại Hoa Kỳ. Những lỗi lầm được dẫn chứng là “việc di dời cưỡng bức, tra tấn và diệt chủng.”
Trong hoàn cảnh bị biến đổi nầy, Hoa kỳ phải đối mặt với một tình thế khó xử đầy thú vị. Bất cứ lúc nào, một trong những của công dân nổi tiếng nhất của nó có thể được tìm thấy phải chịu trách nhiệm cho hành động khủng bố theo Đạo luật Khiếu kiện Lỗi lầm cho Ngoại nhân, hoặc có thể khó tránh khỏi một yêu cầu dẫn độ quốc tế, hoặc có thể bị bắt giữ nếu người đó đi ra nước ngoài, hoặc có thể bị đòi ra tòa vì những tội ác chống lại nhân loại bởi một tòa án trong một quốc gia đồng minh. Việc không tuân thủ của Hoa Kỳ đối với một số điều ước và sự miễn cưỡng dẫn độ của nó khiến cho không chắc rằng nhà chức trách Mỹ sẽ phối hợp với những hành động như thế, mặc dù điều nầy sẽ làm phá hoại ngầm một cách nghiêm trọng tính chất công bằng mà Washington diễn thuyết trước những quốc gia khác về chủ đề nhân quyền. Cũng có một sự lựa chọn thay thế về việc mang ông Kissinger đến công lý trong một tòa án Mỹ với một công tố viên Mỹ. Một lần nữa, một trường hợp bất ngờ dường như là một việc xa vời vô tưởng, nhưng, một lần nữa, sự thất bại để làm như thế sẽ đặt đất nước vào một cáo buộc theo tiêu chuẩn kép thiếu công bằng, hiển nhiên hơn nhiều so với sự buộc tội đáng lý ra đã rõ ràng thậm chí từ hai năm trước đây.
Gánh nặng do đó đặt vào cộng đồng luật pháp Mỹ và những người vận động hành lang về nhân quyền ở Mỹ và các tổ chức phi chính phủ. Họ có thể hoặc là khư khư trong việc ngoảnh mặt đi trước quyền lực miễn phạt tối cao được hưởng bởi một kẻ tội phạm chiến tranh khét tiếng và là kẻ phá luật, hoặc là họ có thể càng lúc bị trói buộc bởi những tiêu chuẩn được cho là cao quý mà họ tiếp tục áp đặt vào mọi người khác. Hiện trạng của lòng nhiệt tình lửng lờ, tuy nhiên, không thể kéo dài. Nếu những tòa án và những luật sư của nước nầy nhất định không làm bổn phận của họ, chúng ta sẽ quan sát như là những nạn nhân và những người sống sót của người đàn ông nầy theo đuổi công lý và sự xác minh theo cách đường hoàng và khốn khó của riêng họ, và với chi phí của riêng họ, và chúng ta sẽ phải cảm thấy xấu hổ.

===========================================

p132

Phụ lục I: Mảnh vụn Thơm tho

Tôi đang dùng quyền tự do của việc sao chép lại quan hệ trao đổi thư từ, trước tiên là giữa Henry Kissinger và chính tôi, mà qua đó bắt đầu trong buổi Bình Sách của New York Times vào mùa thu năm 2000. Trong buổi bình sách (được đăng lại dưới đây) về “The Arrogance of Power” (“Sự Ngạo mạn của Quyền lực”), tác phẩm của Anthony Summers và Robbyn Swan sống mà qua đó sự nhắc đến trực tiếp được thể hiện trên trang 13 của cuốn sách nầy, trên cơ bản tôi đã tóm tắt và cô động trường hợp chống lại đường lối ngoại giao riêng tư và trái phép của ông Nixon và ông Kissinger trong suốt cuộc bầu cử năm 1968; một trường hợp được thể hiện đầy đủ hơn trong Chương 1 ở đây (xem các trang 8–15). Tôi cũng đã nhắc đến một số tội phạm và những hành vi xấu xa khác trong thời kỳ Nixon.
Điều nầy đã thu hút đáp từ khá dài dòng và –nhằm đặt nó ở vị trí không cao hơn– rất ư quái lạ từ ông Kissinger. Cả văn bản của nó cũng được thêm vào trong cuốn sách nầy, cùng với những đáp từ mà chúng lần lượt xuất hiện ngẫu nhiên. (Tôi tuyệt nhiên không biết tại sao ông Kissinger tuyển dụng Tướng Brent Scowcroft trước đây như là người cùng ký tên của mình, trừ khi việc đó là cho sự cam đoan của tính bầu bạn của con người cũng như sự đồng nhất của một hợp tác viên được nhiều khen thưởng trong công ty Hiệp hội Kissinger.)
Việc trao đổi thư từ tạo ra ba điểm thuận lợi. Nó phá hủy ngầm những nỗ lực cao quý giả tạo của ông Kissinger và những người biện hộ cho ông ta để giả vờ là cuốn sách nầy, hoặc nói đúng hơn là những lập luận được chứa trong nó, không đáng cho sự để ý của họ. Họ đã thực sự cố gắng tham gia, nói cách khác hơn, và đã rút lui trong rối loạn. Thứ hai, nó cho thấy việc nói ngoa dị thường, và trên sự chối bỏ không đáng tin cậy nhưng rất cuồng nhiệt, mà qua tạo ra đặc tính cho phong cách của ông Kissinger. Thứ ba, nó cung cấp một khung cửa sổ nhỏ nhìn vào hồ sơ làm buồn nôn của những công việc nội bộ thuộc “nhà nước đểu giả”.

p133

Lời bình sách của Christopher Hitchens
“The Arrogrance of Power: The Secret World of Richard Nixon”
(“ Sự Ngạo mạn của Quyền lực: Thế giới Bí mật của Richard Nixon”)
Anthony Summers với Robbyn Swan.

Trong một khía cạnh ít ra là, những cuốn hồi ký của Henry Kissinger phù hợp với cuốn sách “Sideshow” (“Một màn Trình diễn”), một bản tường trình của William Shawcross về cuộc dội bom Cam-pu-chia. Cả hai cuốn sách xác nhận rằng Richard Nixon thích người ta sợ cái tính điên rồ của riêng mình hơn. Vào mùa thu năm 1969, thí dụ, ông ta bảo ông Kissinger cảnh cáo vị Đại sứ Liên Xô rằng Tổng thống đang “ngoài sự kiểm soát” (i.e. “nổi điên”) về vấn đề Đông Dương, và có khả năng làm bất bất cứ điều gì. Ông Kissinger xác nhận là ông ta xem nhiệm vụ đó như là “quá nguy hiểm” không thể thực hiện. Nhưng, như Anthony Summers bây giờ chỉ cho chúng ta thấy là :

Ba tháng trước đó, tuy nhiên, ông Kissinger đã gởi đi cùng y một thông điệp đó qua người ủy nhiệm khi ông ta ra chỉ thị cho Len Garment, sắp rời khỏi trên chuyến đi đến Moscow, để cho Liên Xô “một ấn tượng rằng ông Nixon thì hơi có phần ‘điên rồ’ –vô cùng thông minh, ngăn nắp và có kinh nghiệm là điều chắc chắn, nhưng vào những lúc căng thẳng hoặc sự thách thức cá nhân không thể đoán trước và khả năng có sự tàn bạo đẫm máu.” Ông Garment thực hiện nhiệm vụ, nói với vị cố vấn cao cấp Brezhnev, rằng ông Nixon là “một cá tính cách rời rạc đầy kịch tính… nhiều hoang tưởng hơn một chút… khi cần thiết, một tay đồ tễ lạnh lùng.” Điều trớ trêu, mà người phụ tá trước đây phản ảnh một cách phiền muộn vào năm 1997, là mọi thứ mà ông ta đó đã nói với những người Nga hóa ra là “ít nhiều sự thật.”

Công lao to lớn của cuốn sách “Sự Ngạo mạn của Quyền lực” đó là nó chiếm lấy phần nhiều của những gì mà chúng ta đã biết rồi, hoặc nghĩ rằng chúng ta biết (hoặc mơ hồ nghi ngờ), và nó chọn lọc và xác nhận và mở rộng điều đó. Sự kết thúc không thể tránh được, được bảo vệ chặt chẽ bởi sự nghiên cứu tỉ mỉ và những chú thích cuối trang, đó là trong thời kỳ Nixon ở Hoa Kỳ, trong thực chất, là một “nhà nước đểu giả.” Nó có một nhà lãnh đạo tàn nhẫn, hoang tưởng, và hay thay đổi vốn là người đã không ngần ngại phá vỡ những luật pháp của quốc gia của riêng mình nhằm mục đích phá rối một nước trung lập, đe dọa sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc gây mất ổn định những công việc nội bộ của các quốc gia khác. Vào lúc kết thúc uy quyền của người đàn ông nầy, trong một hồi kỳ điển hình hơn về một nước cộng hòa “chuối” hoặc một “nền dân chủ nhân dân,” vị Ngoại trưởng của riêng ông ta, James Schlesinger, đã phải ra chỉ thị cho Bộ Tham mưu Kết hợp bất chấp bất kỳ những mệnh lệnh quân sự nào xuất phát từ Nhà Trắng.

p134

Ông Schlesinger có đủ lý do cho sự thận trọng. Không chỉ là ông ta đã biết được rằng ông Nixon yêu cầu Bộ Tham mưu là “cho dù trong một tình huống tối quan trọng, luôn có sự ủng hộ để giữ ông ta trong quyền lực,” mà ông ta cũng đã được thuật như thế bởi Joseph Laitin, phát ngôn viên về Công việc Công chúng (i.e. public affairs là thuật ngữ của kỹ nghệ truyền thông) thuộc Văn phòng Quản lý và Ngân sách. Trên đường đến Tòa nhà Cánh Tây (West Wing) vào mùa xuân năm 1974, ông Laitin nhớ lại :

Tôi đã đến tầng hầm, gần Văn phòng Tình hình. Và vừa khi tôi sắp lên cầu thang, một gã ùa đến chạy xuống cầu thang, hai nấc một lần. Hắn ta có một cái nhìn điên dại trên mặt mình, có đôi mắt hoang dại, giống như một người điên. Và hắn ta đâm sầm vào tôi, vì vậy tôi như là bị mất thăng bằng. Và trước khi tôi có thể tự đứng lên, sáu người đàn ông trẻ trông lực lưỡng nhảy qua tôi, đuổi theo hắn ta. Tôi, bất ngờ nhận ra rằng họ là những nhân viên mật vụ, và tôi đã bị đụng té bởi vị Tổng thống Hoa Kỳ.

(Sơ đồ Tòa Bạch Ốc hay Nhà Trắng với Tòa nhà Cánh Tây (West Wing), còn
được gọi là các Tòa nhà Văn phòng Điều hành, chứa những văn phòng của
Tổng thống Hoa Kỳ, gồm Văn phòng Bầu dục, Văn phòng Nội cát, Văn phòng
Tình hình, và Văn phòng Roosevelt. Và Tòa nhà Cánh Đông (East Wing) bao
gồm nơi ngụ của Đệ nhất Phu nhân và ban nhân viên của bà bao gồm ban nhân
viên trao đổi thư từ, cũng là nơi có cổng vào cho khách viếng)

(Joseph Laitin, từng là nhà báo cho hãng Thông tấn Rueters, phát ngôn viên
của tờ báo The Washington Post tại Nhà Trắng dưới thời Kenedy, phụ tá
thư ký báo chí dưới thời Johnson, và là phụ tá thư ký của Bộ Tài Chánh về
Công việc Công chúng dưới thời Carter, Ford, và Nixon. Là một trong
những nhà báo chuyên theo dõi, săn tin, và rĩ tin về chính trị ở Nhà Trắng.
Đã qua đời vào năm 2002)

