Phần I : Chương 01–05 (Cuộc Xét xử Henry Kissinger)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

Cuộc Xét xử Henry Kissinger

(Christopher Hitchens)
(2001)

(Hình bìa cuốn sách “The Trial of Henry Kissinger” vào năm 2001)

Mục lục
Phần I :
Lời nói Đầu cho Lần xuất bản Báo hiệu (được thêm vào)
Lời Tựa
Lời Giới thiệu… p01
Chương 01: Người kéo màn: Bí mật của năm 1968… p06
Chương 02: Đông Dương… p19
Chương 03: Một mô hình của những Vụ án:
Những tội ác Chiến tranh của ông Kissinger ở Đông Dương… p25
Chương 04: Bangladesh: Một cuộc Diệt chủng,
Một cuộc Đảo chính, và Một vụ Ám sát… p44
Chương 05: Chile… p55

Phần II:
Chương 06: Lời bạt Sau cùng về Chile… p72
Chương 07: Cyprus… p77
Chương 08: Miền Đông Timor… p90
Chương 09: Một “Công việc Ướt đẩm” ở Washington ?… p108
Chương 10: Lời bạt : Tỷ suất Lợi nhuận… p120
Chương 11: Pháp luật và Công lý… p127

Phụ lục I : Mảnh vụn Thơm tho… p132
Phụ lục II : Bức Thư của ông Demetracopoulos… p146
Những lời Cảm tạ… p149

===========================================

Lời nói Đầu cho Lần xuất bản Báo hiệu
(được thêm vào)

Không lâu trong cuộc trò chuyện đầu tiên của chúng tôi với anh Hitch –có thể là ba mươi năm trước đây thì phải ?– mà sự hiện diện ngấy tởm của Henry Kissinger khiến cho chính câu chuyện cảm thấy. Năm đó ắt hẳn là 1981 phải, và vợ tôi, Angélica và tôi sống trong tình trạng lưu vong khỏi đất nước Chile vốn bị khủng bố bởi Tướng Augustto Pinochet và anh Christopher chỉ vừa mới đến Washington, D.C., để viết bài cho tờ báo cho The Nation (Quốc gia), sau phần việc gần đây như là một phóng viên trên hải đảo Cyprus(01) thiếu may mắn. Cyprus và Chile, hai đất nước tham gia trong sự bất hạnh và đau khổ và phản bội, bị săn đuổi bởi cùng một người, cùng một “chính khách,” cùng một tội phạm chiến tranh vốn là người đã từng là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của ông Nixon.
Tôi không thể gợi nhớ lại một cách chính xác nơi đâu Angélica và tôi đã gặp anh Hitch –không chừng có thể là căn nhà chung cư của Barbara Ehrenreich hoặc tại căn nhà luôn luôn chào đón của Saul Landau– hoặc tôi cũng không có thể nhớ lại những đường nét chính xác của lời công kích kịch liệt gần như đồng thời của chúng tôi chống lại ông Kissinger vào buổi chiều tối đó, nhưng tôi thích nghĩ rằng ở một nơi thầm kín vinh quang nào đó của trí não sôi động và khác thường của anh Christopher, anh ta đang lên kế hoạch cho cuốn sách nầy rồi, bắt đầu đưa ra việc xét xử kẻ chiếm đoạt Chile và quốc đảo Cyprus. Và chúng ta không quên đi Cam-pu-chia, Việt Nam, và miền Đông Timor(02) và những người Kurd(03) –những người Kurd, trên tất cả, chúng ta không bao giờ quên dân tộc Kurd, bởi vì anh Christopher không bao giờ quên.
Trong những năm qua, thêm những điều truy tố giống như những điều của buổi chiều tối đó được rắc ra từng hạt qua tình bạn lâu dài và phong phú và thường gây tranh cãi của chúng tôi. Giống như những người bạn chân chính, chúng tôi không đồng ý trên mọi thứ, ngoại trừ ông Kissinger luôn ở đó để nhắc nhở chúng tôi về lòng mong muốn sâu xa đến như thế nào của mình cho nền công lý chuyển bánh; sự kết án của chúng tôi, của anh ta và của tôi, rằng nếu người ta không có thể bằng thực thể mang một người đàn ông chịu trách nhiệm về tội ác diệt chủng trước một tòa án, luôn luôn có chữ viết để ghim ông ta vào tường và tước đi sự miễn trừng phạt của ông ta. Không ai trong số chúng tôi nghĩ –ít nhất là tôi đã không– rằng một cuộc xét xử như thế trong thế giới của đường lối chính trị thực dụng và phương tiện truyền thông xu nịnh và các chính trị gia khúm núm sẽ có thể có được.
Việc bắt giữ Tướng Pinochet(04) ở London vào năm 1998 đã thay đổi điều đó. Rằng người đứng đầu nhà nước trước đây có thể bị đưa ra trước sự phán xét phổ quát (một thuật ngữ mà anh Christopher làm nổi bật trong những điểm nhấn mạnh mở đầu của anh ta về cuốn sách nầy) vì những tội ác chống lại nhân loại, rằng quyết định để tìm những lý do thích hợp để dẫn độ nhà độc tài Chile trước đây đến Tây Ban Nha đã được phê duyệt bởi nhiều tòa án ở London và được xác nhận bởi các Tòa Thượng viện Pháp luật (the Law Lords) (tương đương với Tòa án Tối cao Hoa Kỳ), chắc chắn là một ngòi châm vốn dẫn đến “Cuộc Xét xử Henry Kissinger” được viết ra. Nếu ông Pinochet bị xét xử, kế đó tại sao không là ông Kissinger ? Tại sao không người nào mà hồ sơ của họ đã chứng minh sự dính dáng có ý thức và có hệ thống trong những vi phạm nhân quyền trắng trợn, không cần biết người đó có thể có ảnh hưởng đến như thế nào ? Hay là pháp luật chỉ nên được áp dụng cho một vùng đất như Chile, không có những vũ khí hạt nhân hoặc những căn cứ được rải rác toàn thế giới, và không phải là Hoa Kỳ, làm cong lại sức mạnh và bắp thịt của nó ?
Chính cuốn sách là mùa thu hoạch Hitchens, theo truyền thống của Thomas Paine, một trong những vị anh hùng của anh ta: sắc sảo, châm biếm, chứa đầy nghẹt thông tin, khinh thường về điều gì mà những nhà học giả uyên thâm có thể nghĩ, gợi nhớ lại bằng sự phẫn nộ và sự chọn lựa những tĩnh từ. Nhưng quan trọng nhất là, điều mà hiện thời tôi đọc thấy phía sau lời nói cường điệu, nhiều năm sau đó, là cũng một điều vốn đập mạnh vào tôi về anh Christopher trong cuộc trò chuyện ngay lần đầu tiên đó mà chúng tôi đã có.
Một chủ đề mà anh Hitch liên tục nhắc trở lại vào đêm đó trong năm 1981, khi anh ta thường là thế trong suốt những năm sau nầy, đó là về những người đàn ông và phụ nữ Chile mất tích qua việc cưỡng bức biến mất (desaparecidos) vốn bị bắt cóc từ các đường phố hoặc nhà của họ bởi cảnh sát mật vụ và không bao giờ nghe nói về họ một lần nữa, biến mất khỏi thế giới như thể là họ chưa bao giờ được sinh ra. Chúng tôi thảo luận khá nhiều (chính là nỗi ám ảnh của tôi sau đó và vẫn là thế) về sự tàn bạo đến như thế nào, cùng với việc gây ra ảnh hưởng đến những thân thể của những người vốn đã bị bắt cóc, đã tàn phá những cuộc sống của người thân vốn là những người không thể tìm thấy người yêu quý của họ, vốn là những người thậm chí không thể chôn cất những xác chết của người thân hay khóc thương tiếc một cái chết chưa chắc chắn.
Sự quan tâm của anh Hitch trong thảm kịch nầy được thúc đẩy, một cách tự nhiên, bởi cái gì đó vốn sẽ xác định việc đóng đinh thập cuộc sống vì quyền lợi của những người vốn bị bỏ qua, quên lãng và bị trì hoãn. Đặc biệt là bởi giới truyền thông luồng chính. Và chính là quốc đảo Cyprus, mà anh Christopher nhắc đến với tôi và Angélica trong suốt cuộc trò chuyện ngay lần đầu tiên và sâu đậm đó, biểu lộ cử chỉ về phía cô Eleni, sau nầy là người vợ của riêng anh ta, một người dân Cyprus gốc Hy Lạp là người mà tôi đã từng gặp trong khi tường thuật về cuộc xâm lược hải đảo của Thổ Nhĩ Kỳ. “Người dân của cô Eleni nhân dân cũng có vụ cưỡng bức biến mất (desaparecidos),” là, nếu tôi không lầm, một cách rõ rệt mà trong đó anh ta đã giới thiệu về chủ đề. Và không lâu sau đó, anh ta gọi điện thoại lên nhà chúng tôi và mời chúng tôi đến buổi khai mạc triển lãm những hình ảnh về hoàn cảnh khốn khổ của những người Cyprus tị nạn, mà qua đó nhấn mạnh riêng biệt về sự bình lặng đối với những người vốn vẫn mất tích sau chiến tranh. Khi Angélica và tôi đến buổi khai mạc (nó ở một nơi ở không đụng chạm ai, một phòng trưng bày nhỏ, tôi nghĩ thế), khó thể nào có một tâm hồn ở đó –một trường hợp riêng biệt về sự thiếu chú ý mà qua đó làm tổn thương anh Hitch và thậm chí khiến cho anh ấy nhất quyết hơn để làm nổi bật nỗi buồn vô hình đó vốn đang thăm viếng một người mà anh đã rơi vào tình yêu. Những năm sau đó, anh ta có thể nhớ lại, một cách công khai và lẫn riêng tư, rằng anh ta đã được thúc đẩy như thế nào mà qua đó chúng tôi đã dành thời gian để chia sẻ kinh nghiệm đó về cuộc sống lưu vong và nỗi buồn và cuộc đấu tranh khi rất nhiều người khác chỉ đơn giản là cốc cần biết điều gì cả.
Nhưng anh ta có một điều sai lầm. Tôi không phải là người được cảm ơn cho sự hiện diện tại buổi triển lãm đó. Anh Hitch, chính là người đáng được cảm ơn cho sự quan tâm đầy đủ, cho việc giúp tôi hiểu (như anh ta làm điều đó trong cuốn sách nầy) bằng thế nào thảm cảnh của Chile được liên kết trong rất nhiều cách đến những thảm họa dồn dập vào những khu vực khác trên thế giới, làm cách nào chúng tôi cần phải bám lấy những người vốn gây ra sự thiệt hại có thể xem là chịu trách nhiệm trong nhiều cách như chúng tôi có thể. Trong việc mời đó để xem những hình ảnh, như trong cuốn sách nầy mà qua đó hiện thời nhìn thấy ánh sáng ban ngày một lần nữa, như trong một loạt những trường hợp riêng biệt khác, anh ta đã mở rộng vũ trụ, anh ta đã tạo nên những kết nối. Anh ta luôn luôn sẵn sàng mở những cánh cửa ra vào và những cửa sổ mà không người nào khác dám thậm chí là chú ý, và anh ta đã làm như thế, một cách không thay đổi với trí thông minh và ân sủng luôn luôn có thể tin cậy được và một loại tình cảm cường điệu sâu sắc, khích động chúng ta cho đến khi chúng ta phải chú ý. Anh ta chỉ đơn giản là từ chối giữ im lặng.
Đó là cái gì thực sự gây xúc động qua cuốn sách nầy.
Những nạn nhân. Rất nhiều người vốn đã không còn sống để nhìn thấy ông Kissinger và những người khác giống như ông ta bị đưa ra xét xử. Rất nhiều người vốn được đại diện trong một bài diễn văn đả kích ngọt ngào chống lại kẻ tộc phạm chiến tranh vốn là người đi lại trong sự tự do nhưng vốn là người luôn luôn, nhờ những cuốn sách như thế nầy, nhìn qua vai của mình.
Tự hỏi xem anh Hitch sẽ nắm bắt được ông ta.
Bởi vì một năm sau khi cuốn sách nầy được ấn hành, ông Kissinger anh hùng đang ở lại ít lâu tại (nơi nào khác nữa ?) khách sạn Ritz ở Paris khi ông ta được triệu tập để xuất hiện trước vị thẩm phán Pháp, Roger Le Loire, vốn là người muốn hỏi “nhà chính khách đàn anh hơn” về sự dính dáng của ông ta trong Chiến dịch Kên Kên (Operation Condor) (và liệu ông ta biết bất kỳ chuyện gì về năm công dân Pháp vốn là những người đã bị “biến mất” trong suốt chế độ độc tài Pinochet). Hơn là nắm lấy cơ hội để xóa tên của mình, ông Kissinger đã bay ngay đêm đó. Và ông ta đã không bao giờ có thể ngủ được ở nước ngoài với bất kỳ vẻ bình thản nào kể từ khi : thêm nhiều những bản cáo trạng hơn theo sau, từ Tây Ban Nha, Argentina, Uruguay, và thậm chí một bản tố tụng dân sự tại Washington, D.C.
Ồ vâng, có lẽ anh Hitch thực sự sẽ nắm bắt được ông ta.
Thực sự là, anh Christopher không tin vào những ma quỷ hay linh hồn hay thế giới sau khi mất.
Nhưng gây thích thú cho tôi, đồng chí. Hãy chấp nhận là trong khi những cuốn sách như thế nầy còn sống, và trong khi những người đồng minh của vô số của bạn tiếp tục việc tìm kiếm cho công lý, à, có lẽ bạn có thể mỉm cười với ý nghĩ rằng chúng tôi sẽ từ chối cho phép bạn trở thành một người bị nhiều cưỡng bức biến mất hơn.

Ariel Dorfman
Tháng 2/2012

(Vladimiro Ariel Dorfman là một nhà tiểu thuyết gia người Chile gốc Argentina,
là nhà viết kịch, nhà văn tiểu luận, và là nhà hoạt động nhân quyền. Ông ta trở
thành công dân Hoa Kỳ vào năm 2004, và là Giáo sư văn chương và những nghiên
cứu Mỹ La-tinh tại Đại học Duke ở Durham, tiểu bang North Carolina từ năm 1985)

(Trong một cuộc điều trần trước tòa án Pháp vào năm 2000)

===========================================

Lời Tựa

Nó sẽ trở nên rõ ràng, và cũng có lẽ được phát biểu từ lúc đầu, là cuốn sách nầy được viết bởi một người đối lập chính trị của Henry Kissinger. Dù sao, tôi đã tìm thấy chính mình liên tục ngạc nhiên về bao nhiêu tài liệu thù nghịch và không thể tín nhiệm mà tôi đã cảm thấy buộc phải bỏ đi. Tôi chỉ quan tâm đến những vi phạm tội lỗi đó thuộc về ông Kissinger hoặc sẽ hình thành một cơ bản của việc khởi tố pháp lý : vì những tội ác chiến tranh, vì những tội ác chống lại nhân loại, và vì những vi phạm tội lỗi chống lại luật pháp chung hoặc theo phong tục hoặc quốc tế, bao gồm âm mưu giết người, bắt cóc và tra tấn.
Như thế, trong tư cách của tôi như là một đối thủ chính trị, tôi có thể đã đề cập đến việc tuyển dụng và sự phản bội của những người Kurd ở Iraq, vốn là những người đã được khuyến khích một cách sai lầm bởi ông ta cầm lấy vũ khí chống lại Saddam Hussein trong giai đoạn 1974–1975, và vốn là những người đã bị bỏ rơi sau đó cho sự tiêu diệt trên những sườn đồi của họ khi Saddam Hussein làm một cuộc thỏa thuận ngoại giao với ông Shah của Iran, và vốn là những người đã bị lừa dối một cách cố ý, cũng như bị bỏ rơi. Những kết luận báo cáo của Nghị sĩ Otis Pike vẫn khiến cho choáng váng khi đọc thấy, và tiết lộ về một phần của ông Kissinger, một sự lạnh lùng tàn nhẫn đối với sinh mạng con người và quyền con người. Nhưng chúng rơi vào danh mục của đường lối chính trị thực dụng và không có vẻ là đã từng vi phạm bất kỳ luật lệ nào được biết đến.
Trong cùng một cách, sự phối hợp dàn nhạc của ông Kissinger về vỏ bọc chính trị, quân sự và ngoại giao đối với sự phân biệt chủng tộc ở Nam Phi và tình trạng bất ổn của Angola thuộc Nam Phi, với những hậu quả gây kinh hoàng của nó, bày ra cho chúng ta một hồ sơ ghê tởm về mặt đạo đức. Một lần nữa, mặc dù, người ta đang nhìn vào một giai đoạn bẩn thỉu của Chiến tranh Lạnh và lịch sử đế chế, và việc thực hiện quyền lực vô trách nhiệm, hơn là một hồi kỳ về tội phạm có tổ chức. Thêm vào đó, người ta phải có lòng tin vào bản chất thể chế của chính sách nầy, mà qua đó có thể trong phần đề cương đã từng được theo đuổi dưới bất kỳ sự điều hành nào, là vị cố vấn an ninh quốc gia, hoặc Bộ trưởng Bộ ngoại giao.
Những tài liệu lưu trử tương tự có thể được giữ lại về vai trò Chủ tịch Ủy ban Tổng thống về Trung Mỹ của Kissinger vào đầu thập niên 1980s, mà qua đó được điều phối nhân viên bởi Oliver North và qua đó xóa trắng hoạt động của Đội Tử thần ở eo đất. Hoặc về việc bảo vệ chính trị được cung cấp bởi ông Kissinger, trong khi ở văn phòng, cho triều đại Pahlavi ở Iran và bộ máy tra tấn và đàn áp của nó. Cái danh sách, điềm tĩnh mà nói, có thể được kéo dài xa hơn rất nhiều. Nhưng nó sẽ không làm chuyện đổ lỗi cả khối tàn ác quá đáng và tính chất hoài nghi của nhiều thập kỷ trên một người đàn ông. (Thỉnh thoảng, người ta có cái nhìn thoáng qua kích thích tính tò mò như khi ông Kissinger cố thuyết phục Tổng thống Ford không nhận lấy Alexander Solzhenitsyn phiền phức, trong khi lúc nào ông ta cũng ra dáng như là một kẻ thù táo bạo và có nguyên tắc nhất đối với Chủ nghĩa Cộng sản).
Không, tôi đã hạn chế chính mình đối với những tội ác có thể nhận diện mà qua đó có thể và nên được đặt trên một đơn kiện đúng đắn của bản cáo trạng, liệu những hành động được thực thi có phù hợp với “chính sách” chung chung hay không.
Những điều nầy bao gồm :
1. Việc giết chết số đông người có chủ ý những dân cư ở Đông Dương.
2. Sự thông đồng cố ý trong việc giết người số đông, và sau đó trong việc ám sát, ở Bangladesh.
3. Việc mua chuộc cá nhân và việc lập kế hoạch giết người, một sĩ quan cao cấp theo hiến pháp trong một quốc gia dân chủ –Chile– mà Hoa Kỳ không có chiến tranh với nó.
4. Việc dính dáng cá nhân trong một kế hoạch để hạ sát người đứng đầu nhà nước trong một quốc gia dân chủ Cyprus.
5. Việc xúi giục và tạo khả năng cho cuộc diệt chủng ở miền Đông Timor.
6. Việc dính dáng cá nhân trong một kế hoạch bắt cóc và sát hại một nhà báo đang sống ở Washington, D.C..

Những cáo buộc ở trên thì không toàn diện. Và một số của chúng chỉ có thể được xây dựng qua sự giám định lần đầu tiên (prima facie), kể từ khi ông Kissinger –trong điều gì có lẽ cũng chẳng khác gì là một sự cản trở công lý có chủ đích và tính toán trước– đã tạo ra những phần lớn của bằng chứng để được giữ lại hoặc tiêu hủy.
Tuy nhiên, hiện thời chúng ta bước vào thời kỳ khi mà sự chống chế cho “tính cách miễn tố quyền lực tối cao” cho tội phạm nhà nước đã được giữ lại để buộc phải bãi bỏ. Như tôi chứng minh dưới đây, ông Kissinger đã hiểu được sự thay đổi quyết định nầy ngay cả khi nhiều người trong số những người chỉ trích của ông ta đã không hiểu. Lời tuyên án ông Pinochet tại London, tính chất hành động tuyệt vời của tập thể quan tòa Tây Ban Nha, và những phán quyết của Tòa án quốc tế tại thủ phủ thành phố hành chính “The Hague,”(05) Hòa Lan, đã phá hủy lá chắn vốn miễn tố những tội phạm có can dự dưới sự biện minh cho lý do của nhà nước. Bây giờ không có lý do tại sao một trát tòa cho việc xét xử ông Kissinger không có thể được ban hành, trong bất kỳ một trong một số những phạm vi quyền lực pháp lý nào và tại sao ông ta không thể bị thúc ép trả lời việc đó. Quả thật, và như tôi viết, có một số những phạm vi quyền lực pháp lý nơi mà pháp luật trường tồn bắt đầu bắt kịp với bằng chứng. Và chúng tôi có trước mặt chúng tôi trong bất kỳ trường hợp tiến đến phiên tòa Nuremberg, mà qua đó Hoa Kỳ đã long trọng cam kết tuân thủ.
Một sự thất bại để tiến hành sẽ tạo thành tội phạm gấp đôi hoặc gắp ba trước công lý. Trước tiên, điều đó sẽ vi phạm nguyên tắc cần thiết và hiện thời không thể bác được mà không ngay cả quyền lực mạnh nhất nằm bên trên pháp luật. Thứ hai, điều đó sẽ cho thấy rằng các vụ truy tố vì những tội ác chiến tranh và tội ác chống lại nhân loại được dành cho kẻ thua cuộc, hoặc dành cho những bạo chúa nhỏ nhoi trong những quốc gia tương đối không đáng kể. Điều nầy đến lúc sẽ dẫn đến việc chính trị hóa tầm thường về điều gì đó mà đáng lý ra là một quá trình cao quý, và dẫn đến sự nghi ngờ có thể biện minh về những tiêu chuẩn kép.(06)
Nhiều người nếu không phải là hầu hết những người hợp tác của ông Kissinger trong tội phạm hiện thời đang ở trong tù, hoặc đang chờ xét xử, hoặc bằng cách nào đó đã bị trừng phạt hoặc mất uy tín. Việc miễn hình phạt một mình của riêng ông ta là đẳng cấp; nó bốc mùi đến thiên đàng. Nếu được phép cứ dai dẳng sau đó, chúng tôi sẽ bênh vực một cách xấu hổ nhà triết học cổ đại Anacharsis, vốn là người khăng khăng rằng những pháp luật giống như những mạng nhện : chỉ đủ mạnh để bắt giữ những kẻ yếu đuối, và quá yếu để giữ những kẻ mạnh. Nhân danh của vô số những nạn nhân được biết đến và không biết đến, đến lúc cho công lý hành động.

===========================================

p01

Lời Giới thiệu

Vào ngày 2 tháng 12 năm 1998, ông Michael Korda đã được phỏng vấn trên máy quay phim trong văn phòng của ông ta tại Simon và Schuster. Như là một trong những người có quyền thế bao trùm của ngành xuất bản ở New York, ông đã chỉnh sửa và “sản xuất” một tác phẩm của những tác giả khác nhau như là Tennessee Williams, Richard Nixon, Joan Crawford và Jo Bonanno. Vào ngày riêng biệt nầy, ông ta đang nói về cuộc sống và những suy nghĩ của nữ ca sĩ Cher, mà bức chân dung của nữ ca sĩ tô điểm bức tường phía sau ông ta. Và sau đó điện thoại kêu lên và có một tin gởi để gọi “Tiến sĩ” Henry Kissinger sớm như có thể. Một nhà học giả giống như ông Korda biết –điều gì với những nhu cầu khẩn cấp của việc xuất bản trong những ngày chóng mặt nầy– làm cách nào để chuyển đổi ngay tức khắc giữa nữ ca sĩ Cher và nghệ thuật cao độ quản trị nhà nước. Chiếc máy quay phim tiếp tục chạy đều, và ghi lại cảnh sau đây cho một cuốn băng mà tôi có được.

(Ca sĩ Cher là một nữ nghệ sĩ cao tuổi duy nhất (67 tuổi vào
năm 2013) nhưng vẫn có những cuộc lưu diễn thu hút thế giới)

Sau khi hỏi người thư ký của mình để lấy số điện thoại (759-7919 –các chữ số của Hiệp hội Kissinger(08)) Ông Korda châm biếm một cách tỉnh queo, với những tiếng cười phụ họa trong văn phòng, rằng con số “đáng lý ra là 1-800-Cambodia… 1-800-bom-Cambodiia.” Sau khi sự tạm ngưng trong suốt thời gian được điều chỉnh tốt đẹp (không có biên tập viên thâm niên nào muốn phải chờ đợi trong khi ông ta nhận lấy công ty, đặc biệt là công ty truyền thông), tiếp theo là “Henry — Xin chào, ông bạn thế nào rồi ?… Ông bạn càng lúc được nhiều công chúng chú ý, ông bạn có thể muốn điều đó trên tờ New York Times, nhưng không phải là loại mà ông bạn muốn… Tôi cũng nghĩ rằng điều đó rất nhiều đáng ngờ đối với chính quyền để nói chỉ đơn giản là vâng, họ sẽ tung ra những giấy tờ nầy… không… không, tuyệt đối… không… không… à, hmmm, vâng. Chúng tôi đã làm điều đó cho đến khi rất gần đây, một cách thành thực, và ông ta đã thực sự chiếm ưu thế… Xem nào, tôi không nghĩ rằng có bất kỳ câu hỏi nào về điều đó, khó chịu như là thế…. Henry, điều nầy là hoàn toàn thái quá… vâng… Cũng là phạm vi quyền lực pháp lý. Đây là vị thẩm phán Tây Ban Nha đang chống án ấp lên tòa án Anh Quốc về người đứng đầu nhà nước Chile. Vì vậy, là thế, điều đó… Cũng thế, dù sao đi nữa Tây Ban Nha không có phạm vi quyền lực pháp lý hợp lý trên những sự kiện ở Chile, vì thế điều đó hoàn toàn phi lý… Xem ra, điều đó có lẽ đúng… Nếu ông bạn muốn. Tôi nghĩ rằng điều đó sẽ là bằng cách cao chạy bay xa tốt nhất… Đúng, vâng, không tôi nghĩ rằng điều đó chính xác là những gì ông bạn nên làm và tôi nghĩ điều đó sẽ kéo dài và tôi nghĩ rằng điều đó nên kết thúc với lá thư của người cha ông bạn.

p02

Tôi nghĩ rằng đó là một tài liệu rất quan trọng… Vâng, nhưng tôi nghĩ, bức thư thì tuyệt vời, và là tâm điểm của toàn bộ cuốn sách. Có thể nào ông bạn để tôi đọc chương Lebanon vào cuối tuần không ?” Tại điểm nầy, cuộc nói chuyện chấm dứt, với một số quan sát buồn cười bởi ông Korda sắp sửa trò soi ruột đang đến của mình: “một phương thức hoàn toàn ghê tởm.”
Bằng cách của cùng chiếc máy quay phim nhỏ, bên trong, hoặc dụng cụ tương đương được dùng để xác minh bằng chứng của nó, người ta có thể vạch lại nguồn gốc không phải là một chút ít về thế giới của Henry Kissinger từ sự trao đổi tinh vi nầy. Việc đầu tiên và quan trọng nhất là điều nầy. Ngồi trong văn phòng của mình tại Hiệp hội Kissinger, với những xúc tu bạch tuột của kinh doanh và tư vấn được kéo dài từ Belgrade đến Beijing, và được đệm bởi vô số vai trò điều hành và những hội đồng, ông ta vẫn còn rùng mình khi ông ta nghe đến việc bắt giữ một nhà độc tài.
Rút bỏ vài đoạn âm thanh của cuộc trò chuyện với ông Korda có thể bị, nhưng rõ ràng là từ ngữ chính yếu là “phạm vi quyền lực pháp lý.” Tờ báo New York Times đã tường thuật điều gì vào buổi sáng đẹp trời đó ? Vào ngày 2 tháng 12 năm 1998 đó, trang bìa của nó mang một bài tường thuật sau đây từ Tim Weiner, một phóng viên an ninh quốc gia của báo chí tại Washington. Dưới dòng đầu đề “Mỹ sẽ Tung ra những Hồ sơ về những Tội ác dưới cái tên Pinochet,” anh ta viết :

Những sự truyền giảng vào trong một cuộc đối đầu về chính trị và ngoại giao mà nó đã cố gắng tránh đi, Hoa Kỳ quyết định ngày hôm nay mật giải một số tài liệu bí mật về các vụ giết người và tra tấn mà nó dự phần trong suốt chế độ độc tài của Augusto Pinochet ở Chile… Quyết định để tung ra những tài liệu như thế là dấu hiệu đầu tiên mà Hoa Kỳ sẽ hợp tác trong trường hợp chống lại Tướng Pinochet. Những quan chức thuộc chính quyền Clinton cho biết họ tin rằng những lợi ích của việc cởi mở trong những trường hợp nhân quyền có nhiều ảnh hưởng rủi ro hơn đối với vấn đề an ninh quốc gia trong trường hợp nầy.
Nhưng sự quyết định có thể mở “một lon hộp những con trùng,” theo những lời của một quan chức Cơ quan Tình báo Trung ương trước đây đóng tại Chile, phơi bày chiều sâu của sự hiểu mà qua đó Hoa Kỳ đã cáo buộc về những tội ác chống lại Chính phủ Pinochet…

p03

Trong khi một số quan chức chính phủ châu Âu đã hỗ trợ cho việc đưa nhà độc tài trước đây ra tòa, những quan chức Hoa Kỳ phần lớn giữ im lặng, phản ảnh thái độ hoài nghi về quyền lực của tòa án Tây Ban Nha, những nghi ngờ về Hội đồng Tòa án Quốc tế nhắm vào những nhà lãnh đạo nước ngoài, và những lo ngại trên quan hệ mật thiết đối với các nhà lãnh đạo Mỹ vốn là những người có thể một ngày nào cũng bị buộc tội trong những quốc gia nước ngoài. [kiểu chữ nghiêng và đậm được thêm vào].
Tổng thống Richard M. Nixon và Henry A. Kissinger vốn là người phục vụ như là vị cố vấn an ninh quốc gia của ông và là Bộ trưởng Ngoại giao, đã hỗ trợ cuộc đảo chính của cánh hữu ở Chile trong đầu thập niên 1970s, những tài liệu được mật giải trước đây cho thấy.
Nhưng phần nhiều trong số những hoạt động của Hoa Kỳ trong suốt cuộc đảo chính 1973, và phần lớn những điều gì mà những nhà lãnh đạo Mỹ và các dịch vụ tình báo đã làm trong mối quan hệ trung gian với chính phủ Pinochet sau khi nó đã nắm được quyền lực, vẫn còn nằm dưới con dấu của an ninh quốc gia.
Những hồ sơ bí mật về chế độ Pinochet được giữ lại bởi CIA, Cơ quan Tình báo Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Lầu Năm Góc, Hội đồng An ninh Quốc gia, Thư khố Quốc gia, Thư viện Tổng thống của Gerald R. Ford và Jimmy Carter, và những cơ quan khác của Chính phủ.
Theo tư duy của Bộ Tư pháp, những hồ sơ nầy chứa đựng một lịch sử về những xâm phạm nhân quyền và tình trạng khủng bố quốc tế:
∙ Vào năm 1975, những quan chức thuộc Bộ Ngoại giao ở Chile phản đối hồ sơ ghi nhận của chế độ Pinochet về việc giết người và tra tấn, đệ đơn những bất đồng quan điểm đối với chính sách đối ngoại của Mỹ lênnhững cấp trên của họ ở Washington.
∙ CIA có những hồ sơ về những vụ ám sát bởi chế độ và cảnh sát mật vụ Chile. Cơ quan tình báo cũng có hồ sơ ghi nhận về những nỗ lực của Chile Thiết lập một đội hành động bí mật quốc tế thuộc cánh hữu.
∙ Thư viện ông Ford chứa phần nhiều những hồ sơ bí mật của ông Kissinger về Chile, mà qua đó đã không bao giờ được công bố. Thông qua một thư ký, ông Kissinger từ chối yêu cầu cho một cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.

p04

(Tướng Augusto Pinochet trong vai trò Tổng thống
Chile kiêm Tổng Tư lệng Quân đội)

Người ta phải công nhận ông Kissinger là hiểu biết điều mà rất nhiều người khác đã không hiểu: là nếu tiền đồ của ông Pinochet càng lúc được thành lập, kế đó chính bản thân ông ta đang trong tình trạng nguy hiểm nào đó. Hoa Kỳ tin rằng một mình nó theo đuổi và kết tội những tội phạm chiến tranh; và “những kẻ khủng bố quốc tế;” không có gì trong văn hóa chính trị, báo chí của nó, tuy cho phép suy nghĩ, rằng nó có thể đang chứa chấp và che chắn một nhân vật cao cấp như thế. Tuy nhiên, sự suy nghĩ đã trồi lên bề mặt rất quanh co trong câu chuyện của ông Weiner, và Kissinger là người lo lắng khi ông ta gọi lên biên tập viên của mình ngày đó để thảo luận về cuốn hồi ký (cuối cùng được xuất bản dưới tựa đề đần độn không thể chịu được và vị kỷ là “Years of Renewal” (“Những năm Đổi mới”) vốn đang vẫn còn đang trong tiến trình in ấn.
“Sự chứa chấp và che chắn,” mặc dù, là những báo cáo không đúng sự thật cho sự lãng phí của những hoàn cảnh của Henry Kissinger. Lời khuyên của ông được tìm kiếm, ở mức $25.000 cho một lần xuất hiện, bởi những khán giả của các doanh nhân và các học giả và những người hoạch định chính sách. Cột báo khoa trương của ông ta được cung cấp tin tức bởi tờ báo Los Angeles Times. Tập đầu tiên của ông ta về cuốn hồi ký được viết một phần và cũng được chỉnh sửa bởi Harold Evans, vốn là người cùng với Tina Brown là trong số nhiều thân chủ và nữ thân chủ vốn nài xin công ty của Kissinger, hoặc có lẽ người ta nên gọi là xã hội, đối với những người kể về những buổi chiều tối New York. Trong những lúc khác, ông ta đã từng là người tư vấn cho những đài tin tức ABC và CBS; việc ngoại giao thành công nhất của ông ta, quả thật, có lẽ đã từng được thực hiện với giới truyền thông (và thành tựu lớn duy nhất của ông ta là được hầu như mọi người gọi mình là “Tiến sĩ”). Được bợ đỡ bởi Ted Koppel, được săn đón bởi các tập đoàn kinh doanh và những bạo chúa với những vấn đề “hình ảnh” hoặc “những thất bại của việc thông tin,” và được chú ý một cách tôn trọng bởi các ứng cử viên tổng thống và bởi những người mà công việc của họ chính là “đúc khuôn” tầm nhìn toàn cầu của họ, người đàn ông nầy muốn được một ít trong vũ trụ đầy thương cảm mà qua đó kỷ nghệ về “lòng tự trọng” tồn tại để phục vụ. Về một người khác mà Norman Podhoretz viết, trong một bài tán dương cúi gối cho cuốn sách “Years of Upheaval” (“Những năm Biến động”) :

Điều mà chúng tôi có đây là cách viết của một trật tự rất cao nhất. Chính là cách viết mà không thua không kém dễ dàng trong sự miêu tả sống động và sự phân tích trừu tượng; mà qua đó có thể hình thành một câu chuyện một cách khéo léo như nó có thể vẽ nên một khung cảnh; mà qua đó có thể đạt được những điều tuyệt diệu của sự cô đọng trong khi di chuyển với một nhịp độ mở rộng và nhàn nhã. Chính là cách viết vốn có thể chuyển đổi mà không có sự căng thẳng hoặc sai lạc về giai điệu từ sự trang trọng phù hợp cho một cuốn sách về những sự kiện lịch sử tuyệt vời đến sự hài hước và mỉa mai được khơi ra bởi một cảm giác không bao giờ cạn của một tỷ lệ con người.

p05

Một nhà phê bình vốn là người có thể tiếp thu giống như thế đó, như có lần nghe nói tĩnh queo bởi một trong những gia sư đạo đức của tôi, không bao giờ cần phải ăn cơm chiều một mình. Và cũng không cần môn học của ông ta. Ngoại trừ điều đó, thỉnh thoảng, người nhận lấy (và người cho đi) rất nhiều sự nịnh bợ cảm thấy một cơn chấn động của sự lo lắng. Ông ta rời khỏi cái bàn đầy đủ tiện nghi và hối hả vào phòng tắm. Có lẽ chính là một sự tiết lộ khác về cuốn băng mới được tung ra của ông Nixon chăng ? Một số tin tức lác đác từ Indonesia, báo trước sự sụp đổ hoặc cầm tù của một ông chủ (và có lẽ, sự thoát ra của một hoặc hai tư liệu khó xử) chăng ? Việc bắt giữ hoặc sự kết án kẻ tra tấn hoặc sát thủ, việc hết thời hạn của quy chế bí mật cho một số giấy tờ ít người biết đến của nội các trong một đất nước rất xa xôi –bất kỳ một trong những tin tức nầy có thể làm hỏng ngay lập tức một ngày mới của ông ta. Như chúng ta thấy được từ cuốn băng của ông Korda, ông Kissinger không có thể mở ra tờ báo buổi sáng với sự bảo đảm của bình yên. Bởi vì ông ta biết những gì mà những người khác chỉ có thể nghi ngờ, hoặc ước đoán. Ông ta biết. Và ông ta là một tù nhân của sự hiểu biết như chúng ta, đối với một mức độ nào đó.
Hãy chú ý cách ưu thích mà ông Korda thể hiện đầu óc rộng rải của mình bằng lời pha trò về Cam-pu-chia. Cuối cùng, mọi người đều “biết,” là ông Kissinger gây ra kinh hoàng và đau khổ và cái chết hàng loạt trên đất nước đó, và thương tích to lớn đối với Hiến pháp Hoa Kỳ cùng một lúc. (Mọi người cũng “biết” rằng các quốc gia dễ bị tổn thương khác có thể đặt quyền yêu sách vì cùng nổi thảm sầu và sự phân biệt hận thù, với sự thiệt hại gia tăng hoặc “hậu thuộc” cho nền dân chủ Mỹ đang gìn giữ hòa bình.) Tuy nhiên, người đàn ông béo lùn đang đứng trong cái cà vạt màu đen tại buỗi tiệc Vogue thì không phải, một cách chắc chắn, là người đàn ông vốn đã ra lệnh và phê chuẩn việc tàn phá những dân cư, việc ám sát những chính trị gia phiền phức, việc bắt cóc và việc làm biến mất những binh lính và những nhà báo và những giáo sĩ vốn là những người gây cản trở ông ta ? Ồ, nhưng chính là ông ta. Chính xác cùng một người. Và điều đó có thể là trong số những phản ảnh làm ghê tởm nhất trong tất cả phản ảnh. Ông Kissinger không được mời và vinh danh bởi vì cách cư xử tinh tế hoặc tính hóm hỉnh châm chọc của ông ta (cách cư xử của ông ta trong bất kỳ trường hợp nào khá thô tục, và trí thông minh của ông ta gồm có một bao đựng những mũi phi tiêu vay mượn và đã dùng qua.) Không, ông ta đươc săn đón bởi vì sự hiện diện của ông ta cung cấp một cảm giác rùng mình : một sự va chạm đích thực của quyền năng nguyên thủy và không hề biết hối lỗi. Có một trạng thái bối rối hơi tội lỗi trên khía cạnh của lời nói đùa của ông Korda về những gánh chịu khốn khổ không thể nào diễn tả của những người Đông Dương. Và tôi đã nhận thấy, một lần và một lần nữa, đang đứng ở phía sau khán giả trong suốt những bài nói chuyện của ông Kissinger, tiếng cười đó tựa như bồn chồn, lo lắng là một loại tiếng cười mà ông ta thích khích động. Trong sự đòi hỏi quá quắc tặng vật nầy, ông ta khoe khoang không phải là “thuốc kích dục” của quyền lực (một câu nói khác trong số những lời nói dí dỏm ăn cắp của ông ta) nhưng chính là lời khiêu dâm.

p06

Chương 01: Người kéo màn: Bí mật của năm 1968

Nơi đó tồn tại, trong phạm vi tầng lớp chính trị của Washington, D.C., một bí mật mở ra mà qua đó quá to lớn và khủng khiếp không thể nói ra. Mặc dù nó được biết đến một cách rõ ràng đối với các nhà sử học, các phóng viên thâm niên, các thành viên nội các trước đó và các cựu chính khách ngoại giao, nó đã chưa bao giờ được tóm tắt tất cả cùng một lúc ở bất kỳ một nơi nào. Phần còn lại cho điều nầy là, qua lần xem xét lại lần đầu tiên, điều nghịch lý. Cái bí mật mở ra thì thuộc sở hữu của cả hai đảng chính trị lớn và nó trực tiếp liên quan đến nghệ thuật quản trị nhà nước trong quá khứ của ít nhất ba nhiệm kỳ tổng thống trước đó. Như thế, sự tiết lộ đầy đủ sẽ là sự quan tâm không thuộc phe phái riêng biệt nào. Sự thật của nó vì vậy là một sự bảo đảm mờ ám, nó nằm giống như truyện “Lá thư bị Mất trộm” của tác giả Poe chắn ngang ngay lối đi vốn biểu thị tính chất của lưỡng đảng.

(Cuốn truyện ngắn “The Purloined Letter” (“Lá thư bị Mất trộm”) của
tác giả người Mỹ, Edgar Allan Poe, được xuất bản vào năm 1845)

Ở đây là cái bí mật nằm trong những chữ nghĩa đơn thuần. Vào mùa thu năm 1968, Richard Nixon và một số trong những đặc phái viên và thuộc hạ của ông ta bắt đầu phá ngầm những cuộc đàm phán hòa bình Paris về Việt Nam. Phương thức mà họ chọn, một cách đơn giản là: họ đảm bảo riêng các nhà lãnh đạo quân đội của miền Nam Việt Nam rằng chế độ Đảng Cộng hòa sắp đến sẽ cho họ một thỏa thuận tốt hơn là cái thỏa thuận của Đảng Dân chủ. Bằng cách nầy, chính họ đã cắt bớt cả những cuộc đàm phán và lẫn sách lược bầu cử của Phó Tổng thống Hubert Humphrey. Chiến thuật “đạt hiệu quả,” trong việc mà chính quyền quân sự của miền Nam Việt Nam rút khỏi các cuộc đàm phán vào ngày hôm trước của cuộc bầu cử, qua đó phá hủy “tấm ván bắt cầu hòa bình” mà qua đó những người thuộc Đảng Dân chủ đã tranh cãi về điều đó. Trong một cách khác, nó không “đạt hiệu quả,” bởi vì bốn năm sau đó, chính quyền Nixon kết thúc cuộc chiến trên cùng những điều khoản vốn đã từng nằm trên sự thương nghị ở Paris.

p07

Lý do cho sự im lặng chết người vẫn còn bao trùm vấn đề nói đến là, trong bốn năm can thiệp đó, vài hai chục ngàn người Mỹ và một con số không thể tính được của những người Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào mất đi sinh mạng của mình. Đánh mất họ, đó là điều để nói đến, thậm chí vô nghĩa hơn là nếu những người đó bị giết chết cho đến thời điểm đó. Sự tác động của bốn năm đó trên xã hội Đông Dương, và trên nền dân chủ Mỹ, thì nằm ngoài sự tính toán. Người hưởng lợi chính yếu của hành động bí mật và của vụ thảm sát tiếp theo sau, là Henry Kissinger.
Tôi có thể nghe thấy rồi những người bảo vệ của sự đồng thuận đang loại bỏ những ống bút lông cùn của họ để mô tả điều nầy như là một “lý thuyết âm mưu.” Tôi vui vẻ chấp nhận sự thách thức. Chúng ta hãy lấy, trước hết, một tạp chí của Nhà Trắng của nhà âm mưu nổi tiếng đó (và nhà lý thuyết về âm mưu) H.R. Haldeman, được xuất bản vào tháng Năm năm 1994. Tôi chọn để bắt đầu với điều nầy trong hai lý do. Đầu tiên, bởi vì, trên suy luận hợp lý của “bằng chứng chống lại sự quan tâm,” không chắc là ông Haldeman sẽ cung cấp bằng chứng sự của hiểu biết của mình về một tội phạm trừ khi ông ta (sau khi qua đời) nói lên sự thật. Thứ hai, bởi vì đó là việc có thể lần theo dấu trở lại ở mỗi trong số những mục ghi vào sổ của ông ta đến nguồn gốc của nó trong những nguồn khác được dẫn chứng bằng tư liệu.

(Harry Robbins “Bob” Haldeman (được biết nhiều hơn như là H. R. Haldeman,
là Trưởng ban Nhân viên trong Nhà Trắng dưới thời Tổng thống Nixon, và là
nhân vật chính trong vấn đề bê bối Watergate đầy tai tiếng của ông Nixon)

Vào tháng Giêng năm 1973, chính quyền Nixon–Kissinger –mà qua đó ông Haldeman đã mất đi nhiều phút– được tham gia mạnh mẽ trên hai mặt trận. Ở Paris, Henry Kissinger đang cố gắng thương lượng “hòa bình trong danh dự” ở Việt Nam. Ở Washington, D.C., trang mạng bằng chứng chống lại những kẻ trộm và kẻ nghe lén Watergate đang bắt đầu thắt chặc. Vào ngày 8 tháng Giêng năm 1973, Haldeman ghi nhận trong hồ sơ :

John Dam gọi đến để báo cáo về những xét xử vụ Watergate, nói rằng nếu chúng ta có thể chứng minh trong bất kỳ cách nào qua bằng chứng mạnh mẽ là chiếc máy bay [để vận động chiến dịch] của chúng ta đã bị nghe trộm trong năm ’68, ông ta nghĩ rằng chúng tôi có thể dùng điều đó như là một cơ sở để nói rằng chúng tôi dự định buộc Quốc hội đi trở lại và điều tra năm ’68 cũng như năm ’72, và như thế làm họ im đi.

(Cặp bài trùng Nixon–Kissinger quấy đọng chính trị thế giới bằng những
đường lối chính trị gian xảo, thất tín nhất trong giai đoạn 1969–1974)

Ba ngày sau đó, vào ngày 11 tháng Giêng năm 1973, ông Haldeman nghe từ ông Nixon (mẫu tự “P” (i.e. President) như trong cuốn sách “Những cuốn Nhật ký” (“Diaries”) để gọi ông Nixon) :

p08

Về vấn đề Watergate, ông ta muốn tôi nói chuyện với [Tổng Chưởng lý John] Mitchell và muốn ông Mitchell tìm hiểu từ [Deke] De Loach [của Cơ quan Tình báo FBI] xem cái gả vốn là tên làm chuyện nghe lén chúng ta vào năm 1968, vẫn còn ở FBI không và sau đó [Giám đốc điều hành FBI, Patrick] Gray sẽ đóng đinh ông Mitchell bằng cái máy phát hiện nói dối và làm cho việc đó lặng yên, mà qua đó sẽ cho chúng tôi những bằng chứng mà chúng tôi cần. Ông ta cũng nghĩ rằng tôi nên đi với George Christian [viên thư ký báo chí trước đây của Tổng thống Johnson, sau đó làm việc với Đảng Dân chủ cho ông Nixon], nắm lấy LBJ để sử dụng ảnh hưởng của ông ta dặp tắt cuộc điều tra của Hill (i.e. Quốc hội) với Califano, Hubert, v.v. Sau đó trong ngày, ông ta quyết định rằng điều đó không phải là một ý tưởng hay, và bảo tôi không để làm điều đó, mà qua đó may mắn là tôi đã chưa làm.

(Lyndon Baines Johnson (1908–1973), thường được gọi tắc là
LBJ, là vị Tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ từ 1963–1969), người
kế nhiệm là Tổng thống Richard Nixon từ tháng 1/1969–8/1974)

Cùng một ngày, ông Haldeman báo cáo cho Henry Kissinger đang gọi bằng một cách hứng khởi từ Paris, nói rằng “ông ta sẽ tiến hành việc ký kết tại Paris hơn là ở Hà Nội, mà qua đo là điều quan trọng.” Ông ta cũng nói về việc bắt Tổng Thống Thiệu của miền Nam Việt Nam “cùng đồng ý.” Vào ngày sau :

Ngài P (i.e. Tổng thống) cũng đã trở lại về chuyện Watergate ngày hôm nay, đưa ra quan điểm rằng tôi nên nói chuyện với Connally về quá trình nghe lén của Johnson để có được sự xét đoán của ông ta như là làm cách nào giải quyết chuyện đó. Ông ta tự hỏi, liệu chúng ta không nên chỉ có Andreas đi vào và làm cho Hubert sợ không. Vấn đề đang xảy ra ở LBJ là ông ta sẽ phản ứng như thế nào, và chúng tôi cần để tìm hiểu từ De Loach vốn là người đã làm chuyện đó, và sau đó chạy máy phát hiện nói dối trên anh ta. Tôi đã nói chuyện với Mitchell trên điện thoại về chủ đề nầy và ông ta nói rằng De Loach đã cho ông ta biết, hắn ta đã được cập nhật về chuyện đó bởi vì hắn đã có một cú gọi từ Texas. Một phóng viên báo Star đã làm một cuộc điều tra trong tuần qua, hoặc khoảng đó và LBJ đã trở nên rất giận dử và gọi đến Deke [De Loach] và nói với hắn ta rằng, nếu những người của ông Nixon dự định chơi với chuyện nầy, ông ta sẽ tung ra [tài liệu đã bị xóa –an ninh quốc gia], … nói rằng bên của chúng ta đã yêu cầu răng những điều chăc chắn phải được thực hiện. Về bên phía chúng ta, tôi cho là hắn ta muốn nói đến tổ chức chiến dịch vận động của ông Nixon. De Loach sử dụng điều nầy như là một mối đe dọa trực tiếp từ Johnson… Khi hắn ta nhớ lại chuyện đó, việc nghe lén được yêu cầu trên những chiếc máy bay, nhưng đã bị dẹp bỏ, và tất cả điều mà họ đã làm là kiểm tra các cuộc gọi điện thoại, và đặt một dụng cụ nghe trên Nữ Long (Dragon Lady) [Bà Anna Chennault.]

(Anna Chennault tên thật là Chen Xiangmei, gốc Trung Hoa, là người vợ kế
của Trung tá Claire Lee Chennault vào năm 1947, thời Tổng thống Chiang
Kai-shek (Tưởng Giới Thạch), sinh sống bên Mỹ và đóng vai là vị “Đại sứ
Bí mật” cũng được biết đến với tên gọi là “Nữ Long” (“Lady Dragon”))

Bài văn xuôi kiểu quan chức có lẽ là khó đọc, nhưng chính nó không cần máy chuyển mã để giải mã để giải mã. Dưới áp lực mạnh mẽ về việc nghe lén tòa nhà Watergate, ông Nixon ra chỉ thị cho Trưởng ban Nhân viên của mình là ông Haldeman, và người liên lạc FBI của mình là Deke De Loach, vạch trần việc nghe lén mà qua đó chiến dịch vận động của riêng ông ta đã phải chịu vào năm 1968. Ông ta cũng đã thăm dò cựu Tổng thống Johnson qua những nhân vật cao cấp trước đây của đảng Dân chủ giống như Thống đốc John Connally, để đánh giá sự phản ứng của mình đối với việc tiết lộ có thể là gì.

p09

Mục đích là để cho thấy rằng “mọi người làm điều đó.” (Bởi một sự đối nghịch khác của lưỡng đảng, ở Washington, cáo hiệu “tất cả họ đều làm điều đó” được sử dụng như một cáo hiệu cho sự bảo vệ hơn là, như người ta có thể hy vọng, cho việc truy tố.)
Tuy nhiên, vấn đề chính nó bày ra ngay tức khắc. Làm thế nào để tiết lộ việc nghe lén vào năm 1968 mà không đồng thời làm lộ tẩy điều gì mà việc nghe lén đó đã từng xảy ra ? Vì lý do đó, những suy tính được nghĩ lại (“điều đó không phải là một ý tưởng hay lắm…”). Trong phần giới thiệu tuyệt vời của ông ta cho cuốn sách “The Haldeman Diaries” (Những cuốn Nhật ký của Haldeman”), người viết tiểu sử cho ông Nixon, Giáo sư Stephen Ambrose biểu thị đặc điểm cho việc tiếp cận Lyndon Johnson vào năm 1973 như là “một áp lực đe dọa về sau,” được trù định để tận dụng áp lực ngấm ngầm bí mật khép lại cuộc điều tra của Quốc hội. Nhưng ông ta cũng thừa nhận là ông Johnson, chính ông ta không phải là đối thủ dễ bị hạ, đã có một số phương cách tấn công hoặc bảo vệ quan điểm dưới áp lực bị đe dọa của riêng mình. Như Giáo sư Ambrose diễn đạt điều đó, cuốn sách “The Haldeman Diaries” (“Những cuốn Nhật ký của Haldeman”) đã từng được hiệu đính (i.e. xem xét, sửa chữa lại) bởi Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC = National Security Council), và phần xóa bỏ được đặt trong dấu ngoặc đứng được trích dẫn ở bên trên là “một chỗ duy nhất trong cuốn sách nơi mà một thí dụ được đưa ra về phần xóa bởi NSC trong suốt chính quyền Carter. Tám ngày sau đó, ông Nixon được làm lễ nhậm chức cho nhiệm kỳ thứ hai của mình. Mười ngày sau đó, ông Johnson qua đời vì cơn đau tim. Johnson đã có chứng cớ gì đó để buộc tội ông Nixon, tôi cho là chúng ta sẽ không bao giờ biết đến.”

Phần kết luận ở đây của vị Giáo sư được cho là không chắc chắn lắm. Có một nguyên tắc được hiểu tường tận, được biết đến như là “Sư phá hủy Lẫn nhau được Bảo đảm,” theo đó cả hai phía sở hữu nhiều số vật liệu vừa đủ mà qua đó tiêu diệt cùng nhau. Câu trả lời cho vấn đề của điều mà chính quyền Johnson “đã có” về ông Nixon là một chuyện tương đối dễ dàng. Nó được ra trong một cuốn sách có tựa là “Counsel to the President” (“Cố vấn cho Tổng thống”) được xuất bản vào năm 1991. Tác giả của nó là Clark Clifford, một người bên trong Washington như là một tài sản tinh túy cực kỳ có giá trị, vốn là người đã được trợ giúp trong cách viết văn bởi Richard Holbrooke, Phụ tá Bộ trưởng Ngoại giao trước đó và là vị Đại sứ cho Liên Hiệp Quốc. Vào năm 1968, Clark Clifford là Bộ trưởng Quốc phòng và Richard Holbrooke là một thành viên của nhóm đàm phán Hoa Kỳ tại các cuộc đàm phán hòa bình Việt Nam ở Paris.
Từ chỗ ngồi của ông ta trong Lầu Năm Góc, ông Clifford đã thực sự có thể đọc những văn bản sao của tình báo vốn được chọn ra và ghi lại những gì mà ông ta gọi là một “nguồn tin bí mật cá nhân” giữa Tổng Thống Thiệu ở Sài Gòn và chiến dịch vận động của ông Nixon.

p10

Người đối thoại chính ở phía bên Mỹ là John Mitchell, kế đó là người quản lý chiến dịch của ông Nixon và tiếp theo sau là Tổng Chưởng lý (và tiếp theo sau là một tù nhân mang số 24171-157 trong hệ thống cải huấn của tiểu bang Alabama). Ông ta được tích cực trợ giúp bởi bà Anna Chennault, được biết đến đối với tất cả mọi người là Nữ Long (Dragon Lady). Một cựu chiến binh dữ dội của giới hành lang chính trị Đài Loan, và một người vận động ngầm cho nhiều mục đích thuộc phe hữu, bà ta là một quyền lực xã hội và chính trị ở Washington trong thời kỳ của mình và sẽ đánh giá cuốn tiểu sử về riêng mình.

(Vị Tổng thống miền Nam Việt Nam, Nguyễn Văn Thiệu, phải chịu khốn
đốn trong gọng kiềm quyền lực của hai đảng phái đối lập của Hoa Kỳ mà
mục đích chính của họ là tìm mọi cách thắng cử Tổng thống hơn là về vấn
đề an ninh quốc gia của miền Nam Việt Nam)

Ông Clifford mô tả một cuộc họp riêng tại nơi mà ông ta, Tổng thống Johnson, Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk, và Cố vấn An ninh Quốc gia Walt Rostow hiện diện. Hiếu chiến với một người đàn ông, họ giữ Phó Tổng thống Humphrey ra khỏi vòng tròn khép kín. Tuy nhiên, hiếu chiến như họ, họ phải kinh sợ trước bằng chứng về sự phản bội của ông Nixon. Tuy thế, họ quyết định không đưa ra công luận với những gì mà họ biết. Ông Clifford nói rằng điều nầy là vì việc tiết lộ có thể sẽ phá hỏng các cuộc đàm phán Paris hoàn toàn. Ông ta đã có thể thêm rằng nó sẽ tạo ra sự khủng hoảng về niềm tin công chúng vào những cơ quan Hoa Kỳ. Có một số điều mà những cử tri không thể tin vào để biết. Và, ngay cả mặc dù việc nghe lén đã từng là hợp pháp, nó có thể không trông giống như cách chơi công bằng. (Đạo luật Logan cấm bất kỳ người Mỹ nào từ thực hiện chính sách ngoại giao riêng tư với một thế lực nước ngoài, nhưng nó không được tuân thủ một cách rất nghiêm ngặt hoặc kiên định.)
Trong sự kiện nầy. Dù sao đi nữa, ông Thiệu đã rút ra khỏi các cuộc thương lượng, phá hỏng chúng chỉ hai ngày trước cuộc bầu cử. Ông Clifton nghi ngờ về lời khuyên mà qua đó ông Thiệu đã làm như thế :

Những hoạt động của nhóm Nixon đã đi xa hơn những giới hạn của cuộc chiến đấu chính trị chính đáng. Nó tạo thành sự can thiệp trực tiếp vào các hoạt động của cơ quan hành pháp và những trách nhiệm của Giám đốc Điều hành, chỉ những người có thẩm quyền đàm phán thay mặt cho quốc gia. Những hoạt động của chiến dịch Nixon thành lập một tổng thể, thậm chí có khả năng bất hợp pháp, can thiệp vào các vấn đề an ninh quốc gia bởi những tính cách cá nhân riêng tư.

Có lẽ nhận thức được sự hơi nhu nhược của bài văn xuôi mang tính chất ngành nghề luật của mình, và có lẽ có một ít xấu hổ về việc giữ bí mật cho cuốn hồi ký của mình hơn là chia sẻ nó với các cử tri, ông Clifford thêm vào trong một ghi chú cuối trang :

p11

Điều nên đáng nhớ là công chúng được xem là ngây thơ hơn trong các vấn đề như thế trong những ngày trước khi có những buổi điều trần về Watergate và cuộc điều tra Thượng viện vào năm 1975 của CIA.

Có lẽ công chúng đã quả thật ngây thơ hơn, nếu chỉ bởi vì tính dè dặt kín đáo trong lời nói của người trong cuộc của những luật sư giày trắng giống như ông Clifford, vốn là người nghĩ rằng có một vài điều gì đó quá thô tục không thể làm cho được biết đến. Ông ta bây giờ tuyên bố rằng ông ta ủng hộ một trong hai điều, hoặc là đối mặt với ông Nixon một cách riêng tư bằng thông tin và buộc ông Nixon phải chấm dứt, hoặc là nếu không sẽ đưa chuyện đó ra công luận. Có lẽ, điều nầy quả thật là quan điểm của ông ta.
Một thời kỳ càng lúc có được thông tin của việc báo cáo điều tra đã mang lại cho chúng ta nhiều tin cập nhật về hồi kỳ kinh khủng nầy. Và cuốn hồi ký rất được canh giữ của chính Richard Nixon cũng thế. Nhiều hơn là một “đường đưa dẫn phía sau” đã được đòi hỏi cho sự bất ổn của Đảng Cộng hòa về các cuộc đàm phán hòa bình Paris. Ắt hẳn là có những cuộc trao đổi thoại viễn thông bí mật giữa ông Nixon và chính quyền miền Nam Việt Nam, như chúng ta đã từng nhìn thấy. Nhưng ắt hẳn cũng có một người cung cấp tin tức bên trong phe chính quyền đương nhiệm –một nguồn tin về những chỉ vẽ và mách nước và những cảnh cáo sớm về những chủ ý chính thức. Người cung cấp tin tức đó là Henry Kissinger. Trong lời tường thuật của riêng của ông Nixon, trong cuốn sách “RN: The Memoirs of Richard Nixon” (“RN: Hồi ký của Richard Nixon”), nhà chính khách có tuổi, bị thất sủng cho chúng ta biết rằng, vào giữa tháng Chín năm 1968, ông ta nhận được tin báo riêng của việc “ngừng thả bom” theo kế hoạch. Nói một cách khác, chính quyền Johnson sẽ, vì lợi ích của các cuộc đàm phán, xem xét việc đình chỉ cuộc oanh tạc trên không vào miền Bắc Việt Nam. Tin tức tình báo cao cấp đầy hữu ích nầy, ông Nixon cho chúng ta biết, đã đi “qua một đường đưa dẫn rất bất thường.” Nó thậm chí còn bất thường hơn ông ta thừa nhận. Ông Kissinger cho đến lúc đó đã là một người ủng hộ hết mình của Nelson Rockefeller, vị Hoàng tử giàu có không ai sánh bằng của Chủ nghĩa Cộng hoà tự do. Sự khinh miệt của ông ta đối với một người và những chính sách của Richard Nixon bị phơi bày. Thật vậy, những người đàm phán ở Paris của Tổng thống Johnson, được dẫn đầu bởi Averell Harriman, xem ông Kissinger gần như là một trong những người của chính họ. Ông ta đã tự làm cho mình trở nên hữu ích, như là Trưởng Cố vấn chính sách đối ngoại của ông Rockefeller, bằng cách cung cấp những người trung gian Pháp với tiếp xúc của riêng họ ở Hà Nội. “Henry là người duy nhất ở bên ngoài của chính phủ mà chúng tôi đã được ủy quyền để thảo luận những thương lượng với bên kia,” ông Richard Holbrooke cho biết. “Chúng tôi tín nhiệm ông ta. Không phải là kéo dài sự thật để nói rằng chiến dịch Nixon có một nguồn tin bí mật bên trong nhóm đàm phán của Hoa Kỳ.”

(Nelson Aldrich Rockefeller, được xem là vị Hoàng tử giàu có không
ai sánh bằng của Chủ nghĩa Cộng hòa tự do, vốn là người mà ông
Kissinger ủng hộ hết mình. Sau khi chính quyền Nixon sụp đổ, ông ta
trở thành vị Phó Tổng thống Hoa Kỳ từ 12/1974–01/1977)

p12

Vì vậy khả năng ngừng thả bom, ông Nixon viết, “đã đến như không phải là điều bất ngờ thực sự đối với tôi.” Ông ta thêm vào: “Tôi đã bảo Haldeman rằng Mitchell nên tiếp tục như là gạch nối với Kissinger và rằng chúng tôi nên tôn trọng sự ước muốn để giữ vai trò của ông ta hoàn toàn bí mật.” Không thể nào ông Nixon đã không biết về việc song song hai mặt của người quản lý chiến dịch vận động của mình trong việc cấu kết với thế lực nước ngoài. Như thế, bắt đầu cái gì đó rất hiệu quả là một hoạt động bí mật trong nước, được điều hành đồng thời với việc cản trở các cuộc đàm phán và việc gây khó khăn cho chiến dịch vận động của Hubert Humphrey.
Sau đó trong tháng, chính xác là vào ngày 26 tháng Chín, và như được ghi lại bởi ông Nixon trong cuốn hồi ký của mình, “Kissinger gọi lại lần nữa. Ông ta nói rằng ông ta vừa mới trở về từ Paris, nơi mà ông ta đã nghe tin là có một cái gì đó to lớn đang tiến hành liên quan đến Việt Nam. Ông ta đưa ý kiến rằng nếu tôi có bất cứ điều gì nói về Việt Nam trong suốt tuần sau, tôi nên tránh né bất kỳ những ý tưởng mới hoặc dự nghị nào.” Cùng ngày, ông Nixon từ chối một thách thức từ ông Humphrey cho một cuộc tranh luận trực tiếp. Vào ngày 12 tháng Mưòi, ông Kissinger một lần nữa làm cuộc tiếp xúc, điều nầy cho thấy rằng việc ngưng thả bom có lẽ đã được công bố sớm như vào ngày 23 tháng Mười. Và vì vậy, nó có thể đã được tiến hành. Ngoại trừ điều đó cho một số lý do nào đó, mỗi khi phía miền Bắc Việt Nam đi đến việc thỏa thuận gần hơn, phía miền Nam Việt Nam tăng lên những đòi hỏi của riêng họ. Bây giờ chúng ta biết lý do tại sao và điều đó là như thế nào, và hai nửa của chiến lược được đan vào nhau như thế nào. Trở ngược thời gian xa như vào tháng Bảy, ông Nixon đã lặng lẽ gặp gỡ tại New York với vị Đại sứ miền Nam Việt Nam, ông Bùi Diễm. Cuộc tiếp xúc đã được sắp xếp bởi Anna Chennault. Việc nghe lén những sĩ quan miền Nam Việt Nam tại Washington, và việc giám sát Nữ Long, cho thấy bánh xe răng cưa một chiều hoạt động như thế nào. Một điện thư bị chận từ ông Diễm gởi cho Tổng Thống Thiệu vào ngày định mệnh 23 tháng Mười mà ông Diễm cho biết : “Nhiều bạn bè thuộc Đảng Cộng hòa đã liên lạc với tôi và khuyến khích chúng ta đứng vững. Họ được báo động bởi những bài tường thuật của báo chí đối với ảnh hưởng mà Ngài đã thực sự làm yếu đi vị trí của mình.” Những chỉ thị cho đường dây nghe lén đi đến một người của Cartha De Loach, được biết đến như là Deke đối với những người hợp tác của mình, vốn là một sĩ quan liên lạc FBI của J. Edgar Hoover cho Nhà Trắng.
Chúng tôi đã gặp anh ấy, bạn có thể nhớ lại, trong cuốn “Diaries H.R. Haldeman’s Diaries” (“Những Nhất ký của H.R. Haldeman”).

(Vị Phó Tổng thống Hoa Kỳ, Hubert Horatio Humphrey, Jr.
dưới chính quyền Lyndon B. Johnson, là đối thủ tranh cử
chức vụ Tổng thống của Richard Nixon vào năm 1968)

(Vị Đại sứ của miền Nam Việt Nam từ năm 1967–1972, Bùi Diễm,
quan sát viên trong cuộc Hòa đàm Paris vào năm 1968)

(Bánh xe răng cưa một chiều)

p13

Vào năm 1968, tác giả Anthony Summers cuối cùng đã có thể tiếp cận hồ sơ khép kín của FBI về những việc ngăn chận của chiến dịch vận động của ông Nixon, mà anh ta đã xuất bản cuốn sách của mình vào năm 2000 là “The Arrogance of Power: The Secret World of Richard Nixon” (“Sự ngạo mạn của Quyền lực. Thế giới Bí mật của Richard Nixon”). Anh ta cũng có thể phỏng vấn Anna Chennault. Hai sự việc đột phá nầy trang bị cho anh ta với cái gì được thuật ngữ hóa một cách thông thường là một “khẩu súng bốc khói” trên một âm mưu vào năm 1968. Đến cuối tháng Mười năm 1968, John Mitchell đã trở nên quá hoảng hốt về việc giám sát chính thức mà qua đó anh ta chấm dứt nhận những cú gọi từ bà Chennault. Và Tổng thống Johnson, trong một cuộc kêu gọi hội nghị đến ba ứng cử viên, ông Nixon, ông Humphrey và ông Witham (được cho là báo cáo cho họ biết về việc ngưng thả bom), đã mạnh mẽ ngụ ý rằng ông ta biết về những nỗ lực bí mật nhằm cản trở việc ngoại giao to lớn của Việt Nam. Sự lên tiếng nầy đã tạo ra một cảm giác gần như hoảng sợ trong vòng tròn bên trong của ông Nixon và làm cho ông Mitchell gọi điện thoại đến bà Chennault tại Khách sạn Sheraton Park. Ông ta sau đó yêu cầu bà ta gọi lại mình qua đường dây an toàn hơn. “Anna,” ông ta nói với bà ấy: “Tôi đang nói thay mặt cho Tổng thống Nixon. Điều rất quan trọng là những người bạn Việt Nam của chúng tôi hiểu vị trí của Đảng Cộng hòa của chúng tôi, và tôi hy vọng bà nói rõ điều đó cho họ biết… Bà có nghĩ rằng họ đã thực sự quyết định không đi đến Paris ?”

Tài liệu nguyên gốc của FBI được tái bản cho thấy điều gì xảy ra tiếp theo. Vào ngày 2 tháng Mười Một năm 1968, cơ quan tình báo báo cáo như sau :

BÀ ANNA CHENNAULT TIẾP XÚC VỚI ĐẠI SỨ VIỆT NAM, BÙI DIỄM, VÀ BÁO CHO ÔNG TA BIẾT RẰNG BÀ TA ĐÃ NHẬN ĐƯỢC MỘT TIN GỞI TỪ ÔNG CHỦ CỦA MÌNH (KHÔNG ĐƯỢC NHẬN ĐỊNH XA HƠN) MÀ QUA ĐÓ ÔNG CHỦ CỦA BÀ TA MUỐN BÀ TA ĐÍCH THÂN TRAO CHO VỊ ĐẠI SỨ. BÀ TA NÓI RẰNG THÔNG ĐIỆP ĐÓ LÀ VỊ ĐẠI SỨ PHẢI “KIÊN TRÌ, CHÚNG TÔI SẮP SỬA THẮNG” VÀ RẰNG ÔNG CHỦA CỦA BÀ TA CŨNG NÓI “HÃY KIÊN TRÌ, ÔNG TA HIỂU TẤT CẢ VỀ ĐIỀU ĐÓ.” BÀ TA LẬP LẠI RẰNG ĐÂY CHỈ LÀ TIN GỞI. “ÔNG TA NÓI, LÀM ƠN BÁO CHO ÔNG CHỦ CỦA ÔNG BẠN HÃY KIÊN TRÌ. BÀ TA BÁO CHO BIẾT RẰNG ÔNG CHỦ CỦA BÀ TA VỪA MỚI GỌI TỪ TIỂU BANG NEW MEXICO.

Người bạn ra tranh cử chung của ông Nixon, là Spiro Agnew, đã đang vận động tranh cử ở thị trấn Albuquerque, tiểu bang New Mexico, vào ngày đó, và sự phân tích của tình báo theo sau đó tiết lộ rằng ông ta và một thành viên khác của ban nhân viên ông ta (một người quan tâm chủ yếu đến Việt Nam), quả thật đã liên lạc với phe của bà Chennault.

p14

Cái vẻ đẹp của việc ông Kissinger rò rỉ tin tức từ một phía, và Anna Chennault và John Mitchell tiến hành một chính sách ngoại giao riêng cho ông Nixon trên mặt khác, là điều nầy. Nó cho phép ông ta tránh bị lôi kéo vào cuộc tranh luận trên việc ngưng thả bom. Và xa hơn nữa nó cho phép ông ta đưa ra đề nghị rằng chính là những người thuộc Đảng Dân chủ vốn đang chơi trò chính trị với vấn đề nầy. Vào ngày 25 tháng Mười tại New York, ông Nixon đã sử dụng chiến thuật thử-và-kiểm-tra của mình về việc cho lan truyền lời ám chỉ trong khi có dụng ý không thừa nhận việc đó. Về chuyện ngoại giao của LBJ ở Paris, ông ta nói, “Tôi được biết rằng sự cố gắng tối đa của hành động nầy là một điều hoài nghi, nỗ lực vào phút cuối của Tổng thống Johnson nhằm cứu vớt vai trò ứng cử viên của ông Humphrey. Điều nầy, Tôi không tin điều.”
Chính ông Kissinger cho thấy một khả năng tương tự để chơi cả hai đầu chống lại phần ở giữa. Vào cuối mùa hè năm 1968, ở trang trại Vườn nho của bà Martha, ông ta đã đưa ra những hồ sơ của Nelson Rockefeller về ông Nixon cho Giáo sư Samuel Huntington, một vị cố vấn thân quen làm việc cho Hubert Humphrey. Nhưng khi người bạn đồng nghiệp và là bạn của ông Huntington, là Zbigniew Brzezinski, đã cố gắng để ông ta thực hiện tốt việc cung cấp, ông Kissinger trở nên nhút nhát. “Tôi đã ghét ông Nixon trong nhiều năm qua,” ông ta nói với ông Brzezinski. Nhưng thời gian không hoàn toàn đúng lúc cho việc trao ra. Thật vậy, chính là một cuộc bầu cử với cuộc đua rất gần, hóa ra vào lúc cuối trên một sự khác biệt của vài trăm ngàn lá phiếu, và nhiều quan sát viên cứng rắn tin rằng sự khác biệt cuối cùng được tạo nên khi ông Johnson ra lệnh cho việc ngưng ném bom vào ngày 31 tháng Mười và miền Nam Việt Nam đã khiến cho ông ta trông giống như một kẻ ngốc qua cách tẩy chay các cuộc đàm phán hòa bình ngay ngày hôm sau. Nhưng nếu những sự việc đã đi theo chiều hướng khác, ông Kissinger thì gần như chắc chắn cho một công việc cao cấp trong chính quyền Humphrey.
Với những sự hơi khác biệt của tầm quan trọng, những mảnh rời lớn hơn của câu chuyện nầy xuất hiện trong tác phẩm của ông Haldeman như được trích dẫn, và trong cuốn hồi ký của ông Clifford. Chúng cũng được nhắc lại một phần luyện tập trong cuốn tự truyện của Tổng thống Johnson “Vantage Point” (“Ưu thế”) và trong sự phản ảnh lâu dài về Đông Dương bởi William Bundy (một trong những kiến trúc sư về chiến tranh) có tựa đề khá nhàm chán là “The Tangled Web” (“Mạng nhện Rối”). Những thành viên cấp cao của đoàn thể báo chí, trong số họ là Jules Witcover trong nghiên cứu lịch sử của anh ta về năm 1968, Seymour Hersh trong nghiên cứu của mình về ông Kissinger, và Walter Isaacson, biên tập viên của tạp chí Time, trong cuốn tiểu sử đáng ngưỡng mộ và quan trọng của anh ta, đã sản xuất ra những bài tường thuật hầu như tương khớp với nhau về cùng một hồi kỳ sâu thẳm. Bản thân tôi phân tích cuốn sách “Haldeman Diaries” (“Những hồi ký của Haldeman”) trên tờ báo The Nation vào năm 1994.

p15

Sự nhắc đến duy nhất về việc đó là điều sai lầm hoàn toàn và cực kỳ, và điều sai lầm bởi bất kỳ tiêu chuẩn văn học hay lịch sử, xuất hiện trong cuốn hồi ký của chính Henry Kissinger. Ông ta chỉ viết như thế nầy :

Nhiều đặc phái viên của ông Nixon –một số được tự bổ nhiệm– đã điện thoại tôi cho việc tham khảo ý kiến. Tôi nhận lấy vị trí mà tôi sẽ trả lời những câu hỏi cụ thể về chính sách đối ngoại, nhưng tôi sẽ không đưa ra lời khuyên chung hoặc những đề nghị tình nguyện. Điều nầy cùng một phản ứng mà tôi đã làm đối với những yêu cầu từ ban nhân viên của ông Humphrey.