Ông Summers, một nhà báo trước đây của hảng Thông tấn BBC vốn là người đã viết tiểu sử về Marilyn Monroe và về J. Edgar Hoover, làm cho chúng ta hầu như khó chọn lựa để đi đến một quyết định khi chúng ta tìm kiếm một lời giải thích cho khoảng thời gian mê sảng nầy và những thứ khác giống như thế. Ông Nixon có thể đã bị say; chỉ cần rất ít rượu đủ khiến cho ông ta hiếu chiến, và ông ta thậm chí trở nên côn đồ hơn và rời rạc hơn khi ông ta đồng thời tống vào một vài viên thuốc ngủ. Ông ta có thể bị thấm thuốc quá nhiều, và ông có thể đã tự giúp mình với thuốc chống lại cơn co giật rất dễ bốc lên được gọi là Dilantin, vốn được biếu cho ông ta bởi một nhà tài trợ chiến dịch vận động tranh cử thay vì được kê toa bởi bác sĩ. Ông ta có thể đã từng lâm vào trạng thái trầm cảm hoặc tâm thần; trong thời gian ba thập niên và trong sự bí mật to lớn, ông ta tham khảo ý kiến một nhà tâm lý có tên là Bác sĩ Arnold A. Hutschnecker. Ông ta thậm chí có thể đã tin rằng những người Do Thái đang rình rập ông ta; vào vô số dịp, ông ta đã dùng cái miệng dơ bẩn nhất của mình để nguyền rủa những âm mưu của người Do Thái và những cá nhân.
Cái chương lôi cuốn nhất cho chúng ta lý do đầy thuyết phục để tin rằng ông Nixon và các cộng sự viên của mình –đặc biệt là Tổng Chưởng lý John Mitchell và Phó Tổng thống Spiro Agnew– đã phá hoại một cách có ý thức những cuộc đàm phán hòa bình Việt Nam ở Paris vào mùa thu năm 1968. Những yếu tố của câu chuyện nầy đã trồi lên bề mặt trước khi, trong những cuốn sách –trong số những cuốn sách khác– của Clark Clifford và Richard Holbrooke, Seymour Hersh, và William Bundy. Nhưng đây là bài tường thuật có sức thuyết phục nhất đã từng xuất hiện cho mãi đến nay, qua việc dựa vào tin tức như nó thường làm, trên những chuyện nghe lén được tung ra cho ông Summers bởi Cục Điều tra Liên bang FBI. Nhiều Đảng viên Dân chủ cao cấp biết điều bí mật khủng khiếp nầy những giữ nó cho mình, nếu không có một lý do nào khác hơn là ông L.B.J. (i.e. Lyndon Baines Johnson) đã hợp pháp –nếu là lý do ngượng ngùng– đặt máy nghe trộm ông Nixon và những người đồng mưu của ông ta, cũng như tòa đại sứ của miền Nam Việt Nam. (Những bức điện thư chận được của cơn quan FBI được sao chép lại ở đây.)

p135

Việc sử dụng một loạt những tay trung gian cực đoan và mờ ám, chiến dịch tranh cử của ông Nixon bí mật đảm bảo những tướng lãnh của miền Nam Việt Nam rằng nếu họ tẩy chay cuộc hội nghị được mua bằng giá cao của Tổng thống Lyndon B. Johnson (mà họ cuối cùng đã làm ngay đêm bầu cử), họ sẽ có được một chính quyền dễ cảm thông hơn. Trớ trêu là một từ quá yếu đối với điều gì mà họ thực sự đã gặt hái: một cuộc chiến tranh chắc chắn bại, được kéo dài trong bốn năm và được kết thúc –với thêm nhiều sỉ nhục– trên cùng những điều khoản mà Tổng thống Johnson và Phó Tổng thống Hubert Humphrey đã từng đưa ra vào năm 1968. Ông Summers đã nói với tất cả những người tham dự còn sống sót, bao gồm nhân vật đi-ở-giữa đầy kịch tính, Anna Chennault (i.e. người phụ nữ Trung Quốc tự xưng là Long Nữ), vốn là người hiện thời, thậm chí xem chính mình như là một trong những người bị phản bội bởi thỏa thuận hôi hám nầy. Gần như phân nửa những cái tên trên bức tường đó ở Washington được chạm khắc với ngày tháng sau khi ông Nixon và ông Kissinger nắm lấy quyền lực. Chúng ta vẫn co rúm người sợ hãi từ việc đếm số lượng những người Việt Nam, Lào, và Cam-pu-chia, hành vi bất hợp pháp và lén lút của ông Nixon không chỉ kéo dài một cuộc chiến tranh khủng khiếp mà còn mua chuộc và phá vỡ một cuộc bầu cử tổng thống chủ yếu: một sự kết hợp ắt hẳn làm cho việc đó trở thành một hành động độc ác nhất trong lịch sử Mỹ.
Ông Summers suy đoán rằng mối lo ngại về việc tiết lộ có thể cung cấp động cơ cho vụ trộm Watergate, một yếu tố trong việc gây ô uế cuộc bầu cử thứ hai chưa ngã ngũ. Một lần nữa, mặc dù, ông ta làm cho chúng ta khó đi đến một quyết định. Nếu những tay anh chị của ông Nixon không đang tìm kiếm cuộc nghiên cứu của phe đối lập thuộc Đảng Dân chủ về tội phản quốc vào năm 1968, họ đang tìm kiếm bằng chứng mà qua đó những người thuộc Đảng Dân chủ hoặc là biết về những khoản hối lộ cho Tổng thống từ Howard Hughes hoặc là, phần nhiều có khả năng hơn, họ biết về những khoản tiền trợ cấp bí mật được trả cho ông Nixon và ông Agnew bởi chế độ độc tài quân sự Hy Lạp. Những lựa chọn tốt đẹp, mà bạn sẽ đồng ý; nó đã cần đến một nỗ lực nào đó để thu hẹp chúng lại thành ba chọn lựa đầy mùi vị đó (với một cuộc đánh cược phụ trên một thủ đoạn làm tiền rẽ mạt mà có thể đã ám chỉ vào cả hai đảng phái chính.)
Đối với những người am hiểu, có nhiều chi tiết hơn –về những cú lừa của người bạn nối khố của ông Nixon, Bebe Rebozo, ở quốc gia Bahamas; về việc thoả thuận ám muội với băng đảng buôn lậu Mafia ở Cuba; và về nỗi thống khổ giày vò trước công chúng của bà Nixon, vốn là người, ông Summers cho biết, có thể đã là một nạn nhân của hành động tàn ác trên thể chất cũng như tinh thần. Quá thường đối với sự nếm mùi của tôi, ông Summers sử dụng từ ngữ kín đáo “một cách gián tiếp,” mà qua đó buộc phải bị nghiêm cấm. Tuy nhiên, ông ta thông thường không đi xa hơn bằng chứng của mình. Và hai chủ đề nghiêm túc và phù hợp tự khẳng định chính chúng.

p136

Richard Nixon có thể, một lần và một lần nữa, sủ dụng những việc rối rắm ở nước ngoài để vượt qua những trở ngại xung quanh nền dân chủ Mỹ. Thiếu hụt tiền bạc ư ? Vị Shah (i.e. Hoàng đế, theo tiếng Iran), hoặc chính quyền quân phiệt Hy Lạp, hoặc một số doanh nghiệp đa quốc gia thân hữu tuy bất tiện, sẽ cung bột hồ (i.e. tiền bạc), có thể được bù lại trong các cuộc buôn bán vũ khí hoặc tiền huê hồng hoặc một dòng tư tưởng mới, tưởng tượng nào đó về nhân quyền. Bị mắc kẹt về một vấn đề ư ? Bám theo chính những kẻ bạo quyền –Brezhnev hay Mao– mà bản chất ma quỹ của họ đã từng cung cấp chất đốt cho sự nghiệp của bạn cho đến nay. Những ý kiến ủng hộ qua những cuộc thăm dò đang thu hẹp ư ? Bán đất nước của riêng bạn bằng cách tiến hành chính sách ngoại giao “phương hướng II” không ghi vào hồ sơ với những khách hàng thuộc loại nồi đất (i.e. không quan trọng), như trong năm 1968.
Chủ đề thứ hai liên quan đến việc thu hút bạo lực mà qua đó có lẽ chỉ có những bản ghi chú còn lại sau khi mất của ông Hutschnecker sẽ giải thích. Giống như nhiều loại pháp-luật-và-trật-tự, ông Nixon có một sự hứng thú về công cụ thô thiển và sự khích động cảnh sát. Ông ta dường như đã giúp khuyến khích tình trạng lộn xộn mà qua đó đã biến đổi và lẫn chuyển đổi chuyến công du ông ta đến châu Mỹ Latinh như là cương vị Phó Tổng thống vào năm 1958. Như là vị Tổng thống, ông ta có thể được nghe đến trên băng thu âm về việc đồng ý với việc sử dụng những kẻ côn đồ đánh thuê của công ty Teamster đánh đập những người biểu tình chống chiến tranh (“Ừ… Họ đã có những thằng sẽ đi vào và đấm bể đầu họ”). Đây là cùng một người đàn ông hai mặt, hả hê, bất an vốn là người thêm thắt vào hồ sơ tham gia chiến tranh xoàng xĩnh của riêng mình để ra tranh cử cho chức vụ trong Quốc hội, vốn là người mê thích cuộc nói chuyện tục tĩu nhưng là một tay nghèo nàn về tình dục đối với phụ nữ, và vốn là người làm ra vẻ theo cách sống áo vải giản dị trong khi vấy ướt cả cuộc đời của mình trong ngân quỹ dành cho việc hối lộ chính trị. Một người đàn ông nhỏ dáng vốn là người tuyên bố ủng hộ một gã nhỏ bé, nhưng phải chịu phục vụ cho những con mèo to béo. Một người trí thức giả hiệu vốn là người thù ghét và không ưu điều thật. Ông Summers đã hoàn thành công việc của nhiều người đi trước, và tạo ra nhiệm vụ cho những người thừa kế của mình rất khó khăn. Trong tiến trình nầy, ông đã làm một phục vụ to lớn bằng cách mô tả, cho những công dân của một quốc gia được xây dựng trên pháp luật và lẽ phải, lởi lẽ tục tĩu chính xác vào khoảnh khắc đó khi cái hàm nhô ra của một sẽ là Caesar sập lại vào trong môi dưới đang nhỏ dãi của một vì vua yếu đuối và chỉ biết thương mình.

===========================================

p137

Trong sự Bào chữa cho ông Nixon
(Bức thư được ký tên chung của Henry A. Kissinger
và Brent Scowcroft)

Gởi đến Biên tập viên:
Chúng tôi muốn nêu lên một số câu hỏi thực tế về bài tường trình có dụng ý của Christopher Hitchens về một cuốn sách có tính toán, “Arrogance of Power” (“Sự Ngạo mạn của Quyền lực”) của Anthony Summers (vào ngày 8 tháng Mười).
1. Không ai trong chúng tôi có liên kết với Richard Nixon trong suốt chiến dịch tranh cử năm 1968, nhưng những lời cáo buộc rằng ông ta ngăn chận sáng kiến hòa bình Việt Nam của chính quyền Johnson, vẫn còn là, theo quan điểm của chúng tôi, những lời cáo buộc không được chứng minh bởi chứng cứ có sức thuyết phục. Trong bất kỳ trường hợp nào, hồ sơ cho thấy rằng việc cố tình trì hoãn của những người miền Nam Việt Nam (bị cáo buộc là theo lệnh của những thuộc hạ của ông Nixon)– ngay cả nếu lời tường thuật là đúng– đã không có thể có những hậu quả mà ông Summers tuyên bố. Những cuộc đàm phán hòa bình Paris được mở rộng đã bắt đầu vào đầu tháng Mười, và bất kỳ sự chậm trễ nào vì vậy rất ngắn hạn; ông Nixon –như là vị Tổng thống đắc cử chưa tại nhiệm và tại đỉnh điểm của sức bật của mình– đã khuyến khích Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu của miền Nam Việt Nam hợp tác với chính quyền Johnson. Hơn nữa, nếu vấn đề là động cơ chính trị, bất kỳ cuộc thảo luận về vấn đề nầy phải bắt đầu với những biểu thị từ những thư khố cất giữ tài liệu của Liên Xô mà những nhà lãnh đạo Sô-Viết cuối cùng tin rằng động thái chính của việc vội vã thông qua vụ ngưng dội bom và những cuộc đàm phán hòa bình là để Hubert Humphrey được trúng cử.
2. Cũng cần lưu ý rằng những cuộc đàm phán Paris được mở rộng, một khi chúng được bắt đầu, là về thủ tục, không phải là nội dung. Những cuộc đàm phán ngay lập tức gặp phải sự bế tắc, không phải trên vấn đề nội dung về việc làm cách nào để chấm dứt cuộc chiến tranh nhưng trên vấn đề là liệu những du kích quân Việt Cộng sẽ có cùng một danh nghĩa tại bàn hội nghị như chính phủ miền Nam Việt Nam không. Không có một đề xuất trọng yếu của bất cứ loại nào đã được đưa ra bởi chính quyền Johnson. Do đó, đó là điều vô nghĩa để khẳng định rằng ông Nixon vào năm 1972 đã không đạt được những điều khoản nào tốt hơn so với những gì mà Lyndon Johnson “đưa ra” vào năm 1968. (Hà Nội đã từ khước những điều khoản thỏa hiệp cho đến năm 1972.)
3. Người xem duyệt chơi một trò chơi thông thường về những con số với những binh lính Mỹ bị thiệt mạng trong nhiệm vụ, qua việc tuyên bố rằng gần một nửa số lượng đã xảy ra trên sự trông nom của ông Nixon. Một phần ba có thể là gần chính xác hơn. Nhưng điều đó không phải là bản chất của sự trình bày sai lạc. Khi ông Nixon nắm lấy chính quyền, người Mỹ đã thực sự gánh chịu 36.000 binh sĩ bị thiệt mạng trong nhiệm vụ rồi. Trong số 20.000 người bị thiệt mạng trong giai đoạn Nixon, 12.000 trường hợp đã xảy ra trong năm đầu tiên trước khi bất kỳ chính sách mới nào đã có thể đi vào hiệu lực, 9.000 trường hợp trong sáu tháng đầu tiên –là những di sản rõ ràng của chính quyền trước.