Điều nầy mâu thuẫn với ngay cả cuốn hồi ký tự viết ra của một người đàn ông vốn là người, sau khi giành được chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1968 bằng những phương thức ám muội, đã tạo nên một cuộc hẹn gặp rất đầu tiên của ông ta với Henry Kissinger như là vị Cố vấn An ninh Quốc gia. Người ta có thể không muốn phân xử một cuộc tranh đua nói láo giữa hai người đàn ông, nhưng khi ông ta làm sự lựa chọn nầy, Richard Nixon chỉ có một lần, một cách ngắn ngủi và ngượng ngịu, gặp Henry Kissinger bằng xương bằng thịt. Ông ta rõ ràng ước hình thành sự ước đoán của mình về những khả năng của người đàn ông từ kinh nghiệm có tài thuyết phục nhiều hơn điều đó. “Một yếu tố mà qua đó đã gần như thuyết phục tôi về sự tín nhiệm của Kissinger,” ông Nixon sau nầy đã viết trong bài văn xuôi khoái chí của riêng mình, “là khoảng thời gian dài mà ông ta phải bảo vệ việc bí mật của mình.”
Nhưng bí mật khủng khiếp đó hiện thời được phơi bày. Trong ấn bản vào tháng Mười Hai năm 1968 của căn nhà thành lập cơ quan ngôn luận Ngoại giao, được viết trong những tháng trước đó nhưng được xuất bản một vài ngày sau khi việc đăng công báo của ông ta trên những báo chính thức như là một người thuộc cánh tay phải của ông Nixon, ở đó xuất hiện sự đánh giá của riêng Henry Kissinger về các cuộc đàm phán Việt Nam. Trên mỗi điểm của nội dung, ông ta đồng ý với phương hướng được nhận lấy ở Paris bởi những cuộc đàm phán của Johnson–Humphrey. Người ta phải tạm ngưng trong chốc lát để hiểu rõ được tầm cỡ điều nầy. Ông Kissinger đã giúp đỡ bầu chọn một người đàn ông vốn đã bí mật hứa hẹn với chính quyền quân sự của miền Nam Việt Nam về một thỏa thuận tốt hơn so với thoả thuận mà khi họ sẽ có được từ Đảng Dân chủ. Chính quyền Sài Gòn sau đó đã hành động, như anh Bundy buồn bã xác nhận như thể là họ đã thực sự có sự thỏa thuận. Điều nầy có nghĩa là, theo những lời của cáo hiệu của ông Nixon sau đó, “Thêm Bốn Năm Nữa.” Nhưng “thêm bốn năm nữa” của một cuộc chiến tranh không thể thắng được và không thể công bố và nhiều sát hại, mà qua đó đã phải lan rộng trước khi nó cháy rụi, và đã phải kết thúc trên cùng những điều khoản và điều kiện như đã từng có trên bàn hội nghị vào mùa thu năm 1968.

p16

Đây là những gì mà nó đã lấy đi để thăng tiến Henry Kissinger. Để thăng tiến ông ta từ việc là một học giả xoàng và cơ hội đến việc trở thành một kẻ thống trị quốc tế. Những phẩm chất khả năng biểu hiệu ở đó từ thời điểm của lễ nhậm chức : thói nịnh bợ và tráo trở hai mặt; sự tôn thờ quyền lực và sự thiếu vắng sự ngại ngùng; sự trao đổi trống rỗng của những bạn chưa hẵn là bạn cũ cho những người bạn chưa hẵn là bạn mới. Và những ảnh hưởng đặc sắc cũng phơi bày: những xác chết không cần đếm và có thể hủy đi; việc nói dối chính thức và không chính thức về sự phí tổn; sự phẫn nộ giả vờ dữ dội và khoa trương khi những câu hỏi không mong muốn được hỏi. Sự nghiệp toàn cầu của ông Kissinger bắt đầu như nó dự định tiếp tục. Nó làm bại hoại nền cộng hòa Mỹ và nền dân chủ Mỹ, và nó áp đặt một tổng số ghê tởm của những tai biến trên những xã hội yếu hơn và dễ bị tổn thương hơn.

Bằng cách Cảnh cáo:
Ghi chú Tóm tắt về Ủy ban 40

Trong phần nhiều những trang và chương theo sau đó, tôi đã tìm thấy nó cần thiết để ám chỉ đến “Ủy ban 40” hoặc “Ủy ban Bốn mươi,” cơ thể bán bí mật của tất cả mà qua đó Henry Kissinger là Chủ tịch trong khoảng năm 1969 và năm 1976. Người ta không cần hình dung một tổ chức khổng lồ, giống như con bạch tuộc nào đó tại trung tâm của một mạng lưới âm mưu : Tuy nhiên, điều quan trọng để biết rằng có một ủy ban vốn duy trì sự giám sát chủ yếu trên hành động bí mật ở nước ngoài của Hoa Kỳ (và có thể, tại quê nhà) trong suốt giai đoạn nầy.
Cơ quan CIA ban đầu được thành lập bởi Tổng thống Harry Truman vào lúc bắt đầu Chiến tranh Lạnh. Trong chính quyền Eisenhower đầu tiên, nó được cảm thấy là cần thiết thành lập một cơ chế giám sát hoặc canh chừng để theo dõi những hoạt động bí mật. Danh sách của những người tham gia nầy được biết đến như là một Nhóm Đặc biệt, và đôi khi cũng được đề cập đến như là Nhóm 54/12, theo số lượng của ban chỉ huy Hội đồng An ninh Quốc gia vốn thiết lập nên nó. Đến thời điểm của Tổng thống Johnson, nó được Ủy ban 303 và trong suốt chính quyền Nixon và Ford, nó được gọi Ủy ban 40. Một số người tin rằng những thay đổi về cái tên gọi nầy phản ảnh số lượng của ban chỉ huy Hội đồng An ninh Quốc gia sau nầy; thật ra, ủy ban được biết đến bởi những số lượng của các căn phòng liên tiếp trong một Cao ốc Văn phòng Điều hành Xưa, tráng lệ (hiện nay được sáp nhập vào Nhà Trắng lân cận) vốn được sử dụng để che chắn ba bộ phận của “Nhà nước, Chiến tranh, và Hải quân,” mà trong đó nó gặp gỡ. Không có bí ẩn nào ở đó.

p17

Nếu bất kỳ những tin đồn tưởng tượng che đậy công việc của Ủy ban, điều nầy có thể là kết quả của sự sùng bái phi lý về sự bí mật mà vào một thời điểm đã bao quanh lấy nó. Tại những cuộc điều trần Thượng viện vào năm 1973, Thượng nghị sĩ Stuart Symington đã chất vấn William Colby, sau nầy là Giám đốc Tình báo Trung ương, về những nguồn gốc và sự tiến hóa của nhóm giám sát :
Thượng nghị sĩ Symington : Rất tốt. Tên của ủy ban sau cùng của việc nầy là gì ?
Ông Colby : Ủy Ban Bốn mươi.
Thượng nghị sĩ Symington : Ai là Chủ tịch ?
Ông Colby : Xem nào, lại nữa, tôi muốn đi vào phiên họp điều hành trên sự mô tả Ủy ban Bốn mươi hơn, thư ông Chủ tịch.
Thượng nghị sĩ Symington : Như đối với ai là Chủ tịch, bạn có muốn một phiên họp điều hành hơn không ?
Ông Colby : Chủ tịch –được rồi, thưa ông Chủ tịch– Tiến sĩ Kissinger là Chủ tịch, như là Phụ tá Tổng thống cho những Vấn đề An ninh Quốc gia.

Ông Kissinger giữ chức vụ nầy theo tư cách lúc xưa, nói một cách khác hơn. Những người đồng nghiệp của ông ta vào thời điểm đó là Tướng Không quân George Brown, Chủ tịch Bộ Tham mưu Kết hợp; William P. Clements, Jr., Phó Bộ trưởng Quốc phòng; Joseph Sisco, Phụ tá Bộ trưởng Ngoại giao về những Vấn đề Chính trị; và Giám đốc Tình báo Trung ương, William Colby.
Với những sự hơi biến đổi, những người đang nắm lấy những vị trí nầy giữ đã từng là những thành viên thường trực của Ủy ban Bốn mươi mà qua đó, như Tổng thống Ford diễn đạt nó trong tài liệu tham khảo công cộng đầu tiên của Tổng thống về sự tồn tại của nhóm, “xem xét mọi hoạt động bí mật được thực hiện bởi chính phủ của chúng tôi.” Một sự biến đổi quan trọng được bổ sung bởi Tổng thống Nixon, vốn là người đã bổ nhiệm người quản lý trước đây chiến dịch vận động tranh cử của mình và vị Tổng Chưởng lý, John Mitchell, để ngồi vào ủy ban, vị Tổng Chưởng lý duy nhất đã làm như thế. Điều lệ thành lập cơ quan CIA cấm nó nhận lấy bất kỳ phần nào trong các hoạt động trong nước :

p18

vào tháng Giêng năm 1975, vị Tổng chưởng lý Mitchell đã bị kết án vì rất nhiều điểm cáo buộc về khai man, cản trở, và âm mưu nhằm che đậy vụ trộm Watergate, vốn được tiến hành trong một phần bởi những người điều hành CIA trước đây. Ông ta trở thành vị Tổng Chưởng lý đầu tiên phải bị ở tù.

(John Newton Mitchell, vị Tổng Chưởng lý hoặc Trưởng
Tư pháp (1969–1972) đầu tiên bị kết án vào năm 1977 vì
vấn đề Watergate, và phải chịu 19 tháng tù)

Chúng tôi đã từng gặp ông Mitchell, trong buổi hòa nhạc, với ông Kissinger, trước đây. Sự bổ ích của phần ghi chú nầy, tôi hy vọng và tin tưởng rằng, đó là nó cung cấp một đầu mối mà qua đó sẽ được tìm thấy suốt câu chuyện nầy. Bất cứ khi nào, bất kỳ việc tiến hành bí mật to lớn nào của Hoa Kỳ xảy ra giữa những năm 1969 và 1976, Henry Kissinger có thể ít nhất được cho là đã từng có sự hiểu biết và trách nhiệm trục tiếp về nó. Nếu ông ta tuyên bố rằng ông ta không có, sau đó ông ta tuyên bố không từng làm một công việc mà qua đó ông ta bám vào với sự bền bỉ quan liêu mãnh liệt. Và, liệu có hay không ông ta quan tâm đến việc chấp nhận trách nhiệm bổn phận, trách nhiệm giải thích là chuyện của ông ta trong bất kỳ trường hợp nào.

p19

Chương 02 : Đông Dương

Ngay cả trong khi buộc phải tập trung vào những thực tế bạo lực, người ta ắt hẳn không bao giờ đánh mất cái nhìn về yếu tố đó của sự siêu thực vốn bao quanh Henry Kissinger. Nhân chuyến viếng thăm Việt Nam vào giữa thập niên 1960s, khi mà nhiều nhà cơ hội chuyên nghiệp về kỹ thuật vẫn được thuyết phục rằng cuộc chiến tranh thì đáng để chiến đấu và có thể giành được chiến thắng, anh chàng Henry trẻ để dành sự phán xét trên quan điểm đầu tiên nhưng phát triển những nghi ngờ riêng đáng kể trên quan điểm thứ hai. Được ủy quyền bởi Nelson Rockefeller với một tay tự do thực tiển để phát triển những tiếp xúc của riêng mình, ông ta đã đi quá xa khi chính mình dự vào với một sáng kiến vốn mở rộng cho sự tiếp xúc cá nhân trực tiếp với Hà Nội. Ông trở nên thân thiện với hai người Pháp vốn là những người có một đường dây trực tiếp đến ban lãnh đạo Cộng sản ở thủ đô miền Bắc Việt Nam. Raymond Aubrac, một người Pháp phục vụ dân sự vốn là bạn của Hồ Chí Minh, theo bè với Herbert Marcovich, một nhà sinh học Pháp, và bắt đầu hàng loạt những chuyến đi đến miền Bắc Việt Nam. Trên chuyến trở về, họ báo cáo ngắn gọn cho Kissinger ở Paris. Đến lượt mình, ông ta vận dụng thông tin của họ cho lợi thế to lớn vào trong những cuộc đàm thoại cấp cao tại Washington, chuyển tiếp những vị thế đàm phán thực tế hoặc tiềm năng của Phạm Văn Đồng và các chính khách Cộng sản khác đến Robert McNamara. (Kết quả là, cuộc thả bom không ngừng trên miền Bắc tạo nên bất kỳ “công cuộc xây dựng bắt cầu” không thể thực hiện được. Riêng biệt là, việc tàn phá cây cầu Paul Doumer (Long Biên) hiện thời được Mỹ quên lãng làm tổn thương phía bên Việt Nam.)

(Cuộc tiếp xúc lén lút của Henry Kissinger, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ
với những nhân vật đại diện Hà Nội trước khi đi đến Hiệp định Paris 1973)

(Sau cuộc tiếp xúc lén lút trong vườn, Herry Kissinger được đưa ra cửa sau
bởi một nhân viên trong tòa đại sứ Hà Nội, để lên chiếc xe đang chờ sẵn)

(Raymond Aubrac, từng là người dẫn đầu trong cuộc Kháng chiến Pháp
trong Thế Chế thứ II, và sau nầy, ông ta có khuynh hướng thân cộng.
Nhân chuyến Hội nghị 1946 giữa phe Cộng sản Hà Nội và Pháp, Hồ Chí
Minh ở lại nhà ông ta trong nhiều tháng)

(Đứa con gái của ông Raymond, Élisabeth Aubrac –đứa bé mà ông ta
muốn Hồ Chí Minh làm người cha đỡ đầu để dựa hơi sau nầy– và
người vợ của mình, Lucie Aubrac, với Hồ Chí Minh, vào năm 1946)

p20

Vị trí ở giữa không quan trọng nầy, mà qua đó cuối cùng đã giúp cho hành động như hai người của ông ta có thể được vào năm 1968, cho phép Kissinger sử dụng tiếng nói của Thống đốc Rockefeller và đề xướng, bằng phương thức gián tiếp, một sự giải toả sự căng thẳng trong tương lai đối với các đối thủ chính của Mỹ. Trong bài phát biểu quan trọng, đầu tiên của mình như là một ứng cử viên cho việc đề cử của Đảng Cộng hòa vào năm 1968, ông Rockefeller lớn tiếng về việc làm cách thế nào “trong một tam giác khôn khéo với Trung Cộng và Liên Xô, chúng ta cuối cùng có thể cải thiện những mối quan hệ của chúng ta với mỗi nước –như chúng ta thử nghiệm ý muốn vì hòa bình của cả hai.”
Điều nầy báo hiệu về một chiến lược sau đó của Kissinger có thể xuất hiện ở lần đọc thấy đầu tiên để làm rõ ý nghĩa việc biết trước. Nhưng Thống đốc Rockefeller không có lý do nào hơn Phó Tổng thống Humphrey để giả định rằng nhân viên đầy tham vọng của mình sẽ bỏ theo phe Nixon, mạo hiểm và trì hoãn cùng một cách giải tỏa sự căng thẳng nầy nhằm mục đích sau đó nhận lấy công cho một hình ảnh mất giá trị của nó.
Nói về mặt đạo đức, ông Kissinger xem khái niệm về việc tái lập quan hệ hữu nghị của siêu cường quốc trong cùng một cách như ông ta xem khái niệm về việc một giải quyết vấn đề qua thương lượng ở Việt Nam : như một cái gì đó tùy thuộc vào những nhu cầu của riêng ông ta. Có lúc giả vờ ủng hộ việc đó, và có lúc phản đối kịch liệt như là có đầu óc bệnh hoạn và xảo trá. Và có lúc nhận lấy công cho việc đó. Một số trong những người vốn “tuân theo những mệnh lệnh” ở Đông Dương có thể đặt quyền yêu sách cho việc phòng thủ yếu kém có tiếng đó. Một số vốn là những người thậm chí ban ra những mệnh lệnh, hiện thời có thể cho chúng tôi biết rằng họ hành động một cách chân thành vào thời điểm đó. Nhưng ông Kissinger không thể tận dụng chính bản thân mình cho chứng cứ vắng mặt nầy. Ông ta luôn biết mình đang làm gì, và được bắt tay vào một vòng thứ hai của cuộc chiến tranh kéo dài đã cố ý giúp tiêu diệt một sự chọn lực thay thế mà ông ta luôn luôn hiểu là có thể. Điều nầy làm gia tăng tính nghiêm trọng của việc buộc tội chống lại ông ta. Điều đó cũng chuẩn bị chúng ta cho sự bào chữa ứng biến và hồi khứ của ông ta chống lại sự buộc tội đó –mà qua đó hành động phá hoại rộng lớn của ông ta cuối cùng dẫn đến “hòa bình.” Khi ông ta công bố một cách sai lầm và quá sớm rằng “hòa bình hiện thời trong tầm tay” vào tháng Mười năm 1972, ông ta đã làm một lời tuyên bố khoe khoang mà đích thực (và ít đẫm máu nhiều hơn) đáng lý ra được thực hiện vào năm 1967. Và khi ông ta cho là mình có công cho những tiếp xúc siêu cường quốc theo sau, ông đang công bố kết quả của một chính sách ngoại giao bí mật và tham nhũng vốn đó đã từng được đề xướng ban đầu như là một chính sách cởi mở và dân chủ. Trong khi đó, ông ta đã nghe trộm một cách trái phép và theo dõi những công dân và công chức Mỹ mà những mối nghi ngại của họ về chiến tranh, và về thẩm quyền không hợp hiến, thì khá nhẹ khi đem so với những thứ đó của ông Aubrac và ông Marcovich. Trong sự thành lập cái gì mà những luật sư gọi là sự điên khùng của đầu óc tội lỗi, chúng ta có thể nói rằng trong trường hợp của ông Kissinger, ông ta có nhận thức đầy đủ về và hoàn toàn chịu trách nhiệm cho những hành động của riêng mình.

p21

Vào lúc nhậm chức ở bên cạnh Richard Nixon vào mùa đông năm 1968, công việc của ông Kissinger là bảo hoàng hơn là thối (plus royaliste que le rot) trong hai khía cạnh. Ông ta phải kết hợp nhân tố căn bản của sự “tín nhiệm” cho hành động trừng phạt trong chính trường Việt Nam bị tàn phá rồi, và ông ta phải ủng hộ ý muốn của người đứng đầu của mình mà qua đó ông ta hình thành một phần “bức tường” giữa Nhà Trắng của ông Nixon và Bộ Ngoại giao. Thuật ngữ ngoại giao “phương hướng II” (“track II”)(07) sau nầy trở nên phổ biến. Vị trí của của ông Kissinger trên cả hai tuyến đường, của tính chất bạo lực bừa bãi ở nước ngoài và tính chất bất hợp pháp hiển hiện ở quê nhà, đã được quyết định từ đầu. Ông ta dường như đã thiếu đi điều ý vị cho một trong hai sự cam kết; người ta hy vọng một cách mong manh rằng điều nầy không phải là sự nhức nhối đầu tiên của thuốc “kích thích tình dục.”
Việc “ngưng thả bom” của Tổng thống Johnson đã không kéo dài lâu hơn bởi bất kỳ tiêu chuẩn nào, thậm chí nếu người ta nhớ đến mục đích hòa giải ban đầu của nó vốn đã bị cắt bỏ một cách hèn hạ. Averell Harriman, vốn từng là trưởng đoàn đàm phán của ông LBJ ở Paris, sau đó chứng thực trước Quốc hội rằng Bắc Việt đã rút đi 90 phần trăm những lực lượng của mình khỏi hai tỉnh phía bắc của miền Nam Việt Nam, vào khoảng tháng Mười–tháng Mười Một năm 1968, theo đúng với sự thỏa thuận mà qua đó việc ngưng thả bom có thể đã hình thành một phần. Trong bối cảnh mới, Tuy nhiên, việc rút đi nầy có thể được hiểu như là một dấu hiệu của sự yếu kém, hoặc thậm chí như là “ánh sáng ở cuối đường hầm.”
Hồ sơ lịch sử của cuộc chiến tranh Đông Dương thì cả đống, và sự tranh cãi như là kết quả không kém hơn thế. Tuy nhiên, điều nầy không ngăn chận được sự việc theo sau của một đầu mối chắc nịch. Một khi chiến tranh đã kéo dài một cách không tự nhiên và không có tính cách dân chủ, những phương pháp quá đáng hơn được đòi hỏi để chống lại nó và những lời bào chữa tuyệt vời hơn phải được tạo ra để biện minh cho nó. Chúng ta hãy lấy bốn trường hợp riêng biệt nhưng có liên hệ mà trong đó dân cư bị đặt vào một tình thế nguy hiểm một cách cố ý đối với lực lượng gây chết người, không cần phân biệt, mà trong đó những luật lệ quen thuộc về chiến tranh và tính chất trung lập đã bị vi phạm, và trong đó những lời giả dối có ý thức phải được kể lại nhằm mục đích che giấu những sự kiện thực tế nầy, và những sự kiện khác.

p22

Trường hợp đầu tiên như thế là một thí dụ về những gì mà Việt Nam đáng lý ra đã được dung thứ nếu những Paris cuộc đàm phán hòa bình vào năm 1968 không bị phá hoại. Vào tháng Mười Hai năm 1968, trong suốt giai đoạn “chuyển tiếp” thời gian giữa chính quyền Johnson và Nixon, vai trò chỉ huy quân sự của Hoa Kỳ đã chuyển sang cái gì mà Tướng Creighton Abrams gọi là “cuộc chiến tranh toàn diện” chống lại “hạ tầng cơ sở” cuộc nổi dậy của Việt Cộng/Lực lượng Giải Phóng Dân tộc. Sự phô bày chính yếu trong chiến dịch nầy là việc dọn sạch trong sáu tháng tỉnh đồng bằng sông Cửu Long của Kiến Hòa. Mật danh cho việc càn quét nầy là Chiến dịch Hỏa tốc (Operation Speedy Express). (Xem trang 30–33).
Chiến dịch đó có thể, theo lãnh vực lý thuyết nào đó, nhận thức được một cách mơ hồ rằng chiến thuật như thế có thể được biện minh theo luật pháp và những điều lệ quốc tế chi phối chủ quyền tự vệ. Nhưng không một quốc gia nào có khả năng triển khai một sức mạnh áp đảo và tiêu diệt được mô tả dưới đây sẽ có khả năng tìm thấy chính nó đang ở vào thế phòng thủ. Và điều đó sẽ là điều ít có khả năng nhất tất cả để tìm thấy chính nó đang ở vào thế phòng thủ trên mảnh đất của riêng nó. Vì vậy, chính quyền Nixon–Kissinger đã không, ngoại trừ trong một ý nghĩa khác thường, đang chiến đấu cho sự sống còn. Cái cảm giác bất thường mà trong đó sự sống còn của nó bị đe dọa còn được đưa ra một lần nữa, theo lời thú nhận mạnh mẽ sau khi qua đời của H.R. Haldeman. Từ một chỗ đậu của ông ta ở bên ông Nixon, ông ta đã mô tả khoảng thời gian thuộc Kissinger vào ngày 15 tháng Mười Hai năm 1970 :

Ông K [issinger] bước vào và cuộc thảo luận bao gồm một số suy nghĩ chung chung về Việt Nam và kế hoạch hòa bình to lớn của Ngài P (i.e. Tổng thống) trong năm tới, mà ông K sau đó đã nói với tôi rằng ông ta không có thú vị.
Ông ta nghĩ rằng bất kỳ cuộc rút quân nào trong năm tới sẽ là một sự sai lầm nghiêm trọng vì phản ứng ngược đối với điều đó có thể xen vào một cách hữu hiệu trước cuộc bầu cử năm ’72. Thay vào đó, ông ta ủng hộ việc rút giảm xuống được tiếp tục và sau đó là cuộc rút quân ở ngay mùa thu năm ’72 để cho nếu bất kỳ những kết quả xấu nào theo sau, chúng sẽ là quá muộn để gây ảnh hưởng đến cuộc bầu cử.

p23

Người ta khó mà có thể ước muốn nó được đặt để thẳng thắn hơn điều đó. (Và được đặt để, vả lại, bởi một trong những người chính yếu theo đảng phái của ông Nixon không muốn bị mất uy tín cuộc tái tranh cử.) Nhưng theo quan điểm thực tế, chính ông Kissinger thừa nhận gần như phần lớn trong tập hồi ký đầu tiên của riêng mình “The White House Years” (“Những năm trong Nhà Trắng”). Bối cảnh là một cuộc gặp gỡ với Tướng de Gaulle mà trong đó người chiến binh cũ yêu cầu muốn bằng quyền gì chính quyền Nixon bắt Đông Dương phải chịu cuộc dội bom tàn phá. Theo lời tường thuật của riêng mình, ông Kissinger trả lời rằng: “một cuộc rút quân đột ngột có thể cho chúng tôi một vấn đề khó khăn về uy tín.” (Khi được hỏi “Ở đâu ?” Ông Kissinger lờ mờ đưa ra là Trung Đông.) Điều quan trọng để ghi nhớ là người nịnh bợ tương lai của Brezhnev và Mao, và người đề xướng “tam giác” lôi kéo giữa họ, không đang ở trong một vị thế thực sự nào để tuyên bố rằng ông ta cũng tạo ra chiến tranh ở Đông Dương để ngăn chận. Chắc chắn ông ta không dám thử lời bào chữa non nớt như vậy đối với Charles de Gaulle. Và quả thật, người đề xướng những giao dịch bí mật với Trung Cộng thì không đang ở trong một vị thế rất mạnh mẽ nào để tuyên bố rằng ông ta đang chiến đấu chống lại Chủ nghĩa Stalin chung chung. Không, tất cả điều đó điều là vì “uy tín,” và mặt mũi. Được biết rằng 20.492 quân nhân Mỹ bị mất mạng ở Đông Dương trong khoảng ngày mà ông Nixon và ông Kissinger nhậm chức và ngày vào năm 1972 mà họ rút đi những lực lượng Hoa Kỳ và chấp nhận tính chất hợp lý của năm 1968. Nếu các gia đình và những người sống sót của những nạn nhân nầy phải đối mặt với sự kiện thực tế rằng “khuôn mặt” có nguy cơ là của riêng của ông Kissinger thì sao ?
Vì thế, việc “dội bom vào mùa Giáng sinh” như được gọi theo cách thông thường, trên miền Bắc Việt Nam, bắt đầu trong cùng chiến dịch vận động tranh cử mà ông Haldeman và ông Kissinger đã dự kiến rất khó xử từ hai năm về trước, và nối tiếp sau khi cuộc tranh cử đã giành được thắng lợi, ắt hẳn được tính như là một tội ác chiến tranh theo bất kỳ tiêu chuẩn nào. Việc dội bom không được tiến hành vì bất cứ điều gì vốn có thể được mô tả như là “những lý do quân sự,” ngoại trừ vì gấp đôi những lý do chính trị. Lý do đầu tiên trong hai lý do nầy là vấn đề trong nước để tạo nên sự phô trương sức mạnh đối với những người cực đoan ở Quốc hội và đặt Đảng Dân chủ vào thế phòng thủ. Lý do thứ hai là thuyết phục các nhà lãnh đạo của miền Việt Nam như là Tổng thống Thiệu –cuối cùng vẫn không khoan nhượng sau những năm đó– là sự phản đối của họ đối với việc rút đi của Hoa Kỳ thì quá hoảng hốt. Điều nầy, một lần nữa, là sự thế chấp trên việc thanh toán vay trả bí mật, lần đầu tiên của năm 1968.

p24

Khi sự sụp đổ không thể ngăn chận được xảy ra, ở Việt Nam và Cam-pu-chia, vào tháng Tư và tháng Năm 1975, sự phí tổn thì vô cùng cao hơn so với điều đó đáng lý ra đã là bảy năm trước đó. Những năm giặc châu chấu nầy kết thúc như chúng đã bắt đầu –với sự phơi bày của việc làm ra vẻ can đảm và sự lừa dối. Vào ngày 12 tháng Năm 1975, những pháo hạm Cam-pu-chia bắt giữ một tàu Mỹ chở hàng có tên là Mayaguez. Trong hậu quả trực tiếp của việc giữ quyền lực của Rouge Khmer, đó là là một tình hình quẫn trí. Con tàu đã bị chận dừng trong vùng biển quốc tế được tuyên bố chủ quyền bởi Cam-pu-chia và sau đó được đưa đến hải đảo Koh Tang, Cam-pu-chia. Mặc những báo cáo là thủy thủ đoàn đã được thả ra, ông Kissinger thúc đẩy một cuộc công kích ngay lập tức vì mặt mũi và đánh bóng “uy tín.” Ông ta thuyết phục Tổng thống Gerald Ford, người kế nhiệm chưa được thử nghiệm và tầm thường đối với ông chủ trước đây bị hạ bệ của mình, để gởi vào những binh lính Thủy quân Lục chiến và Lực lượng Không quân. Trong số một lực lượng Thủy quân Lục chiến của 110, 18 người bị giết chết và 50 người bị thương. Một số khoảng 23 người thuộc Lực lượng Không quân bị thiệt mạng trong một tai nạn. Hoa Kỳ đã sử dụng một quả bom 15.000 tấn trên hòn đảo, một dụng cụ phi hạt nhân, mạnh mẽ nhất mà nó sở hữu. Không ai có những con số tử vong cho những cái chết của dân Cam-pu-chia. Những thương vong thì vô nghĩa bởi vì đoàn người của con tàu Mayaguez không ở nơi nào trên hải đảo Koh Tang, sau khi đã được thả ra một vài giờ trước đó. Một cuộc điều tra theo sau của Quốc hội tìm thấy rằng ông Kissinger có thể đã biết về điều nầy bằng cách lắng nghe đài Phát thanh Cam-pu-chia hoặc bằng cách chú ý đến chính quyền thuộc phe thứ ba vốn đã đang thương lượng một thỏa thuận cho việc hoàn lại thủy thủ đoàn và con tàu. Không phải như thể là bất kỳ người Cam-pu-chia nào nghi ngờ, đến tháng đó của năm 1975, sự sẵn sàng của chính phủ Hoa Kỳ dùng đến sức mạnh chết người.

(Hình chụp giám sát trên không cho thấy hai pháo hạm của Khmer Đỏ trong
suốt việc bắt giữ con tàu buôn Mỹ Mayaguez –thật ra nó là con tàu chiến
cuối cùng trong Chiến tranh Việt Nam– khởi đầu vào ngày 12/05/1975 và
sau đó thủy thủ đoàn và con tàu được thả ra sau 3 ngày trước khi cuộc tấn
công của lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tiến hành khiến 15 binh
lính bị thiệt mạng và 41 người bị thương và 3 người bị mất tích –sau nầy
được biết là bị Khmer Đỏ hành quyết –theo vi.wikipedia)

(Hải đảo Koh Tang của Cam-pu-chia, nằm khá xa từ đảo Phú Quốc
–mà dân Cam-pu-chia gọi là Koh Trol, có diện tích là 574 km2
và dân cư khoảng 85.000 vào năm 2001– của Việt Nam)

(Hình dáng của hải đảo Koh Tang nhỏ bé chỉ với 3 km2, cách khoảng 60 km
từ bờ biển Sihanoukville của Cam-pu-chia, nơi mà –theo trang mạng
visitcambodija.nl– những người cư ngụ duy nhất trên đó là những nhân
viên quân sự của Cam-pu-chia, không phải là những thường dân)

Ở Washington, D.C., có một đài tưởng niệm nổi tiếng và thiêng liêng dành cho những người Mỹ hy sinh trong Chiến tranh Việt Nam. Được biết đến như là Đài tưởng niệm của những Cựu Chiến binh Việt Nam, nó mang một cái tên vốn hơi gây hiểu lầm. Tôi đã có mặt trong khoảnh khắc tạo nên ảnh hưởng cực kỳ của sự cống hiến của nó vào năm 1982, và chú ý thấy rằng danh sách của gần 60.000 cái tên được chạm khắc trên bức tường không theo mẫu tự nhưng theo ngày tháng. Một số ít cái tên trước tiên xuất hiện vào năm 1954 và một số ít sau cùng vào năm 1975, những người đến thăm quan tâm về lịch sử hơn đôi khi có thể được nghe nói là họ không biết Hoa Kỳ được tham gia vào Việt Nam sớm như hoặc muộn như thế đó. Hoặc công chúng cũng không xem như đã biết. Những cái tên đầu tiên là của các những người đặc vụ bí mật được gởi vào bởi Đại tá Lansdale mà không có sự chấp thuận của Quốc hội nhằm hỗ trợ thực dân Pháp trước khi có trận chiến Điện Biên Phủ. Những cái tên cuối cùng là của những người vốn bị ném ra xa trong sự thất bại về vụ con tàu Mayaguez. Nó phải cần đến Henry Kissinger để đảm bảo rằng một cuộc chiến tranh tàn bạo, mà ông ta đã giúp kéo dài, sẽ chấm dứt một cách lén lút và nhục nhã như nó đã bắt đầu.

p25

Chương 03: Một mô hình của những Vụ án:
Những tội ác Chiến tranh của ông Kissinger ở Đông Dương

Một số phát biểu quá thẳng thừng cho một bài diễn thuyết đồng thuận, thường ngày. Trong một cuộc “tranh luận” cấp quốc gia, chính là những viên sỏi bóng mượt hơn vốn được thu thập theo phong tục từ một dòng suối, và được sử dụng như là những vật được phóng đi. Chúng để lại phần ít hơn của một vết sẹo, ngay cả khi chúng đánh trúng đích. Thỉnh thoảng, tuy nhiên, một lời phê bình đơn thuần, có sắc cạnh cứng cỏi sẽ gây ra một vết thương sâu và lởm chởm, một vết cắt dài và sâu quá xấu xí đến nổi nó phải được đốt để diệt độc ngay tức thời. Vào tháng Giêng năm 1971, Tướng Telford Taylor, vốn là người đã từng là Trưởng nhóm Luật sư truy tố tại những cuộc xét xử Nuremberg, đã đưa ra lời phát biểu được lưu tâm đến. Việc xem xét cơ bản trên pháp lý và đạo đức của những buổi điều trần đó, và cũng là những cuộc xét xử chính quyền Tokyo về những tội phạm chiến tranh của Nhật và cuộc xét xử chính quyền Manila về vị Trưởng quân phiệt của Nhật hoàng Hirohito, Tướng Tomoyuki Yamashita, ông Taylor nói rằng nếu những tiêu chuẩn của Nuremberg và Manila được áp dụng một cách đồng đều, và được áp dụng cho các những chính trị gia và quan chức Mỹ vốn là những người đã trù định cuộc chiến tranh ở Việt Nam, sau đó “sẽ có một khả năng rất mạnh mẽ rằng họ sẽ đi đến cùng một sự chấm dứt mà ông ta [Yamashita] đã làm.” Không phải là thường ngày mà một binh sĩ cấp cao của Mỹ và là một luật gia đưra ra quan điểm là một phần lớn tầng lớp chính trị của đất nước mình có lẽ đã bị trùm đầu và bịt mắt và bị cho rơi xuống qua một cửa sập ở phía cuối của sợi dây thừng.

(Tướng Telford Taylor, là một Luật sư Mỹ nổi tiếng cho vai trò của mình trong
nhóm Luật sư cho việc khởi tố tại những phiên xử Nuremberg sau Thế Chiến thứ
II, sự đối lập của ông ta đối với Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy trong những
năm 1950s, và sự phê phán thẳng thắn của ông ta về những hành động của Hoa
Kỳ trong suốt Chiến tranh Việt Nam trong những thập niên 1960s và 1970s)

Trong cuốn sách của mình là “Nuremberg and Việtnam” (“Nuremberg và Việt Nam”), Tướng Taylor cũng dự đoán một trong những phản đối có thể có đối với sự kết luận trên pháp lý và đạo đức nầy. Nó có thể được bàn cãi cho việc bảo vệ, ông ta nói, rằng những người bị tố cáo thực sự không biết họ đang làm gì; nói một cách khác hơn là nếu đạt được những kết quả trái luật nhất nhưng từ những động cơ cao nhất và ngây thơ nhất.

p26

Khái niệm về Đông Dương như một “vũng lầy” nào đó trong cuốn sách “Heart of Darkness” (“Trái tim của Bóng tối”) của những đoàn quân không hiểu biết gì đã được kiên trì tuyên truyền, kế tiếp và kể từ đó, nhưng ông Taylor đã còn sự kiên nhẫn nào đối với quan điểm như thế. Những sứ mệnh về quân sự và tình báo, kinh tế và chính trị của Mỹ và những đội quân đã từng có mặt tại Việt Nam, ông ta viết, đối với phần nhiều quá lâu không thể cho rằng bất cứ điều gì họ làm đều “thiếu thông tin.” Điều đó đã có thể có đối với những binh sĩ và những nhà ngoại giao để làm ra vẻ như là những người vô tội cho đến giữa thập niên 1960s, nhưng sau thời gian đó, và đặc biệt là sau cuộc thảm sát Mỹ Lai của ngày 16 tháng Ba năm 1968, khi những cựu chiến binh báo cáo lên những sĩ quan cấp trên của họ về một số lượng của những việc tàn bạo chính, không một ai có thể tuyên bố một cách hợp lý là đã không thông báo và trong số những người nầy vốn có thể –những người ít đáng tin cậy nhất sẽ là những người vốn –xa khỏi sự rắc rối của chiến trận– đã đọc và thảo luận và chấp nhận những báo cáo trong tầm hiểu biết về cuộc chiến tranh mà qua đó đã được chuyển đến Washington.
Cuốn sách của Tướng Taylor đã được viết ra trong lúc phần nhiều những sự kiện đáng bị khiển trách nhất của cuộc chiến tranh Đông Dương vẫn đang diễn tiến, hoặc vẫn sắp sửa xảy đến. Ông ta không nhận biết về cường độ và mức độ, thí dụ, của cuộc dội bom vào Lào và Cam-pu-chia. Tuy nhiên, đủ được biết đối với ông ta về việc tiến hành chiến tranh, và về nơi phát sinh trách nhiệm về pháp lý và tội ác đang tồn tại, để đi đến một số kết luận không thể chối cãi được. Điều trước hết trong số những kết luận nầy liên quan đến nghĩa vụ riêng biệt của Hoa Kỳ phải nhận thức, và tôn trọng những nguyên tắc của Tòa án Nuremberg :

Tòa án quân sự và những hội đồng theo thói quen đã nêu ra những phán xét của họ nổi bật ra ngoài và không được hỗ trợ bởi những ý kiến đưa ra lý do cho sự quyết định của họ. Những phán xét ở Nuremberg và Tokyo án, ngược lại, tất cả đều được dựa trên những ý kiến mở rộng trình bày chi tiết về bằng chứng và phân tích những vấn đề có căn cứ trên sự thực và pháp lý, theo cách hiện đại của những tòa án phúc thẩm nói chung. Không cần phải nói rằng họ không có chất lượng đồng đều, và thường phản ảnh những khuyết điểm hợp lý về sự thỏa hiệp, những dấu tích mà trong đó thông thường làm hư hại những ý kiến của những tòa án có nhiều thành viên hỗn hợp. Nhưng quá trình tiến hành thì chuyên nghiệp theo một cách hiếm khi đạt được tại các tòa án quân sự, và những hồ sơ và phán xét trong những cuộc xét xử nầy cung cấp một nền tảng rất cần thiết cho một sự thâu thập những văn bản về pháp luật hình quốc tế được thẩm phán tạo ra.

p27

Những kết quả của những cuộc xét xử phó thác chính mình cho Liên Hiệp Quốc mới thành lập, và vào ngày 11 tháng Mười Hai năm 1946, Đại Hội đồng đã thông qua một nghị quyết khẳng định “những nguyên tắc của luật pháp quốc tế được nhìn nhận bởi Hiến chương của Tòa án Nuremberg và sự phán quyết của Tòa án.”
Tuy nhiên, cuối cùng là lịch sử có thể đánh giá sự khôn ngoan hay chưa khôn ngoan của những phiên tòa về tội ác chiến tranh, một điều không thể chối cãi được. Ở phần kết luận của họ, Chính phủ Hoa Kỳ đứng về mặt pháp lý, chính trị và cam kết về mặt đạo đức đối với những nguyên tắc được đề ra trong những điều lệ và phán quyết của những tòa án. Tổng thống Hoa Kỳ, qua những khuyến nghị của Bộ Ngoại giao, Chiến tranh và Tư pháp, thông qua các chương trình tội ác chiến tranh. Ba mươi vị thẩm phán Mỹ hoặc hơn nữa, được rút ra từ băng ghế thuộc tòa phúc thẩm của những tiểu bang từ Massachusetts đến Oregon, và Minnesota đến Goergia, tiến hành những phiên tòa Nuremberg sau nầy và viết ra những ý kiến. Tướng Douglas MacArthur, dưới thẩm quyền của Ủy ban Viễn đông, thành lập tòa án Tokyo và khẳng định những bản án mà nó áp đặt, và nó nằm dưới thẩm quyền của ông ta như là vị sĩ quan quân đội cao nhất của Mỹ trong khu vực Viễn Đông nơi mà qua đó Yamashita và việc kiện tụng khác như thế đã được tổ chức. Phái đoàn đại biểu Hoa Kỳ đến Liên Hiệp Quốc trình bày một nghị quyết mà qua đó Đại hội đã thông qua các nguyên tắc Nuremberg. Như thế, tính toàn vẹn của một đất nước được đặt cược trên những nguyên tắc đó, và ngày nay câu hỏi là họ áp dụng như thế nào cho việc tiến hành chiến tranh ở Việt Nam của chúng ta, và liệu Chính phủ Hoa Kỳ có chuẩn bị để đối mặt với những hậu quả của những áp dụng của họ.

(Tướng Tomoyuki Yamashita, nổi tiếng nhất với việc chinh phục các thuộc địa
của Anh Quốc là Malaya và Singapore và cuộc chiến với Hoa Kỳ ở Philippines.
Thêm vào đó là cuộc thảm sát Manila, Phi Luật Tân (10.000 thường dân), cuộc
thảm sát Sook Chinh, Triều Tiên (100.000 dân Triều Tiên gốc Trung Hoa) và
cuộc thảm sát ở bệnh viện quân y Alexandra, Triêu Tiên (320 binh linh và sĩ
quan Anh Quốc. Ông ta bị kết án treo cổ qua Tòa án Tokyo vào năm 1946)

Sau khi chính mình ngẫm nghĩ tới lui và chín chắn về những hậu quả nầy, Tướng Telford Taylor đã nhận lấy những vấn đề với một một sĩ quan Hoa Kỳ khác, Đại tá William Corson, vốn là người đã từng viết rằng “Bất kể là kết quả của… những hành động của tòa án quân sự và pháp lý về vấn đề My Lai, quan điểm vẫn còn mà sự phán quyết của Mỹ như đối với việc truy tố hiệu quả về chiến tranh là có lỗi từ lúc ban đầu đến cuối và rằng những hành động tàn bạo, bị cáo buộc hoặc cách khác hơn, là một kết quả thất bại của sự phán xét, không phải là hành vi tội phạm.” Đối với điều nầy, ông Telford đã đáp lại như sau :

Đại tá Corson không nhận thấy, tôi e ngại, việc giết người bị bỏ qua đó nói chung là một tội phạm của sự phán xét xấu xa hơn là ý định xấu xa.

p28

Có lẽ ông ta đúng trong ý nghĩa hoàn toàn ngẫu nhiên mà qua đó nếu như đã không có một thất bại nào của sự phán xét, cơ hội cho việc tiến hành tội phạm sẽ không dâng cao. Những người Đức trong hành động chiếm đóng châu Âu đã tạo ra những sai lầm hiển hiện của sự phán xét mà không có sự nghi ngờ nào tạo ra những điều kiện mà trong đó việc giết hại những dân cư của Klissura [một ngôi làng Hy Lạp bị tiêu diệt trong suốt cuộc Xâm chiếm] đã xảy ra, nhưng điều đó không làm cho những việc giết người bất cứ là thế nào ít tội ác hơn.

Việc đề cập đến câu hỏi nầy đến một chuỗi chỉ huy trong lãnh vực, Tướng Taylor ghi chú xa hơn rằng đoàn sĩ quan cao cấp đã từng có mặt…

ít nhiều liên tục ở Việt Nam, và xuất sắc được trang bị tuyệt vời với những chiếc trực thăng và những chiếc máy bay khác, mà qua đó cho họ một mức độ di động chưa từng có trong những cuộc chiến tranh trước đây, và bởi thế ưu đãi họ với mỗi cơ hội để giữ lấy chiều hướng cuộc chiến đấu và những kết quả của nó dưới sự theo dõi chặt chẽ và liên tục. Những việc truyền thông nói chung thì nhanh chóng và hiệu quả, để cho dòng chảy của thông tin và những mệnh lệnh không bị ngăn trở.
Những trường hợp nầy thì trong trạng thái trái ngược sâu sắc đối với những trường hợp vốn đối mặt với Tướng Yamashita vào năm 1944 và 1945, với những binh lính của mình bước lảo đảo trở lại trong tình trạng hỗn loạn trước khi cường quốc quân sự của Mỹ tràn đến. Vì sự thất bại điều khiển những binh lính của mình như để ngăn chận những hành vi tàn bạo mà họ đã nhúng tay vào, Chuẩn Tướng Egbert F. Bullene và Morris Handwerk và Thiếu Tướng James A. Lester, Leo Donovan và Russell B. Reynolds tìm thấy ông ta phạm tội vì việc vi phạm những luật lệ chiến tranh và kết án ông ta tội chết bằng cách treo cổ.

Hoặc cũng không phải Tướng Taylor bỏ qua liên kết quan trọng giữa quyền chỉ huy quân đội và sự giám sát chính trị của nó; điều nầy một lần nữa là mối quan hệ gần gũi nhiều hơn và trực tiếp hơn trong trường hợp Mỹ–Việt Nam so với điều đó trong trường hợp Nhật Bản–Philippines, như la một sự tiếp xúc thường xuyên giữa, như là, Tướng Creighton Abrams và Henry Kissinger làm rõ :

Bao nhiêu Tổng thống và các vị cố vấn gần gũi của ông ta trong Nhà Trắng, Lầu Năm Góc và Foggy Bottom (i.e. ám chỉ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ) biết về khối lượng và nguyên nhân của những thương vong dân sự ở Việt Nam, và sự tàn phá thực thể vùng nông thôn, là một điều suy đoán. Một cái gì đó đã được biết đến, cho John Naughton làm việc muộn (sau đó là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) trở về từ Nhà Trắng vào một ngày trong năm 1967 với thông điệp là “Chúng tôi dường như đang tiến hành trên giả định rằng cách thức để loại trừ Việt Cộng là tiêu diệt tất cả các các cấu trúc làng mạc, rải thuốc khai hoang tất cả các khu rừng nhiệt đới, và sau đó bao gồm toàn bộ bề mặt của miền Nam Việt Nam với nhựa đường.”

p29

Nhận xét nầy đã được báo cáo về (bởi Townsend Hoopes, một nhân vật đối lập của Tướng Taylor về chính trị) trước khi lời ẩn dụ đó được mở rộng vào trong hai quốc gia mới, Lào và Cam-pu-chia, mà không có một tuyên bố nào về chiến tranh, một thông báo nào cho Quốc hội, hoặc một báo trước nào cho những thường dân để di tản. Nhưng ông Taylor dự đoán trường hợp của ông Kissinger theo nhiều cách ông ta nhớ lại cuộc xét xử nhà chính khách Nhật, Koki Hirota :

Ông ta vốn là người phục vụ ngắn hạn như là Thủ tướng và trong nhiều năm như là Bộ trưởng Ngoại giao trong khoảng năm 1933 và tháng Năm 1938, sau những chức vụ mà bất cứ là gì ông ta không giữ một chức vụ nào. Cuộc thảm sát được gọi như là “Vụ hãm hiếp thành phố Nanking” bởi những lực lượng Nhật Bản, xảy ra trong suốt mùa đông của năm 1937–1938, khi ông Hirota là Bộ trưởng Ngoại giao. Khi nhận được những báo cáo ban đầu về những hành vi tàn bạo, ông ta đã yêu cầu và nhận được những lời cam đoan từ Bộ Chiến tranh rằng chúng sẽ được ngăn chận lại. Nhưng họ tiếp tục, và tòa án Tokyo tìm thấy Hirota có tội bởi vì ông ta “bị bỏ rơi trong nhiệm vụ của mình trong việc không cố nài trước Nội rằng hành động tức thời phải được tiến hành để đưa đến sự chấm dứt đối với những hành vi tàn bạo, ‘và’ đã cảm thấy hài lòng khi dựa vào những lời cam đoan mà ông ta biết là sẽ không được thực hiện.” Trên cơ bản nầy, cùng với sự tuyên án của mình về tội trạng chiến tranh xâm lược, ông Hirota bị kết án treo cổ.

Melvin Laird, như là Bộ trưởng Quốc phòng trong suốt chính quyền Nixon đầu tiên, cảm thấy đủ buồn nôn về các cuộc thả bom đầu tiên vào Cam-pu-chia và đủ nghi ngờ về tính hợp pháp hoặc sự thận trọng của việc can thiệp, để gởi một lá thư ngắn đến Bộ Tham mưu Kết hợp, đặt câu hỏi : “Có phải những bước đang được thực hiện, trên cơ bản đang tiếp tục, nhằm giảm thiểu nguy cơ của việc không kích những người dân Cam-pu-chia và những cấu trúc. Nếu là thế, những bước đó là gì ? Chúng ta có chắc là theo cách hữu lý những bước như thế thì hiệu nghiệm không ?” Không có một bằng chứng nào về Henry Kissinger, như là vị Cố vấn An ninh Quốc gia hoặc Bộ trưởng Ngoại giao, từng tìm kiếm ngay cả những lời cam đoan khiêm tốn nhất như thế. Quả thật, có phần nhiều bằng chứng của việc lừa dối Quốc hội của ông ta về mức độ thực sự mà qua đó những lời cam đoan như thế được đưa ra là sai lạc một cách cố ý.

p30

Những người khác có dự phần, giống như là Robert McNamara, McGeorge Bundy, và William Colby, kể từ đó đã đưa ra hàng loạt lời xin lỗi hay hối hận hoặc ít nhất là lời giải thích : Henry Kissinger không bao giờ. Tướng Taylor mô tả việc thực hành của những cuộc không kích vào các xã ấp bị nghi ngờ “đang chứa chấp” những quân du kích Việt Nam như là “những vi phạm trắng trợn Công ước Geneva về việc Bảo vệ dân sự mà qua đó nghiêm cấm ‘những hình phạt tập thể’ và ‘những trả đũa đối với những người được bảo vệ’ và tương đương trong sự vi phạm những Quy luật Chiến tranh Trên bộ.” Ông ta đã viết trước khi sự tiến triển tồi tệ nầy đã được mở rộng đến “những cuộc đột kích trả đũa” vốn đối xử với cả hai nước –Lào và Cam-pu-chia– như thể chúng là những xã ấp có thể bỏ đi.
Đối với Henry Kissinger, không phải là một người vĩ đại đáng tin trong những tuyên bố khoe khoang của những kẻ tạo ra chiến tranh ngay từ lúc đầu, một mức độ đặc biệt của những thứ gắn liền với trách nhiệm. Không phải chỉ có ông có lý do chính đáng để biết rằng những vị chỉ huy trên chiến trường đang phóng đại những thành công và tuyên bố rằng tất cả những xác chết như là quân địch –một phần hiểu biết thông thường sau mùa xuân 1968– nhưng ông ta cũng biết rằng vấn đề chiến tranh đã được giải quyết qua chính trị và ngoại giao, cho tất cả những chủ ý và mục đích, trước khi ông ta trở thành vị Cố vấn An ninh Quốc gia. Như thế, ông ta phải biết rằng mỗi vụ thương vong thêm vào, trên một trong hai bên, không chỉ là một cái chết nhưng là một cái chết có thể tránh được. Và với sự hiểu biết nầy, và với một cảm nhận mạnh mẽ về lợi nhuận chính trị trong nước và cá nhân, ông ta đã xúi giục việc mở rộng chiến tranh vào trong hai nước trung lập –vi phạm luật pháp quốc tế– trong khi kiên trì ở một mức cao đến nghẹt thở về sự tiêu hao ở chính nước Việt Nam.

Từ một chuỗi khổng lồ của những thí dụ có thể có, tôi đã chọn lực những trường hợp vốn liên can trực tiếp đến ông Kissinger và trong đó chính tôi đã có thể phỏng vấn những nhân chứng sống sót. Trước tiên, như được báo trước ở trên, là Chiến dịch Hỏa tốc (Operation Speedy Express).
Một người bạn và là đồng nghiệp của tôi, Kevin Buckley, sau đó là một phóng viên được nhiều ngưỡng mộ và là Trưởng văn phòng ở Sài Gòn cho tạp chí Newsweek, càng lúc quan tâm đến chiến dịch “bình định” vốn mang mật mã phơi phới nầy. Được trù hoạch trong những ngày cuối của chính quyền Johnson–Humphrey, nó được đưa vào hiệu lực toàn diện trong sáu tháng đầu của năm 1969, khi Henry Kissinger đã nắm lấy nhiều thẩm quyền trên việc tiến hành chiến tranh. Mục tiêu là việc đưa vào kỷ luật, thay mặt chính quyền Thiệu, tỉnh hỗn loạn Kiến Hòa thuộc đồng bằng sông Cửu Long.

p31

Vào ngày 22 tháng Giêng năm 1968, Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara đã nói với Thượng viện rằng “không có những đơn vị Bắc Việt chính quy nào” đã được triển khai ở đồng bằng sông Cửu Long, và không có những tài liệu tình báo quân sự nào đã xuất hiện để làm suy yếu lời tuyên bố của ông ta, do đó việc dọn sạch khu vực không thể được hiểu như là một phần của sự tranh cãi chung chung về việc đối kháng ý chí muốn chinh phục, không bao giờ nghĩ của Hà Nội. Mục đích được công bố của cuộc càn quét của Sư đoàn IX, quả thật, là nhằm cứu thoát nhiều ngàn người dân làng khỏi sự kiểm soát chính trị bởi Mặt trận Giải phóng Dân tộc hoặc Việt Cộng. Như anh Buckley đã tìm thấy, và như tạp chí Newsweek của anh ta tiết lộ một phần vào thời gian khá muộn của ngày 19 tháng Sáu năm 1972 :

Tất cả bằng chứng mà tôi thu thập được, chỉ ra một kết luận rõ ràng: một số lượng đáng kinh ngạc của những thường dân không-tham-chiến –có lẽ nhiều như 5.000 người theo một quan chức– đã bị giết chết bởi hỏa lực của Hoa Kỳ nhằm “bình định hóa” tỉnh Kiến Hòa. Tổng số người chết ở đó khiến cho cuộc thảm sát Mỹ Lai Massacre trông tầm thường qua sự so sánh.
Sư đoàn IX đặt tất cả binh lính mà nó có vào trong chiến dịch. Tám ngàn bộ binh lùng sục vùng nông thôn có dân cư đông đúc, nhưng sự tiếp xúc với kẻ thù hay lẩn tránh thì hiếm khi có. Như thế, trong việc theo đuổi chính sách bình định, sư đoàn đã dựa nhiều vào 50 khẩu đại bác, 50 chiếc trực thăng của nó (nhiều chiếc được trang bằng những hỏa tiển và súng nhỏ) và sự hỗ trợ chết người được cho mượn bởi Lực lượng Không quân. Đã có 3.381 cuộc không kích theo chiến thuật của những máy bay vừa chiến đấu vửa dội bom trong suốt “chiến dịch Hỏa tốc”…
“Cái chết là công việc của chúng tôi, công việc tốt đẹp,” là cáo hiệu được vẽ trên nơi tạm ngụ của đơn vị trực thăng trong suốt chiến dịch. Và nó là như thế. Thống kê tích lũy cho “chiến dịch Hỏa tốc” cho thấy rằng 10.899 “kẻ thù” đã bị giết. Chỉ trong tháng Ba, “hơn 3.000 quân địch bị giết chết… mà điều đó là một tổng số hàng tháng to lớn nhất lớn cho bất kỳ một sư đoàn nào của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam,” tạp chí chính thức của sư đoàn đã cho biết. Khi được hỏi để tường thuật về những con số đếm thi thể khổng một lồ, một sĩ quan cao cấp của sư đoàn giải thích rằng những đội súng máy của trực thăng thường bắt gặp những “kẻ thù” không vũ trang trong những cánh đồng trống.

(Những chiếc tàu thuộc Hải quân Việt Nam chất đầy với những bộ binh
Việt Nam lắc lư dọc theo dòng sông Bến Tre để tung ra sứ mệnh tìm kiếm
cách khoảng 80 km về hướng nam Sài Gòn trong tỉnh Kiến Hòa thuộc
Đồng bằng Cửu long, vào ngày 11/07/1967. Những du kích quân Việt
Cộng đã bắn vào đoàn tàu nhỏ tư bờ sông đầy bụi cây, nhưng không có
cuộc chạm súng lớn nào được thực hiện)

Có bằng chứng tràn ngập cho thấy rằng hầu như tất cả lực lượng Việt Cộng được trang bị kỹ lưởng. Những thường dân đơn thuần, dĩ nhiên, không được trang bị. Và sự khác biệt to lớn giữa việc đếm thi thể (11.000 người) và số lượng vũ khí tịch thu được (748) thì khó giải thích –ngoại trừ bởi một kết luận là nhiều nạn nhân không có vũ khí là những thường dân vô tội…

(Người “Mẹ Nuôi,” một “thường dân vô tội”, thuộc xã An Hòa,
huyện Phụng Hiệp, Cần Thơ, đang tiếp tế lương thực cho những
du kích quân Việt Cộng để đánh phá miền Nam Việt Nam)

p32

Những người dân vốn vẫn sống trong vùng Kiến Hòa được bình định hóa, tất cả họ đều có những hồi ức sống động về sự tàn phá mà hỏa lực Mỹ đã mang đến những cuộc sống của họ vào đầu năm 1969. Hầu như mỗi người mà tôi đã nói chuyện với, đã phải chịu khốn khổ theo một cách nào đó. “Có 5.000 người trong ngôi làng của chúng tôi trước năm 1969, nhưng không còn ai trong năm 1970,” một già làng nói với tôi. “Những người Mỹ phá hủy mọi căn nhà bằng pháo binh, các cuộc không kích, hoặc bằng cách đốt rụi chúng với những cái bật lửa. Khoảng 100 người bị chết vì cuộc dội bom, những người khác bị thương và những người khác trở thành những người tị nạn. Nhiều trẻ em bị thiệt mạng do sự chấn động từ các quả bom mà những cơ thể nhỏ bé của chúng không thể chịu được, ngay cả khi chúng đang ẩn núp dưới lòng đất.”
Những quan chức khác, bao gồm Trưởng Công an làng, chứng thực lời khai của người đàn ông. Tôi có thể không, dĩ nhiên, đến mỗi ngôi làng. Nhưng trong mỗi làng của nhiều nơi mà tôi đến, lời khai thì như nhau: 100 người bị thiệt mạng ở đây, 200 người bị thiệt mạng ở đó.

(Tỉnh Kiến Hòa –theo tên gọi dưới chính quyền miền Nam Cộng hòa–
là tỉnh Bến Tre, nằm trong vùng Đồng bằng Cửu long, là một trong
những ổ chứa Việt Cộng chính yếu của Mặt trận Giải phóng Dân tộc
vốn được thành lập vào tháng 12/1960 và bị loại bỏ vào tháng 1/1977
sau khi Cộng sản Hà Nội chiếm được miền Nam Việt Nam)

(Hình ảnh những nữ cán bộ vũ trang của Việt Cộng hội tụ từ các huyện về để
thao diễn tại buổi lễ thành lập Mặt trận Giải phóng Dân tộc ở tỉnh Cần Thơ vào
năm 1961, là một bằng chứng rất thực về sự hiện diện của Cộng sản ở miền
Nam Việt Nam mặc dù họ chưa phải là cán binh chính quy của miền Bắc như
Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara nói nhưng không thể nào cho họ là
những phụ nữ thường dân vô tội như tác giả Christopher Hitchens đã nghĩ)

(Một trong những hoạt động khủng bố của Mặt trận Giải phóng Dân
tộc ngay tại Sài Gòn vào năm 1965 ngay khi có sự hiện của Mỷ và
đã xảy trước Chiến dịch Hỏa tốc đến những 3 năm)

Những ghi chú khác của anh Buckley và người bạn và là cộng tác việc của anh ta, Alex Shimkin (một người làm việc cho cơ quan Phục vụ Tình nguyện Quốc tế, vốn là người sau nầy bị thiệt mạng trong chiến tranh) đã phát hiện một bằng chứng giống y câu chuyện được kể lại trong một thống kê bệnh viện. Vào tháng Ba năm 1969, bệnh viện ở Bến Tre báo cáo về 343 bệnh nhân bị thương tích bởi “hỏa lực phe bạn” và 25 người bởi “kẻ thù,” một thống kê đáng gây kinh ngạc đối với một cơ sở chính phủ để ghi lại hồ sơ trong một cuộc chiến tranh du kích nơi mà việc trở nên thành viên Việt Cộng bị nghi ngờ có thể có nghĩa là cái chết. Và đoạn dẫn chứng của riêng anh Buckley cho tạp chí của mình –trong số “có lẽ nhiều như 5.000 cái chết” trong số thường dân trong một lần càn quét nầy– là một cách nói bớt đi, không đúng sự thật gần như cố ý về những gì mà anh ta đã được nghe bởi một quan chức Hoa Kỳ, vốn là người thực sự nói rằng “ít nhất là 5.000” người chết “là điều gì mà chúng tôi đề cập đến như là những người không-tham-chiến”: một nét riêng biệt không rất chính xác, như chúng ta đã từng nhìn thấy rồi, và như là đến sau nầy được hiểu rõ (kiểu chữ nghiêng và đậm được thêm vào).
Được hiểu rõ, đó là một cách nói, không chỉ bởi những người vốn chống đối chiến tranh nhưng bởi những người vốn đang tiến hành nó. Như một quan chức Hoa Kỳ đặt vấn đề với anh Buckley :

Những hành động của Sư đoàn IX trong việc gây ra những thương vong thường dân thì tồi tệ hơn [hơn những hành động ở Mỹ Lai]. Một tổng của cái gì mà Sư đoàn IX làm là trội hơn hẳn. Tóm lại, sự khủng khiếp thì tồi tệ hơn Mỹ Lai.

p33

Nhưng đối với Sư doàn IX, những thương vong thường dân bắt đầu tạo ra những nhỏ giọt và được đúc kết thành câu chuyện qua một thời gian dài. Và hầu hết những thương vong bị gây ra từ cuộc không kích và vào ban đêm. Hơn nữa, họ được thừa nhận bởi sự khăng khăng về những việc đếm thi thể ở mức cao của mệnh lệnh chỉ huy… Kết quả là một hậu quả tất yếu của chính sách chỉ huy của đơn vị.

Cuộc càn quét trước đó vốn đã vét sạch Mỹ Lai –trong suốt Chiến dịch Wheeler Wallawa– cũng vào lúc đếm tất cả những xác chết như là những xác của quân địch, bao gồm dân cư của ngôi làng, vốn là những người ngẫu nhiên được bao gồm trong con số tổng thể rất khó hiểu là 10.000 người.
Đối mặt với bằng chứng nầy, anh Buckley và anh Shimkin bỏ qua việc sử dụng cái gì có sẵn và thay thế nó, theo một điện thư đến trụ sở tạp chí Newsweek ở New York, với một bằng chứng tỏ rõ và chu đáo hơn. Vấn đề không phải là “việc sử dụng hỏa lực bừa bãi,” nhưng là “những tội về việc sử dụng hoàn toàn bừa bãi –như là vấn đề về chính sách trong những khu vực đông dân cư.” Ngay cả phần trước là một vi phạm trắng trợn Công ước Geneva; tội trạng thứ hai dẫn thẳng đến bến tàu ở Nuremberg hoặc “The Hague.”
Kể từ khi Tướng Creighton Abrams công khai ca ngợi Sư đoàn IX cho công việc của nó, và đã thu hút sự chú ý ở bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào mà ông ta có thể, đối với sự thành công to lớn của Chiến dịch Hỏa tốc, chúng ta có thể chắc chắn rằng ban lãnh đạo chính trị ở Washington không phải là không biết. Quả thật, mức độ quản trị vi mô được tiết lộ trong cuốn hồi ký của ông Kissinger cấm đoán ý tưởng là bất cứ điều gì quan trọng xảy ra mà không có sự hiểu biết hoặc cho phép của ông ta.
Điều nầy không là gì thật sự hơn so với sự tham gia cá nhân của riêng ông ta trong cuộc dội bom và cuộc xâm lược Cam-pu-chia và Lào trung lập. Bị ám ảnh với ý tưởng rằng việc khoan nhượng Việt Nam có thể được truy nguồn đến những đồng minh hoặc các nguồn lực bên ngoài đến chính Việt Nam, hoặc có thể được vượt qua bởi chiến thuật hủy diệt hàng loạt, ông Kissinger vào một thời điểm đã dự định sử dụng vũ khí nhiệt hạt nhân để xóa bỏ tuyến đường xuyên qua vốn chạy dài sự liên kết đường sắt từ miền Bắc Việt Nam đến Trung Quốc, và vào một giai đoạn khác, đã xét đến việc thả bom những con đê vốn ngăn ngừa hệ thống thủy lợi của miền Bắc Việt Nam khỏi tạo nên lũ lụt đất nước. Không một biện pháp trong những điều nầy (theo một cách tương ứng được báo cáo trong lịch sử của Tad Szulc về chính sách ngoại giao thời Nixon và bởi vị sĩ quan phụ tá trước đây của ông Kissinger, Roger Morris) đã được thực hiện, mà qua đó loại bỏ được một số tội phạm chiến tranh tiềm năng từ bản cáo trạng của chúng ta nhưng qua đó cũng biểu lộ một trạng thái tâm lý trị vì. Ở đó vẫn còn Cam-pu-chia và Lào, vốn được cho là che giấu hoặc bảo vệ các tuyến đường cung cấp của miền Bắc Việt Nam.

(Cuộc “xâm lược” Nam Lào theo như tác giả nhắc đến là Chiến dịch Lam
Sơn 179 (hoặc Chiến dịch Hạ Lào ‘71) với sự kết hợp giữa Không lực Hoa Kỳ
những lực lượng của Việt Nam Cộng hòa, và của Vương quốc Lào tấn công vào
những khu tồn trữ vũ khí và những căn cứ nén quân của Cộng sản Hà Nội dọc
theo Đường mòn Hồ Chí Minh, ăn sâu qua khỏi biên giới Lào trong Quân khu I)
(Chú giải: hình vuông là căn cứ hỗ trợ hỏa lực của Cộng sản; hình tròn là bãi đáp)

(Những tuyến đường xâm nhập của những lực lượng Cộng sản Hà Nội,
trên cái gọi là Đường mòn Hồ Chí Minh, được mở rộng qua khỏi biên
giới Lào và tràn xuống biên giới Cam-pu-chia trong âm mưu gây chiến
tranh trên miền Nam Việt Nam. Và đây là bằng chứng xác đáng nhất
mà tác giả dường như không dám xác nhận là sự thật)

p34

Như trong những vụ kiện được mặc nhận bởi Tướng Telford Taylor, đó là tội ác của cuộc chiến tranh xâm lược và kế đó có một câu hỏi về những tội ác chiến tranh. (Vụ kiện Koki Hirota được trích dẫn ở bên trên có tầm quan trọng ở đây.) Trong giai đoạn sau Thế Chiến thứ II, hoặc giai đoạn bị chi phối bởi Hiến chương Liên Hiệp Quốc và những Công ước liên quan và hợp nhất của nó, Hoa Kỳ dưới chính quyền của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa đã từ chối, thậm chí những đồng minh gần gũi nhất của nó, quyền xâm lược những quốc gia vốn bị cáo buộc tạo nơi trú ẩn cho những người đối lập chính trị của họ. Nổi tiếng nhất là, Tổng thống Eisenhower đã tận dụng áp lực về kinh tế và ngoại giao ở mức độ cao nhằm chấm dứt cuộc xâm lược Ai Cập bởi Anh, Pháp, và Israel vào tháng Mười năm 1956. (Người Anh Quốc nghĩ rằng ông Nasser không nên kiểm soát Kênh đào Suez “của họ”; người Pháp tin rằng ông Nasser là sự cảm hứng và là nguồn nẩy sinh sự rắc rối của họ ở Algeria; và người Israel tuyên bố rằng ông ta đóng cùng một vai trò trong việc khích động những khó khăn của họ với những người Palestine. Hoa Kỳ kiên quyết rằng dù là những tưởng tượng tuyên truyền nầy là sự thật, họ sẽ không nhìn về quá khứ hợp pháp hóa cuộc xâm lược Ai Cập.) Trong suốt cuộc chiến tranh Algeria cho nền độc lập, cũng thế, Hoa Kỳ đã cự tuyệt quyền được tuyên bố của Pháp nhằm tấn công một thị trấn ở Tunisia láng giềng vốn giúp đỡ những du kích quân Algeria, và vào năm 1964, Đại sứ Adlai Stevenson tại Liên Hiệp Quốc đã kết án Vương quốc Anh cho việc tấn công một thị trấn ở Yemen vốn bị cáo buộc cung cấp sự canh giữ phía sau cho những phiến quân đang hoạt động trong vùng thuộc địa Aden sau nầy.
Tất cả luật lệ nầy và tiền lệ trước đây đã bị ném vào những cơn gió khi ông Nixon và ông Kissinger quyết định phóng đại khái niệm về “cuộc theo đuổi nóng” vượt qua những biên giới Lào và Cam-pu-chia. Ngay cả trước khi cuộc xâm lược lãnh thổ thực sự đất nước Cam-pu-chia, thí dụ, và không bao lâu ngay sau khi việc đạt đến quyền lực của ông Nixon và ông Kissinger, một chương trình về việc dội bom mãnh liệt một đất nước đã được chuẩn bị và thực hiện trong bí mật. Người ta có thể, với một sự thay đổi ý kiến đột ngột nào đó, gọi nó là một “thực đơn” của việc dội bom, kể từ khi những cái mật mã cho các cuộc đột kích là “Ăn sáng,” “Ăn trưa,” “Ăn nhẹ,” “Ăn tối” và “Ăn tráng miệng.”

p35

Những cuộc đột kích được cất cánh bởi những chiếc máy bay dội bom B-52 mà qua đó, điều quan trọng để ghi chú ngay từ đầu, bay ở một độ cao quá cao không thể được quan sát từ mặt đất và mang những trọng tải to lớn của chất nổ mạnh: chúng không cho một báo trước nào về việc tiến gần và không có khả năng về sự chính xác hoặc phân biệt bởi vì cả độ cao và lẫn trọng lượng của những quả bom của họ. Trong khoảng ngày 18 tháng ba năm 1960 và tháng Năm của năm 1970, có khoảng 3.630 các cuộc đột kích như thế được bay qua biên giới Cam-pu-chia. Chiến dịch dội bom bắt đầu như nó phải tiếp tục –với đầy đủ sự hiểu biết về ảnh hưởng của nó trên những thường dân, và với sự đánh lừa trắng trợn của ông Kissinger về mặt chính xác nầy.
Thí dụ, một văn bản ghi nhớ được chuẩn bị bởi Bộ Tham mưu Kết hợp và được gởi cho Bộ Quốc phòng và Nhà Trằng nói thẳng là “một số thương vong Cam-pu-chia, sẽ được duy trì trong hoạt động” và “hiệu quả bất ngờ của cuộc tấn công có thể có xu hướng gia tăng những thương vong.” Những quận huyện mục tiêu cho đợt dội bom “Ăn sáng” (từ Khu Căn cứ 35) là nơi dân cư sinh sống, văn bản ghi nhớ cho biết, của khoảng 1.640 thường dân Cam-pu-chia. Đợt dội bom “Ăn trưa” (từ Khu Căn cứ 609) là trên nơi sinh sống của 198 người họ, đợt “Ăn nhẹ” (từ Khu Căn cứ 351) của 383 người, đợt “Ăn tối” (từ Khu Căn cứ 352) của 770 người, và đợt “Ăn tráng miệng” (từ Khu Căn cứ 350) của khoảng 120 nông dân Cam-pu-chia. Những con số chính xác kỳ quặc nầy thì đủ theo chính những hình ảnh con số để chứng minh rằng ông Kissinger đang nói dối khi ông ta sau đó nói với Ủy ban Đối ngoại Thượng viện rằng những khu vực của Cam-pu-chia được chọn lựa cho cuộc dội bom “không có dân sinh sống.”
Như là một kết quả của những chiến dịch dội bom được mở rộng và tăng cường, theo ước tính rằng nhiều như khoảng 350.000 thường dân như ở Lào và 600.000 ở Cam-pu-chia, bị mất mạng. (Những điều nầy không phải là những ước tính cao nhất.) Những con số về những người tị nạn thì gấp bội con số đó. Thêm vào đó, việc sử dụng rộng rãi những thuốc khai hoang hóa chất đầy độc tố đã tạo ra một cuộc khủng hoảng về sức khoẻ cho số đông mà qua đó theo cách tự nhiên gây ảnh hưởng một cách nặng nề, hầu hết trên những trẻ em, những người mẹ cho con bú, những người già, và những ốm yếu từ trước, và qua đó nó kéo dài đến ngày nay.
Mặc dù cuộc chiến kinh khủng nầy, và những hậu quả kinh hoàng của nó, có thể và nên được nhận lấy như là một cuộc khủng hoảng về đạo đức và chính trị đối với thể chế Mỹ, đối với ít nhất là năm vị Tổng thống Hoa Kỳ, và đối với xã hội Mỹ, có rất ít khó khăn trong việc xác định trách nhiệm cá nhân trong suốt giai đoạn nầy, một giai đoạn dã man và bừa bãi nhất của nó.

p36

Richard Nixon như là vị Tổng Tư lệnh chịu trách nhiệm tối hậu, và chỉ suýt thoát khỏi một động thái của Quốc hội nhằm bao gồm những tội ác và những sự lừa bịp của ông ta ở Đông Dương trong các điều khoản luận tội, công bố mà qua đó cuối cùng buộc phải đưa đến việc từ chức của ông ta. Nhưng vị phụ tá và là vị cố vấn thân cận nhất của ông ta, Henry Kissinger, đôi khi buộc phải, và đôi khi cưỡng ép chính mình, vào trong một vị trí của chức vụ đồng-Tổng-thống thực sự ở nơi mà Đông Dương được quan tâm.
Thí dụ, trong những chuẩn bị cho cuộc xâm lược Cam-pu-chia vào năm 1970, ông Kissinger bị mắt kẹt giữa những quan điểm của ban nhân viên của mình –nhiều người trong số họ đã từ chức trong việc phản đối khi cuộc xâm lược bắt đầu– và nhu cầu của ông ta để làm hài lòng vị Tổng thống của mình. Vị Tổng thống của ông ta lắng nghe hai cộng sự viên tội ác của mình –John Mitchell và Bebe Rebozo– hơn ông ta đã làm đối với vị Bộ Trưởng Ngoại giao và vị Bộ Trưởng Quốc phòng của mình, là William Rogers và Melvin Laird, cả hai người họ rất hoài nghi về việc mở rộng cuộc chiến tranh. Vào một dịp gây thu hút đặc biệt, một ông Nixon say rượu gọi điện thoại cho ông Kissinger để bàn thảo về những kế hoạch xâm lược. Ông ta sau đó đặt Bebe Rebozo trên đường dây. “Tổng thống muốn ông bạn biết nếu kế hoạch nầy không đạt được kết quả, ê Henry, chính là cái hậu môn của ông bạn.”“Có đúng không, ông Bebe ?” Vị Tổng Tư lệnh rề rà nói. (Cuộc trò chuyện được giám sát và ghi chép ra bởi một trong những nhân viên sắp từ chức của ông Kissinger, William Watts.*) Có thể nói rằng trong trường hợp nầy, vị Cố vấn An ninh Quốc gia bị áp lực; tuy nhiên ông ta đã đứng về phía của phe ủng hộ cuộc xâm lược và, theo cuốn hồi ký của Tướng William Westmoreland, thực sự vận động cho cuộc xâm lược đó tiến hành.