p138

Khi ông Nixon bước vào chức vụ, những binh sĩ Mỹ bị thiệt mạng trong nhiệm vụ đã chạy với một tốc độ trung bình là 1.500 trường hợp trên mỗi tháng trong một năm. Vào lúc cuối của nhiệm kỳ đầu tiên của ông ta, họ đã được rút giảm đến 50 người mỗi tháng. Khi ông Nixon nắm lấy chính quyền, những binh lính Mỹ ở Việt Nam có mặt khoảng 525.000 người và vẫn đang gia tăng theo những kế hoạch được tạo ra trong chính quyền Johnson. Vào năm 1972, họ đã được rút giảm đến 25.000 người.
4. Chính quyền Nixon đã kết thúc một thỏa thuận chiến lược đầu tiên về kiểm soát vũ khí và một thỏa thuận đầu tiên về việc nghiêm cấm những loại vũ khí sinh học; mở ra những mối quan hệ với Trung Quốc; chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài hàng thập kỷ trên thủ đô Berlin; phát động tiến trình hòa bình Arab-Israel; và khởi động các cuộc đàm phán Helsinki, qua việc đảm nhận trách nhiệm chung chung như là việc làm suy yếu quyền kiểm soát của Liên Xô của về sự khống chế vệ tinh của họ, và việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự thống nhất của nước Đức. Có phải chăng những điều nầy là những hành động của một người lãnh đạo “đểu giả,” như ông Hitchens gọi ông Nixon ?
5. Ông Nixon là một nhà chiến lược. Ông ta thực sự muốn ý niệm đó lan ra xung quanh, như là một thủ đoạn chiến lược, mà qua đó nếu bị khiêu khích bởi một kẻ xâm lược nước ngoài, ông ta có thể phản ứng một cách không tương xứng, nhưng điều quan trọng ở đây là tách biệt một ông Nixon vốn là người đôi khi bày tỏ những lời phát biểu cực đoan đối với những người bạn thân của mình vì hiệu quả gây xúc cảm mạnh mẽ hoặc theo cách hùng biện và ông Nixon vốn là người không bao giờ thực hiện một nước cờ quốc tế thực sự nghiêm trọng mà không có sự phân tích cẩn thận và thận trọng nhất. Điều đáng buồn cười là tưởng tượng Richard Nixon ra lệnh cho một hành động táo bạo trong nước. Vị Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger rõ ràng là trong những ngày cuối nắm quyền lực của ông Nixon đã thực sự ra chỉ thị trực tiếp cho Ban Tham mưu Kết hợp phớt lờ những mệnh lệnh từ vị Tổng Tư lệnh của họ –một yêu sách hỗn láo chưa từng có về thẩm quyền. Bất cứ những động lực của ông ta là gì, ông Schlesinger không bao giờ xen vào việc của một trong hai người chúng tôi (hoặc bất cứ ai khác, như cho đến nay chúng tôi biết) với những quan tâm của ông ta và định làm gì với chúng.
6. Như đối với các câu chuyện của Joe Laitin (một phụ tá thân cận của ông Schlesinger) rằng một ông Nixon điên cuồng chạy ào xuống cầu thang hai nấc một lúc, bị truy đuổi bởi sáu nhân viên mật vụ, và gần như đụng văng ông Laitin –làm gì có chuyện đó. Ông Nixon không có thể nào đã đi xuống cầu thang hai nấc một lúc nếu sinh mạng của ông ta phụ thuộc vào nó.

Henry A. Kissinger
New York
Brent Scowcroft
Washington
[Ngày 5 tháng Mười Một, 2000]

===========================================

p139

Việc ông Nixon Đi xuống Cầu thang
(Bức thư của Joe Laitin)

Gởi đến Biên tập viên:
Nhân đọc thấy sự bào chữa nhiệt tình của Henry A. Kissinger và Brent Scowcroft cho Richard Nixon (những lá thư, vào ngày 5 tháng Mười Một), tôi đã rất ngạc nhiên là họ cảm thấy đó là điều cần thiết trong việc tạo ra một trường hợp của họ để nói rằng tôi đã dựng lên những chi tiết về sự gặp gỡ bất ngờ, kỳ lạ của tôi với Tổng thống. Tôi đã có mặt ở đó; họ thì không.
Tuy nhiên, họ quên một điểm. Cho dù Tổng thống đụng tôi té ngã hay thì không quan trọng. Tôi không thể thề rằng ông ta đi xuống cầu thang hai nấc một lúc, ba nấc một lúc hoặc một nấc một lúc. Tất cả điều mà tôi có thể nói là cái nhìn tuyệt vọng trên khuôn mặt của ông ta khi ông ta bị truy đuổi bởi các nhân viên mật vụ, đã báo động tôi và thúc đẩy cú gọi điện thoại của tôi đến vị Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger. Bởi vì tôi có sự tiếp cận trực tiếp đến ông Schlesinger, sau khi đã làm việc với ông ta trong nhiều năm, tôi đã có thể báo cáo những chi tiết không thêm thắt về sự việc bất ngờ ngay sau khi nó xảy ra. Như ông Kissinger và ông Scowcroft biết rõ là, lịch sử không thể bị giả mạo, và cho là tôi đã nói dối về cuộc gặp gỡ bất ngờ của tôi với Tổng thống Nixon, vốn không thể thay đổi điều gì đã thực sự diễn ra.

Joe Laitin
Bethesda, Md
[Ngày 19 tháng Mười Một, 2000]

===========================================

p140

Thể chế Nixon
(Bức thư của Barry A. Toll)

Gởi đến Biên tập viên:
Trong lá thư của ông ta và Brent Scowcroft (ngày 5 tháng Mười Một), vị cựu Ngoại trưởng Henry A. Kissinger chối bỏ việc đã từng có liên quan đến Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger trong việc ra chỉ thị trực tiếp cho Ban Tham mưu Kết hợp phớt lơ những mệnh lệnh từ Tổng thống Richard Nixon. Như là một người trong suốt khoảng thời gian 1973–1975 vốn đã phục vụ trên một trong những đơn vị Tham mưu Chiến trận, trên việc sẵn sàng thường trực để báo cáo ngắn gọn cho Tổng thống và những vị chỉ huy cao cấp trong sự kiện về cuộc khủng hoảng hạt nhân, nói một cách khác hơn là tôi biết việc đó. Như tôi đã từng chứng khai về những cuộc báo cáo bí mật và trong những phiên họp công khai và khép kín của các ủy ban Hạ viện và Thượng viện từ thời 1975, ông Kissinger đã ký tên hoặc ký thêm vào ít nhất là ba mệnh lệnh như thế trong năm cuối của nhiệm kỳ Tổng thống của ông Nixon. Tôi đã chứng khai như thế nhiều lần theo hình phạt về tội khai man.
Sau khi mệnh lệnh đầu tiên như thế vào năm 1973 được ký bởi ông Kissinger, Bộ Tham mưu Kết hợp yêu cầu rằng bất kỳ những mệnh lệnh tiếp theo phải được ký thêm vào bởi ít nhất một viên chức nội các khác của ông Nixon. Mệnh lệnh thứ hai như thế, một lần nữa là một chỉ thị không tuân theo Tổng thống cho đến khi có thông báo mới, được ký bởi ông Kissinger, theo như tôi không làm, và bởi Elliot Richardson. Ít nhất là một mệnh lệnh khác được ký chung bởi ông Kissinger và vị Bộ trưởng Quốc phòng Schlesinger. Những mệnh lệnh như thế luôn luôn được gởi đi với dòng chữ “Tối Mật, Chỉ những Người được Phép xem, Phân phối Hạn chế,” rẽ qua đường luân lưu thông tin khác. Đôi khi, chúng vẫn còn có hiệu lực trong vòng một tuần, thường thường chỉ là hai đến bốn ngày. Những mệnh lệnh được ban hành vào lúc nghe về tình trạng bất ổn về tinh thần của ông Nixon, tôi liên tiếp nhận được chúng trong chính tay tôi, như nhiều người khác đang phục vụ trong những vị trí điều khiển vũ khí hạt nhân nhạy cảm trong suốt năm cuối khủng khiếp đó của nhiệm kỳ Tổng thống của ông Nixon.

Barry A. Toll
Painesville, Ohio.
[Ngày 12 tháng Mười Hai, 2000]

===========================================

p141

(Bức thư được ký tên chung của Anthony Summers,
Robbyn Swan, và Cappoquin Ireland)

Gởi đến Biên tập viên:
Bức thư của Henry Kissinger và Brent Scowcroft, đề cập đến cuốn sách tiểu sử về ông Nixon của chúng tôi, “Arrogance of Power” (“Sự Ngạo mạn của Quyền lực”), là một cái đập vô hiệu quả. Họ khẳng định rằng những lời cáo buộc về sự phá hoại của thể chế Nixon về nỗ lực hòa bình vào năm 1968 của Johnson là “không được chứng minh bởi bằng chứng có thuyết phục,” sau đó thất bại phản lại bất kỳ sự phân tích chi tiết nào của chúng tôi –mà trong đó bao gồm hồ sơ được tung ra gần đây của FBI, một sự giám sát được tiến hành vào đêm của cuộc bầu cử vốn đã mang ông Nixon lên quyền lực.
Ông Kissinger và ông Scowcroft dẫn chứng các nguồn lưu trữ của Liên Xô, về tất cả mọi thứ, để nói bóng gió rằng là sự khởi đầu về hòa bình của ông Johnson chỉ là một mưu đồ chính trị “để Hubert Humphrey được trứng cử.” Bất cứ sự hiểu biết nào về hồ sơ của những cuộc họp then chốt của Nhà Trắng, hiện có tại Thư viện Johnson, xua tan ý niệm đó. Nhưng ngay cả nếu điều đó đã là một trường hợp, nó sẽ không giảm nhẹ sự vi phạm được chỉ ra bởi khối lượng thông tin vốn cho rằng ông Nixon đã làm một điều vô lương tâm –như là một ứng cử viên chính trị chưa đắc cử, ông ta xen vào cách hành xử của chính phủ về những cuộc đàm phán hoà bình có độ nhạy cao.
Những độc giả của cuốn sách của chúng tôi sẽ tìm thấy rằng chúng tôi dựa vào, trang nầy đến trang khác, những nguồn tư liệu của chúng tôi –mà trong đó bao gồm hơn một ngàn cuộc phỏng vấn. Nếu ông Kissinger ưng thuận cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn, chúng tôi sẽ có tường thuật một cách trung thực về những quan điểm của ông ta trên các vấn đề liên quan. Chúng tôi đã làm chín yêu cầu bằng văn bản trong khoảng thời gian hai năm, nhưng ông ta trốn tránh và len lách và không bao giờ đi qua.

Anthony Summers
Robbyn Swan
Cappoquin, Ai-len
[Ngày 12 tháng Mười Hai, 2000]

===========================================

p142

Chưa được Công bố
(Bức thư của Christopher Hitchens)

Gởi đến Biên tập viên:
Tôi cho rằng đó là một sự khác biệt của một loại bị tấn công nào đó trong một thời gian dài như thế bởi Henry Kissinger và (vì lý do nào đó) người hợp tác kinh doanh của ông ta Tướng Brent Scowcroft. Chắc chắn, đó là điều thú vị để nhìn thấy sự bối rối rõ ràng khi họ tiếp cận những lời cáo buộc mà tôi đã tạo ra.
Hồ sơ về việc dính líu lén lút của Henry Kissinger với chiến dịch tranh cử Tổng thống của ông Nixon vào năm 1968 được dẫn chứng rất rộng rãi bằng tài liệu vào lúc nầy, bao gồm của chính ông Nixon, mà qua đó người ta phải dụi đôi mắt lờ mờ để đọc lời chối bỏ của nó. “Không ai trong chúng tôi,” hai người đàn ông viết, “có liên kết” với chiến dịch tranh cử đó. Sự khốn khổ được nói lên để yêu mến người đồng cảnh ngộ; tôi đã không bao giờ buồn điều tra liệu Tướng Scowcroft đóng bất kỳ vài trò nào trong hồi kỳ không vui đó ngoại trừ sự khiêm tốn của riêng ông ta –có lẽ là sự thất vọng– chỉ phục vụ để đặt uy tín của người đồng tác giả của mình trong một sự trái ngược trần trụi hơn đối với những sự kiện thực tế. Ông Kissinger được thuê như là vị cố vấn chính của ông Nixon về an ninh quốc gia ngay khi cuộc bầu cử kết thúc, ngay cả mặc dù hai người đàn ông đã gặp gỡ chỉ có một lần. Chính là, vã lại, cuộc hẹn đầu tiên của ông Nixon. Có phải chăng ông Kissinger bây giờ phủ nhận rằng điều nầy không có liên quan đến nhiều phục vụ lén lút được thực hiện bởi ông ta, từ Paris, cho John Mitchell và cho chính ông Nixon ? Nếu vậy, sự chối bỏ làm sửng sốt đến lặng người về những sự kiện thực tế được thành lập sẽ là điều thú vị chỉ trong chừng mực nào đó khi nó đưa ra một cái gì đó cho tới nay khó ước đoán được: những cảm giác đau nhói như kim châm của một lương tâm không bứt rứt.
Có lẽ, tôi đưa ra một sự đề nghị không thể bảo đảm nầy bởi vì sự trình bày riêng biệt sau đó trong cùng một đoạn văn, nơi mà ông Kissinger (tôi đã làm điều đó với ông Scowcroft trong lúc nầy) nói rằng :