(Chiến dịch Cam-pu-chia hoặc cuộc Xâm nhập Cam-pu-chia từ
29/04–22/07/1970 là sự phối hợp của ba lực lượng: Hoa Kỳ, Việt
Nam Cộng hòa và Cộng hòa Khmer –dưới Tướng Lon Nol sau khi
hạ bệ Hoàng tử Norodom Sihanouk– nhằm tiêu diệt những căn cứ
tồn trữ vũ khí gây nên cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân ‘68)

Một bức tranh có phần nào vững chắc hơn được trình bày bởi vị Tham mưu Trưởng H.R. Haldeman trong cuốc sách “Diaries” (“Những hồi ký”) của ông ta. Vào ngày 22 tháng Mười Hai năm 1970, ông đã ghi lại :

Ông Henry có ý tưởng với nhu cầu gặp gỡ với Ngài P [Tổng thống] hôm nay với Al Haig và sau đó vào ngày mai với ông Laird và ông Moorer bởi vì ông ta phải sử dụng Ngài P [Tổng thống] để buộc ông Laird và quân đội tiến hành với kế hoạch của Ngài P [Tổng thống], mà qua đó họ sẽ không tiến hành mà không có những mệnh lệnh trực tiếp. Những kế hoạch trong sự nghi ngờ, đã lôi cuốn… việc tấn công những lực lượng đối phương ở Lào.

=============
* Theo ông Woodward và ông Bernstein, ông Watts sau đó trao đổi với Tướng Alexander Haig, vốn là người đã nói với ông ta: “Ông bạn vừa có lệnh từ vị Tổng Tư lệnh của mình. Ông bạn không thể từ chức.” — “Mẹ kiếp mầy, Al,” ông Watts nói. “Tôi vừa mới từ chức.”
=============

p37

Trong cuốn hồi ký của riêng mình, “White House Years” (“Những năm trong Nhà Trắng”), ông Kissinger tuyên bố rằng ông ta đã lấn chiếm chuỗi chỉ huy quen thuộc nhờ đó những vị chỉ huy trên chiến trường nhận được, hoặc tin rằng họ nhận được, những mệnh lệnh của mình từ Tổng thống và sau đó là Bộ trưởng Quốc phòng. Ông tự hào rằng ông ta cùng với ông Haldeman, Alexander Haig và Đại tá Ray Sitton, đã làm tiến triển “cả hai lịch trình về quân đội và ngoại giao” cho việc dội bom bí mật vào Cam-pu-chia. Trên chiếc máy bay dành cho Tổng thống, Air Force One, vốn đang nằm trên đường băng tại phi trường Brussels vào ngày 24 tháng Hai năm 1969, ông ta viết, “chúng tôi lập ra những nguyên tắc hướng dẫn về cuộc dội bom vào những khu bảo mật của đối phương.” Đại tá Không quân, Sitton, một chuyên gia đang nắm quyền về chiến thuật B-52 tại Bộ Tham mưu Kết hợp, lưu ý rằng Tổng thống không có mặt tại buổi họp nhưng đã nói rằng ông ta sẽ thảo luận chủ đề với ông Kissinger. Một vài tuần sau đó, theo cuốn sách “Haldeman’s Diaries” (“Những hồi ký của Haldeman”) vào ngày 17 tháng Ba ghi chép :

Ngày lịch sử. “Chiến dịch Bữa Ăn sáng” của ông K [issinger] cuối cùng đã cất cánh lúc 2.00 P.M. theo thời gian của chúng tôi. Ông K [issinger] thực sự hứng khởi, như là vị Tổng thống.

Phần viết thêm vào của ngày hôm sau, đọc thấy :

“Chiến dịch Bữa Ăn sáng” của ông K [issinger] là một thành công lớn. Ông bước vào tươi cười rạng rỡ với bản báo cáo, rất hiệu quả.

Điều đó chỉ trở nên tốt hơn. Vào ngày 22 tháng Tư 1970, ông Haldeman báo cáo rằng ông Nixon, theo sau ông Kissinger vào trong một cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia về Cam-pu-chia, “quay lại nhìn tôi với nụ cười lớn và nói: “ông K [issinger] thực sự đang niềm vui hôm nay, ông ta đang đóng vai Bismarck.”
Phần trên đây là một sự xúc phạm đối với “Chưởng ấn Sắc thép.” Khi ông Kissinger cuối cùng bị phơi bày ở Quốc hội và báo chí cho việc tiến hành cuộc dội bom không có thẩm quyền, ông ta yếu ớt bào chữa rằng những cuộc đột kích không phải là bí mật gì cả, thực sự, bởi vì Hoàng tử Sihanouk của Cam-pu-chia đã biết về chúng. Ông ta phải được nhắc nhở rằng một vương hầu nước ngoài không thể cho phép một quan chức Mỹ vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ. Hoặc, đối với vấn đề của việc đó, ông ta cũng không có thể cho phép một quan chức Mỹ tàn sát những con số lớn gồm những thường dân của “riêng” mình. Điều khó khăn để tưởng tượng rằng một ông Bismarck đang co rúm lại phía sau một lý do bào chữa đáng khinh. (Hoàng tử Sihanouk, điều đáng ghi nhớ là, sau đó đã trở thành một con rối hèn hạ của chế độ Khmer Đỏ.)

(Otto Eduard Leopold, là Hoàng tử Bismarck, và là Công tước Lauenburg
(1815–1898), được biết đến như là Otto von Bismarck, còn có danh hiệu là
“Chưởng ấn Sắc thép” –với đường lối ngoại giao Chính trị Thực dụng và
quyền lực cai trị– là một nhà chính khách Prussia vốn là người thống trị
những vấn đề của Đức và Âu châu với những chính sách bảo thủ của mình.
Ông ta đã kết hợp hầu hết những tiểu bang của Đức trở thành một Đế quốc
Đức và tạo cán cân quyền lực để giữ hòa bình ở Âu châu)

(Trong một cuộc gặp gở ở Beijing vào năm 1956, từ trái sang phải là Mao
Zedong, Peng Zhen, Norodom Sihanouk, Liu Shaoqi. Hoàng tử Sihanouk
của Cam-pu-chia là nhà chính khách thân cộng: một mặt ông ta thỏa
thuận với Hà Nội và Beijing để chấp chứa vũ khí và cán binh Cộng sản
miền Bắc, một mặt tuyên bố chính sách trung lập. Như câu phát biểu của
ông ta vào năm 1979 sau khi kết hợp với Khmer Đỏ chống lại Cộng sản
Việt Nam: “Chế độ quân chủ đã bị bãi bỏ, tôi chỉ đấu tranh cho nền độc
lập của đất nước mình, ‘ngay cả khi đất nước phải là Cộng sản’.”
)

p38

Đại tá Sitton bắt đầu chú ý thấy rằng đến cuối năm 1969, văn phòng của của riêng ông ta thường xuyên văn phòng bị gạt bỏ trong vấn đề chọn lựa những mục tiêu. “Không phải chỉ là ông Henry cẩn thận sàng lọc những cuộc đột kích,” ông Sitton nói, “ông ta đọc những nguyên bản tình báo” và nghịch vớ vẩn với những sơ đồ dội bom theo sứ mệnh và những đường bay dội bom. Ở các bộ phận khác của cầu vòm bên trong Washington, điều đó cũng được chú ý thấy rằng ông Kissinger đang trở thành một người cầm đầu Ủy ban Công nhân Xuất sắc của Liên Xô. Ngoại trừ Ủy ban Bốn mươi rất quan trọng, vốn lên kế hoạch và giám sát tất cả những hoạt động bí mật ở nước ngoài, ông ta giữ chức Chủ tịch Nhóm Hành động Đặc biệt Washington (WSAG = Washington Special Action Group), Ban hội thẩm Xác nhận, vốn có liên quan đến việc kiểm soát vũ khí, Nhóm Nghiên cứu Đặc biệt về Việt Nam, vốn giám sát việc tiến hành chiến tranh ngày-nầy-đến-ngày-khác, và Ủy ban Xét lại Chương trình Quốc phòng, vốn giám sát ngân sách của Bộ Quốc phòng.
Vì vậy, không thể nào đối với ông ta để tuyên bố rằng ông ta không được biết về những hậu quả của các cuộc dội bom Cam-pu-chia và Lào; ông ta biết nhiều hơn về chúng, và trong chi tiết riêng tư hơn, so với bất kỳ cá nhân nào khác. Hoặc ông ta cũng không phải bị giam cầm trong một nền văn hóa vâng phục vốn không cho ông ta một sự lựa chọn thay thế nào khác, hoặc không có những cuộc tranh luận đối nghịch. Nhiều thành viên cao cấp của ban nhân viên của riêng ông ta, đáng chú ý nhất là Anthony Lake và Roger Morris, đã từ chức trên việc xâm lược Cam-pu-chia, và hơn hai trăm nhân viên của Bộ Ngoại giao ký tên vào một thỉnh thư phản đối được gởi đến Bộ trưởng Ngoại giao William Rogers. Quả thật, như đã được lưu ý, cả ông Rogers và Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird phản đối chính sách dội bom của B-52, như chính ông Kissinger ghi lại với một sự ghê tởm nào đó trong cuốn hồi ký của riêng mình. Quốc hội cũng phản đối việc mở rộng của cuộc dội bom (có lần đã đồng ý để ngày càng có được thông tin về nó) nhưng, ngay cả sau khi chính quyền Nixon–Kissinger đã cam đoan ở nhà Quốc hội Capitol Hill là không tăng cường các cuộc đột kích, có một sự gia tăng 21 phần trăm của cuộc dội bom Cam-pu-chia trong những tháng từ tháng Bảy–tháng Tám năm 1973. Những bản đồ của Lực lượng Không quân về nhưng khu vực được chấm mục tiêu cho thấy chúng có hoặc, đã từng có dân cư đông đúc.
Đại tá Sitton thực sự gợi nhớ lại, ắt hẳn được chấp nhận, là ông Kissinger yêu cầu rằng cuộc dội bom nên tránh những thương vong dân sự. Động cơ rõ ràng của ông ta trong việc đưa ra yêu cầu nầy là để tránh hoặc chận trước những than phiền từ chính phủ của Hoàng tử Sihanouk. Nhưng điều nầy không làm được gì nhiều hơn trong chính nó là chứng minh rằng ông Kissinger nhận biết về điều có thể có của những cái chết thường dân.

p39

Nếu ông ta đã biết đủ để biết về khả năng có thể có của chúng, và là người điều hành chính sách vốn gây ra chúng, và cũng không thúc ép bất kỳ những biện pháp phòng ngừa thiết thực nào, cũng không khiển trách bất kỳ những người vi phạm nào, như thế việc thưa kiện chống lại ông ta về mặt pháp lý và về mặt đạo đức được hoàn thành.
Sớm như vào đầu thu năm 1970, một điều tra viên độc lập có tên là Fred Branfman, vốn là người nói được tiếng Lào và biết về đất nước khi còn là một tình nguyện viên dân sự, đã đi đến Bangkok và phỏng vấn Jerome Brown, một sĩ quan nhắm mục tiêu trước đây cho Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở thủ đô Lào, Vientiane. Người đàn ông đã về hưu khỏi Lực lượng Không quân bởi vì sự vỡ mộng của mình cho việc vô ích của cuộc dội bom và sự khiếp đảm của anh ta về sự thiệt hại đã gây ra cho những thường dân và xã hội. Tốc độ và độ cao của những chiếc máy bay, anh ta cho biết, có nghĩa là những mục tiêu thì hầu như không thể nào phân biệt được từ trên không. Những phi công sẽ thường hay quyết định thả những quả bom khi những miệng núi lửa đã có sẵn rồi, và chọn những ngôi làng như là những mục tiêu bởi vì chúng có thể được nhận diện ngay tức khắc hơn so với những quân du kích Pathet Lào tán bị cáo buộc đang ẩn náu trong rừng rậm. Anh Branfman, người mà tôi đã phỏng vấn ở San Francisco, vào mùa hè năm 2000, tiếp tục cung thông tin nầy và thông tin khác cho Henry Kamm và Sydney Schanberg của tờ báo New York Times, cho Ted Koppel của đài tin tức ABC, và cho nhiều người khác. Anh ta cũng đã viết tường tận và công bố những phát hiện của mình trên tạp chí Harper nơi mà chúng không bị phủ nhận bởi bất kỳ thẩm quyền nào. Dưới áp lực từ Đại sứ quán Hoa Kỳ, các nhà chức trách Lào đã cho người trục xuất Branfman trở lại Hoa Kỳ, mà qua đó có thể là, từ những quan điểm của họ, một sai lầm. Anh ta có khả năng tạo nên một sự xuất hiện đầy ấn tượng ở nhà Quốc hội Capitol Hill vào ngày 22 tháng Tư năm 1971 tại một buổi điều trần được tổ chức bởi Trợ-Ủy ban Thượng viện về Người tị nạn của Thượng nghị sĩ Edward Kennedy. Những nhân vật phản diện của ông ta là đặc sứ William Sullivan của Bộ Ngoại giao, vị Đại sứ trước đây cho nước Lào. Anh Branfman buộc tội ông ta trước những máy ảnh về việc giúp che giấu bằng chứng mà xã hội Lào đang bị cắt xẻ bởi việc bắn phá dã man từ trên không.
Một phần như là một kết quả, Dân biểu Pete McCloskey của tiểu bang California (một cựu chiến binh có nhiều huân chương trong cuộc chiến tranh ở Hàn Quốc) đã ghé thăm Lào và đòi hỏi một bản sao của cuộc nghiên cứu nội bộ Đại sứ quán Hoa Kỳ về việc dội bom. Ông ta cũng thuyết phục Lực lượng Không quân Hoa Kỳ cung cấp cho ông ta những không hình về sự thiệt hại đáng kể.

p40

Vị Đại sứ Sullivan cảm thấy rất bối rối bởi những hình ảnh nầy, một số của chúng được chụp lại trong những khu vực được biết đến đối với ông ta, mà qua đó phản ứng trước tiên của ông ta là thiết lập sự hài lòng của riêng mình là các cuộc đột kích đã xảy ra sau khi ông ta rời khỏi nơi nhiệm chức của mình ở thủ đô Vientiane. (Ông ta sau đó biết rằng, trong những nổi đau của mình, máy điện thoại riêng của ông ta đã bị nghe lén do sự xúi giục của Henry Kissinger, một trong những vi phạm pháp luật Mỹ nhiều như thế mà qua đó bắt buộc đưa đến kết quả là vụ bê bối nghe-lén-và-trộm-cắp Watergate: một vụ bê bối mà hơn nữa ông Kissinger phải bào chữa –trong một vụ bùng nổ gây kinh ngạc về sự hợm mình, lừa dối và tự lừa dối– như là cái cớ vắng mặt của riêng ông ta đối với sự thiếu chú ý trong cuộc khủng hoảng Cyprus.)
Sau khi đã làm xong điều gì mà anh ta có thể để mang cơn ác mộng của dân Lào đến sự chú ý của những người mà công việc đúng với hiến pháp của họ là giám sát những câu hỏi như thế, anh Branfman đi trở lại Thái Lan và từ đó đến Phnom Penh, thủ đô Cam-pu-chia. Sau khi đã có được sự tiếp cận một điện đài của phi công, anh ta ghi âm lại những cuộc đàm thoại giữa những phi công trên những sứ mệnh dội bom trên vùng nội địa Cam-pu-chia. Không có dịp nào họ đã tiến hành bất kỳ những kiểm tra nào được thiết kế để bảo đảm lại cho chính mình và những người khác rằng họ không đang dội bom những mục tiêu dân sự. Điều đó đã chắc chắn được xác nhận, bởi phát ngôn viên được bổ nhiệm của chính phủ Hoa Kỳ, rằng những sự kiểm tra như thế phải được tiến hành. Anh Branfman trao những cuốn băng thu âm cho Sydney Schanberg, mà bài tường thuật của anh ta trên tờ báo New York Times đã được in ra ngay trước khi Thượng viện hội họp để cấm đoán việc oanh tạc dữ dội vào Cam-pu-chia xa hơn nữa (nghị quyết vừa ra vốn bị xem thường bởi ông Kissinger vào tháng sau).
Từ đó, anh Branfman đã đi trở lại Thái Lan và du hành về hướng bắc đến Nakhorn Phanom, trụ sở mới của Không lực thứ VII Hoa Kỳ. Ở đây, một phòng chiến tranh có tên mật mã là “Blue Chip” phục vụ như là trung tâm chỉ huy và kiểm soát của chiến dịch dội bom. Anh Branfman, vốn là người cao ráo và chắc nịch, có khả năng đóng vai như là một người tuyển dụng mới chỉ vừa mới lên từ Sài Gòn, và cuối cùng để được vào ngay chính phòng chiến tranh. Ở đây, những cái kệ và những bản đồ và những màn hình vẽ chương trình của cuộc bắn phá. Trong cuộc đàm thoại với một “sĩ quan dội bom” đang làm nhiệm vụ, anh ta hỏi xem những phi công có từng làm cuộc liên lạc trước khi thả xuống những đống hàng to lớn của vũ khí của họ không. “Ồ, vâng,” anh ta bảo đảm, “họ làm chứ.” — “Lo lắng về việc dội trúng những người vô tội không ?” — “Ồ, không — chỉ liên quan quan tâm về nơi ở đâu của ‘những đội quân trên mặt đất’ của CIA xâm nhập vào trong khu vực.” Bài tường thuật của anh Branfman về chuyện nầy, vốn đã được đăng lên bởi cột báo có nghiệp đoàn của Jack Anderson và cũng ở trên tờ báo Washington Monthly, thì tương tự như thế không bị phủ nhận bởi bất kỳ sự chối bỏ chính thức nào.

p41

Một lý do mà mệnh lệnh chỉ huy của Hoa Kỳ trong khu vực Đông Nam Á cuối cùng chấm dứt việc dùng đến cách kiểm điểm thô bỉ và khủng khiếp của việc “đếm thi thể” đó là, như trong một trường hợp tương đối nhỏ nhưng cụ thể của Chiến dịch Hỏa tốc được dẫn chứng ở bên trên, những con số bắt đầu trông đáng ngại như một điềm báo khi chúng được đếm lên. Đôi khi, những tổng số của “những người chết đối phương sẽ biến ra, khi được tính toán, là lớn hơn một cách đáng ngờ so với con số của “kẻ thù” được tuyên bố trong chiến trường. Tuy thế bằng cách nào đó, cuộc chiến tranh tiếp tục kéo dài, với những mục tiêu có định lượng mới được đặt ra và bặt buộc thực thi. Như thế, theo Lầu Năm Góc, sau đây là những con số thương vong giữa việc ngưng dội bom lần đầu tiên của Lyndon Johnson vào tháng Ba năm 1968 và cùng một thời điểm trong năm 1972:
Những người Mỹ 31.205
Quân chính quy của miền Nam Việt Nam 86.101
“Kẻ thù” 475.609

Trợ-Ủy ban Thượng viện Hoa Kỳ về Người tị nạn ước tính rằng trong cùng một giai đoạn bốn năm khá nhiều hơn ba triệu thường dân bị thiệt mạng, bị thương tích, hoặc bị làm cho vô gia cư. Trong cùng giai đoạn bốn năm đó, Hoa Kỳ đã thả gần 4,5 triệu tấn thuốc nổ mạnh trên Đông Dương. (một tổng số được ước tính của Lầu Năm Góc cho số lượng trọng tải được thả xuống trong toàn bộ Thế Chiến thứ II là 2,044 triệu.) Tổng số nầy không bao gồm những cuộc phun thả ào ạt những chất diệt cỏ và những thuốc trừ sâu hóa học, những ảnh hưởng mà qua đó vẫn đang được ghi lại bởi tính chất sinh thái của khu vực. Hoặc nó cũng không bao gồm những bãi mìn vốn phát nổ cho đến ngày nay.
Vẫn chưa rõ là làm cách nào chúng ta đếm tội giết người hoặc bắt cóc 35.708 dân thường Việt Nam bởi “Chương trình Phượng hoàng” phản-du-kích của CIA trong suốt hai năm rưỡi đầu tiên của chính quyền Nixon–Kissinger. Có thể là có một sự “chồng chéo” nào đó. Cũng có một sự chồng chéo nào đó với những hành động của những chính quyền trước đó trong tất cả trường hợp. Nhưng những con số tổng cộng của những người chết thực sự là quá cao mà tất cả đã xảy ra trên việc giám sát của Henry Kissinger, đã được biết đến và hiểu rõ bởi ông ta, đã bị che giấu từ Quốc hội, báo chí và công chúng bởi ông ta –bằng bất cứ giá nào là cách hay nhất trong khả năng của ông ta– và là, khi được đặt câu hỏi, một chủ đề của những mối thù huyết thống về mặt chính trị và mặt quan liêu được ra mệnh lệnh bởi ông ta. Chúng cũng là một phần kết quả của một quá trình bí mật và bất hợp pháp ở Washington, không được biết đến ngay cả đối với những thành viên Nội các, mà trong số đó Henry Kissinger đứng ở vị trí là, và trở nên, một người hưởng lợi chính.

p42

Trên quan điểm khép kín đó, người ta có thể một lần nữa dẫn chứng H.R. Haldeman, vốn là người không có lý do nào hơn nữa để nói dối và vốn là người, trước lúc bài viết của ông ta, đã phải trả cho những tội ác của mình bằng cách chấp bản án trong nhà tù.
Ông Haldeman mô tả khoảnh khắc ở Florida khi ông Kissinger nổi giận bởi một câu chuyện trên tờ báo New York Times kể một phần nào sự thật về Đông Dương :

Ông Henry gọi điện thoại cho J. Edgar Hoover ở Washington từ Key Biscayne (i.e. là một phố đảo thuộc quận Miami-Dade, tiểu bang Florida) vào buổi tháng Năm mà câu chuyện trên tờ báo Times Xuất hiện.
Theo văn bản ghi nhớ của ông Hoover về cuộc gọi, ông Henry nói rằng câu chuyện sử dụng “thông tin bí mật mà qua đó gây tổn hại cực kỳ.” Ông Henry tiếp tục nói với ông Hoover rằng ông ta “tự hỏi liệu tôi có thể làm một nỗ lực lớn để tìm ra việc đó đến từ đâu đó… và đặt bất cứ những nguồn tài lực nào mà tôi cần để tìm ra ai đã làm việc nầy. Tôi nói với ông ta rằng tôi sẽ lo liệu việc nầy ngay lập tức.”
Ông Henry không ngốc, dĩ nhiên. Ông ta gọi điện cho ông Hoover một vài giờ sau đó để nhắc nhở ông ấy rằng việc điều tra nên được tiến hành một cách kín đáo “như thế, không có những câu chuyện nào sẽ lọt ra ngoài.” Ông Hoover phải mỉm cười, nhưng nói được rồi. Và đến 5:00 giờ, ông ta đã trở lại trên điện thoại đến ông Henry với một báo cáo rằng tay phóng viên của tờ báo Times “có thể đã nhận được một số thông tin của hắn ta từ văn phòng Đông Nam Á thuộc Bộ Công vụ của Bộ Quốc phòng.” Cụ thể hơn là, ông Hoover đưa ý kiến rằng nguồn cung cấp có thể là một người đàn ông tên là Mort Halperin (một nhân viên của ông Kissinger) và một người đàn ông khác vốn là người làm việc trong Cơ quan Phân tích Hệ thống… Theo văn bản ghi nhớ của ông Hoover, ông Kissinger hy vọng rằng “tôi sẽ theo dõi sát việc đó xa như chúng ta có thể làm được và họ sẽ tiêu diệt bất cứ ai đã làm điều nầy nếu chúng ta có thể tìm ra hắn ta, bất kể là hắn ta đang ở đâu.”

Dòng cuối cùng của văn bản ghi nhớ đó đưa ra một sự phản ảnh chính xác về cơn thịnh nộ của ông Henry, như tôi nhớ điều đó.
Tuy thế, ông Nixon thì một trăm phần trăm đang ở phía sau những vụ nghe trộm. Và tôi cũng vậy. Và vì thế, chương trình bắt đầu, được gây cảm hứng bởi cơn giận dữ của ông Henry nhưng được ra lệnh bởi ông Nixon, vốn là người chẳng bao lâu mở rộng nó hơn nữa, thậm chí xa hơn để bao gồm cả những thông tín viên. Cuối cùng là, mười bảy người đã bị đặt máy nghe lén bởi FBI bao gồm bảy người ở ban nhân viên thuộc NSC (i.e. Hội đồng An ninh Quốc gia) của ông Kissinger và ba người ở ban nhân viên Nhà Trắng.

Và như thế đã xảy ra sự ra đời của “những người dò xét” và của cuộc công kích vào pháp luật và nền dân chủ Mỹ mà họ đã làm lễ nhậm chức. Bình luận về sự kết thúc đáng tiếc của tiến trình nầy, ông Haldeman viết là ông ta vẫn tin rằng cựu Tổng thống Nixon (vốn là người sau đó vẫn còn sống) nên đồng ý với việc đưa ra những cuốn thâu băng còn lại. Nhưng :

p43

Lần nầy, quan điểm của tôi rõ ràng là không được chia sẻ bởi người đàn ông vốn có một lý do cho sự quyết định ban đầu để bắt đầu tiến trình nghe lén. Henry Kissinger quyết tâm chận lại những cuốn băng thu âm khỏi đến được công chúng…
Ông Nixon hữu lý khi cho rằng ông Kissinger thực sự là một người vốn có nhiều điều nhất để mất từ những cuốn băng thu âm bước trở thành công cộng. Ông Henry rõ ràng cảm thấy là những cuốn băng thu âm sẽ gây ngạc nhiên rất nhiều điều mà ông ta đã nói rằng sẽ rất là bất lợi cho ông ta về mặt công chúng.
Ông Nixon nói rằng trong việc thực hiện sự thỏa thuận về thời gian tạm lưu giữ những giấy tờ Tổng thống của ông ta, mà qua đó ban đầu được công bố sau việc được tha miễn của ông ta nhưng sau đó bị bắn rơi bởi Quốc hội, chính là ông Henry vốn là người đã gọi đến ông ta và cố nài quyền hạn của ông Nixon để tiêu hủy những cuốn băng thu âm. Đó là, dĩ nhiên, điều vốn phá hủy sự thỏa thuận.

Một xã hội đã bị “thăm dò,” có quyền yêu cầu rằng những kẻ dò xét của nó buộc phải thực hiện một sự hoàn trả nào đó bằng cách tiết lộ hoàn toàn. Vụ thưa kiện để đưa những cuốn băng thu âm của ông Nixon ra công cộng chỉ hoàn thành một phần; không có một tường thuật trung thực nào về những năm của Chiến tranh Việt Nam sẽ được hoàn thành cho đến khi một phần của ông Kissinger trong cái gì mà chúng ta đã biết rồi, được làm cho hoàn toàn sáng tỏ.
Cho đến lúc đó, vai trò của ông Kissinger trong việc vi phạm pháp luật Mỹ vào cuối cuộc Chiến tranh Việt Nam tạo nên điều đối nghịch hoàn toàn đối với hoạt động bí ẩn của năm 1968 mà qua đó đã giúp ông ta lên nắm quyền ngay từ lúc đầu. Hai dấu ngoặc đứng khép lại một loạt những tội ác chiến tranh được toán tính trước vốn vẫn có sức mạnh làm choáng vàng sự tưởng tượng.

p44

Chương 04 : Bangladesh: Một cuộc Diệt chủng,
Một cuộc Đảo chính, và Một vụ Ám sát

Biên niên sử của ngoại giao Mỹ chứa nhiều trang không phai mờ về chủ nghĩa nhân văn, mà qua đó có thể, và nên, được thiết lập chống lại một số lưu lượng bẩn thỉu và mất nhuệ khí được ghi lại trong những trang nầy. Người ta có thể trích dẫn những công văn rất đặc biệt của năm 1915 của vị Đại sứ Henry Morgenthau từ nơi nhiệm chức của mình ở Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ, nơi mà ông ta đã sử dụng những báo cáo thuộc tòa lãnh sự và tình báo để cho ra cho một hình ảnh của cuộc thảm sát có chủ ý thuộc cấp nhà nước đối với nhóm dân tộc thiểu số Armenia, cuộc diệt chủng đầu tiên của thế kỷ XX. (Từ ngữ “diệt chủng” lúc đó chưa không được đặt ra, Đại sứ Morgenthau đã cần đến –theo một số cách biểu lộ cảm giác hơn– thuật ngữ “tội giết người đồng chủng.”)

(Đế quốc Ottoman và những nước chư hầu vào những thế kỷ 16–17, là nguồn
gốc của nước Thổ Nhĩ Kỳ sau nầy (Chú giải: màu đỏ đậm là những vùng mở
rộng nhất; màu đỏ nhạt: là những nước chư hầu gồm phần lớn Đông nam Âu
châu, Tây Á, Bắc Phi, và Đông bắc Phi (bán đảo Samali)

(Bản đồ Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) ngày nay trong vùng biển Đen và Địa
Trung Hải sau khi Đế quốc Ottoman bị sụp đổ sau Thế Chiến thứ I)

(Bản đồ hành chánh của vùng Caucacus: Armenia, Nakhchiva (phần tách
ra từ Armenia), Georgia, và Azerbaijan. Đó là những vùng tự trị của Soviet
thuộc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa)

(Vị trí của vùng Caucacus nằm hướng tây nam của Liên Xô, được
bao bộc bởi biển Caspitan ở hướng đông và biển Đen ở hướng tây bắc)

Đến năm 1971, từ ngữ “diệt chủng” là tất cả ý nghĩa quá dễ hiểu. Nó xuất hiện trong một điện thư phản đối từ lãnh sự quán Hoa Kỳ trong cái gì mà sau đó là vấn đề vùng Đông Pakistan –một “cánh” của dân Bengal thuộc nhà nước Hồi giáo của Pakistan, được biết đến với những dân cư cứng rắn thuộc phe Quốc gia của nó bằng tên Bangladesh. Bức điện thư được viết trên vào ngày 6 tháng Tư năm 1971 và bên ký kết cao cấp của nó, vị Tổng Lãnh sự ở thủ đô Dhaka, có tên là Archer Blood. Nhưng điều đó đã có thể trở nên được biết đến như là Bức điện tín Blood trong bất kỳ trường hợp nào. Cũng được gởi trực tiếp đến Washington, nó khác biệt từ tài liệu của ông Morgenthau trong một khía cạnh. Nó không báo cáo rất nhiều về cuộc diệt chủng như việc lên án sự đồng lõa của chính phủ Hoa Kỳ trong cuộc diệt chủng. Phần chính của nó đọc thấy như sau :

p45

Chính phủ của chúng tôi đã thất bại tố cáo sự đàn áp nền dân chủ. Chính phủ của chúng tôi đã thất bại tố cáo những hành vi tàn bạo. Chính phủ của chúng tôi đã thất bại dùng đến những biện pháp mạnh mẽ để bảo vệ những công dân của nó [trong khi đồng thời ra sức để xoa dịu một chính phủ bị khống chế, thuộc vùng Tây Pakistan] và để làm giảm bớt bất kỳ những mối quan hệ công cộng quốc tế không xứng đáng có tác động chống lại họ. Chính phủ của chúng tôi đã làm chứng cho điều gì mà nhiều người sẽ xét là sự phá sản đạo đức, một cách trớ trêu vào cùng một lúc khi Liên Xô gởi cho Tổng thống Yahya Khan một thông điệp về việc bảo vệ nền dân chủ, lên án việc bắt giữ vị lãnh đạo của một đảng phái có đa số lá phiếu được bầu chọn một cách dân chủ, ngẫu nhiên ủng hộ Tây phương và kêu gọi cho sự chấm dứt các biện pháp đàn áp và đổ máu… Tuy nhiên, chúng tôi đã chọn là không can thiệp, ngay cả về mặt đạo đức, trên cơ sở là cuộc xung đột của Đảng Awami (i.e. Dân tộc), mà trong đó đáng tiếc là một thuật ngữ cuộc diệt chủng bị khai thác quá mức có thể được ứng dụng, hoàn toàn là một vấn đề nội bộ của một nước có chủ quyền. Những người Mỹ cá biệt đã bày tỏ sự ghê tởm. Chúng tôi, như là những công chức chuyên nghiệp, thể hiện sự bất đồng của chúng tôi đối với chính sách hiện tại và nhiệt thành hy vọng rằng những quan tâm chân thực và lâu dài của chúng ta ở đây có thể được xác định và những chính sách của chúng ta được chuyển hướng.

(Cộng hoà Nhân dân Bangladesh là phần đất tách ra từ Tự trị Pakistan (còn
được gọi là vùng Tây Pakistan thuộc những dân cư Hồi giáo đông nhất chỉ
sau Indonesia, với diện tích là 796.095 km2 và dân số khoảng 182,5 triệu
–theo thống kê năm 2012), từ năm 1971, còn được gọi là vùng Đông Pakistan,
đa phần là dân cư Muslims với diện tích là 147.570 km2 và dân số khoảng 150
triệu –theo thống kê năm 2013. Trong khi đó Việt Nam có diện tích là
331.210 km2 và dân số khoảng 90,4 triệu –theo thống kê 2012)

(Bengal (hay Tây Bengal –màu đỏ sậm) nằm kế vùng Đông Pakistan (là
Bangadesh hay còn gọi là Đông Bengal –màu xanh đậm), nó có tiếng nói
riêng, và thủ đô là Kolkata. Bengal chiếm 88.752 km2 với dân số khoảng
91,3 triệu –theo thống kê năm 2011)

(Archer Blood, vị Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ cuối cùng ở thủ đô Dhaka,
Đông Pakistan được biết đến với Bức điện tín Blood có lời lẽ mạnh mẽ
phản đối chống lại những hành vi tàn bạo được nhúng tay vào trong
cuộc Chiến tranh Giải phóng Bangladesh của Đảng Dân tộc Quốc
gia vào năm 1971)

(Abdul Hamid Khan Bhashani, còn có biệt danh là “The Red Maulana”
(“Thượng đế Đỏ”), là vị lãnh tụ của Đảng Dân tộc Quốc gia (NAP =
National Awami Party) — được thành lập vào năm 1957, ở thủ đô Dhaka,
Đông Pakistan, sau đó lan tràn qua Tây Pakistan. Thực chất nó là Đảng
Cộng sản Pakistan mà sau nầy phe Đông Pakistan thân Trung Cộng và
phe Tây Pakistan thân Liên Xô)

Bức điện thư nầy được ký tên bởi hai mươi thành viên của nhóm ngoại giao Hoa Kỳ ở Bangladesh và trên đường đến Bộ Ngoại giao, được ký tên thêm bởi chín sĩ quan cao cấp ở bộ phận Nam Á. Đó là một mô hình thay đổi chiều hướng hành động công khai nhất và được diễn đạt mạnh mẽ nhất từ những công chức thuộc Bộ Ngoại giao cho Bộ Ngoại giao vốn đã từng được ghi nhận.
Những hoàn cảnh bảo đảm toàn diện cuộc biểu tình phản đối. Vào tháng Mười Hai năm 1970, tầng lớp ưu tú thuộc quân đội Pakistan đã cho phép các cuộc bầu cử mở ra lần đầu tiên trong một thập kỷ. Cuộc đầu phiếu dễ dàng giành được chiến thắng bởi Sheik Mujibur Rahman, vị lãnh đạo Liên đoàn Awami có căn cứ ở Bengal, vốn là người đã có được một đại đa số tổng thể trong một Quốc hội được đề cử. (Chỉ riêng ở vùng phía đông, nó đã thắng được 167 trong tổng số 169 ghế.) Điều nầy, trong số những điều khác, có nghĩa là một thách thức đối với quyền lãnh đạo chính trị và quân sự và kinh tế của “cánh” phía Tây. Quốc hội đã được lên lịch trình để gặp nhau vào ngày 3 tháng Ba năm 1971. Vào ngày 1 tháng Ba, Tướng Yahya Khan, người đứng đầu chế độ quân sự được cho sắp ra đi, đã hoãn lại việc triệu tập của nó. Điều nầy dẫn đến những cuộc biểu tình phản đối khổng lồ và sự bất tuân bất bạo động dân sự ở vùng phía đông.