Hồ sơ cho thấy là việc trì hoãn của những người miền Việt Nam (bị cáo buộc là theo mệnh lệnh của những thuộc hạ của ông Nixon) —ngay cả khi lời tường thuật nầy là đúng— không có thể nào có hậu quả là ông Summers tuyên bố. Những cuộc đàm phán hòa bình Paris được mở rộng bắt đầu vào đầu tháng Mười, và bất kỳ sự chậm trễ do đó rất ngắn; ông Nixon –như la vị Tổng thống chưa đắc cử và tại đỉnh điểm của sức bật của ông ta– đã khuyến khích Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu của miền Nam Việt Nam hợp tác với chính quyền Johnson. (kiểu chữ in nghiêng và tô đậm được thêm vào).

p143

Đây là một đoạn văn khéo léo tinh xảo và không có lỗi. Nhưng nó cũng được lập luận một cách rất thiếu trung thực. Việc cố tình trì hoãn của những người miền Nam Việt Nam không “bị cáo buộc” nhưng đã được xác nhận và được chứng minh bằng tài liệu một cách rộng rãi. Nếu sự nhấn mạnh khác về “cáo buộc” là một việc có chủ ý, như thế, nó đã không phải là “theo mệnh lệnh của những thuộc hạ” –một mưu mô “chối bỏ” bây giờ là quen thuộc, nhờ đó trình mà tên trộm không bao giờ được nói ra những nhiệm vụ của hắn làm– nhưng là theo sự xúi giục trực tiếp của chính ông Nixon. Điều nầy đã được diễn đạt một cách vững chắc bởi nhiều người dự phần tham gia có chức vụ cao cấp thuộc Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa trong những sự kiện quan trọng, và không bị thách thức, để riêng ra việc bác bỏ, bởi ông Kissinger. “Vào đầu tháng Mười Một” nghe có vẻ thời gian vào thu một cách thích hợp như là sự mô tả về việc xếp đặt theo mùa của những sự kiện tương tự nầy, nhưng nó kéo dài để bao phủ ngày tháng của chính cuộc tuyển cử và như thế nó được trù hoạch để che khuất cái gì đó mà nó dường như là tỏa sáng. Điều mà ông Kissinger muốn nói là trong khoảng thời gian ngắn khi việc “trì hoãn” thực sự đã diễn ra và như là một hệ quả của có thể nghĩ ra được về khoảng thời gian chính xác đó, một chế độ thay thế một chế độ khác trong Nhà Trắng. Đó là, sau hết, toàn bộ giả thuyết (và toàn bộ sự tố cáo), ngay từ lúc đầu. Một khi đã là Tổng thống, ông Nixon quả thật dường như làm theo đường lối của ông Johnson –mà qua đó là một yếu tố khác trong trường hợp chống lại ông ta và vị “Cố vấn An ninh Quốc gia” mới được đề bạt của mình vốn là người không có những khác biệt nào trên nguyên tắc với đường lối đó để bắt đầu.
Cuộc chuyện trò trao đổi trước đó và tiếp theo giữa hai người cũng phản bội một cách phiền phức. Ông Kissinger không nói rằng không có một bằng chứng nào cho sự cáo buộc nghiêm trọng nầy. Ông ta nói rằng bằng chứng không thuyết phục. Có phải là ông ta muốn nói rằng cái gì đó không có tính thuyết phục là bằng chứng được viện dẫn bởi rất nhiều nhà sử học và người có dự phần, từ ông Bundy và ông Haldeman hiếu chiến đến một Clark Clifford nhiều hoài nghi hơn ? Rõ ràng là ông ta không muốn nói thế. Thay vào đó, có một vấn đề xảy đến là sự thay đổi ngoạn mục và nhiều gợi ý về chủ đề :

Nếu vấn đề là động cơ chính trị, bất kỳ cuộc thảo luận về vấn đề nầy phải bắt đầu với những biểu thị từ những thư khố cất giữ tài liệu của Liên Xô mà những nhà lãnh đạo Sô-Viết cuối cùng tin rằng động thái chính của việc vội vã thông qua vụ ngưng dội bom và những cuộc đàm phán hòa bình là để Hubert Humphrey được trúng cử. (Kiểu chữ in nghiêng theo nguyên bản.)

p144

Câu văn được cấu trúc một cách vụng về nầy xứng đáng cho việc phân tích ngữ pháp chặt chẽ. Rõ ràng là, động cơ chính trị là một đề mục phụ được cho phép sau cùng hết của cuộc tranh luận trên những cuộc đàm phán Paris, vì nếu nó có thể được viện lý –thực sự chỉ là đề nghị– cho những người có chức vụ thuộc Đảng Dân chủ, nó chắc chắn cũng có thể được viện lý cho những người đối lập thuộc Đảng Cộng hòa của họ. Vì vậy, người ta biết ơn cho sự nhượng bộ có lẽ là không chủ ý của ông Kissinger trên cơ bản thông thường. Tuy nhiên, nếu chế độ Johnson–Humphrey tìm cách sắp xếp thời gian cho các cuộc đàm phán vì những mục đích bầu cử của riêng họ (và người viết nầy đã không và không nằm trong bất kỳ vị trí nào để chấp nhận bất cứ điều gì mà họ đã thực hiện) kế đó, họ đã làm như thế trước công chúng, và như là một chính phủ được dân cử và thành lập hợp pháp của Hoa Kỳ. Trong khả năng đó, cũng thế, họ có thể đã khó tránh khỏi sự phán xét của những cử tri như khó tránh khỏi sự việc gần như là chủ nghĩa cơ hội của họ. Trong khi đó, các ông như Nixon, Agnew, Mitchell, và Kissinger (chỉ một người trong số họ cho đến nay chưa bị truy tố vì một tội lạm dụng quyền lực hoặc một tội khác) có thể đang tiến hành một lối “ngoại giao” với những người đối thoại thiếu tín nhiệm, vốn là bất hợp pháp theo Đạo luật Logan, đã che dấu không chỉ là cả công chúng và lẫn những người đàm phán được chỉ định của một quốc gia, mà còn là toàn bộ cử tri ! Điều nầy quả thật là một phần của điểm cơ bản pháp lý thiết yếu về buộc tội. Để đặt hai ý niệm trên cùng một cơ sở chắc chắn, và để đệm thêm vào chúng bằng những lời nói bóng gió mơ hồ và không có cơ sở về sự hiểu biết của “Liên Xô,” là phải có cùng một thái độ đối với Hiến pháp Hoa Kỳ mà qua đó ông Kissinger sau nầy phải ứng dụng đối với thái độ của Chile.
Thật sự rõ ràng mà nói rằng, theo ý nghĩa kỹ thuật quản trị quân sự, có sự chồng chéo rộng lớn nào đó giữa cuộc chiến tranh như được tiến hành bởi ông Johnson và ông Humphrey và cuộc chiến tranh như được “thừa kế” bởi ông Nixon và ông Kissinger. Đến mức độ đó, một số trong những điều khẳng định của điểm (3) (i.e. trong bức thư ở trên của ông Kissinger và ông Scowcroft) không cần phải bàn cãi. (“Một phần ba có thể là gần chính xác hơn.” Thật đáng buồn –như vậy, cuối cùng là ông Kissinger đã từng đếm họ (i.e. những binh lính Hoa Kỳ bị thiệt mạng trong nhiệm vụ), trong khi dám buộc tội tôi đang chơi “một trò chơi thông thường về những con số”). Tuy nhiên, nếu “di sản” được truyền từ một chính quyền đến một chính quyền kế tiếp quả thật đã được chuyển qua một bộ lọc của cách dàn xếp bí mật bất hợp pháp với một quyền lực thứ ba không được tiết lộ –như đã được lập luận một cách quyết đoán, và như là một chính quyền sắp ra đi đã tin tưởng một cách chắc chắn– và nếu ảnh hưởng của điều nầy là nhằm nâng cao mức độ bạo lực hơn là giảm bớt nó đi, thế thì vụ thưa kiện liên quan đến ông Kissinger như là một kẻ tội phạm chiến tranh, chỉ là không để ý đến những cái chết của người Mỹ, được hoàn tất chỉ riêng trên những điều khoản đó.

p145

Những độc giả của ông bạn có thể quan tâm ghi nhớ là trong việc tìm kiếm xa hơn nhằm làm loãng đi quan hệ mật thiết ở trên, ông ta không nói gì cả đến quan điểm ban đầu của tôi về những thương vong gia tăng to lớn của Việt Nam, Cam-pu-chia, và Lào trong suốt những năm 1969–1975; một giai đoạn khi mà cuộc chiến tranh và sự tàn phá của nó được mở rộng vào trong những vùng rộng lớn, mới của lãnh thổ trung lập và dân sự trước đây.(28) Sự bỏ sót như thế không thể là tình cờ; chính là một kiểu “giám sát qua loa” mà qua đó đưa đến kết quả từ quan điểm rộng lớn về sự phân biệt chủng tộc và những hy vọng –tôi chắc chắn là mơ hồ– nhằm tập trung sự chú ý và cảm thông của những khán giả của ông bạn chỉ trên những mất mát của “riêng” nó.
Những đoạn văn còn lại của bức thư của ông ta thì đầy dẫy với sự tuyên truyền rập khuôn và dối trá đáng thương, phần lớn của nó có khả năng là bị vứt bỏ đi bởi những bức thư sau nầy mà ông bạn đã in ra từ ông Laitin và ông Toll. Cuốn sách sắp tới của tôi là “The Trial of Henry Kissinger” (“Cuộc Xét xử Henry Kissinger”) sẽ, tôi hy vọng, cung cấp sự phản biện về những lời tuyên bố còn lại.

Christopher Hitchens
Washington, D.C.

(Phần tái bút cho những độc giả: Tôi không than phiền về việc không thấy bức thư của riêng mình trong ấn bản; nó quá dài và tôi đã thực sự có lời nói của mình trong phần bình luận của mục Bình Sách. Tôi cũng trì hoãn quá lâu trong việc gởi nó đi, trong trường hợp mà ông Kissinger –hoặc thậm chí một ông Scowcroft không may– có thể chọn để đấu lại những đáp từ thắng thế mà họ đã nhận được từ ông Laitin và ông Toll. Nhưng tuyệt nhiên không có câu trả lời nào đến, vì vậy tôi tự cho phép mình sự hài lòng của việc kết thúc cuộc tranh cãi mà ông Kissinger đã bắt đầu và sau đó bỏ rơi.)

p146

Phụ lục II : Bức Thư của ông Demetracopoulos

Dobrovir & Gebhardt
Suite 1105
1025 Vermont Avenue, N.Y.
Washington, D.C., 20005
(202) 347-8118
TELEX : 650-313-6357
Ngày 3 tháng Chín năm 1987

Qua Người đưa tin

Tiến sĩ Henry A. Kissinger
c/o James E. Wesner. Esq.
Ginsberg, Feldman, Weil & Bress
Suite 700
1250 Connecticut Avenue, N.W.
Washington, D.C. 20036