(Sheikh Mujibur Rahman, Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Bangladesh, người
đứng đầu của Liên đoàn Awami (Awami League), còn được gọi là “Cha già
Dân tộc.” Mặc dù ông ta bị bắt trong những giờ sớm nhất của Chiến dịch
Searchlight (Chiến dịch Đèn pha)(09) của quân đội Pakistan, cuộc Chiến tranh
Giải phóng Bangladesh đã đạt được kết quả vào năm 1971. Sau khi thành lập
một đất nước độc đảng, vào tháng 8/1975, ông ta và hầu hết những người
trong gia đình bị ám sát bởi một nhóm sĩ quan cấp nhỏ)

p46

Vào ngày 25 tháng Ba, quân đội Pakistan đánh vào thủ đô Dhaka của dân Bengal. Sau khi bắt giữ và bắt cóc ông Rahman, và đưa ông ta đến vùng Tây Pakistan, nó bắt đầu tiến hành việc tàn sát những người ủng hộ ông ta. Cơ quan báo chí nước ngoài đã bị trục xuất trống vắng trước đó ra khỏi thành phố, nhưng phần lớn bằng chứng trực tiếp về chuyện gì đã xảy ra sau đó, được chuyển qua một máy truyền dẫn vô tuyến được điều hành bởi lãnh sự quán Hoa Kỳ. Chính Archer Blood cung cấp một bài tường thuật về một tập phim trực tiếp đến Bộ Ngoại giao và Hội đồng An ninh Quốc gia của Henry Kissinger. Sau khi đã chuẩn bị sẵn sàng cuộc phục kích, những binh sĩ chính quy Pakistan bắt lửa trong ký túc xá của nữ sinh viên tại trường đại học, và sau đó tàn sát những người cư ngụ như rạ bằng những khẩu súng máy khi họ tìm cách trốn thoát. (Những khẩu súng, cùng với tất cả loại vũ khí khác, đã được chu cấp dưới chương trình viện trợ quân sự của Hoa Kỳ.)
Những bài tường thuật khác, kể từ khi hoàn toàn được chứng minh, đã được cung cấp cho tờ báo London TimesSunday Times bởi một phóng viên dũng cảm Anthony Mascarhenas, và được truyền đi nhanh chóng khắp thế giới bị gây kinh hoàng. Việc hiếp dâm, giết người, chặt tay chân và việc giết những trẻ em thuộc cấp quốc gia đã được sử dụng như là những phương pháp đàn áp và đe dọa cố ý. Ít nhất là mười ngàn thường dân bị tàn sát trong ba ngày đầu. Tổng số cái chết của thường dân có thể xảy ra không bao giờ được đặt ở mức kém hơn một nửa triệu và được đặt lên cao như ba triệu người. Kể từ khi hầu hết tất cả những công dân Ấn Giáo đang trong tình trạng hiểm nghèo theo định nghĩa từ chủ nghĩa độc đoán của quân đội Pakistan (không phải là những người đồng đạo Hồi giáo của Pakistan được tha miễn), một sự di chuyển rộng lớn của hàng triệu người tị nạn –có lẽ nhiều như mười triệu người– bắt đầu vượt qua biên giới Ấn Độ. Tóm lại, sau đó: trước tiên là, sự phủ nhận trực tiếp một cuộc bầu cử dân chủ; thứ hai là, việc buông lỏng một chính sách diệt chủng; thứ ba là, việc tạo nên một cuộc khủng hoảng quốc tế rất nguy hiểm. Trong vòng một khoảng thời gian ngắn, Đại sứ Kenneth Keating, một nhà ngoại giao có hạng của Hoa Kỳ ở New Delhi, đã thêm vào tiếng nói của mình đến những người trong các nhà bất đồng chính kiến. Chính là lúc mà ông ta đã nói với Washington, khi một thế đứng có nguyên tắc chống lại những người có thẩm quyền của cuộc xâm lược và hành vi tàn bạo nầy cũng sẽ tạo ra một ý nghĩa thực tiễn hay nhất. Ông Keating, là Thượng nghị sĩ trước đây từ New York, đã sử dụng một câu rất gợi ý trong bức điện thư của ông ta vào ngày 29 tháng Ba năm 1971, qua việc kêu gọi đến chính quyền để “phàn nàn về sự tàn bạo nầy một cách tức thời, công khai, và rộ lên.” “Điều quan trọng nhất là những hành động nầy được hiện bây giờ,” ông đã cảnh cáo “trước khi sự xuất hiện không thể tránh khỏi và sắp xảy ra của những sự thật khủng khiếp.”

p47

Ông Nixon và ông Kissinger đã hành động một cách nhanh chóng. Đó là cách để nói, Archer Blood ngay tức thời được gợi nhớ lại từ bài viết của mình, và Đại sứ Keating được mô tả bởi Tổng thống cho ông Kissinger, với một sự khinh miệt nào đó, như là đã bị “chiếm lấy bởi những dân Ấn Độ.” Vào cuối tháng Tư năm 1971, tại một mức độ rất cao của việc giết người hàng loạt, ông Kissinger gởi một thông điệp đến Tướng Yahya Khan, cảm ơn cho “sự tinh tế và tài khéo xử” của ông ta.
Bây giờ chúng ta biết về một lý do tại sao vị Tướng rất được ưu ái, vào lúc khi ông ta đã khiến cho chính mình –và những người đỡ đầu của mình– phải chịu trách nhiệm về những tội ác chiến tranh và những tội ác chống lại nhân loại trắng trợ nhất. Vào tháng Tư năm 1971, đội tuyển ping-pong đã chấp nhận một lời mời bất ngờ để đấu ở Beijing và đến cuối tháng đó, bằng cách sử dụng đại sứ Pakistan như là một trung gian, những người có thẩm quyền Trung Quốc đã chuyển đến bức thư mời ông Nixon gởi một đại diện ngoại giao. Như thế, có một động lực của chính sách thực dụng cho sự xấu hổ mà ông Nixon và ông Kissinger phải đến thăm đất nước của riêng họ vì sự đồng lõa của nó trong sự hủy diệt những người Bengal.
Những người vốn thích bào chữa chính sách thực dụng, tuy nhiên, có thể ước muốn suy xét vài trường hợp xa hơn. Đã có, và từng đã có trong một thời gian, một thông tuyến phía sau giữa Washington và Beijing. Nó chạy qua đất nước Romania của Nicolae Ceauşescu –không phải là một sự lựa chọn nhiều trang trí hơn nhưng không phải, vào giai đoạn đó, là một phạm tội xác thực. Không có lý do nào để hạn chế những sự tiếp cận, đến một người không thể xem thường như Chou En Lai, đến một băng tầng hạn hẹp được tạo cho bởi kẻ bạo ngược đẫm máu (và chết yểu, khi vở lẽ ra) giống như một Yahya Khan “tế nhị và khéo léo.” Hoặc Chou En Lai muốn tiếp xúc, nói theo cách khác, hoặc là ông ta không muốn. Như Lawrence Lifschultz, nhà sử học chính của giai đoạn nầy, đã viết rằng :

Winston Lord, vị phụ tá của ông Kissinger tại Hội đồng An ninh Quốc gia, nhấn mạnh với những điều tra viên việc hợp lý hóa nội bộ được phát triển bên trong các cấp bên trên hơn của chính quyền. Ông Lord nói [với ban nhân viên của Ngân quỹ Carnegie dành cho Hòa bình Thế giới(10)] “Chúng tôi đã phải chứng tỏ với Trung Quốc, chúng tôi là một chính phủ đáng tin cậy để quan hệ.

p48

Chúng tôi phải cho Trung Quốc thấy rằng chúng tôi tôn trọng một người bạn hỗ tương.” Làm thế nào, sau hai thập kỷ của tình trạng thù nghịch vì tham chiến với nước Cộng hòa Nhân dân, sự hỗ trợ duy nhất cho đất nước Pakistan trong cuộc nội chiến đẫm máu của nó được xem là chứng tỏ cho Trung Quốc thấy rằng Hoa Kỳ “là một chính phủ đáng tin cậy để quan hệ” là một dự tưởng tạo vẻ khó hiểu mà qua đó những người quan sát hay chỉ trích cay độc hơn về các sự kiện, cả trong và lẫn bên ngoài chính phủ Hoa Kỳ, xem là một lời xin lỗi bào chữa cho sự thuận lợi dễ dàng của việc liên kết với thủ đô Islamabad (i.e. thủ đô của vùng Tây Pakistan) –một liên kết mà Washington không có một mong muốn khống chế nào để chuyển hướng.

Thứ hai là, sự hiểu biết về việc ngoại giao bí mật nầy và những đặc quyền kèm theo của nó rõ ràng mở thông cho vị Tướng Pakistan những hạn chế như thế như đã có thể kiềm chế ông ta. Ông ta nói với những người hợp tác gần gũi nhất của mình, bao gồm vị Bộ trưởng Thông tin của ông ta, G.W. Choudhury, mà sự thông hiểu riêng tư của ông ta với Washington và Beijing sẽ bảo vệ ông ta. Ông Choudhury sau nầy đã viết : “Nếu ông Nixon và ông Kissinger đã không cho ông ấy sự hy vọng giả tạo đó, ông ấy đã sẽ trở nên thực tế hơn.” Như thế, sự dàn xếp với ông ta trong vấn đề Trung Quốc làm gia tăng sự đồng lõa trực tiếp của ông Nixon và ông Kissinger trong những cuộc thảm sát. (Có một yếu tố suy xét khác nằm ngoài phạm vi của cuốn sách nầy, mà qua đó liên quan đến câu hỏi : tại sao ông Kissinger hạn chế việc ngoại giao với Trung Quốc của mình chỉ ở những băng tầng được cung cấp bởi chế độ độc tài hay chuyên chế Tại sao việc ngoại giao mở rộng không chỉ như là điều dễ dàng, nếu không là dễ dàng hơn ? Câu trả lời –mà qua đó cũng nằm ngoài phạm vi của cuốn sách nầy– rõ ràng là sự gian lận bí mật đó, trong khi không cần thiết trong chính nó, thì cần thiết nếu ông Nixon và ông Kissinger sắp sửa có thể nhận lấy công cho việc đó).
Có thể là điều đó không thể được tranh luận, trong bất kỳ trường hợp nào, mà sự tiết kiệm việc quan hệ thư từ riêng tư của ông Kissinger với Trung Quốc đáng là sự hy sinh cố ý của hàng trăm ngàn những thường dân Bengal. Và –qua đó vẫn là tệ hơn– những sự tiết lộ sau đó và đầy đủ hơn hiện nay cho phép chúng ta nghi ngờ rằng điều nầy quả thật là toàn bộ động cơ. Chính sách của ông Kissinger hướng đến Bangladesh cũng có thể đã được cũng tiến hành phần vì lợi ích riêng nó, như là một phương cách làm hài lòng sự thù oán của ông chủ chống lại Ấn Độ và như là một phương cách ngăn chận sự trỗi dậy của Bangladesh như là một quốc gia tự trị trong bất kỳ trường hợp nào.
Thuật ngữ ngoại giao phổ biến là “nghiêng về” –biểu hiện cho biết rằng sự hỗn hợp của các tín hiệu và những biến thái và mã số vốn mô tả một chính sách đối ngoại ưu chuộng mà qua đó thường hay quá bối rối không thể được thừa nhận một cách công khai– thực ra có nguồn gốc trong hồi tập thảm khốc nầy.

p49

Vào ngày 6 tháng Ba năm 1971, ông Kissinger triệu tập một cuộc họp tại Hội đồng An ninh Quốc gia và —trước khi có cuộc khủng hoảng trong những quan hệ Đông-Tây Pakistan mà đến lúc đó có thể hiển hiện và dự đoán được đối với những tham dự đó– khẳng định rằng không có một hành động tiền triệt nào được thực hiện. Những người có mặt vốn là những người đưa ý kiến rằng một sự cảnh cáo cho Tướng Yahya Khan nên được ban hành, trên cơ bản là khuyến cáo ông ta tôn vinh những kết quả bầu cử, ông ta đã phản đối một cách mạnh mẽ. Chính sách tiếp theo sau của ông ta như đã được lưu ý ở bên trên. Sau khi trở về từ Trung Quốc vào tháng Bảy, ông ta bắt đầu nói theo những câu về gần như của Mao về âm mưu Liên Xô–Ấn Độ chia cắt và thậm chí muốn sát nhập một phần của Pakistan, mà qua đó sẽ buộc Trung Quốc phải can thiệp vào phía bên Pakistan. (Trong việc theo đuổi ảo tưởng đối đầu nầy, ông ta đã gây khó chịu cho Đô đốc Elmo Zumwalt bằng cách ra lệnh cho ông ấy phải gởi đi chiếc hàng không mẫu hạm USS Enterprise từ bờ biển Việt Nam đến vịnh Bengal, trong khi không đưa cho nó một nhiệm vụ được tuyên bố nào.) Tuy nhiên, không có sự phân tích nào ở Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan CIA có thể được tìm thấy để bảo đảm sự dự đoán kỳ lạ như thế và, tại một cuộc họp của Nhóm Xét lại Cao cấp, ông Kissinger đã mất bình tĩnh đối với sự bất phục tùng nầy. “Tổng thống luôn luôn nói nghiêng về hướng Pakistan, nhưng mỗi dự kiến mà tôi nhận được thì trong chiều hướng ngược lại. Đôi khi, tôi nghĩ rằng tôi đang ở trong một viện tâm thần.” Nhà Trắng của ông Nixon, như nó xảy ra, đang ỏ trong một tiến trình trở thành, theo một cách chính xác là, một quyền lực mới, nhưng những thính giả của ông ta chỉ có thời gian để chú ý thấy điều đó –một thuật ngữ đã bước vào thứ tiếng riêng biệt của Washington về cuộc khủng hoảng và âm mưu.
“Tổng thống luôn luôn nói nghiêng về hướng Pakistan.” Điều đó ít ra là sự thật. Từ lâu trước đây, bất kỳ khái niệm nào về “phương sách ngoại giao với Trung Quốc” của ông ta thực ra thậm chí trong suốt những năm khi ông ta đả kích “Trung Quốc Đỏ” và những người đồng cảm của nó, ông Nixon chán ghét chính phủ Ấn Độ và thể hiện sự đồng cảm nồng nhiệt cho Pakistan. Nhiều người trong số những người viết tiểu sử và những người bạn thân của ông ta, bao gồm cả ông Kissinger, đã ghi lại điều không thích riêng biệt mà ông ta cảm thấy (theo một cách chính đáng hơn, có lẽ) đối với con người của bà Thủ tướng Indira Gandhi. Ông ta luôn luôn nói đến bà ta như là “con chó cái đó” và có lần bắt bà ta phải chờ đợi một khoảng thời gian bốn mươi lăm phút chưa từng xảy ra trước đây, ở bên ngoài của cửa Nhà Trắng của ông ta. Tuy nhiên, điều không thích được bắt nguồn với sự gớm ghét của ông Nixon đối với người cha của bà ta là Pandit Nehru, và với sự ghê tởm tổng quát hơn của ông ta đối với trách nhiệm của người đỡ đầu của ông Nehru –cùng với ông Makarios, ông Tito và ông Sukarno– cho Phong trào Phi phái.(11)

p50

Có thể không có nghi ngờ nào là, có hoặc không có một “con bài Trung Quốc” bị ngăn chận, Tướng Yahya Khan đã sẽ thích thú một buổi điều trần và bàn luận đồng cảm, từ vị Tổng thống nầy, và như thế từ vị Cố vấn An ninh Quốc gia nầy.

(Tổng thống Nixon và Nữ Thủ tướng đầu tiên, và cũng là vị Thủ tướng thứ 3 của
Ấn Độ vào năm 1971, Indira Priyadarshini Gandhi (1966–1977, và 1980–1984
(vì bị ám sát)). Bà ta là con của vị Thủ tướng Ấn Độ đầu tiên, Jawaharlal Nehru,
một cánh tay đắc lực của nhà đấu tranh dân chủ nổi tiếng Mahatma Gandhi)

Điều nầy cũng được mạnh mẽ cho thấy bởi cách hành xử theo sau của ông Kissinger, như là Bộ trưởng Ngoại giao, đối với Bangladesh như là một quốc gia và đối với Sheik Mujib, vị lãnh đạo của Liên đoàn Awami và sau nầy là người cha già của nền độc lập Bangladesh, như là một chính trị gia. Một sự thù nghịch và khinh miệt không ngớt là những yếu tố có dấu hiệu trong cả hai trường hợp. Ông Kissinger đã từng nhận được một số bài báo rất tồi và thậm chí nhạo báng về cách giải quyết của ông ta về cuộc khủng hoảng Bangladesh, và nó đã làm hỏng phần nào đó giờ khắc xem như tốt nhất của ông ta ở Trung Quốc. Ông đi đến sự oán hận những người dân Bangladesh và vị lãnh đạo của họ, và thậm chí so sánh (chuyện nầy theo nhân viên phụ tá của ông ta sau nầy, Roger Morris) ông Mujib với Allende.
Vừa khi ông Kissinger trở thành vị Bộ trưởng Quốc phòng vào năm 1973, ông ta hạ bệ tất cả những ai vốn đã ký tên vào việc biểu tình phản đối cuộc thảm sát vào năm 1971 (i.e. ở Chile). Vào mùa thu năm sau, 1974, ông ta gây ra một loạt các vụ làm mất mặt ông Mujib, sau đó trên chuyến viếng thăm đầu tiên của ông ấy đến Hoa Kỳ, như là người đứng đầu nhà nước. Tại Washington, ông Kissinger đã tẩy chay cuộc họp mười lăm phút mà ông Mujib được cho phép bởi Tổng thống Ford. Ông ta cũng phản đối sự yêu cầu chính yếu của ông Mujib, vốn là về những chuyến hàng viện trợ ngũ cốc khẩn cấp của Hoa Kỳ, và một số trợ giúp nào đó để giải tỏa nợ nần, nhằm mục đích phục hồi đất nước bị tàn phá quá nhiều bởi người bạn và là đồng minh của ông Kissinger. Trích dẫn từ Roger Morris một lần nữa: “Theo quan điểm của ông Kissinger, có phần nhiều là một thái độ khoanh tay, xa cách đối với họ. Vì họ có sự táo bạo để trở thành độc lập của một trong những nhà nước thân chủ của tôi, họ sẽ chết tiệt phải trôi nổi trên tình huống của riêng họ trong một thời gian.” Đó là khoảng thời gian nầy mà ông Kissinger đã nghe nói tuyên bố Bangladesh là “một quốc gia vô dụng đối với quốc tế,” một sự xét đoán mà qua đó, đến một mức độ mà nó trở thành sự thật, cũng là điều tự thỏa mãn.

(Salvador Guillermo Allende Gossens, vị Tổng thống thứ 29 của Chile từ 11/1970
–12/1973, được biết đến như một nhà Mác-xít, và là thành viên của Đảng Xã
hội, đã từng ra tranh cử một cách thành công cho chức vụ Tổng thống vào
những năm 1952, 1958, và 1954. Riêng nhiệm kỳ 1970, qua cuộc đảo chính
1973, ông ta bị lật đổ bởi Tướng Augusto Pinochet và tự sát sau bài diễn
thuyết tuyên thệ không từ chức)

Vào tháng Mười Một năm 1974, trên một chuyến công du ngắn ngủi khu vực vì mặt mũi, ông Kissinger đã dừng chân tám giờ ở Bangladesh và đưa ra một cuộc họp báo ba phút mà trong đó ông ta từ chối cho biết lý do tại sao ông ta đã gởi đi chiếc hàng không mẫu hạm USS Enterprise vào trong vịnh Bengal ba năm trước đây. Trong vòng vài tuần của chuyến khởi hành của ông ta, bây giờ chúng ta biết, một phần nhỏ tại đại sứ quán Hoa Kỳ ở thủ đô Dhaka bí mật bắt đầu một cuộc gặp gỡ với nhóm các sĩ quan Bangladesh vốn là những người đang lên kế hoạch cho cuộc một đảo chính chống lại ông Mujib.

p51

Vào 14 tháng Tám năm 1975, ông Mujib và bốn mươi thành viên của gia đình mình đã bị sát hại trong một cuộc chiếm cứ của quân đội. Những cộng tác viên chính trị thân cận nhất trước đây của ông ta đã bị đâm bằng lưởi lê đến chết trong những xà-lim nhà tù của họ một vài tháng sau sự kiện đó.*
Ủy ban Đối ngoại Thượng viện vào lúc đó đang tiến hành những cuộc thẩm tra náo động dư luận vào việc liên quan đến CIA với những vụ ám sát và lật đổ trong Thế giới Thứ ba. Khái niệm ngoại giao theo “phương hướng II,” nhờ đó một đại sứ Mỹ giống như Ed Korry ở Chile có thể tìm thấy rằng những sĩ quan tình báo của mình và những kết hợp quân sự đang tiến hành sau lưng và qua mặt ông ta, với những thẩm quyền bí mật từ Washington, và điều hành diễn biến theo cách của riêng họ, đã không trở thành một lề lối quen thuộc. Tuy nhiên, một cuộc nghiên cứu toàn diện bởi Lawrence Lifschultz của Đại học Yale, hiện thời mạnh mẽ đưa ra ý kiến rằng một âm mưu theo cách ngoại giao “phương hướng II” đã cũng được thực hiện ở Bangladesh.
Người đàn ông được cài vào như là vị Tổng thống của Bangladesh bởi các sĩ quan trẻ vốn là những người đã hạ sát ông Rahman, là Khondakar Mustaque, được nhận dạng chung chung như là nhà lãnh đạo của phần tử cánh hữu bên trong Liên đoàn Awami. Ông ta đau đớn để phải nói rằng cuộc đảo chính đã đến với ông ta như là một sự ngạc nhiên hoàn toàn, và rằng những vị thiếu tá trẻ vốn là những người đã dẫn dắt nó –Thiếu ta Farooq, Thiếu ta Rashid và bốn người khác, ở vị trí cầm đầu của một phân đội chỉ lên đến ba trăm người –đã “hành động riêng lẻ.” Ông ta nói thêm rằng ông ta chưa bao giờ gặp những sĩ quan nổi loạn trước đây. Những sự chối bỏ như thế dĩ nhiên là thói quen, hầu như là những vấn đề của nghi thức. Những lời phát biểu chắc chắn từ Washington cũng thế, vốn tuyên bố một cách không thay đổi rằng cuộc biến động chính trị nầy hay kia đã khiến cho cả một hệ thống thu thập tình báo to lớn lớn nhất và mạnh mẽ nhất của thế giới hoàn toàn mất cảnh giác. Lời tuyên bố được dự kiến đó, cũng, đã được thực hiện trong khoảng thời gian sau vụ ám sát ở thủ đô Dhaka.
Bài tường thuật (người ta có thể đặt tên nó là một phiên bản trùng hợp) rỉ ra tại mỗi điểm và tách ra ở nơi kiểm soát qua loa nhất. Major Rashid đã được phỏng vấn bởi Anthony Mascarhenas, một anh hùng phóng viên của cuộc chiến tranh Bangladesh, vào ngày kỷ niệm của cuộc đảo chính. Ông ta khẳng định rằng ông ta đã từng gặp anh Mustaque trước khi cuộc đảo chính, và một lần nữa vào những ngày ngay trước khi việc đó. Thật ra, một sĩ quan cấp cao Bangladesh đã sắp đặt ngày tháng cho những cuộc gặp gỡ giữa anh Mustaque và những người nổi loạn hơn sáu tháng qua trước khi cuộc lật đổ ông Mujib.
=============
* Vào năm 2000, những người chịu trách nhiệm đó đã bị kết án bởi một tòa án Bangladesh và (một cách sai lầm, theo ý kiến của tôi) bị kết án tử hình. Một số trong những người bị cáo buộc đã không có mặt cho việc kết án bởi vì họ đã đến tị nạn ở Hoa Kỳ : một tài điêu luyện không thể nào đạt được bởi người di dân Bengal bình thường.
=============

p52

Vị đại sứ Hoa Kỳ ở thủ đô Dhaka, Eugene Booster Davis, biết được là cuộc đảo chính đang được thảo luận. Ông ta cũng đã biết được về những buổi điều trần cao cấp, gây nhiều tranh cãi của Quốc hội tại Washington, mà qua đó đã vạch trần việc làm sai trái của quan chức cao cấp cao và hủy hoại phần lớn sự nghiệp của một sĩ quan bất cẩn, phục vụ nước ngoài. Ông ta ra lệnh rằng cho tất cả sự liên lạc giữa đại sứ quán của ông ta và những sĩ quan nổi loạn phải được chấm dứt. Như thế, sự báo động và phiền toái của ông ta, vào ngày 14 tháng Tám năm 1975 rất lớn. Những người vốn đã nắm được quyền lực, chính là những người mà ông ta đã ra lệnh chấm dứt sự liên lạc với họ. Kể từ khi những nguồn tin từ Tòa Đại sứ xác nhận với Lawrence Lifschultz (i.e. nhà sử học) (a) rằng những quan chức Hoa Kỳ đã từng được tiếp cận bởi, và đã từng có những sự tiếp xúc bởi những những sĩ quan không chút nản lòng vốn là những người có ý định thực hiện cuộc đảo chính và (b) rằng Đại sứ Booster càng lúc được thuyết phục là cơ quan CIA của ông ta đang điều hành một thông tuyến phía sau mà không có sự nhận biết của ông ta. Một hoạt động như thế sẽ là vô nghĩa, và cũng rủi ro phi lý, nếu nó mở rộng về hướng quê nhà đến Washington nơi mà, như bây giờ đang có tiếng, những đầu mối của Ủy ban Bốn mươi và Hội đồng An ninh Quốc gia được nắm giữ rất chặt trong nắm tay.
Philip Cherry, sau nầy là người đứng đầu của cơ quan CIA ở Bangladesh, đã được phỏng vấn bởi ông Lifschultz vào tháng Chín năm 1978. Ông ta mơ hồ và thoái thác thậm chí về việc nắm giữ công việc những đã nói rằng, “Có một điều. Có những nhà chính trị vốn là những người thường xuyên tiếp cận với những Tòa Đại sứ, và có lẽ có những tiếp xúc ở đó. Họ nghĩ rằng họ có thể có những liên lạc.” Một sự chuyển đổi từ một viên chức đến chính trị gia mang tính chất gợi ý. Và, dĩ nhiên, những người vốn nghĩ rằng họ có thể có những liên lạc, thậm chí có thể hành động như thể là họ có sự tiếp xúc, trừ khi khác hơn là họ được góp ý.
Không chỉ Khondakar Mustaque nghĩ rằng ông ta có những liên lạc với chính phủ Hoa Kỳ, bao gồm với chính Henry Kissinger, nhưng quả thật là ông ta có những liên lạc như thế, và đã từng có từ năm 1971. Vào năm 1973 tại Washington, và trong khoảng thời gian sau cuộc chống đối chưa từng có của các nhà ngoại giao chuyên nghiệp chống lại chính sách của ông Kissinger ở Bangladesh, Quỹ Carnegie dành cho Hòa bình Quốc tế (cũng là nhà xuất bản của tạp chí Foreign Policy (Chính sách đối ngoại)) thực hiện một cuộc nghiên cứu đầy đủ về “nghiêng theo” mà qua đó đã đặt Hoa Kỳ trên cùng một phía như những người dự vào cuộc diệt chủng. Hơn 150 quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao và cơ quan CIA đồng ý được phỏng vấn.

p53

Cuộc nghiên cứu nầy được phối hợp bởi một phụ tá trước đây của ông Kissinger, Roger Morris. Kết quả của cuộc thẩm tra chín tháng không bao giờ được công bố, do những sự khác biệt nội bộ tại Trung ương Carnegie, nhưng tài liệu được tạo nên hiện hữu đối với Lifschultz và nó thực sự thiết lập một kết luận chắc chắn.
Vào năm 1971, Henry Kissinger đã cố gắng thử những điều không thể bằng cách cố gắng phân chia Liên đoàn Awami chiến thắng qua cuộc bầu cử, và làm loãng nhu cầu của nó cho nền độc lập. Trong việc theo đuổi sự đồng thuận nầy từ Tướng Yahya Khan, ông ta đã khởi đầu sự tiếp cận bí mật đến Khondakar Mustaque, vốn là người dẫn đầu một nhóm thiểu số ít oi vốn là những người sẵn sàng thỏa hiệp trên nguyên tắc chính yếu. Một “văn thư ghi nhớ dành cho hồ sơ” được phát hiện cho chúng ta những chi tiết về cuộc họp ở Nhà Trắng giữa ông Nixon, ông Kissinger và những người khác trên vào ngày 11 tháng Tám năm 1971, ở nơi mà Thứ trưởng Ngoại giao John Irwin đã báo cáo: “Chúng tôi đã có những báo cáo trong những ngày gần đây về việc có khả năng là một số các nhà lãnh đạo của Liên đoàn Awami ở Calcutta đi đến đàm phán với ông Yahya trên cơ bản của việc chấm dứt lời tuyên bố của họ cho sự độc lập của vùng Đông Pakistan.” Điều nầy chỉ có thể đã là một sự nhắc đến Chính phủ Lâm thời của Bangladesh, đã được thiết lập trong lúc lưu vong ở Calcutta sau cuộc thảm sát, và chỉ có thể dám là một cố gắng thử phá vỡ vai trò lãnh đạo của nó. Những hậu quả của phương pháp giải quyết vụng về nầy là ông Mustaque bị bại lộ và bị quản thúc tại gia trong vào tháng Mười năm 1971, và một sĩ quan chính trị Mỹ vốn là người đã liên lạc với ông ta, George Griffin, bị xem là persona non grata (tiếng La-tinh: người không được chào đón) khi được công bố đến Tòa Đại sứ Mỹ ở New Delhi, một thập kỷ sau đó.
Những người có dính dáng vào những việc chuẩn bị quân sự cho cuộc đảo chính, đã nói với ông Lifschultz rằng họ, cũng, đã có một chính sách ngoại giao theo “phương hướng II.” Có những sĩ quan cấp thấp sẵn sàng nổi loạn và có một sĩ quan cao cấp –nhà độc tài tương lai, Tướng Zia– vốn là người đã sẵn sàng nhưng do dự hơn. Cả hai phe phái nói rằng theo tự nhiên họ đã dò hỏi với liên lạc viên Hoa Kỳ của họ trước, và được thông báo rằng việc lật đổ ông Mujib thì “không thành vấn đề.” Điều nầy ít ra được xác nhận một phần bởi một bức thư có chữ ký từ Nghị sĩ Stephen J. Solaz thuộc Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, vốn là người đã tiến hành điều tra vấn đề nầy cho ông Lifschultz vào năm 1980 và vốn là người vào ngày 3 tháng Sáu của năm đó đã viết cho ông ta: “Đối với các cuộc hội họp ở Tòa Đại sứ trong giai đoạn từ tháng Mười Một năm 1974 đến tháng Giêng năm 1975 với những sự phản đối chế độ Rahman, Bộ Ngoại giao một lần nữa không chối bỏ là những cuộc gặp gỡ đã diễn ra.”

p54

Điều nầy sẽ dường như là một sự cự tuyệt đối với bằng chứng của ông Cherry thuộc cơ quan CIA, mặc dù bức thư tiếp tục cho biết: “Bộ Ngoại giao thực sự tuyên bố rằng nó đã thông báo cho ông Rahman về những cuộc họp, bao gồm cả khả năng xảy ra một cuộc đảo chính.” Nếu đúng như thế, lời “tuyên bố” đó được thực hiện trong lần đầu tiên, và nhân danh của một người vốn đã bị sát hại trong suốt cuộc đảo chính và không thể bác bỏ nó. Sự thú nhận thì mạnh mẽ hơn so với lời tuyên bố trong bất kỳ trường hợp nào.
Dân biểu Solarz chuyển đi những câu hỏi về sự dính dáng của CIA đến văn phòng của Dân biểu Les Aspin thuộc Ủy ban Tình báo Tuyển chọn Thường trực, mà qua đó ủy ban, như ông ta nói, “có một cơ hội tốt nhất về việc có được sự tiếp cận đến sự giao thông điệu thư của CIA và cả đến những số liệu xác đáng trong cộng đồng tình báo.” Nhưng bức thư mà ông ta đã gởi đi, bằng cách nào đó đã bị thất lạc trên đường đi, và không bao giờ được nhận bởi ủy ban điều tra xác thực, và không lâu sau đó, cán cân quyền lực ở Washington chuyển từ ông Carter đến ông Reagan.
Chỉ có một yêu cầu thẩm tra của Quốc hội được mở trở lại với sức mạnh trát tòa có thể quyết định liệu có bất kỳ sự kết nối trực tiếp nào, không liên quan gì đến những sự kết nối hiển nhiên của nghệ thuật quản lý đất nước không thay đổi được chứng thực bởi lời khai đáng tin cậy luôn luôn quay trở lại, giữa lề lối ngoại giao diệt chủng bí mật của năm 1971 và lề lối ngoại giao bí mật gây mất ổn định của năm 1975. Phận sự của việc bác bỏ sự kết nối như thế, trong khi đó, sẽ dường như lắng xuống trên những người vốn tin rằng mọi thứ là một tai nạn.

p55

Chương 05: Chile

Trong một bày tỏ nổi tiếng về sự khinh thường của ông ta đối với nền dân chủ, ông Kissinger có lần nhận xét thấy rằng ông ta không nhìn thấy lý do tại sao một quốc gia vững chắc nên được phép “đi theo chủ thuyết Mác-xít” một cách đơn thuần bởi vì “những người dân của nó vô trách nhiệm.” Đất nước được quan tâm đến là Chile, mà vào lúc nhận xét nầy có một tiếng tăm hợp lý như là nền dân chủ đa nguyên được phát triển cao độ nhất ở nửa nam bán cầu của châu Mỹ. Chủ nghĩa đa nguyên, trong những năm của Chiến tranh Lạnh, chuyển thành toàn bộ cử tri vốn đã đầu phiếu vào khoảng 1/3 cho Đảng Bảo thủ, 1/3 cho Đảng Xã hội và Đảng cộng sản, và 1/3 cho Đảng Dân chủ Tin Lành và Đảng ôn hòa. Điều nầy đã làm cho nó tương đối dễ dàng để cô lập những phần tử Mác-xít khỏi đến phiên có mặt trong chính phủ, và kể từ năm 1962, CIA –như nó đã từng như thế ở Ý và các quốc gia khác có thể so sánh đuợc– phần lớn đã hài lòng với chính mình về việc tài trợ những thành phần đáng tin cậy. Vào tháng Chín năm 1970, tuy nhiên, một ứng cử viên của cánh tả thực sự đã đạt được một số khá nhiều 36,2 % trong các cuộc bầu cử Tổng thống. Những phân bộ của cánh hữu, và sự gắn bó của một số đảng phái cấp tiến và Tin Lành nhỏ hơn với cánh tả, tạo cho nó một sự chắc chắn về đạo đức mà Quốc hội Chile, sau thời kỳ chưa có người lãnh đạo trong vòng sáu mươi ngày theo truyền thống, sẽ xác nhận Bác sĩ Salvador Allende như là vị Tổng thống kế tiếp. Nhưng chính cái tên của Allende là lời nguyền rủa đối với phe cánh hữu cực đoan ở Chile, đối với những tập đoàn kinh doanh có quyền lực (đáng chú ý là ITT, Pepsi Cola và Ngân hàng Chase Manhattan) vốn kinh doanh ở Chile và Hoa Kỳ, và đối với CIA.

p56

Sự tởm ghét nầy nhanh chóng tự truyền đạt chính nó đến Tổng thống Nixon. Cá nhân ông ta chịu ơn Donald Kendall, Chủ tịch của hảng Pepsi Cola vốn là người đã đưa cho ông ta tài khoản của tập đoàn kinh doanh đầu tiên của mình khi, còn là một luật sư trẻ, ông ta gia nhập công ty New York của John Mitchell. Một loạt các cuộc họp ở Washington, được tổ chức trong vòng mười một ngày của cuộc chiến thắng bầu cử của ông Allende, trên cơ bản là giải quyết số phận của nền dân chủ Chile. Sau những cuộc thảo luận với ông Kendall và với David Rockefeller của Ngân hàng Chase Manhattan, và với giám đốc CIA Richard Helms, ông Kissinger đã đi với ông Helms đến Văn Phòng Bầu dục. Những ghi chú của ông Helms về cuộc họp cho thấy rằng ông Nixon lãng phí lời của mình trong việc làm cho những mong muốn của mình được biết đến. Ông Allende sẽ không nhậm chức. “Không phải quan tâm đến những rủi ro bị lôi cuốn vào. Không có sự dính dáng nào của tòa đại sứ. Số tiền 10.000.000 $ hiện có, nhiều hơn nếu cần thiết. Những người giỏi nhất với công việc toàn thời gian mà chúng ta có… Hãy làm cho kinh tế kêu thét lên. Có 48 giờ cho kế hoạch hành động.”
Những tài liệu được mật giải cho thấy rằng ông Kissinger –vốn là người trước đây không biết về hoặc cũng không quan tâm đến Chile, mô tả nó theo cách ứng khẩu như là “một con dao găm chĩa vào trái tim Nam Cực”– đã dốc lòng lợi dụng cơ hội nầy để gây ấn tượng với ông chủ của mình. Một nhóm được thành lập ở thị trấn Langley, tiểu bang Virginia, với mục đích cấp tốc của việc tiến hành chính sách “phương hướng II” cho Chile: một là phương hướng ngoại giao bề ngoài và một cái khác –không được biết đến đối với Bộ Ngoại giao hoặc vị đại sứ Hoa Kỳ ở Chile, Edward Korry– là một chiến lược gây bất ổn, bắt cóc, và ám sát, được trù định để khích động cuộc đảo chính bằng quân sự.
Có những trở ngại dài hạn và ngắn hạn đối với thời kỳ ủ bệnh của sự can thiệp như thế đặc biệt là trong khoảng thời gian ngắn hiện có trước khi ông Allende nhậm chức. Trở ngại lâu dài là truyền thống của việc bỏ phiếu trắng của quân đội không tham gia chính trị ở Chile, một truyền thống vốn đã quy định phạm vi quốc gia từ những nước lân cận của nó. Một nền văn hóa quân sự như thế thì không bị suy thoái qua đêm. Trở ngại ngắn hạn nằm trong cá nhân của một người đàn ông –Tướng Rene Schneider. Như là một vị Tham mưu Trưởng Chile, ông ta đã kiên quyết phản đối bất kỳ sự can thiệp quân sự nào trong suốt cuộc tiến trình bầu cử. Theo đó, một việc đã được quyết định tại một cuộc họp vào ngày 18 tháng Chín 1970 rằng Tướng Schneider phải ra đi.