Thưa Tiến sĩ Kissinger :
Ông sẽ nhớ lại đáp thư mà tôi đã gởi cho ông, nhờ luật sư James Wesner của ông chuyển dùm, vào năm 1980, liên quan đến những tài liệu của NSC,(26) đề cập đến Elias P. Demetracopoulos. Ông không bao giờ trả lời cho những bức thư đó, riêng biệt là cho bức thư, ngày 24 tháng Mười,1980, cuối cùng. Từ những gì mà ông đã nói với chúng tôi thông qua luật sư của ông vào lúc đó, chúng tôi cuối cùng phải tin rằng không phải ông hoặc cũng không phải NSC nắm giữ bất kỳ tài liệu nào trong số được mô tả. Những sự kiện kể từ đó đòi hỏi chúng tôi nhắc lại vấn đề nầy với ông.
1. Những giấy tờ của Richard M. Nixon, được đưa ra vào tháng Năm năm 1987, bao gồm những hồ sơ của John Dean liên quan đến ông Demetracopoulos, nhưng không có những hồ sơ nào của NSC như theo chúng tôi biết.
2. Như ông biết (kể từ khi chúng tôi đã gởi cho ông những bản sao), NSC đưa ra cho chúng tôi những bản sao của những mục lục trong máy tính cho thấy rằng trong khi ông còn là vị Cố vấn An ninh Quốc gia và là Chủ tịch của “Ủy ban Bốn Mươi,” cơ quan NSC thực sự có những bản sao của những tài liệu liên quan đến ông Demetracopoulos. Cơ quan NSC đã thông báo cho chúng tôi rằng những tài liệu, nếu không nằm trong các giấy tờ của ông Nixon (như chúng dường như không), đã bị lấy đi bởi ông và được cho là nằm yên trong những hồ sơ cá nhân của ông, những hồ sơ nầy được gởi cho Lưu khố Quốc gia, hoặc những hồ sơ mà ông đã ký thác vào Thư viện Quốc hội nhưng mà chúng được khép kín đối với công chúng cho đến năm 2001.(29)

p147

trang 2
3. Một trong những mục lục trong máy tính của cơ quan NSC cho thấy là một bằng chứng, có ghi ngày 18 tháng Mười Hai năm 1970, vốn đề cập đến “cái chết của ông Athens Demetracopoulos trong nhà tù ở Athens.” Đó là vào khoảng thời gian mà những mưu toan đầu tiên đã được thực hiện bởi chế độ độc tài Hy Lạp nhằm bắt cóc ông Demetracopoulos, sau đó sống trong đất nước nầy, phỏng chừng là đưa biến ông ta trở lại Hy Lạp đến “cái chết của ông ta trong [một] nhà tù ở Athens.” Điều nầy gần đây đã được chứng minh bằng tài liệu trong những lời phát biểu tuyên thệ của các quan chức Hy Lạp hiểu biết. Ủy ban Tuyển chọn Thượng viện về Tình báo, được chủ tọa bởi cố Thượng nghị sĩ Frank Church, bắt đầu điều tra sự việc trong sự kết hợp với sự nghiên cứu của nó về những hoạt động tình báo liên quan đến Hy Lạp: nhưng theo các nguồn tin của Ủy ban, như được tường thuật bởi Seymour Hersh trong cuốn sách của mình “The Price of Power,” (“Cái giá Quyền lực”) ông đã thúc giục Ủy ban ngưng cuộc điều tra, về nó đã làm thế.
4. Những tài liệu đã được đưa ra bởi CIA từ năm 1980 đề cập đến những cuộc họp báo cáo cho ông Ford sau nầy là Tổng thống vào tháng Mười năm 1974. Tài liệu đề cập đến một “hồ sơ vết tích” về ông Demetracopoulos, một “văn bản ghi nhớ riêng về xúc phạm” và “văn bản ghi nhớ dài của ông Kissinger về ông Elias [Demetracopoulos],” “còn lại là… với Tướng Scowcroft.” Những bản sao của những tài liệu thích đáng được kèm theo.
Ông bạn nên nhận biết rằng sau rất nhiều cuộc thảo luận và cuộc trao đổi thư từ, và cuộc điều tra của Quốc hội, cả cơ quan FBI và William Webster sau nầy là Giám đốc cơ quan FBI và cơ quan CIA dưới quyền của cố Giám đốc William Casey, thừa nhận thông tin của họ đó về ông Demetracopoulos. Một bản sao của một tài liệu được đính kèm.
Chúng tôi khó thể không giả định rằng ông bạn nắm trong tay ít nhất một bản sao “văn bản ghi nhớ dài của ông Kissinger” về ông Demetracopoulos, và ông bạn có thể cũng có những bản sao “hồ sơ dấu vết” và “văn bản ghi nhớ riêng về xúc phạm.”

===========================================

p148

trang 3
Chúng tôi yêu cầu rằng, nhằm mục đích hoàn tất một hồ sơ lịch sử, ông bạn cung cấp cho ông Demetracopoulos ngay với những bản sao về những tài liệu được nhắc đến.

Chân thành.
William A. Dobrovir

Những hồ sơ được đính kèm

===========================================

p149

Những lời Cảm tạ

Khi tạp chí Harper đủ tốt để xuất bản hai bài tiểu luận dài mà qua đó hợp lại trở thành cốt lõi của cuốn sách nầy, người bạn tôi và nhà xuất bản Rick MacArthur đã gởi một bản sao trước đây đi vòng đến hảng Thông tấn ABC ở New York. Kể từ khi chúng tôi đã chỉ trích sự tôn kính của giới truyền thông Mỹ khá nhiều như chúng tôi đã tấn công sự lười biếng về đạo đức của cộng đồng “nhân quyền” Mỹ quá no đủ, ông ta nghĩ rằng đó là điều công bằng duy nhất để cho nhà sản xuất chương trình Nightline quyền trả lời. Sau một khoảng thời gian, chúng tôi có câu trả lời của mình. “Có,” người đàn ông hàng đầu tại chương trình trương bày thuộc loại thượng hạng về ông Kissinger, nói, “bất cứ điều gì mới ở đây không ?”
Ông Rick và tôi tự ôm vào lòng mình với tiếng cười hứa hẹn vào điều đó. Ở Washington và New York và Los Angeles và mọi thủ đô văn hóa khác, nhu cầu hời hợt cho tính chất mới lạ cũng là một đồng minh của một chiến thuật tuyên truyền yêu thích quyền lực, mà qua đó nó phải đối mặt với lời cáo buộc nghiêm trọng không phải bằng sự từ khước để từ chối nó nhưng thay vào đó bằng sự cố gắng phân loại nó lại như là “tin tức cũ.” Và dĩ nhiên, vì vậy chuyện buồn cười là về nhà sản xuất, vốn là người đã đưa ra một phản ứng cũ rích và có thể dự đoán được và hết hơi. (Chúng tôi sau đó hỏi ông ta xem có bất cứ điều gì mới mẻ về câu hỏi của ông ta không.)
Nếu điều đó đã được hỏi trong sự chân thành, dĩ nhiên, cùng một câu hỏi đó vẫn sẽ đòi hỏi một câu trả lời thẳng thắn. Chính là nó đây. Thông tin trong cuốn sách nầy thì không “mới mẽ” gì đối với những người dân thuộc miền Đông Timor và Cyprus và Bangladesh và Lào và Cam-pu-chia, mà những xã hội của họ bị tàn phá bởi nghệ thuật quản lý suy đồi của nhà nước.

p150

Nó cũng không phải là “mới mẽ” gì đối với những thân nhân của những người bị tra tấn, thủ tiêu, và bị sát hại ở Chile. Nhưng nó sẽ là điều mới mẽ đối với bất cứ người nào vốn dựa trên hảng Thông tấn ABC để biết thông tin. Nó không phải là mới đối với các chính trị gia suy thoái vốn là những người đã đồng ý xuất hiện trên mạng truyền thông đó để đổi lấy cho việc được hỏi những câu tâng bốc. Nhưng một số của nó có thể đến như là tin tức đối với nhiều người Mỹ đúng đắn vốn là những người đã nhìn thấy những luật lệ và những sự bảo vệ của riêng họ bị vi phạm, và đồng tiền của riêng họ được chi tiêu trong nhân danh họ nhưng không có sự cho phép vì những mục đích tàn bạo vốn không thể bị tiết lộ, bởi băng đảng Nixon–Kissinger. Ồ, vâng, đây là một câu chuyện xa xưa thôi mà. Nhưng tôi hy vọng và có chủ ý đóng góp vào tác phẩm phần kết thúc của nó.
Đương nhiên là, một vài tiết lộ ít trong cuốn sách; một số trong tài liệu mới đã gây sửng sốt, thậm chí tác giả của nó. Nhưng tôi không phải có mặt ở đây để cảm tạ tác phẩm của mình. Bất cứ nơi nào có thể, tôi ghi nhận công sức và sự cống hiến trong chính câu chuyện. Một số khoản nợ vẫn phải được nhắc đến.
Không ai ở Washington vốn là người đảm nhận vấn đề về ông Kissinger, có thể từng sạch nợ đối với Seymour Hersh, vốn là người đầu tiên đã phá danh tiếng của người đàn ông bằng hành động của mình và chỉ bằng phương pháp nầy, cũng như bằng những việc khai quật hồ sơ đầy tính chất anh hùng, và bắt đầu một tiến trình chậm rãi mà một ngày nào đó bắt kịp với sự khôn khéo lảng tránh không đáng của cái ác chính thức. Đây là một trận chiến cho sự minh bạch và cho sự thật lịch sử, trong số những thứ khác, và nếu ông Hersh có bất kỳ đối thủ nào trong lãnh vực đó, chính là Scott Armstrong, người sáng lập Lưu khố An ninh Quốc gia, vốn đã từng đại diện thay thế như là tương đương với Ủy ban Sự thật và Công lý của Washington cho đến khi một ủy ban thực sự ra đời, (“Như thế, chúng ta hãy cầu nguyện cho điều tốt đẹp sắp đến đó…”)
Trong suốt khoảng thời gian vắng mặt lâu dài của họ khỏi màn hình theo dõi làn sóng đạo đức Tây phương, những người dân miền Đông Timor có thể đã không có những người bạn nào tốt hơn và dũng cảm hơn Amy Goodman và Allan Nairn. Gia đình của Orlando Letelier, và những gia đình của rất nhiều nạn nhân Chile khác, luôn luôn tin tưởng vào Peter Kornbluh, John Dinges, và Saul Landau, vốn là những người ở Washington đã giúp đỡ giữ cho vụ thưa kiện rất quan trọng vẫn tiến hành mà một ngày nào đó sẽ được bào chữa. Lucy Komisar, Mark Hertsgaard, Fred Branfman, Kevin Buckley, Lawrence Lifschultz, tất cả họ sẽ, tôi biết, nhận ra chính họ trong những vay mượn của tôi từ công việc nguyên khởi hơn và dũng cảm hơn của họ.

p151

Đôi khi, một cuộc trò chuyện với biên tập viên có thể là điều khích lệ; đôi khi không. Tôi đang ở phần giữa của câu văn giải thích đầu tiên của tôi với Lewis Lapham, biên tập viên của tạp chí Harper, khi anh ta cắt ngang nói rằng: “Được rồi. Hãy viết về điều đó. Đúng lúc lắm. Chúng ta sẽ làm việc đó.” Tôi đã không tin chính mình đến thế để cảm ơn anh ta, như tôi hiện thời cảm tạ. Vì vậy, thay vào đó, tôi tiếp tục với nó, mà qua đó tôi đã không thể hoàn thành mà không có một Ben Metcalf khác thường tại văn phòng của tạp chí Harper. Cùng với Sarah Vos và Jennifer Szalai, những người kiểm soát sự kiện từng ly từng tí, chúng tôi đã duyệt đi duyệt lại, buồn nôn một cách kỳ lạ về sự nhận biết đổi mới mà qua đó chính là tất cả sự thật.
Hiện trạng pháp chế về nhân quyền quốc tế còn rất phôi thai. Nhưng, trong một kiểu cách chưa đồng đều dường như có thể nhận thấy rõ, nó đang phát triển đến một điểm nơi mà những người giống như ông Kissinger không còn đứng trên luật pháp lâu hơn nữa. Những phát triển đáng hoan nghênh và bất ngờ đã có một ảnh hưởng đến chóng mặt: tôi hy vọng rằng phần kết thúc của tôi trên lãnh vực nầy trở nên lổi thời vào thời điểm nó được phát hành. Đối với sự giúp đỡ của họ trong việc hướng dẫn tôi qua những đạo luật hiện thời và trước đó, tôi vô cùng cảm ơn Nicole Barrett thuộc Đại học Columbia, Jamin Raskin và Michael Tiger thuộc Phân khoa Luật Washington tại trường Đại học Mỹ, và Geoffrey Robertson QC.
Có những khoảnh khắc rất ít vui trong những trang sách nầy. Tuy nhiên, tôi nhớ rất rõ cái ngày vào năm 1976 khi Martin Amis, người bạn đồng nghiệp của tôi sau nầy tại văn phòng tạp chí New Statesman, đã nói với tôi rằng những trang sách văn chương của anh ta sẽ xếp theo hàng cuốn sách “Good as Gold” (“Tốt như Vàng”) của Joseph Heller. Anh ta chỉ cho tôi phần trích được đưa ra. Chương 7 và 8 của cuốn tiểu thuyết đó, thật khác biệt, là sự châm biếm bất hủ, và phải được đọc và đọc lại. (một đoạn văn xác đáng về sự lạm dụng kéo dài và bẩn thỉu, mà qua đó làm nhục ngành in ấn cũng như mánh lới nghề báo chí cho sự đồng lõa của nó với con cóc (i.e. ám chỉ kẻ đáng ghét) dối trá và không hóm hỉnh nầy, bắt đầu bằng câu: “Thậm chí là một Henry Kissinger béo phì, đáng ghét như tên nhóc chó má đang viết một cuốn sách”.) Tôi sau nầy trở thành một người bạn của Joe Heller, mà cái chết của anh ta vào năm 1999 là một tai họa cho rất nhiều người trong chúng tôi, và lời cảm tạ cuối cùng của tôi là dành cho ảnh hưởng tạo thêm sinh lực của sự phẫn nộ sôi nổi, phóng thoáng, vui nhộn, nghiêm túc, và không nguôi của anh ta.

Christopher Hitchens
Washington, D.C.,
Ngày 25 tháng Giếng, 2001

[Phần I: Chương 01–05][Phần II: Chương 06–11(hết) và Phụ lục]

===========================================

Phụ Chú :
02_ Miền Đông Timor : (xem Phụ Chú Phần I)
14_ Kênh Beagle : vào khoảng 240 km chiều dài và 5 km chiều rộng ở điêm hẹp nhất. Vào khoảng 50 km từ cuối hướng tây con kênh, nó chia ra thành hai nhánh nhỏ: bắc và nam của hải đảo Gordon.
Nhiều hải đảo nhỏ (Picton, Lennox và Nueva) đến Cape Horn (Mũi Sừng) là chủ đề của cuộc xung đột Beagle tiếp tục trong một thời gian dài giữa Chile và Argentina, nhờ những điều khoản của Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị năm 1984 giữa Chile và Argentina, hiện thời những hải đảo đó là phần đất của Chile. Từ những năm 1950s đến những năm 1970s, nhiều biến cố lôi cuốn Hải quân Chile và Argentina đã xảy ra trong những vùng biển của kênh Beagle, thí dụ như biến cố Bắn tỉa vào năm 1958, biến cố Băng về hướng Nam (Cruz del Sur) vào năm 1967 và cuộc pháo kích Quidora cùng một năm.

(Vùng Châu Mỹ La-tinh)

(Phần cuối giao nhau giữa Chile và Argentina, điểm tận cùng được
gọi là Cape Horn (Mũi Sừng)) thuộc về Chile)

(Phần cuối của vùng châu Mỹ La-tinh, nơi kênh Beagle chạy
ngang qua lãnh thổ Chile (màu hồng) và Argentina)

15_ Cộng đồng chính sách : trong sử dụng đàm thoại hiện nay, “cộng đồng chính sách” đề cập đến một tập hợp những cá nhân thuộc những tổ chức với một nguyên tắc đấu tranh để thực hiện trong một khu vực của chính sách phổ biến. Trong ý nghĩa kỹ thuật hơn của nó, nó đề cập đến những cấu trúc quốc tế phô bày mối quan hệ gần gũi, ổn định, hợp tác giữa một số lượng giới hạn của những nhóm lợi ích, tự tuyển chọn là chính, và những thành phần “hợp tác” của bộ máy chính phủ.
“Cộng đồng chính sách” là những mạng lưới với một số ít tương đối vài người hoạt động, những quan hệ làm việc chặt chẽ, và những thỏa thuận chung trên mục đích, những mục tiêu, và những quá trình thể chế chung dẫn đến một kết quả chính sách.
Những “mạng lưới vấn đề” (là một liên minh của các nhóm lợi ích khác nhau và những cá nhân vốn là những người kết hợp với nhau nhằm thúc đẩy một vấn đề duy nhất trong chính sách của chính phủ. Những “mạng lưới vấn đề” có thể là hoặc ở trong nước hoặc quốc tế trong phạm vi, và nhiều mạng hoạt động chỉ bên trong miền của mạng lưới thông tin) thì lớn hơn, với sự xung đột nội bộ nhiều hơn và ít thỏa thuận trên những mục tiêu của những “mạng lưới chính sách.” “Mạng lưới chính sách” cũng có thể được tham gia vào việc phát tán cũng như việc phát triển chính sách và một số người lập luận rằng sự thất bại của chính phủ để hiểu được bản chất của một “mạng lưới chính sách” có thể dẫn đến những thất bại của việc thực thi.
Những mô hình của “mạng lưới chính sách” đã được phát triển để giải thích những sự khác biệt trong việc làm ra chính sách và quyền lực trong những phân khu có chính sách khác nhau và các ngành công nghiệp. Chúng cho thấy rằng những hoạt động không chính thức, có áp lực của nhóm thì quan trọng hơn những sự tiếp cận hiến pháp và thể chế.

16_ Vụ gài bom trên xe : theo cuộc điều tra của FBI, quả bom dẽo không được tin là đã được điều khiển bởi một dụng cụ định thời gian hoặc một dụng cụ gây phát nổ được điều khiển từ xa, khi nó được đặt ngay phía dưới nghế của người lái xe.
Trong những ngày sau khi vụ việc xảy ra, phát ngôn viên cho Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói rằng Bộ Ngoại giao “bày tỏ sự quan tâm sâu sắc nhất của nó về cái chết Tiến sĩ Orlando Letelier.” Do vụ ám sát ông Prats và vụ ám sát Bernardo Leighton Guzmán không thành (vốn là người thuộc Đảng Dân chủ Tin Lành Chile, bị nhắm mục tiêu bởi Chiến dịch Kên Kên, và bị bắn trọng thương trong lúc lưu vong ở Ý vào tháng 10/1975, do sự sắp xếp của Michael Townley, tay mật vụ thuộc tổ chức DINA (Ban giám đốc Tình báo Quốc gia trong chính quyền của Augusto Pinochet), cùng 3 tay chuyên nghiệp khác), biến cố được tin là một vụ mới nhất trong hàng loạt các vụ ám sát được nhà nước bảo trợ chống lại những người Chile lưu vong vì chính trị. Phát ngôn viên cho Cục Điều tra Liên bang (FBI) nói rằng đây là một biến cố bạo lực lần đầu tiên chống lại những người lưu vong Chile trên đất Mỹ, theo những hồ sơ của cơ quan.
Cuối cùng, FBI được thuyết phục rằng Michael Townley, một người bị đày biệt xứ ở Mỹ thuộc tổ chức DINA vốn là người đã có lần làm việc cho CIA, đã tổ chức vụ ám sát Orlando Letelier. Ông Townley và Armando Fernandez Larios, vốn là người cũng có dính líu trong vụ giết người, đã được trao cho những giấy tờ thị thực nhập cảnh bởi Robert White, vị Đại sứ Hoa Kỳ tại Paraguay, với sự xúi giục của chính phủ Paraguay mặc dù những sổ thông hành Paraguay của họ có những điều giả tạo.

(Hiện trường của vụ gài bom trên xe vào tháng 09/1976 tại Washington)

Vào năm 1978, Chile đồng ý dẫn độ ông Townley đến Hoa Kỳ. Trong suốt cuộc xét xử ở Mỹ, ông Townley thú nhận rằng ông ta đã thuê năm người lưu vong Cuba chống-Castro để gài bẫy tự động trên xe của ông Letelier.
Nhiều người khác cũng bị truy tố và kết án cho vụ giết người. Trong số họ là Tướng Manuel Contreras, người đứng đầu tổ chức DINA trước đây, và Chuẩn tướng Pedro Espinoza Bravo, cũng trước đây thuộc tổ chức DINA. Ông Contreras và ông Espinoza bị kết tội tại Chile vào ngày 12/11/1993, và bị kết án đến bảy và sáu năm tù theo cách tương ứng.
Ông Pinochet, vốn là người đã qua đời vào ngày 10/12/2006, không bao giờ bị kết tội trong sự liên quan đến trường hợp nầy. Người con trai của Orlando Letelier, Juan Pablo Letelier là người đại diện, đã đưa ra lời chứng nhận nầy: “Điều mà có lần tôi đã nói và một lần nữa bởi vì tôi đã được dạy dỗ để nói sự thật là không có một bằng chứng nào bất cứ là thứ gì từ hàng ngàn trang của tiến trình mà qua đó có thể cho phép khẳng định rằng có sự tham gia của quân đội Chile hoặc cũng không của vị Tổng Tư lệnh của nó (Tướng Pinochet) trong vụ ám sát Orlando Letelier” (theo báo El Mercurio của Chile, ngày 4/06/1995).
Vào ngày 10/04/2010, báo Associated Press đưa tin rằng một tài liệu được phát hiện bởi Lưu khố An ninh Quốc gia chỉ ra rằng thông cáo của Bộ Ngoại giao vốn được cho là đã lọt ra ngoài đến chính phủ Chile cảnh cáo chống lại các vụ ám sát đã bị ngăn chặn sau đó bởi Ngoại trưởng Henry Kissinger.
Vào tháng 7/1980, ứng cử viên tổng thống Ronald Reagan, trong một cuộc trò chuyện với nhà báo Brian Crozier, đã bày tỏ quan điểm rằng “điều tốt là ông Letelier đã bị tống khỏi.”

17_ Nhân vật Candide : là tên của một nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết “Candide, ou l’ Optimisme” bằng tiếng Pháp của Voltaire –tên thật là François-Marie Arouet (1694–1778)– một nhà triết học của Thời kỳ Giác ngộ. Đây là cuốn sách văn chương châm biếm của Pháp được xuất bản lần đầu vào năm 1759 và đã từng được dịch ra rộng rãi, với những phiên bản bằng tiếng Anh có những tựa đề là “Candide: or, All for the Best” (“Candide: hoặc, Tất cả Dành cho Những người Giỏi nhất”) (vào năm 1759); “Candide: or, The Optimist” (“Candidte: hoặc, Người Lạc quan”) (vào năm 1762); và “Candide: or Optinism” (“Candide: hoặc, Chủ nghĩa Lạc quan”) (vào năm 1947).
Nó bắt đầu với một thanh niên, Candide, vốn là người đang sống một cuộc sống được che chở trong một thiên đường Eden và được truyền bá với Chủ nghĩa Lạc quan Leibniz (hoặc đơn giản là Chủ nghĩa Lạc quan) bởi người thầy tinh thần của mình, Pangloss. Tác phẩm mô tả sự chấm dứt đột ngột của lối sống nầy, được theo sau bởi sự vỡ mộng từ từ, đau đớn của anh chàng Candide khi anh ta chứng kiến và trải nghiệm những khó khăn to lớn trên thế giới. Ông Voltaire kết thúc với anh chàng Candide là, nếu không bác bỏ Chủ nghĩa Lạc quan hoàn toàn, bào chữa cho một câu châm ngôn thực tế sâu sắc, “chúng ta phải vung trồng khu vườn của chúng ta,” thay cho câu thần chú Leibniz của người thầy tinh thần Pangloss, “tất cả dành cho những người giỏi nhất trong những người giỏi nhất của tất cả thế giới có thể có.”
Tác phẩm Candide được đặc tính hóa bởi âm điệu mỉa mai của nó, cũng như bởi cốt truyện thất thường, giả tưởng và chuyển biến nhanh của nó. Một cuốn tiểu thuyết thuộc loại picaresque (i.e. tưởng tượng, châm biếm, và hài hước) với một câu chuyện tương tự như thế của một câu chuyện trong mọi thời đại càng hệ trọng hơn, nó nhại lại nhiều câu nói rập khuôn mang tính chất phiêu lưu và lãng mạn, những cuộc đấu tranh mà qua đó được vẽ biếm họa lên trong một giai điệu vốn rất thực là châm chọc chua cay. Tuy nhiên, những sự kiện được thảo luận nầy thường được dựa trên những diễn biến lịch sử, như là cuộc Chiến tranh Bảy năm và trận động đất Lisbon vào năm 1755. Như những nhà triết học của thời đại Voltaire tranh luận với vấn đề của sự hiểm ác, vì vậy anh chàng Candide cũng thế trong cuốn tiểu thuyết ngắn nầy, mặc dù trực tiếp và hài hước hơn. Ông Voltaire chế giễu tôn giáo, những nhà thần học, những giới chức chính phủ, quân đội, những triết lý, và những triết gia qua câu chuyện ngụ ngôn; rõ ràng nhất là, ông ta tấn công Leibniz và Chủ nghĩa Lạc quan của ông ấy.
Như được dự kiến bởi Voltaire, tác phẩm Candide đã thụ hưởng sự thành công to lớn và lẫn sự dèm pha to lớn. Ngay sau khi việc ấn bản bí mật của nó, cuốn sách đã bị cấm bởi vì nó chứa sự báng bổ tôn giáo, sự xúi giục nổi loạn chính trị, và sự thù nghịch trí tuệ được ẩn giấu dưới một tấm thưa của sự ngây ngô. Tuy nhiên, với sự sắc xảo nhạy bén của nó và hình ảnh tượng trưng sắc nét về hoàn cảnh con người, cuốn tiểu thuyết kể từ đó đã gây cảm hứng cho nhiều tác giả và các nghệ sĩ sau nầy bắt chước và ứng dụng nó. Hôm nay, tác phẩm Candide được nhìn nhận như là một kiệt tác của ông Voltaire và thường được liệt kê như là một phần của danh sách các tác phẩm được công nhận là hay của Tây phương; đương nhiên là nó được giảng dạy nhiều hơn bất kỳ tác phẩm khác nào của văn chương Pháp.