(Tướng René Schneider Chereau là vị Tổng Tư lệnh quân đội Chile
vào thời điểm bầu cử Tổng thống năm 1970, khi ông ta bị ám sát trong
một nỗ lực bắt cóc bất thành. Ông ta đã đặt ra học thuyết ngoại biệt hỗ
tương về quân sự–chính trị, được biết đến như là Học thuyết Schneider)

Kế hoạch là cho người bắt cóc ông ta bởi những sĩ quan theo phe cực đoan, trong một cách như thế nào đó để làm cho nó có vẻ là những phần tử thuộc cánh tả và phe ủng hộ ông Allende ở phía sau mưu đồ.

p57

Sự rối rắm dễ lầm lẫn đưa đến kết quả, như được hy vọng, sẽ gây hoang mang Quốc hội Chile trở thành việc phủ nhận chức vụ Tổng thống của ông Allende. Một khoản tiền 50.000 đô-la được treo thưởng xung quanh thủ đô Chile, Santiago, cho bất kỳ sĩ quan hoặc những những sĩ quan nào đủ bạo dạn đảm nhận nhiệm vụ nầy. Richard Helms và người điều hành của mình cho những hoạt động bí mật, Thomas Karamessines, đã nói với ông Kissinger rằng họ không lạc quan lắm. Giới quân sự do dự và bị phân chia bè phái, hoặc là trung thành với Tướng Schneider và hiến pháp Chile. Như ông Helms nói về sự kiện đó trong lời tường thuật sau nầy qua cuộc trò chuyện, “Chúng tôi đã cố gắng làm cho ông Kissinger hiểu rõ là khả năng thành công thì nhỏ nhoi đến như thế nào.” Ông Kissinger kiên quyết bảo ông Helms và ông Karamessines tiếp tục xúc tiến trong bất kỳ trường hợp nào.
Ở đây người ta phải tạm ngưng cho việc tóm tắt lại. Một quan chức thất cử ở Hoa Kỳ đang gặp gỡ với những người khác, mà không có nhận thức nào hoặc sự cho phép của Quốc hội, để lên kế hoạch cho việc bắt cóc một sĩ quan cao cấp chú trọng về hiến pháp trong một nước dân chủ mà Hoa Kỳ không đang trong tình trạng chiến tranh với nó, và nó vẫn duy trì những quan hệ ngoại giao thân thiết. Những giây phút của những cuộc họp có thể có một cái nhìn chính thức đối với họ (mặc dù họ đã ẩn kín khỏi ánh sáng ban ngày trong một thời gian đủ lâu) nhưng những gì chúng ta đang xem xét lại là một “cú đánh” –một phần của chủ nghĩa khủng bố được nhà nước hỗ trợ.
Đại sứ Korry đã xác nhận rằng ông ta đã bảo ban nhân viên thuộc tòa đại sứ quán của mình không làm gì liên quan đến một nhóm tự xưng là Partria y Liertad(12) (tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là Tổ quốc và Tự do), một nhóm y như thể là phát-xít có chủ ý trên việc không tôn trọng những kết quả bầu cử. Ông ta đã gởi ba điện thư đến Washington cảnh báo những cấp trên của mình cũng không nên làm gì liên quan đến họ. Ông ta không nhận biết rằng những bộ phận quân sự kèm theo của riêng mình đã được cho biết là phải tiếp xúc với nhóm và giữ sự kiện thực tế khỏi ông ta. Và khi vị Tổng thống Chile ra ngoài, nhân vật Eduardo Frei thuộc Đảng Dân chủ Tin Lành, tuyên bố rằng ông ta phản đối bất kỳ hành động can thiệp nào của Hoa Kỳ và sẽ bỏ phiếu để xác nhận một Allende được tuyển chọn một cách hợp pháp, điều rõ ràng đối với băng đảng nầy là ông Kissinger đã chuyển hướng. Vào ngày 15 tháng Mười năm 1970, ông Kissinger nghe nói về một sĩ quan cánh hữu thuộc phe cực đoan, có tên là Tướng Roberto Viaux, vốn là người có những liên hệ gần gũi với nhóm Partria y Libertad, và là người sẵn sàng chấp nhận công việc ủy nhiệm, bí mật của Hoa Kỳ nhằm loại bỏ Tướng Schneider khỏi bàn cờ. Thuật ngữ “bắt cóc” vẫn được sử dụng vào thời điểm nầy và vẫn thường được dùng đến ngày hôm nay.

p58

Tuy nhiên, nhóm Phương hướng II của ông Kissinger cho phép việc cung cấp những khẩu súng máy cũng như lựu đạn hơi cay cho những cộng sự viên của Tướng Viaux, và dường như không bao giờ hỏi họ sẽ làm gì với vị Tướng một khi họ đã bắt cóc ông ta được.
Hãy để những tài liệu kể lại câu chuyện. Một điện thư của CIA được gởi đến nhóm Phương hướng II của ông Kissinger từ Santiago vào ngày 18 tháng Mười năm 1970 cho biết (với những cái tên vẫn còn tô đen vì những mục đích “an ninh” và sự che đậy những nét để nhận diện được viết bằng tay –trong dấu ngoặc đứng của tôi– qua dịch vụ soạn thảo luôn chu đáo) :

1 – [Cục tình báo] đã gặp gỡ một cách bí mật vào chiều ngày 17 tháng Mười với [hai sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang Chile] vốn là những người đã nói với ông ta rằng những kế hoạch của họ đang tiến hành suôn sẻ hơn so với điều mà họ đã nghĩ có thể có. Họ yêu cầu rằng đến chiền ngày 18 tháng Mười [Tình báo viên] sắp xếp việc cung cấp cho họ với tám đến mười trái lựu đạn hơi cay. Trong vòng 48 giờ, họ cần đến ba khẩu súng máy nòng .45 ly (“những khẩu súng bom dầu, grease guns”) với 500 viên đạn mỗi khẩu súng. [Một sĩ quan] đã nhận xét rằng chính ông ta có ba khẩu súng máy nhưng có thể bị nhận ra bởi dãy số như đã được phát ra cho ông ta, vì vậy không thể sử dụng chúng được.

(Khẩu súng bom dầu M3 –“Grease gun”– là loại liên thanh .45 ly
cá nhân vì nó có hình dáng như dụng cụ bom dầu mỡ xe bằng tay)

2. [Những sĩ quan] nói rằng họ phải di chuyển bởi vì họ tin rằng hiện thời họ đang bị tình nghi và theo dõi bởi những người ủng hộ ông Allende. [Một sĩ quan] đến muộn cho cuộc họp sau khi đã dùng đến hành động lảng tránh để trút bỏ sự giám sát có thể có bởi một hoặc hai xe taxi với những cây ăng-ten kép mà anh ta tin là đang được sử dụng bởi phe đối lập chống lại anh ta.
3. [Tình báo viên] hỏi xem [những sĩ quan] có những liên lạc của Lực lượng Không quân. Họ trả lời, họ không có nhưng sẽ chào đón một sự liên lạc. [Tình báo viên] kể từ khi đã cố gắng liên lạc một cách riêng lẻ [với vị Tướng của Không lực Chile] và sẽ tiếp tục cố gắng cho đến khi được thiết lập. Sẽ thúc giục [vị Tướng Không quân] gặp gỡ với [hai sĩ quan khác] càng sớm càng tốt. [Tình báo viên] đã nhận xét rằng [vị Tướng Không quân] đã không cố gắng liên lạc với anh ta kể từ khi đề cập đến cuộc nói chuyện.
4. [Tình báo viên] nhận xét: không thể biết ai là người lãnh đạo của phong trào nầy nhưng mạnh mẽ nghi ngờ chính là vị Đô đốc [đã bị xòa bỏ]. Điều đó sẽ xuất hiện từ những hành động [liên lạc của ông ta] và khẳng định những sự nghi ngờ của ông Allende về họ rằng họ mà qua đó trừ khi họ hành động ngay bây giờ nếu không họ sẽ bị thua cuộc. Cố gắng có được thông tin nhiều hơn từ họ vào chiều ngày 18 tháng Mười về sự hỗ trợ mà họ tin rằng họ có.

p59

5. Những kế hoạch của cục tình báo cung cấp sáu trái lựu đạn hơi cay (đến được vào trưa ngày 18 tháng Mười bởi người giao hàng đặc biệt) cho [tình báo viên] để giao đến [những sĩ quan của lực lượng vũ trang] thay vì cho [một sĩ quan bí ẩn] đưa chúng đến nhóm của Tướng Viaux. Cách lý luận của chúng tôi là [tình báo viên] đang làm việc với những sĩ quan có nhiệm vụ hoạt động. Cũng thế [vị sĩ quan bí ẩn] rời khỏi chiều ngày 18 tháng Mười và sẽ không cần thay nhưng [tình báo viên] sẽ ở lại đây. Do đó, điều quan trọng là uy tín của [tình báo viên] đối với [những sĩ quan của lực lượng vũ trang] sẽ được củng cố hơn bởi việc giao nhanh chóng những gì mà họ đòi hỏi. Yêu cầu sự thỏa thuận của trung ương trước 15:00 giờ địa phương vào ngày 18 tháng Mười về việc quyết định giao lựu đạn hơi cay cho [tình báo viên] thay thế cho [vị sĩ quan bí ẩn].
6. Yêu cầu việc chuyển hàng nhanh chóng ba khẩu súng máy nòng .45 ly, ít được sản xuất và đạn dược theo đoạn văn số 1 ở trên, qua người giao hàng đặc biệt nếu cần thiết. Vui lòng xác nhận trước 20:00 giờ địa phương vào ngày 18 tháng Mười là việc nầy có thể được thực hiện để cho [tình báo viên] có thể thông báo đến những người liên lạc của mình một cách phù hợp.

Bức điện thư trả lời, mà qua đó được mở đầu là “Santiago cấp tốc (chỉ những người được phép xem [đã bị xòa bỏ])” được ghi là ngày 18 tháng Mười và nó cho biết :

Những khẩu súng máy tự động và đạn dược đang được gởi đi qua người giao hàng thường ngày [đã bị xóa] rời khỏi Washington lúc 07:00 giờ vào ngày 19 tháng Mười thẳng đến Santiago vào chiều tối ngày 20 tháng Mười hoặc sáng sớm ngày 21 tháng Mười. Muốn chọn cách dùng người giao hàng thường ngày [đã bị xòa bỏ] nhằm tránh việc gây sự chú ý không đáng cho hoạt động.

Một tin gởi song song, cũng đề cập đến tài liệu “Santiago 562,” cho biết như thế nầy :

1. Tùy thuộc cuộc đối thoại của [tình báo viên] tiến hành vào chiều ngày 18 tháng Mười, bạn có thể mong muốn đệ trình bản báo cáo của tình báo [đã bị xòa bỏ], như thế chúng tôi có thể quyết định là nên được phổ biến.
2. Chủ đề mới. Nếu những kế hoạch của [tình báo viên] dẫn đến cuộc đảo chính, hoặc bị lôi cuốn vào một cách linh hoạt và công khai, chúng tôi tự hỏi tại sao việc đó gây phiền toái cho anh ta nếu những khẩu súng máy có thể bị truy nguồn đến anh ấy. Chúng ta có thể phát triển một lý do hợp lý về việc tại sao những khẩu súng phải là loại ít được sản xuất không ? Sẽ tiếp tục tạo nỗ lực cung cấp chúng nhưng có phải chăng chúng ta tìm thấy sự cả tin của chúng ta bị kéo dài bởi [vị sĩ quan] Hải quân đang dẫn dắt những bính lính của mình với những khẩu súng loại ít được sản xuất không ? Mục đích đặc biệt cho những khẩu súng nầy là gì ? Chúng ta sẽ gởi chúng mặc dù anh bạn có thể đưa ra lời giải thích hay không.

Vẻ đẹp đầy đủ của việc qua lại điện thư nầy không thể được đánh giá cao mà không có việc đọc về một tin gởi, được ghi là ngày 16 tháng Mười. (Ắt hẳn điều đáng lưu ý là Quốc hội Chile phải nhóm họp để xác nhận ông Allende như là vị Tổng thống vào ngày 24 của tháng đó) :

p60

1. Chính sách, những mục tiêu và hành động của [Bị xòa bỏ / bí danh Trickturn được viết tay] đã được xem xét tại cấp cao của USG [Chính phủ Hoa Kỳ] vào chiều ngày 15 tháng Mười. Những kết luận, mà qua đó là sự hướng dẫn hoạt động của anh bạn, theo sau:
2. Chính sách vững chắc và tiếp tục là ông Allende bị lật đổ bởi cuộc đảo chính. Đó sẽ là điều mong muốn nhiều hơn có sự kiện xảy ra nầy trước ngày 24 tháng Mười nhưng những trong sự quan tâm nầy sẽ tiếp tục một cách mạnh mẽ xa hơn thời hạn nầy. Chúng ta phải tiếp tục tạo ra áp lực tối đa về hướng mục đích nầy bằng cách tận dụng mọi nguồn lực thích hợp. Điều bắt buộc là những hành động nầy được thực hiện một cách bí mật và an toàn để cho Chính phủ Hoa Kỳ và bàn tay của người Mỹ được giấu kín hoàn toàn. [kiểu chữ nghiêng được thêm vào]. Trong khi điều nầy áp đặt lên chúng tôi, một mức độ cao của sự lựa chọn trong việc tạo ra những tiếp xúc và mệnh lệnh quân sự mà qua đó những tiếp xúc nầy được thực hiện theo phương cách an toàn nhất, nó chắc chắn không loại trừ những tiếp xúc như được báo cáo trong tài liệu Santiago 544 vốn là một phần của công việc thuộc bậc thầy.
3. Sau việc suy xét cẩn thận nhất, người ta kiên quyết là việc thử thách cuộc đảo chính của Tướng Viaux được tiến hành bởi một mình ông ta với lực lượng hiện thời dưới sự tùy nghi sử dụng của mình sẽ thất bại. Như thế, đó sẽ là điều phản tác dụng đối với những mục tiêu [đã bị xòa bỏ; thêm vào chữ viết tay “Phương hướng II”] của chúng tôi. Việc đó được quyết định là [đã bị xòa bỏ; thêm vào chữ viết tay “CIA”] có một tin gởi đến Tướng Viaux cảnh cáo ông ta về hành động khinh suất. Thực chất, thông điệp chúng tôi phát biểu là, “Chúng tôi đã xem xét lại những kế hoạch của bạn và dựa trên thông tin của bạn và của chúng tôi, chúng tôi đi đến kết luận là những kế hoạch của bạn cho cuộc đảo chính vào thời điểm nầy không thể thành công. Việc thất bại, chúng có thể làm giảm những khả năng của bạn trong tương lai. Hãy bảo toàn những tài sản của bạn. Chúng tôi sẽ giữ liên lạc. Thời gian sẽ đến khi bạn cùng với tất cả những người bạn khác của bạn có thể làm một điều gì đó. Bạn sẽ tiếp tục có sự hỗ trợ của chúng tôi.” Bạn được yêu cầu trao thông điệp đến Tướng Viaux trên cơ bản như được lưu ý ở trên. Những mục tiêu của chúng tôi là như sau:
(A) Góp ý cho ông ta về quan điểm của chúng tôi và làm nản lòng ông ta từ bỏ việc hành động một mình;
(B) Tiếp tục khuyến khích ông ta để mở rộng việc lên kế hoạch của mình;
(C) Khuyến khích ông ta tham gia những lực lượng với các nhà hoạch định khác về cuộc đảo chính như thế họ có thể hành động trong sự hòa hợp nhịp nhàng hoặc là trước hay sau ngày 24 tháng Mười. (N.B. (i.e. Nota bene: Lưu ý) 6 cái mặt nạ chống hơi cay, và 6 bình CS (i.e. hơi cay) [theo như nguyên văn] đang được mang đến Santiago bởi người chuyển hàng đặc biệt [bị xóa bỏ], ETD (i.e. thời gian khởi hành theo ước đoán) Washington lúc 11:00 giờ vào ngày 16 tháng Mười.)

4. Có sự quan tâm to lớn và liên tục về các hoạt động của ông Tirado, ông Canales, ông Valenzuela và các cộng sự viên khác và chúng tôi chúc họ điều tốt đẹp nhất.
5. Phần bên trên là sự hướng dẫn điều hành của bạn. Không có một hướng dẫn chính sách nào khác mà bạn có thể nhận được từ [không thể đọc được : Nhà nước ?] hoặc điều dẫn giải đầy đủ của nó ở Santiago, trên chuyến trở về của ông ta, làm lệch chiều hướng của bạn.
6. Xin vui lòng: xem xét lại tất cả các hoạt động hiện tại và có thể mới của bạn bao gồm việc tuyên truyền, những hoạt động ngầm, việc xuất hiện tin tức tình báo hoặc thông tin sai lạc, những tiếp xúc cá nhân, hoặc bất cứ việc gì khác mà sự tưởng tượng của bạn có thể gợi lên mà qua đó sẽ cho phép bạn thúc đẩy về phía trước mục tiêu [đã bị xóa] của chúng ta theo phương cách an toàn.

p61

Cuối cùng, điều cần thiết là đọc “văn bản ghi nhớ của phe bảo thủ” ở Nhà Trắng, được ghi nhận là ngày 15 tháng Mười năm 1970, mà qua đó bức điện thư bên trên đề cập đến và trong số những bức điện thư, nó là một bản tóm tắt trung thực hơn nhất. Là tư liệu về cuộc hội họp “cao cấp của Chính phủ Mỹ,” như được lưu ý trong tiêu đề : “Tiến sĩ Kissinger, ông Karamessines, Tướng Haig.” Đoạn đầu của những cuộc thảo luận của họ hoàn toàn đã bị tô đen, không nhiều lắm như là một bức thư viết nguệch ngoạc ở lề biên từ phục vụ soạn thảo bài viết. (Giả như điều gì đã được thú nhận kể từ đó, việc xóa bỏ hai mươi dòng nầy ắt hẳn rất đáng đọc.) Hãy chọn nơi đoạn hai, chúng ta tìm thấy sau đây :


2. Sau đó, ông Karamessines cung cấp một bản tóm tắt về Tướng Viaux, cuộc họp của ông Canales với ông Tirado, vị trí mới của ông Tirado [sau khi ông Porta phải rời khỏi quyền chỉ huy “vì lý do sức khỏe”] và, trong một số chi tiết, tình hình tổng quát ở Chile từ quan điểm có khả năng có cuộc đảo chính.
3. Một số thông tin chắc chắn hiện có trong tay chúng tôi liên quan đến việc hỗ trợ được viện dẫn của Tướng Viaux khắp quân đội Chile. Chúng tôi đã đánh giá những lời tuyên bố của Tướng Viaux một cách cẩn thận, qua việc đặt cơ bản sự phân tích của chúng tôi trên tình báo đáng tin cậy từ một số lượng nguồn tin. Kết luận của chúng tôi rất rõ ràng: Tướng Viaux không có nhiều hơn một cơ hội trong hai mươi cơ hội –có lẽ ít hơn– để tung ra một cuộc đảo chính thành công.
4. Những tác động trở lại không may, ở Chile và quốc tế, của cuộc đảo chính thất bại được thảo luận. Tiến sĩ Kissinger đánh dấu ra khỏi danh sách của mình những khả năng không thể xảy ra. Những mục điểm của ông ta đáng chú ý là tương tự những điểm mà ông Karamessines đã chuẩn bị.
5. Điều đó đã được quyết định bởi những người hiện diện mà qua đó Cơ quan Tình báo phải có một thông tin cho Tướng Viaux cảnh cáo ông ta về bất kỳ hành động khinh suất nào. Thực chất, thông điệp chúng tôi phát biểu là, “Chúng tôi đã xem xét lại những kế hoạch của bạn và dựa trên thông tin của bạn và của chúng tôi, chúng tôi đi đến kết luận là những kế hoạch của bạn cho cuộc đảo chính vào thời điểm nầy không thể thành công. Việc thất bại, chúng có thể làm giảm những khả năng của bạn trong tương lai. Hãy bảo toàn những tài sản của bạn. Chúng tôi sẽ giữ liên lạc. Thời gian sẽ đến khi bạn cùng với tất cả những người bạn khác của bạn có thể làm điều gì đó. Bạn sẽ tiếp tục có sự hỗ trợ của chúng tôi.”

p62

6. Sau việc quyết định dẹp bỏ mưu đồ đảo chính của Tướng Viaux, ít nhất là tạm thời, Tiến sĩ Kissinger ra chỉ thị cho ông Karamessines bảo toàn những tài sản của Cơ quan Tình báo ở Chile, qua cách làm việc bí mật và an toàn để duy trì khả năng cho những hoạt động của Cơ quan chống lại ông Allende trong tương lai.
7. Tiến sĩ Kissinger đã thảo luận mong muốn của mình là lời nói khích lệ của chúng tôi cho quân đội Chile trong những tuần gần đây được giữ bí mật như có thể. Ông Karamessines phát biểu một cách mạnh mẽ là chúng tôi đã và đang làm mọi thứ có thể trong việc kết nối nầy, bao gồm việc sử dụng những sĩ quan bí ẩn, những cuộc họp trên xe và mỗi đề phòng nhận biết được. Nhưng chúng tôi và những người khác đã từng làm rất nhiều cuộc nói chuyện gần đây với một số lượng những nhân vật. Thí dụ, các cuộc thảo luận sâu rộng của Đại sứ Korry với nhiều người trong việc kêu gọi cuộc đảo chính “không có thể bỏ trở lại vào trong chai.” [Ba dòng bị xóa theo sau.] [Tiến sĩ Kissinger yêu cầu là bản sao của thông điệp được gởi đến cho ông ta vào ngày 16 tháng Mười.]
8. Cuộc họp kết luận trên ghi chú của Tiến sĩ Kissinger là Cơ quan nên tiếp tục duy trì áp lực trên mỗi điểm yếu của ông Allende trong tầm nhìn : — bây giờ, sau ngày 24 tháng Mười, sau ngày 5 tháng Mười Một, và trong tương lai cho đến khi thời gian như thế, những mệnh lệnh tiến quân mới được đưa ra.
Ông Karamessines phát biểu rằng Cơ quan sẽ tuân theo.

Vì vậy, Phương hướng II chứa hai phương hướng của riêng nó. “Phương hướng II / I” là nhóm của những người quá khích được dẫn dắt bởi Tướng Roberto Viaux và người đồng mưu của ông ta, Đại úy Arturo Marshal. Những người nầy đã cố gắng đưa cuộc đảo chính đến thành công vào năm 1969 chống lại những người thuộc Đảng Dân chủ Tin Lành; họ đã bị thải ra và bị thù ghét ngay cả bởi phe bảo thủ trong quân đoàn sĩ quan. “Phương hướng II / II” là bè cánh làm ra vẻ “đáng kính” hơn được cầm đầu bởi Tướng Camilo Valenzuela, trưởng quân đồn trong thủ đô, cái tên của người vốn xuất hiện trong những bức điện thư ở bên trên và nhân dạng của người vốn được che dấu bởi một số dòng bị xóa bỏ. Nhiều người trong số những đặc vụ của CIA ở Chile cảm thấy rằng Tướng Viaux phần nhiều như một con chó điên không thể tin cậy được. Và những lời nhắc nhở được lặp đi lặp lại của Đại sứ Korry cũng có hiệu lực của chúng. Như được thể hiện trong văn bản ghi nhớ vào ngày 15 tháng Mười được trích dẫn ở bên trên, ông Kissinger và ông Karamessines đã phát triển những suy nghĩ sau cùng vào phút cuối về Tướng Viaux, vốn là người, muộn lắm là vào ngày 13 tháng Mười, đã được đưa cho 20.000 $ đô-la tiền mặt từ cục CIA và được hứa hẹn một chính sách bảo hiểm nhân thọ là 250.000 $. Việc cung ứng nầy được cho phép trực tiếp từ Nhà Trắng.

p63

Tuy nhiên, với chỉ còn vài ngày trôi đi trước khi ông Allende được cử lễ nhậm chức, và với việc lặp đi lặp lại của ông Nixon là điều tuyệt đối cần thiết là cuộc bầu cử của ông Allende cho chức vụ Tổng Thống phải bị cản trở,” sự áp lực trên nhóm của ông Valenzuela trở nên mãnh liệt. Như một hệ quả trực tiếp, đặc biệt là sau những lời khuyến khích hâm nóng mà ông ta đã đưa ra, Tướng Roberto Viaux cảm thấy chính mình chịu một sự bắt buộc nào đó cũng phải đưa ra vài lời, và để bác bỏ những ai vốn đã từng nghi ngờ ông ta.
Vào chiều ngày 19 tháng Mười năm 1970, nhóm Valenzuela, được hỗ trợ bởi một số băng đảng của ông Viaux, và được trang bị với những trái lựu đạn hơi cay được giao đến bởi CIA, cố gắng thử chụp lấy Tướng Schneider khi ông ta rời khỏi nơi ăn tối của sĩ quan. Nỗ lực thất bại bởi vì ông ta rời khỏi trong chiếc xe riêng và không phải là chiếc xe dành cho sĩ quan được dự kiến. Sự thất bại tạo ra một điện thư cực kỳ quan trọng từ trụ sở CIA ở Washington đến trạm địa phương, yêu cầu một hành động khẩn cấp bởi vì “Trụ sở phải đáp trả trong suốt buổi sáng ngày 20 tháng Mười cho những truy vấn từ những cấp bậc cao.” Những số tiền chi trả một người 50.000 đô-la cho Tướng Viaux và cộng sự viên chính của mình sau đó được cho phép trên điều kiện là họ thực hiện một nỗ lực khác. Vào chiều tối ngày 20 tháng Mười, họ đã làm. Nhưng một lần nữa, chỉ có sự thất bại để báo cáo. Vào ngày 22 tháng Mười, những khẩu súng máy “ít được sản xuất” được nhắc đến ở trên được giao cho nhóm của ông Valenzuela cho việc cố gắng thử khác. Sau đó trong cùng ngày, băng nhóm của Tướng Roberto Viaux cuối cùng đã sát hại Tướng Rene Schneider.
Theo lời phán quyết sau nầy của những tòa án quân sự Chile, hành động tàn bạo nầy cũng có phần của những phần tử của cả hai nhóm thực thi phương hướng thuộc chính sách ngoại giao “Phương hướng II.” Nói cách khác, ông Valenzuela chính mình không có mặt trên hiện trường ngoại trừ đội ám sát, được dẫn dắt bởi Tướng Viaux, trong đó có những người vốn đã từng tham gia trong hai nỗ lực trước đó. Ông Viaux bị kết án về tội bắt cóc và âm mưu gây ra cuộc đảo chính. Ông Valenzuela bị kết án về tội âm mưu gây ra cuộc đảo chính. Vì vậy, bất kỳ nỗ lực nào tiếp theo sau nhằm phân biệt hai mưu đồ từ mỗi nhóm khác nhau, ngoại trừ trong quan điểm về mức độ, là một nỗ lực làm ra sự khác biệt mà không có một sự khác nhau.
Điều đó chắc chắn là không quan trọng mặc dù ông Schneider đã bị hạ sát bởi vì âm mưu bắt cóc vốn đã bị thất bại (ông ta nghe nói, nhưng chỉ qua những kẻ ám sát, để có cả gan đối kháng) hoặc cho dù việc ám sát của ông ta là mục đích từ lúc đầu. Bản báo cáo của quân cảnh Chile, khi nó xảy ra, mô tả là một vụ giết người bình thường.

p64

Theo luật pháp của mỗi quốc gia bị ràng buộc bởi pháp luật (bao gồm cả Hoa Kỳ), một tội phạm được nhúng tay vào trong việc theo đuổi một vụ bắt cóc bằng cách đó trở nên trầm trọng hơn, không được giảm nhẹ. Bạn không có thể nói, với một xác chết nằm dưới chân bạn, “Tôi chỉ cố gắng bắt cóc ông ta.” Ít nhất là, bạn không thể nói như thế nếu bạn hy vọng cầu xin sự giảm nhẹ tình tiết.
Tuy nhiên, một phiên bản của “việc giảm nhẹ tình tiết” đã trở thành câu chuyện che đậy tờ giấy mỏng mà với điều đó ông Kissinger đã tự bảo vệ chính mình kể từ đó khỏi tội đồng lõa, trước và sau khi một sự kiện thực tế, trong vụ bắt cóc và giết người. Và câu chuyện che đậy đáng tiếc nầy thậm chí đã tìm thấy ở một nơi trú ẩn trong hồ sơ được ghi chép lại. Ủy ban Tình báo Thượng viện, trong cuộc điều tra của nó về vấn đề nầy, đã kết luận rằng từ khi những khẩu súng máy được cung cấp cho ông Valenzuela thực ra đã không được sử dụng trong việc giết hại, và kể từ khi Tướng Viaux đã chính thức được khuyến khích bởi CIA vài ngày trước vụ giết người, vì vậy “không có một bằng chứng nào về kế hoạch hạ sát ông Schneider hoặc là những quan chức Hoa Kỳ Mỹ đặc biệt dự đoán rằng ông Schneider sẽ bị bắn trong suốt vụ bắt cóc.”
Walter Isaacson, một trong những người viết tiểu sử của ông Kissinger, chấp nhận sự kiện thực tiển của một văn bản ghi chú từ ông Kissinger được gởi cho ông Nixon sau cuộc gặp gỡ của ông ta vào ngày 15 tháng Mười với ông Karamessines, mà trong đó ông ta đã báo cáo với Tổng thống rằng ông ta đã “dặp tắt” âm mưu của ông Viaux. Ông Isaacson cũng chấp nhận sự kiện thực tiển về lời tuyên bố rằng cú đánh thành công của ông Viaux trên cơ bản là không được phép.
Những lý do bào chữa và những lời xin lỗi nầy không vững vàng hợp lý như chúng thật đáng khinh về mặt đạo đức. Henry Kissinger chịu trách nhiệm trực tiếp về việc hạ sát ông Schneider, như những điểm sau đây chứng minh.

1. Brian MacMaster, một trong những mật vụ “bí ẩn” được nhắc đến trong sự trao đổi điện thư ở bên trên, một người có nghề nghiệp CIA mang một cuốn sổ thông hành Colombia giả và tuyên bố là đại diện cho những hứng thú về công việc kinh doanh của Mỹ tại Chile, đã nói về những nỗ lực của mình để lấy “số tiền giữ kín chuyện” cho những thành viên bị cầm tù của nhóm Viaux, sau vụ ám sát và trước khi họ có thể ám chỉ Cơ quan Tình báo.

p65

2. Đại tá Paul M. Wimert, một tùy viên quân sự ở Santiago và là trưởng liên lạc CIA với phe cánh Valenzuela, đã thú nhận rằng sau việc hạ sát ông Schneider, ông ta vội vàng thu hồi hai khoản tiền 50.000 đô-la vốn đã được trả cho ông Valenzuela và người hợp tác của ông ta, và cũng như ba khẩu súng máy “ít được sản xuất”. Ông ta sau đó chạy xe gấp đến một thị trấn ven biển của Chile, Vina del Mar, và ném những khẩu súng vào trong biển. Việc đồng lõa của mình trong hành động nầy, trưởng cục CIA, Henry Hecksher, đã cam đoan với Washington chỉ vài ngày trước rằng một trong hai người là ông Viaux hoặc ông Valenzuela sẽ có khả năng loại bỏ ông Schneider và do đó phát động một cuộc đảo chính.
3. Hãy xem lại lần nữa văn bản ghi chú giữa Nhà Trắng và ông Kissinger vào ngày 15 tháng Mười, và cách theo nghĩa đen kiên trì mà nó được truyền tin lại đến Chile. Không có ý nghĩa nào về thuật ngữ làm cho nó “dặp tắt” cuộc đảo chính của ông Viaux. Nếu có bất cứ ý nghĩa gì, nó khích động ông ta –một người cuồng tín có tiếng và khoe khoang– nhằm gia tăng gấp đôi những nỗ lực của mình. “Hãy bảo toàn những tài sản của bạn. Chúng tôi sẽ giữ liên lạc. Thời gian sẽ đến khi bạn cùng với tất cả những người bạn khác của bạn có thể làm một điều gì đó. Bạn sẽ tiếp tục có sự hỗ trợ của chúng tôi.” Một cách chính xác là đây không phải là ngôn ngữ làm ông ta chùng bước. Phần còn lại của văn bản ghi chú nói thẳng về ý định “làm nản lòng ông ta từ bỏ việc hành động một mình” để “tiếp tục khuyến khích ông ta mở rộng việc lên kế hoạch của mình” khuyến khích ông ta tham gia những lực lượng với những nhà hoạch định khác cho cuộc đảo chính như thế họ có thể hành động trong sự hòa hợp nhịp nhàng hoặc là trước hay sau ngay 24 tháng Mười” (kiểu chữ nghiêng, và kiểu chữ đậm được thêm vào). Trong ba điều quy định cuối cùng là một sự mô tả chính xác hoàn toàn, không cần nói lời tiên tri, về những gì mà Tướng Viaux thực sự đã làm.
4. Hãy tham khảo một lần nữa bức điện thư nhận được bởi Henry Hecksher vào ngày 20 tháng Mười, đề cập đến những truy vấn lo lắng “từ những cấp bậc cao” về lần đầu tiên trong số những cuộc tấn công ông Schneider thất bại. Thomas Karamessines, khi được hỏi bởi Ủy ban Tình báo Thượng viện về bức điện thư nầy, đã thú nhận về sự cả quyết của mình là dòng chữ “những cấp bậc cao” ám chỉ trực tiếp đến ông Kissinger. Trong tất cả các thông tin liên lạc trước đó từ Washington, khi một cái nhìn thoáng qua ở bên trên sẽ cho thấy, quả thực điều đó đã là một trường hợp. Điều nầy riêng về chính nó đủ để phá hủy lời tuyên bố của ông Kissinger đã “dặp tắt” Phương hướng II (và những phương hướng bên trong của nó) vào ngày 15 tháng Mười.

p66

5. Đại sứ Korry sau đó đã đưa ra một điểm rõ ràng rằng ông Kissinger đang cố gắng xây dựng một cái cớ không có mặt trên giấy tờ trong sự kiện của việc thất bại bởi nhóm Viaux. “Mối quan tâm của ông ta không phải là ở Chile nhưng ở người sắp sửa bị đổ lỗi cho việc gì đó. Ông ta muốn tôi là người đứng ra nhận lấy tình trạng nóng bỏng đó. Ông Henry không muốn bị liên kết với sự thất bại và ông ta đang thiết lập một hồ sơ để đổ lỗi cho Bộ Ngoại giao. Ông ta đã mang tôi vào gặp Tổng thống bởi vì ông ta muốn tôi nói những gì mà tôi phải nói về Tướng Viaux, ông muốn tôi trở thành người đàn ông khờ khạo.”