(Bản in khắc ông Voltaire được xuất bản như là tranh đầu
sách cho ấn bản 1843 của cuốn Tự điển Triết học của ông ta)

(Tranh đầu sách của ấn bản 1759 được xuất bản bởi Sirène ở Paris,
mà qua đó đọc là, “Candide, hoặc Chủ nghĩa Lạc quan,” được dịch
từ tiếng Đức của Bác sĩ Ralph)

18_ Tổ chức Quốc gia của những người Chiến đấu Cyprus : (National Organisation of Cypriot Fighters từ chữ Hy Lạp “Ethniki Organosis Kyprion Agoniston” = EOKA) nhưng đôi khi được mở rộng như là Tổ chức Quốc gia của cuộc đấu tranh Cyprus (National Organisation of Cypriot Struggle từ chữ Hy Lạp “Ethnikí Orgánosis Kipriakoú Agónos”) được thành lập bởi Georgios Grivas, là một tổ chức du kích EOKA của người Cyprus gốc Hy Lạp thuộc đảng phái quốc gia mà qua đó đã chiến đấu một chiến dịch bạo lực cho việc chấm dứt quyền cai trị Cyprus của Anh Quốc, cũng như cho quyền tự quyết và sự thống nhất với Hy Lạp. Sau nầy, ông ta thành lập một tổ chức bán quân sự EOKA-B theo tình hình mới để hỗ trợ những hoạt động của mình.
Tổ chức EOKA hoạt động từ năm 1955 đến 1959 với tư tưởng hệ là chống Chế độ Quân chủ, chống Chủ nghĩa Cộng sản, theo Chủ nghĩa Quốc gia Hy Lạp, và phong trào Cộng đồng Hy Lạp Nước ngoài. Người đứng đầu là Georgios Grivas. Những đối thủ là Vương quốc Anh, và Tổ chức Kháng chiến Thỗ Nhĩ Kỳ. Và Tổ chức EOKA-B hoạt động từ năm 1971 đến 1974 với cùng một tử tưởng hệ trước đây.

(Tướng Georgios Grivas (1898–1974) của quân đội Hy Lạp, người
đứng đầu tổ chức du kích EOKA và tổ chức bán quân sự EOKA-B.
Ông ta qua đời vào ngày 27/01/1974 vì bệnh đau tim trước khi cuộc
đảo chính bùng nổ vào ngày 15/07/1974 –khoảng 6 tháng sau)

(Huy hiệu của EOKA)

(Cuộc biểu tình của dân Cyprus gốc Hy Lạp vào năm 1930, trong sự
ủng hộ phong trào Enosis (Phong trào Cộng đồng Hy Lạp Nước ngoài)

19_ Mặt trận cách mạng cho Đông Timor độc lập : (The Revolutionary Front for an Independent East Timor; tiếng Bồ Đào Nha : Frente Revolucionária de Timor-Leste Independente = FReTiLIn) là một đảng chính trị cánh tả ở miền Đông Timor. Họ hiện thời giữ đa số ghế trong Nghị viện quốc gia và thành lập chính phủ ở miền Đông Timor từ nền độc lập cho đến năm 2007. Đảng bắt đầu như là một phong trào kháng chiến vốn chiến đấu cho nền độc lập của miền Đông Timor, trước tiên từ Bồ Đào Nha và sau đó từ Indonesia, giữa năm 1974 đến 1998. Lúc đầu nó được gọi là Hiệp hội Dân chủ Xã hội Timor (Timorese Social Democratic Association, được viết tắt theo tiếng Bồ Đào Nha là ASDT). Sau khi miền Đông Timor có được nền độc lập từ Indonesia, FReTiLIn trở thành một trong nhiều đảng phái cạnh tranh cho quyền lực trong một hệ thống đa đảng.
Đảng FReTiLIn giữ danh nghĩa tham vấn với Quốc tế Xã hội Chủ nghĩa (The Socialist International = SI) vốn là một hiệp hội của những đảng phái chính trị trên toàn thế giới bao gồm Đảng Chủ nghĩa Xã hội Dân chủ, Đảng Dân chủ Xã hội và Lao động.

(Huy hiệu của Đảng FReTiLIn thuộc cánh tả, có khuynh hướng Xã hội
Chủ nghĩa, được thành lập vào tháng 9/1974 bởi Francisco “Lu Olo”
Guterres. Nó vẫn còn tồn tại như một đảng phái trong hệ thống đa đảng)

(Lá cờ của Đảng FReTiLIn)

20_ Goa : là một vùng đất nhỏ nhất thuộc phía tây Ấn Độ, với Panaji là thủ phủ của quốc gia nhỏ đó, trong khi Vasco da Gama là thành phố lớn nhất. Thành phố lịch sử Margao –thành phố lớn thứ hai của Goa– vẫn còn trưng bày ảnh hưởng văn hóa của người Bồ Đào Nha, vốn là những người đầu tiên đã đặt chân đến vào đầu thế kỷ 16 như là những thương gia và chinh phục nó chẳng bao lâu sau đó. Goa là một tỉnh trước đây của Bồ Đào Nha; lãnh thổ Bồ Đào Nha thuộc Ấn Độ là vùng đất nước người của Bồ Đào Nha, vốn tồn tại trong khoảng 450 năm cho đến khi nó được sáp nhập bởi Ấn Độ vào năm 1961.

(Goa là một vùng đất nhỏ nhất thuộc phía tây Ấn Độ)

(Những vùng có màu đậm thuộc miền Bắc Goa, với thủ phủ Panaji
của Goa vốn là thuộc địa của Bồ Đào Nha vào đầu thế kỷ 16)

Goa trước đây thuộc về người cổ đại Iraq, gọi là Sumer, vào khoảng 2200 trước Công nguyên. Sau nhiều triều đại trị vì của người Iraq, vào năm 1510, người Bồ Đào Nha đánh thắng vua Yusuf Adil Shah của triều đại Bijapur cuối cùng. Vào năm 1843, người Bồ Đào Nha di chuyển thủ phủ đến Panaji từ thành phố Velha Goa. Đến giữa thế kỷ thứ 18, Goa của Bồ Đào Nha đã được mở rộng đến hầu hết những giới hạn của tiểu quốc ngày nay. Đồng thời, người Bồ Đào Nha mất đi những chiếm hữu khác ở Ấn Độ cho đến khi những biên giới của họ được ổn định và thành lập Tiểu quốc Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha (Estado da Índia Portuguesa), mà trong đó Goa là lãnh thổ lớn nhất.

(Huy hiệu thời Trung cổ của Goa như là một vùng đất riêng
bị bao quanh thuộc Bồ Đào Nha trong khoảng 1935–1961)

Sau khi Ấn Độ có được nền độc lập từ Anh Quốc vào năm 1947, Ấn Độ yêu cầu rằng những vùng lãnh thổ Bồ Đào Nha trên tiểu lục địa của Ấn Độ được nhượng lại cho Ấn Độ. Bồ Đào Nha từ chối đàm phán về chủ quyền những vùng đất bên trong Ấn Độ của họ. Vào ngày 19/12/1961, quân đội Ấn Độ bắt đầu những hoạt động quân sự với Chiến dịch Vijay đưa đến kết quả trong việc sáp nhập Goa, Daman và Diu vào trong sự thống nhất của Ấn Độ. Goa, cùng với vùng đất Daman và Diu, được sắp xếp như là một lãnh thổ hợp nhất của Ấn Độ được quản trị từ Trung ương. Vào ngày 30/05/1987, lãnh thổ hợp nhất bị tách ra, và Goa đã được tạo thành tiểu quốc thứ 25 của Ấn Độ, với Daman và Diu còn nằm trong lãnh thổ hợp nhất.

21_ Tướng Suharto : (ông Allan Nairn khi nhắc đến cuộc đối thoại giữa ông Kissinger và ông Suharto vào năm 1975 và gọi ông ta là vị Tướng, là điều sai lầm, vì lúc bấy giờ ông ta không còn nắm vai trò Tổng Tư lệnh quân đội mà chỉ còn chức vụ Tổng thống).
Ông Suharto (1921–2008) là vị Tổng thống thứ hai của Indonesia từ tháng 03/1967–05/1998 –và giữ chức Tổng Tư lệnh quân đội từ năm 1969–1973– đã nắm giữ chức vụ trong 31 năm từ năm 1967 sau khi loại bỏ ông Sukarno cho đến khi ông từ chức vào năm 1998.
Vài dòng về ông Sukarno (1901–1970). Ông ta là vị Tổng thống đầu tiên của Indonesia sau khi Nhật đầu hàng. Tiếp theo đó là những cố gắng đối kháng của ông ta chống lại người Hòa Lan trong những nỗ lực muốn thuộc địa hóa trở lại Indonesia qua những phương cách về ngoại giao và quân sự. Cuối cùng, Hòa Lan phải nhìn nhận nền độc lập của Indonesia vào năm 1946.
Vào đầu những năm 1960s, người ta đã nhìn thấy ông Sukarno lèo lái Indonesia theo hướng cánh tả bằng cách cung cấp sự hỗ trợ và sự bảo vệ cho Đảng Cộng sản Indonesia (theo tiếng Indonesia là Partai Komunis Indonesia = PKI) bằng phí tổn của quân đội và những người Hồi giáo. Ông ta cũng bắt tay vào một loạt những chính sách đối ngoại hung hăng dưới đề mục chống Chủ nghĩa Đế quốc, với sự viện trợ của Liên bang Sô-Viết và Trung Cộng. “Phong trào 30 tháng Chín” –được gọi tắc là G30S hoặc Gestok (bị mỉa mai gọi là Gestapu vì tính chất tương tự của nó như là “Gestapo,” Cảnh sát Mật vụ của Phát-xít Đức) là một tổ chức tự phát của những Lực lượng Vũ trang Quốc gia của Indonesia, một phần của Đảng Cộng sản Indonesia cũng được bảo vệ bởi Tổng thống Sukarno– dẫn đến sự hủy diệt Đảng PKI và sự thay thế của ông ta bởi một người trong số những tướng lãnh của mình, ông Suharto, và ông ta vẫn còn bị quản thúc tại nhà cho đến khi qua đời.

(Ông Sukarno là vị Tổng thống đầu tiên của Indonesia từ tháng 08/1945–03/1967,
cũng là người đã từng kết nối thân thiết với Liên Xô và Trung Cộng khi còn
tại chức trong suốt Chiến tranh Lạnh. Ông ta bị truất phế vào năm 1967)

(Tổng thống Sukarno and Fidel Castro vào năm 1960, Havana, Cuba)

Trong suốt thời gian Nhật Bản chiếm đóng Indonesia, ông Suharto phục vụ trong lực lượng an ninh Indonesia được Nhật Bản tổ chức. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Indonesia, người ta thấy ông ta gia nhập quân đội Indonesia mới được thành lập. Ông Suharto đã vượt lên đến cấp bậc Thiếu tướng theo sau nền độc lập của Indonesia. Một cuộc âm mưa đảo chính vào ngày 30 tháng Chín năm 1965 bị đáp trả bởi những binh lính được ông Suharto dẫn dắt và bị đổ lỗi cho Đảng Cộng sản Indonesia. Quân đội theo sau đó đã dẫn đầu một cuộc thanh trừng chống cộng, và ông Suharto giành được quyền lực từ vị Tổng thống sáng lập của Indonesia, ông Sukarno. Ông ta được bổ nhiệm đóng vai trò Tổng thống vào năm 1967 và là Tổng thống năm sau. Sự hỗ trợ cho chức vụ Tổng thống của Suharto thật mạnh mẽ trong suốt những năm 1970s và 1980s nhưng bị xói mòn theo sau một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng đó mà qua đó đã dẫn đến tình trạng bất ổn lan rộng và việc từ chức của ông ta vào tháng Năm năm 1998. Ông Suharto qua đời vào năm 2008.
Di sản của sự cai trị 31 năm của ông Suharto được tranh luận ở Indonesia và lẫn ngoài nước. Dưới chính quyền theo chính sách “Trật tự Mới” của mình, ông Suharto đã xây dựng một chính phủ mạnh mẽ, tập trung và thống trị bằng quân sự. Một khả năng để duy trì sự ổn định trên một Indonesia hỗn độn và đa dạng và một lập trường chống Cộng công khai thừa nhận đã giành được cho ông ta sự hỗ trợ về kinh tế và ngoại giao của Tây phương trong suốt Chiến tranh Lạnh. Trong hầu hết nhiệm kỳ Tổng thống của ông ta, Indonesia đã trải nghiệm sự tăng trưởng đáng kể về kinh tế và công cuộc công nghiệp hóa, và những tiêu chuẩn về sức khỏe giáo dục và sinh hoạt đang cải thiện rất đáng kể. Cuộc xâm lược và chiếm đóng của Indonesia nơi miền Đông Timor trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống của ông Suharto đã đưa đến kết quả ít nhất là 100.000 cái chết. Đến thập niên 1990s, chế độ độc đoán của chính quyền “Trật tự Mới” và nạn tham nhũng tràn lan là nguồn gốc của sự bất mãn. Trong những năm sau nhiệm kỳ tổng thống của mình, những mưu toan cố gắng buộc ông ta về tội tham nhũng và tội diệt chủng không thành công bởi vì sức khỏe kém của ông ta và bởi vì thiếu sự hỗ trợ bên trong Indonesia.

(Chân dung ông Suharto vào năm 1993. Ông ta là vị Tổng thống thứ hai
của Indonesia, từ tháng 03/1967–05/1998, một nhân vật chống cộng
quyết liệt, và là cái gai lớn của những người đồng cảm với Cộng Sản)

22_ Freeport McMoRan : nguyên tên là Freeport-McMoRan Copper & Gold Inc. (FMCG), thường được gọi đơn giản là Freeport, là một trong những nhà sản xuất lớn nhất thế giới về đồng và vàng. Trụ sở chính của nó được đặt tại Trung tâm Freeport-McMoRan trong trung tâm thành phố Phoenix, tiểu bang Arizona.

23_ Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola : (tiếng Bồ Đào Nha là: Movimento Popular de Libertação de Angola = MPLA) do António Agostinho Neto thành lập vào tháng 12/1956, vốn là một đảng chính trị thân Sô-Viết và đã từng cai trị Angola kể từ khi nền độc lập của đất nước được trở về từ Bồ Đào Nha vào tháng 11/1975. Sau khi vị Chủ tịch đầu tên của nó, Agostinho Neto, qua đời vào năm 1979, nhóm MPLA được thêm vào dòng chữ Đảng Lao động do người kế nhiệm José Eduardo dos Santos.
Nhóm MPLA chiến đấu chống lại quân đội Bồ Đào Nha trong cuộc chiến tranh Angola giành độc lập trong khoảng 1961–1974, và đánh bại nhóm UNITA (tiếng Anh là National Union for the Total Independence of Angola: Liên hiệp Dân tộc cho Độc lập Hoàn toàn Angola, theo chủ thuyết Mao) và nhóm FNLA (tiếng Anh là National Front for the Liberation of Angola: Mặt trận Dân tộc Giải phóng Angola, thuộc cánh hữu theo Chủ nghĩa Quốc gia) trong cuộc xung đột triệt-thuộc địa hóa vào năm 1974–1975 và cuộc nội chiến Angola trong giai đoạn 1975–2002, mặc dù hai nhóm UNITA và FNLA đã từng kết hợp với nhóm MPLA trong cuộc đấu tranh giành độc lập từ Bồ Đào Nha trước kia.
Trong cuộc nội chiến giành quyền lực từ cuối năm 1975, Nam Phi can thiệp quân sự trong sự ủng hộ nhóm FNLA và nhóm UNITA, và Zaire và Hoa Kỳ cũng đã viện trợ rất nhiều cho hai nhóm đó. Cuba triển khai hàng ngàn binh lính trong năm 1975 để trợ giúp nhóm MPLA chống lại sự can thiệp của Nam Phi, với Liên Xô trợ giúp cả Cuba và chính phủ MPLA –sau khi Agostinho Neto tranh quyền dữ dội với nhóm UNITA, vốn cũng thuộc phe thân cộng và tuyên bố là Chủ tịch Angola– trong suốt cuộc chiến tranh. Vào tháng 11/1980, nhóm MPLA đã có tất cả nhưng đẩy nhóm UNITA vào trong rừng bụi cây, và những lực lượng Nam Phi rút đi. Quốc hội Hoa Kỳ cấm sự dính dáng quân sự của xa hơn nữa của Hoa Kỳ Mỹ trong nước Angola, vì lo ngại một vũng lầy khác kiểu Việt Nam.
Tại Đại hội đầu tiên của nó, vào năm 1977, nhóm MPLA đã ứng dụng Chủ thuyết Mác-xít–Lenin-nít như là ý thức hệ của đảng và thêm vào Partido do Trabalho (Đảng Lao động) với cái tên MPLA của nó.
Tư tưởng hệ hiện thời (2013) là Dân chủ Xã hội (tự tuyên bố), và trước đây là Chủ thuyết Mác-xít–Lenin-nít (chính thức). Sự gia nhập quốc tế là Quốc tế Xã hội.

(Huy hiệu của nhóm MPLA thân Cộng, theo chủ thuyết Marxist-Leninist)

(Lá cờ của Đảng Lao động Angola với nhóm MPLA thân Cộng)

Sau cuộc đảo chính thất bại Nito Alves –Bộ trưởng Nội vụ dưới chính quyền Agostinho Neto, thuộc phe cứng rắn và thân Sô-Việt mãnh liệt, cũng là lý do cho cuộc tranh giành quyền lực– vào năm 1977, ông Neto ra lệnh tiêu diệt những người bị tình nghi là theo sau và những cảm tình viên của “Chủ nghĩa Cộng sản chính thống” bên trong và ngoài đảng. Hàng ngàn người được ước tính là đã bị giết chết bởi những binh lính Cuba và MPLA trong hậu quả theo sau trên một khoảng thời gian vốn kéo dài lên đến hai năm, với một vài ước tính tuyên bố cao như 70.000 người chết. Sau cuộc xung đột nội bộ đầy bạo lực vốn được gọi là Chủ nghĩa Bè phái (Fractionism), điều đó sáng tỏ rằng chính quyền Angola sẽ theo Chủ nghĩa Xã hội, không phải là một mô hình Cộng sản. Tuy nhiên, nó duy trì những quan hệ chặt chẽ với Liên Xô và khối Cộng sản, thành lập những chính sách kinh tế theo xã hội chủ nghĩa và một nhà nước độc đảng. Nhiền ngàn binh lính Cuba vẫn còn trong nước để đánh lại những ngưởi chiến đấu UNITA và giữ vững sự an ninh của chế độ.
Vào năm 1990, khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, nhóm MPLA từ bỏ ý thức hệ Mác-xít–Lenin-nít và trên Đại hội lần thứ ba của nó, vào tháng Mười Hai, đảng tuyên bố một nền dân chủ xã hội là tư tưởng hệ chính thức của nó.
Nhóm MPLA đã chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử 1992 của Angola, nhưng tám đảng đối lập bác bỏ cuộc bầu cử như là có gian lận. Nhóm UNITA gởi những đàm phán đến thủ đô Luanda, nơi mà tất cả họ đều bị giết chết. Như là một hậu quả, những sự thù ghét đã bùng nổ ra trong thành phố, và ngay lập tức lan đến những vùng khác của đất nước. Hàng chục ngàn những cảm tình viên của nhóm UNITA và nhóm FNLA đã bị giết chết theo sau trên khắp đất nước bởi những lực lượng MPLA, trong cái gì được biết đến như là Cuộc Thảm sát Quái trang (Halloween Massacre), và cuộc nội chiến tiếp diễn.
Cuộc chiến tiếp tục cho đến năm 2002, khi người lãnh đạo nhóm UNITA, Jonas Savimbi, bị giết chết. Hai đảng phái nhanh chóng đồng ý cho cuộc ngưng bắn, và một kế hoạch được vạch ra cho nhóm UNITA nhằm giải tán lực lượng và trở thành một đảng chính trị. Hơn 500.000 thường dân bị thiệt mạng trong suốt cuộc nội chiến. Những nhà quan sát nhân quyền đã đã từng cáo buộc nhóm MPLA về “những hành động tàn ác mang tính diệt chủng,” “sự tiêu diệt có hệ thống,” “những tội ác chiến tranh,” và “những tội ác chống lại nhân loại trong suốt cuộc nội chiến.” Rudolph Rummel, một nhà phân tích về những vụ giết chóc về chính trị, đã ước tính rằng một con số giữa 100.000 và 200.000 người Angola bị thiệt mạng trong công cuộc thảm sát tổng thể (danh từ “democide” được ông Rummel nghĩ ra, bao gồm cuộc diệt chủng, cuộc thảm sát chính trị, và cuộc tiêu diệt khối đông người) của nhóm MPLA từ năm 1975 đến năm 1987 (trong vòng 12 năm).

(Vị Chủ tịch đầu tiên của Angola, António Agostinho Neto,
đang tiếp đón Vị Chủ tịch Cuba, Fidel Castro vào năm 1975)

24_ “Công việc Ướt đẩm” : từ chữ “Wet Job” là một uyển ngữ ám chỉ những hành động ám sát, giết người làm đổ máu như những việc của mật thám KGB, Liên Xô. Cũng như những chữ như “wet work” hoặc “wet affair” hoặc “wet operation” có nghĩa tương tự, tất cả chúng là những diễn dịch vay mượn của cách dùng uyển ngữ được sử dụng bởi KGB.

25_ Văn bản Tình báo : (COSMIC = Context Oriented Subject Matter Intelligence Capture) (Văn bản về Chủ đề có Định hướng trên Vấn đề Nắm bắt của Tình báo.)

26_ NSC : National Security Council (Hội đồng An ninh Quốc gia).
27_ Vụ kiện gần đây được tổ chức ở New York chống lại Li Peng (Lý Bằng) : đây là vụ thưa kiện do tổ chức có tên là Nhân quyền ở Trung Quốc (HRIC = Human Rights In China) –được thành lập vào năm 1989 bởi những sinh viên, giới trí thức, và những người trốn thoát khỏi cuộc thảm sát Thiên An Môn vào năm 1989, cùng những thân nhân, gia đình của những nạn nhân– Cuộc khiếu kiện của 110 nạn nhân và các thành viên gia đình xảy ra vào một đêm của năm 2000 trong phiên điều trần trước tòa án ở New York về việc cáo buộc Li Peng vi phạm nhân quyền trong các cuộc đàn áp cách đây 11 năm. Tuy nhiên, Trung Quốc đã bác bỏ vụ kiện như là một “trò hề” và yêu cầu rằng nó được rút ra.
Đến năm 2013, Tòa án Tây Ban Nha đã phát ra những trát bắt giữ cựu Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc, Jiang Zemin (Giang Trạch Dân) cùng bốn quan chức cao cấp khác liên quan đến cuộc diệt chủng ở Tây Tạng (Tibet) vốn là lãnh thổ của người Tây Tạng trước đây bị Trung Cộng cưỡng chiếm vào năm 1950. Bốn quan chức cao cấp đó là cựu Thủ tướng Li peng (Lý Bằng), cựu Trưởng An ninh Qiao Shi, cựu quan chức Đảng Cộng sản Trung Quốc Chen Kuiyan, và cựu Bộ trưởng Kế hoạch Gia đình Pen Pelyun.

28_ lãnh thổ trung lập và dân sự trước đây : tác giả dường như cố tình không nhắc đến những khu vũ khí và đóng quân trù mật của Cộng sản miền Bắc Việt Nam dọc theo biên giới và lẫn xâm phạm vào trong những vùng lãnh thổ được gọi là “trung lập và dân sự” thuộc khu vực Đông Dương trong mưu toan đánh phá miền Nam Việt Nam. Và cũng bởi những chữ “trung lập và dân sự” nầy chính là một tác động hữu hiệu trong việc khuyến khích Cộng sản tiến hành chiến tranh.
Những vùng bị chiếm đóng bởi Cộng sản miền Bắc Việt Nam dọc theo Cam-pu-chia, Lào chạy dài từ phía bắc đến một phần phía nam của Việt Nam, với những dân cư phải chịu sự đe dọa và tuân phục theo Cộng sản để phải trở thành những người dù muốn dù không cũng phải tiếp tay với Cộng sản. Và như thế, họ trở thành những người dân không hẳn đã là “vô tư, vô hại” mà họ cũng chính là những người Cộng sản theo nghĩa trắng lẫn đen. Và nếu đã gọi là những vùng trung lập thì không có nghĩa là nơi chứa chấp vũ khi, lực lượng quân sự trong mưu đồ tấn công nơi khác. Vì trung lập không có nghĩa nào trong sự tiếp tay gây ra chiến tranh.

29_ … được khép kín cho đến năm 2001 : cuốn sách “The Trial of Henry Kissinger” (Cuộc Xét xử Henry Kissinger”) được tác giả Christopher Hitchens viết vào năm 2001 và được tái bản vào năm 2012, và gần đây nhất là năm 2013. Có nghĩa là ông Hitchens có dịp tham khảo những hồ sơ mật giải liên quan đến chính quyền Nixon và ông Kissinger trong Lưu khố Quốc gia và Thư viện Quốc hội để hình thành cuốn sách của ông ta, trong khi đó, bức thứ của ông Dobrovir được viết vào năm 1987, trước điểm thời gian đó 14 năm. Tuy nhiên những tài liệu mật mà ông Kissinger ký thác cho Thư viện Quốc hội với điều kiện là chỉ được mật giải sau khi ông ta qua đời 5 năm sau. Hiện nay (năm 2013), ông Kissinger dù đã 90 tuổi, vẫn còn khoẻ mạnh và người ta còn phải chờ đợi một thời gian dài hơn 5 năm sau mới có thể xác quyết ông ta có phải là tội phạm không theo những cáo buộc của tác giả.

Advertisements

One thought on “Phần II : Chương 06–11 (hết) và Phục lục (Cuộc Xét xử Henry Kissinger)

  1. Pingback: Phần I : Chương 01–05 (Cuộc Xét xử Henry Kissinger) |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s