Khái niệm về “sự phủ nhận” được không được hiểu rõ ở Washington vào năm 1970 như nó đã trở thành kể từ đó. Nhưng rõ ràng là Henry Kissinger muốn hai điều cùng một lúc. Ông ta muốn loại bỏ Tướng Schneider, bằng bất kỳ phương thức và tận dụng bất kỳ người thay mặt nào. (Không có một chỉ thị nào từ Washington tránh cho ông Schneider không bị sát hại đã từng được đưa ra; những loại vũ khí chết người được gởi đi bằng cái túi ngoại giao, và những người có bản chất bạo lực đã được cẩn thận chọn lựa để nhận lấy chúng.) Và ông ta muốn ở ngoài hình ảnh đó trong trường hợp một nỗ lực như thế có thể thất bại, hoặc bị phát hiện. Những điều nầy là một động lực bình thường của bất cứ ai vốn là người gạ gẫm hoặc mua chuộc vụ giết người. Tuy nhiên, ông Kissinger cần đến một cái tội rất nhẹ hơn so với cái ông ta cần, hoặc có thể tạo ra, là sự phủ nhận. Không cần chờ đợi cho nhiều giấy tờ ẩn giấu của ông ta được phát tán hoặc bị trát tòa triệu tập, chúng ta có thể nói bằng sự chắc nịch rằng ông có tội một cách prima facie (i.e. rành rành, không cần chứng minh) về sự thông đồng trực tiếp trong vụ hạ sát một sĩ quan thuộc phe dân chủ trong một quốc gia dân chủ và hòa bình.
Không có một nhu cầu riêng biệt nào của kẻ giết người để luyện tập vai trò tiếp tục của chính quyền Nixon–Kissinger trong việc phá vỡ và gây bất ổn về kinh tế và chính trị sau đó của chính phủ Allende, và trong việc tạo ra hoàn cảnh thuận lợi cho cuộc đảo chính bằng quân sự vốn đã xảy ra vào ngày 11 tháng Chín năm 1973. Chính ông Kissinger có lẽ không nhiều không ít bị lôi cuốn vào nỗ lực nầy hơn bất kỳ viên chức cao cấp nào khác trong quỹ đạo an ninh– quốc gia của ông Nixon. Vào ngày 9 tháng Mười Một năm 1970, ông ta là tác giả của “Quyết định Van bản Ghi nhớ 93” thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia, qua việc xem xét lại chính sách đối với Chile trong sự trỗi dậy tức thời của việc xác nhận của Allende như là vị Tổng thống. Những biện pháp quấy rối kinh tế khác nhau thường dùng đã được đề ra (nhắc lại chỉ thị của ông Nixon là “làm cho nền kinh tế kêu thét lên”) với những sự cắt đứt viện trợ và đầu tư.

p67

Đáng chú ý hơn là, ông Kissinger bào chữa rằng “những mối quan hệ gần gũi” được duy trì với các nhà lãnh đạo quân sự ở các nước láng giềng, nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp áp lực chống lại Chile và lẫn việc ủ mầm đối lập bên trong nước. Theo nét phát họa là, điều nầy hình dung trước những tiết lộ vốn đã được tạo ra kể từ Chiến dịch Condor (Chiến dịch Kên Kên), một sự thông đồng bí mật giữa chế độ độc tài về quân sự khắp bán cầu, được hoạt động với sự nhận thức và niềm đam mê của Hoa Kỳ.
Việc lật đổ chính phủ Allende thực sự trong một coup d’etat (i.e. cuộc đảo chính) đẫm máu đã diễn ra trong khi ông Kissinger đang thông qua tiến trình xác nhận thuộc Thượng viện của riêng mình như là vị Bổ trưởng Ngoại giao. Ông ta cam đoan một cách giả tạo với Ủy ban Đối ngoại rằng chính phủ Hoa Kỳ đã không đóng một vai trò nào trong cuộc đảo chính. Từ cuốn tự điển đồng nghĩa và dị nghĩa về thông tin thực tiển đối với sự trái ngược, người ta có thể chọn lấy bản Báo cáo Tình hình # 2, từ Phân bộ Hải quân thuộc Nhóm Quân đội Hoa Kỳ ở Chile, và được viết bởi một Tùy viên Hải quân Hoa Kỳ, Patrick Ryan. Ông Ryan mô tả mối quan hệ gần gũi của mình với những sĩ quan tham gia vào việc lật đổ chính phủ, khởi đầu từ ngày 11 tháng Chín năm 1973 như là “Ngày-D(13) của chúng tôi” và quan sát với sự hài lòng là “cuộc đảo chính Chile [theo như nguyên văn] đã gần hoàn thiện.” Hoặc người ta có thể nghiên cứu kỹ những hồ sơ được mật giải về Dự án FUBELT (i.e. còn được biết đến như là Phương hướng II) –là ký danh mà dưới đó CIA, trong sự liên lạc thường xuyên với ông Kissinger và Ủy ban Bốn mươi, tiến hành những hoạt động bí mật chống lại chính quyền hợp pháp và đắc cử của Chile.
Điều gì đó đang tạo nên sự chú ý, và cái gì đó chỉ thẳng vào tội đồng lõa rất trực tiếp hơn trong những tội ác cá nhân chống lại nhân loại, là chi tiết li ti mà trong đó chính ông Kissinger tiếp tục được thông báo về những hành động tàn ác của Tướng Pinochet.
Vào ngày 16 tháng Mười Một, Phó Ngoại trưởng Jack B. Kubisch đưa ra một bản báo cáo chi tiết về chính sách hành hình của chính quyền quân phiệt Chile mà qua đó, như ông ta lưu ý vị Bộ trưởng Ngoại giao mới, “Ngài đã yêu cầu bằng điện thư từ Tokyo Văn bản ghi chú tiếp tục soi sáng ông Kissinger trong nhiều cách khác nhau về mười chín ngày đầu tiên của chế độ Pinochet. Con số tổng kết về những cuộc hành quyết trong suốt giai đoạn đó, chúng tôi được cho biết là, tổng số 320. (Điều nầy trái ngược với tổng số 100 được công bố rộng rãi, và được dựa trên “một báo cáo nội bộ, bí mật được soạn ra cho chính quyền Hội đồng Quân nhân” mà qua đó những quan chức Hoa Kỳ rõ ràng nhận biết riêng.) Nhìn về khía cạnh sáng sủa, “Vào ngày 14 tháng Mười Một, chúng tôi công bố của tín dụng CCC thứ hai của chúng tôi cho Chile –24 $ triệu đô-la cho việc nuôi sống bằng bắp. Cam kết lâu dài của chúng tôi để bán hai tàu khu trục dư thừa cho Hải quân Chile đã gặp phải một phản ứng cảm thông hợp lý trong những cuộc tham vấn Thượng viện. Những người Chile, trong khi đó, đã gởi cho chúng tôi nhiều đòi hỏi mới về dụng cụ quân sự gây ra tranh cãi.”

p68

Ông Kubisch sau đó nêu lên một câu hỏi khó xử về hai công dân Hoa Kỳ bị sát hại bởi chính quyền của Hội đồng Quân nhân –Charles Horman và Frank Teruggi– mà những chi tiết chính xác về số phận của họ, hơn một phần tư thế kỷ sau đó, vẫn còn được tìm kiếm bởi gia đình của họ. Lý do cho sự kéo dài của việc tìm kiếm có thể được suy ra từ lời bình luận sau nầy của ông Kubisch, được ghi nhận vào ngày 11 tháng Hai năm 1971, mà trong đó ông ta báo cáo về một cuộc gặp gỡ với Bộ trưởng Ngoại giao của Hội đồng Quân nhân, và ghi chú rằng ông ta nêu lên các vấn đề về những người Mỹ mất tích “trong bối cảnh của sự cần phải cẩn thận để giữ những vấn đề tương đối nhỏ trong mối quan hệ của chúng tôi xa khỏi việc tạo nên sự hợp tác của chúng tôi khó khăn hơn.”
Để trở lại, qua đường vòng quanh nầy, Chiến dịch Condor. Đây là một cổ máy ám sát, bắt cóc, tra tấn và hăm dọa vượt biên giới, được phối hợp giữa các lực lượng cảnh sát mật vụ của ông Pinochet thuộc Chile, ông Stroessner thuộc Paraguay, ông Videla thuộc Argentina và những nhà độc tài về quân sự khác trong khu vực. Tính chất quốc tế hóa nầy về nguyên tắc của Đội Tử thần bây giờ được biết là đã phải chịu trách nhiệm, đối với cái tên chỉ những nạn nhân nổi bật nhất, cho vụ hạ sát người bất đồng chính kiến, Tướng Carlos Prats của Chile (và người vợ của ông ta) tại Buenos Aires, vụ hạ sát người Bolivia, Tướng Juan Jose Torres, và việc làm tàn tật một Thượng nghị sĩ thuộc Đảng Dân chủ Tin Lành Chile, Bernardo Leighton, ở Ý. Đội Kên Kên cũng gây nổ một quả bom trên xe ở trung tâm thành phố Washington, D.C., vào tháng Chín năm 1976, giết chết cựu Ngoại trưởng Chile, Orlando Letelier và người phụ tá của ông ta, Ronni Moffitt. Sự đồng lõa của chính phủ Hoa Kỳ đã bị phát hiện ở mọi cấp bậc của mạng lưới nầy. Nó đã được thành lập, thí dụ, mà qua đó FBI trợ giúp Tướng Pinochet trong việc bắt được Jorge Isaac Fuentes de Alarcon, vốn là người đã bị giam giữ và tra tấn ở Paraguay, sau đó được giao qua cho cảnh sát mật vụ Chile, và “bị biến mất.” Thật đáng ngạc nhiên là, sự giám sát những người tị nạn bất đồng chính kiến Mỹ–Latin ở Hoa Kỳ được hứa hẹn với những nhân vật Kên Kên bởi tình báo Hoa Kỳ.
Những điều nầy và các sự kiện khác đã được thành lập bởi công việc của những ủy ban về “sự thật và hòa giải” được dựng lên bởi những lực lượng sau chế độ độc tài ở các quốc gia thuộc Nam bán cầu. Ông Stroessner đã bị lật đổ, ông Videla đang ở trong tù, ông Pinochet và những tay sai của mình đang hoặc đã bị mang ra tường trình ở Chile. Hoa Kỳ cho đến nay đã không tìm thấy đó là điều tiện lợi để lập một ủy ban sự thật và hòa giải của riêng nó, mà điều đó có nghĩa là nó kém sẵn sàng hơn trong lúc nầy khi phải đối mặt với trách nhiệm lịch sử của nó so với những quốc giá đã có lần bị chế giễu như là “những nước cộng hòa chuối.”

p69

Tất cả trong số những tội ác được trích dẫn ở bên trên, và ngoài ra còn nhiều hơn nữa, đã được nhúng tay vào trên sự “theo dõi” của ông Kissinger như là vị Bộ trưởng Ngoại giao. Và tất cả trong số chúng đã và đang bị trừng phạt, theo luật địa phương hay quốc tế, hoặc cả hai. Khó mà có thể được lập luận, bởi chính ông ta hoặc bởi những hậu vệ của mình, rằng ông ta không quan tâm đến, hoặc không nhận biết về, tình hình thực sự. Vào năm 1999, một văn bản ghi nhớ bí mật được mật giải, đưa ra những chi tiết làm đau đớn về một cuộc trò chuyện riêng tư giữa ông Kissinger và ông Pinochet ở thủ đô Santiago, Chile, vào ngày 8 tháng Sáu năm 1976. Cuộc gặp gỡ đã diễn ra vài ngày trước khi ông Kissinger đến lúc phải lên phát biểu trước Tổ chức các Nước châu Mỹ (OAS = Organization of America States). Chủ đề là nhân quyền. Ông Kissinger đang ở trong một tình trạnh đau khổ nào đó để giải thích cho ông Pinochet rằng một vài nhận xét được làm theo đúng quy ước mà ông ta phải làm trên chủ đề đó thì không có ý là phải được nhận lấy một cách nghiêm túc. Một người bạn tôi, Peter Kornbluh, đã biểu diễn một trò so sánh “văn đàm” (Văn bản ghi nhớ về cuộc Đàm thoại) với lời tường trình về cuộc họp được đưa ra bởi chính ông Kissinger trong cuốn sách tập ba của mình về lời biện hộ, “Years of Renewal” (“Những năm Đổi mới”) :

Hồi ký: “Một số thời gian đáng kể trong cuộc đối thoại của tôi với ông Pinochet được dành cho nhân quyền, mà qua đó, trên thực tế, là điều trở ngại chính để khép chặc những quan hệ của Hoa Kỳ với Chile. Tôi đã phát họa những điểm chính trong bài diễn văn của tôi với OAS (i.e. Tổ chức các Nước châu Mỹ) mà tôi sẽ nói vào ngày hôm sau. Ông Pinochet không có lời bình luận nào.”
Văn đàm: “Tôi sẽ xem nhân quyền theo những điều khoản chung chung, và quyền con người trong một bối cảnh thế giới. tôi sẽ đế cập đến bản báo cáo trong hai đoạn văn về Chile của Ủy ban Nhân quyền OAS. Tôi sẽ nói rằng vấn đề nhân quyền đã làm suy giảm những mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Chile. Điều nầy một phần là kết quả của những hành động của Quốc hội. Tôi sẽ bổ sung thêm là tôi hy vọng bạn sẽ mau chóng loại bỏ những trở ngại nầy… Tôi có thể làm không ít, mà không tạo ra có một phản ứng ở Hoa Kỳ vốn sẽ dẫn đến những hạn chế về lập pháp. Bài diễn văn không nhắm vào Chile. Tôi muốn nói với bạn về điều nầy. Sự đánh giá của tôi, đó là bạn là một nạn nhân của tất cả các nhóm cánh tả trên khắp thế giới và tội lỗi lớn nhất của bạn, đó là bạn lật đổ một chính phủ vốn sắp sửa trở thành Cộng sản.”

p70

Hồi ký: “Như là Ngoại trưởng, tôi cảm thấy tôi có trách nhiệm khuyến khích chính phủ Chile theo chiều hướng của một nền dân chủ lớn hơn qua một chính sách hiểu được những mối quan tâm của ông Pinochet… Ông Pinochet nhắc nhở tôi rằng ‘nước Nga hỗ trợ dân họ 100 %. Chúng tôi ủng hộ bạn. Bạn là người lãnh đạo. Nhưng bạn có một hệ thống trừng phạt cho những người bạn của mình.’ Tôi quay trở lại chủ đề được gạch dưới của mình mà bất kỳ sự giúp đỡ chính yếu nào từ chúng tôi sẽ thực tiển phụ thuộc vào sự tiến bộ về nhân quyền.”
Văn đàm: “Có công lao trong điều gì bạn nói. Chính là thời gian kỳ lạ ở Hoa Kỳ… Thật là bất hạnh. Chúng tôi đã từng trải qua vấn đề Việt Nam và Watergate. Chúng tôi phải chờ đợi cho đến khi những cuộc bầu cử [vào năm 1976]. Chúng tôi hoan nghênh việc lật đổ chính quyền có khuynh hướng Cộng sản ở đây. Chúng tôi không có ý làm suy yếu vị trí của bạn.”

Trong một cách không được hài lòng, ông Pinochet hai lần nhắc đến cái tên Orlando Letelier, một nhà lãnh đạo lưu vong, đối lập Chile buộc tội ông ta về việc lừa dối Quốc hội Hoa Kỳ, sự phản ứng của ông Kissinger, như có thể được nhìn thấy, là xin lỗi ông ta về việc Quốc hội và (trong một màn diễn lại nho nhỏ về chiến thuật Paris 1968 trên vấn đề Việt Nam của ông ta) đề nghị rằng nhà độc tài nên hy vọng cho những ngày tốt đẹp hơn sau những cuộc bầu cử sắp tới. Ba tháng sau đó, một quả bom trên xe hơi tại Washington giết chết ông Letelier; ngày hôm nay, điều đó vẫn còn là một sự tổn thương duy nhất như thế từng được nhúng tay vào tại thủ đô quốc gia bởi những mật thám của một chế độ nước ngoài. (Biến cố đáng chú ý nầy hoàn toàn biến mất khỏi hồi ký của ông Kissinger.) Người đàn ông chịu trách nhiệm cho việc sắp xếp tội phạm, một cảnh sát mật vụ Chile, Tướng Manuel Contreras, kể từ lúc đã thú nhận tại phiên tòa rằng ông ta không hành động mà không có những mệnh lệnh cụ thể và cá nhân từ ông Pinochet. Ông ta vẫn còn ở trong tù, chắc chắn là đang tự hỏi tại sao ông ta tin cậy vào những cấp trên của mình.
“Tôi muốn nhìn thấy những mối quan hệ và tình bạn của chúng ta tiến triển,” ông Kissinger nói với ông Pinochet (nhưng không phải nói với những độc giả của cuốn hồi ký của ông ta). “Chúng tôi muốn giúp đỡ, không làm phá ngầm bạn.” Trong việc góp ý cho một kẻ giết người và là bạo chúa, mà quyền cai trị của người mà ông ta đã giúp đỡ áp đặt, bỏ qua những nhận xét sắp tới của ông ta như một thứ để dỗ dành Quốc hội. Ông Kissinger đã xúc phạm nền dân chủ trong cả hai quốc gia. Ông ta cũng đã đưa ra màu xanh nhất trong số những đèn xanh cho chính sách khủng bố vượt biên giới xa hơn và trong nội bộ, trong số đó không có cái nào mà ông ta đã có thể không hay biết.

p71

(Trong cuốn hồi ký của ông ta, ông ta thực sự có đề cập đến cái gì đó mà ông ta gọi là “Cơ quan tình báo chống khủng bố” của Pinochet) Việc thông đồng xa hơn nữa với ông Pinochet chống lại Quốc hội Hoa Kỳ, mà qua đó đang xem xét dự luật sửa đổi của Tổng thống Kennedy cắt bỏ những cuộc buôn bán vũ khí cho những kẻ vi phạm nhân quyền, ông Kissinger đưa ra sự nhận xét một cách vâng phục :

Tôi không biết nếu bạn lắng nghe lén trên điện thoại của tôi, nhưng nếu bạn làm thế, bạn vừa mới nghe tôi ban hành những chỉ thị cho Washington để [đánh bại dự luật sửa đổi của ông Kennedy]. Nếu chúng tôi đánh bại nó, chúng tôi sẽ chuyển giao những chiếc phản lực F-5E như chúng ta đồng ý làm thế.

Đoạn văn ở trên thật đáng ghi nhớ. Nó là một chìa khóa tốt cho việc giải mã mối quan hệ bình thường giữa sự kiện thực tế và sự dối trá trong cuốn hồi ký kém khéo léo của ông Kissinger. (Và nó là một điều sỉ nhục to lớn đối với những biên tập viên của ông ta tại nhà xuất bản Simon và Schuster, và Weidenfeld và Nicolson.) Nó cũng sẽ hành động như là một sự thúc đẩy cấp bách đối với những thành viên của Quốc hội, và đối với những tổ chức nhân quyền, để mở lại những cuộc thẩm tra chưa hoàn tất và những cuộc điều tra bị cản trở vào trong những tội ác đa dạng của giai đoạn nầy. Cuối cùng, và hãy đọc trong ánh sáng của sự trở lại nền dân chủ ở Chile, và sự quyết định của những tòa án Chile theo đuổi sự thật và công lý, nó không thừa nhận sự xúc phạm với thái độ kẻ cả của ông Kissinger liên quan đến “sự vô trách nhiệm” về một dân tộc được trọng vọng và có nhân văn, vốn là những người đã phải gánh chịu khốn khổ trong bàn tay của ông ta, rất nhiều hơn là sự xúc phạm bằng lời nói.

[Phần I: Chương 01–05][Phần II: Chương 06–11(hết) và Phụ lục]

===========================================

Phụ Chú :
01_ Cyprus : (sơ lược theo en.wikipedia) là một quốc đảo trong vùng biển Đông Địa Trung Hải. Nó là một hải đảo lớn nhất thứ ba và có dân cư đông đảo nhất hạng thứ ba trong vùng biển đó và là một đất nước hội viên thuộc Liên Hiệp Âu châu (Union Europe). Nó nằm phía đông của Hy Lạp, hướng nam của Turkey, về phía tây của Syria và Lebanon, tây bắc của Isarel và phía bắc của Ai Cập.

(Vị trí của quốc đảo Cyprus trong vùng biển Đông Địa Trung Hải)

(Cộng hòa Cyprus được chia ra thành 6 vùng: Nicosia, Famagusta, Kyrenia,
Larnaca, Limassol và Paphos. Những vùng nầy không giống như những vùng
thuộc phía đông Cyprus bị phân chia qua đường ranh màu đỏ chia đôi quốc đảo)

Quốc đảo Cyprus trước đây từng được định cư bởi những người cổ Hy Lạp Mycena vào cuối Thời kỳ Đồng trong hai làn sóng vào thiên niên kỷ thứ 2 trước Công nguyên. Như là một vị trí chiến lược ở Trung Đông, theo sau đó nó đã bị chiếm cứ bởi nhiều thế lực chính, bao gồm những đế chế của Assyria, Ai Cập, Ba Tư (Persian) và, từ một người mà hải đảo này bị chiếm giữ vào năm 333 trước Công nguyên bởi Alexander Đại đế. Được cai trị tiếp theo bởi triều đại Ptolemy Ai Cập, Đế chế La Mã, Byzantine, những quyền lực pháp lý Ả Rập trong một thời gian ngắn, triều đại Lusignan Pháp, và Venice, được theo sau bởi quyền kiểm soát hơn 3 thế kỷ của người Ottoman.
Quốc đảo Cyprus được đặt dưới sự cai quản của Anh Quốc vào năm 1878 cho đến khi nó được ban cho sự độc lập vào năm 1960, trở thành một thành viên của Khối Thịnh vượng Chung (Commonwealth) vào năm sau (1961).
Trong năm 1974, bảy năm sau khi tình trạng bạo lực nội tộc giữa những người nguyên tộc Cyprus gốc Hy Lạp và người nguyên tộc Cyprus gốc Thổ Nhĩ Kỳ, một cuộc đảo chính mưu toan bởi những người quốc gia thuộc nguyên tộc Cyprus gốc Hy Lạp và những phần tử thuộc chính quyền quân phiệt Hy Lạp với mục đích đạt được enosis (sự kết hợp hải đảo với nước Hy Lạp) xảy ra. Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng điều nầy như một cái cớ để xâm lược phần phía bắc của hải đảo.
Những lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ còn đó sau cuộc ngưng bắn, tạo nên kết quả ở một phần của hải đảo; một mục tiêu của Thổ Nhĩ Kỳ kể từ năm 1955. Tình trạng bạo lực nội tộc và cuộc xâm lược theo sau của Thổ Nhĩ Kỳ dẫn đến việc di tản hơn 150.000 người Cyprus gốc Hy Lạp và 50.000 người Cyprus gốc Thổ Nhĩ Kỳ, và sự thành lập một thực thể chính trị riêng biệt của người Cyprus gốc Thổ Nhĩ Kỳ ở phía bắc. Những sự kiện và tình huống chính trị tạo nên là những vấn đề của cuộc tranh luận tiếp tục.
Cộng hòa Cyprus có chủ quyền de jure (theo luật pháp) trên hải đảo Cyprus và vùng biển xung quanh của nó, ngoại trừ Lãnh thổ Nước ngoài của Anh Quốc là Akrotiri và Dhekelia, được cai quản như là những Khu vực Căn cứ có Chủ quyền. Tuy nhiên, Cộng hòa Cyprus de facto (trên thực tế) bị phân chia thành hai phần chính:
– Một khu vực dưới sự kiểm soát hiệu quả của nước Cộng hòa, bao gồm khoảng 59 % diện tích của hải đảo, và
– Một khu vực được kiểm soát bởi người Thổ Nhĩ Kỳ ở phía bắc, tự xưng là Cộng hoà miền Bắc Cyprus Thổ Nhĩ Kỳ và chỉ được nhìn nhận bởi nước Thổ Nhĩ Kỳ, chiếm khoảng 36 % diện tích của hải đảo.

Cộng đồng quốc tế xem phần phía bắc của hải đảo như là một lãnh thổ bị chiếm ngụ thuộc Cộng hòa Cyprus bởi các lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ. Cộng hòa Cyprus là một sáng viên của Phong trào Không Liên kết cho đến khi nó gia nhập Liên minh Âu châu vào ngày 1/05/2004. Vào ngày 1/01/2008, Cộng hòa Cyprus gia nhập Khu vực Tiền tệ euro.

A- Biến loạn:

– Vào ngày 16/08/1960, quốc đảo Cyprus đạt được nền độc lập sau Hiệp định Zurich và London giữa Vương quốc Anh, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ.
– Vào năm 1963, tình trạng bạo lực nội tộc nổ ra, một phần được bảo trợ bởi cả cả hai nước Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Kết quả là, người Cyprus gốc Thổ Nhĩ Kỳ đã buộc phải vào trong những vùng đất bị kẹp ở giữa và Tổng thống Cyprus, Đức Tổng Giám mục Makarios III kêu gọi cho những thay đổi hiến pháp như là một phương thức làm giảm bớt sự căng thẳng trên khắp hải đảo. Liên Hiệp Quốc triển khai những lực lượng tại quốc đảo Cyprus tại những điểm bốc cháy.
– Vào năm 1964, Thổ Nhĩ Kỳ cố gắng xâm nhập Cyprus trong phản ứng đáp lại tình trạng bạo lực nội tộc Cyprus đang tiếp tục. Nhưng Thổ Nhĩ Kỳ bị chận đứng bởi bức điện tín bằng văn tự mạnh mẽ từ Tổng thống Mỹ, Lyndon B. Johnson vào ngày 5/06/1964, cảnh cáo rằng Hoa Kỳ sẽ không đứng bên cạnh Thổ Nhĩ Kỳ trong trường hợp có một cuộc xâm lược lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ của Liên Xô theo sau hậu quả.

(Vị Tổng thống đầu tiên của Cộng hòa miền Nam Cyprus, Tổng
Giám mục Makarios III, được Anh Quốc nhìn nhận và hỗ trợ)

B- Cuộc xâm lược của Thổ Nhĩ Kỳ và sự Phân chia:

Vào ngày 15/07/1974, chính quyền quân phiệt Hy Lạp dưới quyền của Dimitrios Ioannides tiến hành một cuộc đảo chính ở quốc đảo Cyprus, nhằm kết hợp hải đảo với Hy Lạp. Cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống Makarios III và thay thế ông ta bằng nhà quốc gia thân-enosis (phong trào ủng hộ ý kiến kết hợp hải đảo với Hy Lạp: Liên kết Hy Lạp), Nikos Sampson. Năm ngày sau đó, vào ngày 20/07/1974, quân đội Thổ Nhĩ Kỳ xâm chiếm hải đảo lấy cớ là khôi phục trật tự hiến pháp của nước Cộng hòa Cyprus bằng cách tuyên bố quyền can thiệp như là một trong nước bảo đảm của Hiệp ước Guarantee 1960.
Không quân Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu thả bom những vị trí của Hy Lạp trên quốc đảo Cyprus, hàng trăm binh lính dù được thả vào trong khu vực giữa vùng Nicosia và Kyrenia, nơi mà những vùng nằm giữa của dân Cyprus gốc Thổ Nhĩ Kỳ được trang bị đầy đủ đã từng được thiết lập từ lâu, trong khi đó, ngoài bờ biển Kyrenia, 30 chiếc tàu đầy binh lính Thổ Nhĩ Kỳ được bảo vệ bởi chiếc khu trục đỗ bộ 6.000 người cũng như xe tăng, xe tải, và những xe bọc thép.
Ba ngày sau đó, khi cuộc ngưng bắn đã được đồng ý, Thổ Nhĩ Kỳ đã đỗ bộ 30.000 quân trên hải đảo và chiếm lấy hải cảng Kyrenia, một hành lang liên kết vùng Kyrenia đến thủ phủ thành phố Nicosia, và 1/4 của chính thành phố Nicosia thuộc dân Cyprus gốc Thổ Nhĩ Kỳ. Chính quyền quân phiệt ở thủ đô Nhã Điễn (Athens), Hy Lạp, và sau đó là chế độ Sampson ở quốc đảo Cyprus sụp đổ khỏi quyền lực. Ở thủ phủ thành phố Nicosia, Glafkos Clerides tiếp nhậm chức vụ Tổng thống và trật tự hiến pháp được khôi phục, gỡ bỏ cái cớ cho cuộc xâm lược của Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng trong suốt những cuộc hòa đàm tại Geneva, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ tăng cường đầu cầu Kyrenia của họ và chuẩn bị cho một cuộc xâm lược thứ hai. Cuộc xâm lược bắt đầu vào ngày 14/08/1974 và dẫn đến kết quả của việc chiếm giữ vùng Morphou, Karpas, Famagusta và Mesaoria. Những lực lượng Cyprus gốc Hy Lạp đã không có thể đối kháng bước tiến của Thổ Nhĩ Kỳ.
Áp lực quốc tế dẫn đến cuộc ngưng bắn, và sau đó 37% của hải đảo đã bị chiếm lấy bởi những người Thổ Nhĩ Kỳ và 180.000 người Cyprus gốc Hy Lạp đã bị đuổi ra khỏi nhà của họ ở phía bắc. Cùng lúc đó, khoảng 50.000 người Cyprus gốc Thổ Nhĩ Kỳ chuyển đến các khu vực nằm dưới quyền kiểm soát của các lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ và định cư trong những đất đai nhà cửa của những người Cyprus gốc Hy Lạp buộc phải di tản. Trong một loạt những sắc lệnh khác nhau chống lại Thổ Nhĩ Kỳ, vào giữa năm 1975, Quốc hội Hoa Kỳ áp đặt lệnh cấm vận vũ khí trên Thổ Nhĩ Kỳ cho việc sử dụng dụng cụ được Mỹ cung trong suốt cuộc xâm lược của Thổ Nhĩ Kỳ trên quốc đảo Cyprus vào năm 1974.

(Dimitrios Ioannidis (hoặc Ioannides), người thứ tư từ bên trái, vị chỉ huy cảnh
sát quân sự Hy Lạp, từng tham gia tổ chức cuộc đảo chính ngày 15/07/1974,
cuối cùng bị xét xử vào ngày 21/07/1975 và giam cầm cho đến chết vào ngày
16/08/2010 về tội bán nước, bạo loạn, và tòng phạm của cuộc thảm sát 83 học
sinh và người dân, với hơn 1.000 người bị thương trong suốt cuộc nổi dậy
của học sinh trường Bách khoa Nhã Điễn, Hy Lạp vào năm 1973)

(Nikos Simpson trên thực tế là vị Tổng thống của quốc đảo Cyprus
(15–23/07/1974) kế nhiệm Đức Tổng Giám mục Mikarios sau cuộc đảo
chánh thành công, bị tuyên án 20 năm tù và bị giam giữ ở Pháp, sau đó
được trả về quốc đảo Cyprus vào năm 1990 vì lý do sức khoẻ, mãi đến
năm 1993 được miễn án. Ông ta mất vào năm 2001 vì bệnh ung thư)

C- Hậu Phân lập:

Sau khi lập lại trật tự hiến pháp và việc trở lại quốc đảo Cyprus của Đức Tổng Giám mục Makarios III vào tháng 12/1974, những binh lính Thổ Nhĩ Kỳ vẫn còn trên hải đảo chiếm ngụ phần cuối đông bắc của đảo. Vào năm 1983, những người Cyprus gốc Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố Cộng hòa miền Bắc Cyprus Thổ Nhĩ Kỳ, vốn được nhìn nhận chỉ bởi nước Thổ Nhĩ Kỳ. Có 1,534 người Cyprus gốc Hy Lạp và 502 người Cyprus gốc Thổ Nhĩ Kỳ mất tích như là hậu quả của cuộc chiến đấu.
Những biến cố của mùa hè năm 1974 khống chế nền chính trị trên hải đảo nầy, cũng như những quan hệ Hy Lạp–Thổ Nhĩ Kỳ. Vào khoảng 150.000 người định cư từ Thổ Nhĩ Kỳ được cho là đang sống ở phía bắc trong sự vi phạm Công ước Geneva và các nghị quyết khác nhau của Liên Hiệp Quốc. Theo sau cuộc xâm lược và việc chiếm lấy lãnh thổ phía bắc của quốc đảo Cyprus bởi những binh lính Thổ Nhĩ Kỳ, Cộng hòa Cyprus tuyên bố rằng tất cả những cổng ra vào ở phía bắc của nó được đóng lại, khi mà chúng không nằm quyền kiểm soát của nó một cách hiệu quả.
Cuộc xâm lược và việc chiếm ngụ của Thổ Nhĩ Kỳ và việc tự tuyên bố độc lập của Cộng hòa miền Bắc Cypsus Thổ Nhĩ Kỳ đã bị lên án bởi nhiều Nghị quyết của Liên Hiệp Quốc. Hội đồng Bảo an tái khẳng định điều nầy mỗi năm. Một nỗ lực lớn cuối cùng để giải quyết cuộc tranh cãi về Cyprus là Kế hoạch Annan vào năm 2004, được thảo ra bởi Tổng Thư ký vào thời điểm đó, là Kofi Annan. Kế hoạch nầy được đưa vào trong một cuộc trưng cầu ở Cộng hòa miền Bắc Cyprus Thổ Nhĩ Kỳ và lẫn Cộng hòa miền Nam Cyprus. Nó có được sự ủng hộ của những người Cyprus gốc Thổ Nhĩ Kỳ và thông qua ở Cộng hòa miền Bắc Cyprus Thổ Nhĩ Kỳ nhưng bị từ chối bởi những người Cyprus gốc Hy Lạp, vốn là những người cảm nhận nó có sự thiên về những người Thổ Nhĩ Kỳ một cách không tương xứng.
Vào ngày 1/05/2004, Cộng hoà miền Nam Cyprus gia nhập Liên minh Âu châu cùng với 9 quốc gia khác. Cộng hòa miền Bắc Cyprus Thổ Nhĩ Kỳ không được chấp nhận vào trong Liên minh Âu châu. Vào tháng 7/2006, hải đảo phục vụ như là một nơi ẩn náu an toàn cho những người trốn khỏi Lebanon do cuộc xung đột giữa Israel và Hezbollah (cũng được gọi là “cuộc Chiến tranh tháng Bảy”).
Vào tháng 3/ 2008, bức tường mà qua đó trong nhiều thập kỷ, đã đứng lên tại ranh giới gữa Cộng hòa miền Nam Cyprus và vùng đệm của Liên Hiệp Quốc đưọc phá bỏ. Bức tường đã từng cắt ngang con đường Ledra ở trung tâm của thủ phủ thành phố Nicosia và được xem là một biểu tượng mạnh mẽ của sụ phân chia 32-năm của hải đảo. Vào ngày 3/04/2008, con đường Ledra được mở ra trở lại trong sự hiện diện của những quan chức Cyprus gốc Hy Lạp và Cyprus gốc Thổ Nhĩ Kỳ.

(Cộng hòa miền Nam Cyprus chiếm phía 2/3 vùng phía nam hải đảo (59,74%). Cộng
hòa Thổ Nhĩ Kỳ miền Bắc Cyprus Bắc chiếm 1/3 vùng phía bắc (34,85%) và Tuyến
đường Xanh (Green Line) của Liên Hiệp Quốc băng qua thành phố Nocosia, quy định
những vùng đệm vốn nằm hai bên cuối Tuyến đường Xanh, nhằm tách phân hai vùng
và bao phủ 2.67% của hải đảo. Cuối cùng là, hai căn cứ dưới chủ quyền của Anh
Quốc được đặt trên hải đảo: Akrotiri (cuối vùng phía nam) và Dhekelia (ngay trên
Tuyến đường Xanh, cuối phía đông), chiếm phần còn lại khoảng 2,74%)

(Quốc kỳ của Cộng hòa miền Nam Cyprus)

(Quốc kỳ của Cộng hòa miền Bắc Cyprus Thổ Nhĩ Kỳ)

(Đức Tổng Giám mục Makarios III (1913–1977) nhận được tước phong
Primate thuộc dòng Nhà thờ Chính thống Cyprus Độc lập, từng trải qua
3 nhiệm kỳ Tổng thống Cyprus (1959–1977) và 4 lần bị ám sát và thoát
khỏi được cuộc đảo chính vào năm 1974)

02_ Miền Đông Timor (East Timor) : chính thức là Cộng hòa Dân chủ Đông Timor là một quốc đảo trong vùng đông nam Á châu, chỉ chiếm nửa hải đảo Timor và vùng đất Ambeno lẻ loi thuộc hướng tây nam trong phần đất Tây Timor thuộc Indonesia.

(Quốc đảo Đông Timor bao gồm vùng Ambeno lẻ loi thuộc hướng tây nam
trong phần đất Tây Timor thuộc Indonesia)

(Quốc kỳ quốc đảo Cộng hòa Dân chủ Đông Timor)

03_ Kurds : là nhóm chủng tộc ở vùng phía tây Á châu, hầu hết cư ngụ trong một vùng được biết đến như là vùng người Kurd, vốn bao gồm những phần của Iran, Iraq, Syria, và Turkey (Thổ Nhĩ Kỳ), đa số ở vùng Trung Đông, mặc dù họ có mặt ở nhiều nước trên thế giới và có ngôn ngữ riêng.

(Vùng dân tộc Kurd vào năm 2007 ở Trung Đông)

04_ Tổng thống Pinochet : (sơ lược theo en.wikipedia) Augusto José Ramón Pinochet Ugarte, thường được gọi là Augusto Pinochet (25/11/1915–10/12/2006) là một vị tướng quân đội và vào đầu năm 1972, ông ta trở thành vị Tổng Tham mưu Trưởng quân đội; một năm sau, vào ngày 23/08/1973, ông ta được thăng chức Tổng Tư lệnh quân đội Chile bởi Tổng thống Allende.
Ông ta có được quyền lực trong một cuộc đảo chính vào ngày 11/09/1973, được hỗ trợ bởi Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ, mà qua đó lật đổ chính phủ “Đoàn kết Nhân dân” (“UniPad” = UP) của Salvador Allende và kết thúc quyền cai trị dân sự một tuần trước khi ngày kỷ niệm lần thứ 48 của nhóm chính trị “Đoàn Kết Nhân dân.” Ông ta giữ lấy vị trí Tổng Tư lệnh quân đội Chile (1973–1998) và kiêm chức vụ Tổng thống của Chính phủ quân phiệt Chile (1974–1981).
Ông ta bị xem là một nhà độc tài của Chile từ năm 1973 –theo những báo cáo và điều tra khác nhau, có khoảng 1.200–3.200 người bị thiệt mạng, lên đến 80.000 bị giam giữ, và lên đến 30.000 người bị tra tấn bởi chính phủ của ông ta, bao gồm phụ nữ và trẻ em.

(Huy hiệu của Unipad (“Đoàn kết Đại chúng” hoặc “Đoàn kết Nhân dân”) là
một liên minh của cánh tả, gồm những đảng phái chính trị thuộc xã hội chủ
nghĩa và cộng sản chủ nghĩa ở Chile vốn đứng phía sau ứng cử viên thành
công, Salvador Allende, cho cuộc bầu cử Tổng thống Chile vào năm 1970)

(Salvador Guillermo Allende Gossens, vị Tổng thống thứ 29 của Chile từ 11/1970
–12/1973, được biết đến như một nhà Mác-xít,(14) và là thành viên của Đảng Xã
hội,* đã từng ra tranh cử một cách thành công cho chức vụ Tổng thống vào
những năm 1952, 1958, và 1954. Riêng nhiệm kỳ 1970, qua cuộc đảo chính
1973, ông ta bị lật đổ bởi Tướng Augusto Pinochet và tự sát sau bài diễn
thuyết tuyên thệ không từ chức)

=============
* Điều nên chú ý là Salvador Allen là một vị Bác sĩ trước đây, mặc dù là nhà Mác-xít và là thành viên của Đảng Xã hội, nhưng không phải là Đảng Cộng sản như Liên Xô, Trung Hoa, Bắc Triều Tiên, Cuba, hay Việt Nam. Những quốc gia thuộc vùng Nam Mỹ, Âu châu ứng dụng lý thuyết Marx trong xã hội nhằm nâng cao quyền dân chủ và chống lại quyền độc tài toàn trị. Tuy nhiên, phe cánh của ông ta được Đảng Cộng sản Chile ủng hộ phía sau. Đó là điều khiến Hoa Kỳ lo ngại. Và sau nầy, chính Đảng Cộng sản Chile đã khích động dân chúng nổi loạn.
=============

(“Muôn năm Chile ! Muôn năm nhân dân ! Muôn năm giới công nhân !”
Bài nói chuyện vĩnh biệt của Tổng thống Salvador Allende vào ngày
11/09/1973, một nhân vật theo chiều hướng xã hội chủ nghĩa với sự ủng
hộ của Đảng Cộng sản Chile ở phía sau)

Quyền cai trị 16 năm rưỡi của ông Pinochet được ban cho khung lề hợp pháp qua cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1988, mà qua đó nhìn nhận một Hiến pháp mới được soạn thảo bởi một ủy ban được chính phủ chỉ định. Cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1988 (mà qua đó cho thấy 56 % bỏ phiếu chống lại sự tiếp tục nhiệm kỳ Tổng thống 8 năm của ông ta) đã dẫn đến các cuộc bầu cử dân chủ cho chức vụ Tổng thống và Quốc hội. Sau khi ông ta bước xuống một cách ôn hòa vào năm 1990, và chuyển giao quyền lực cho vị Tổng thống Patricio Aylwin Azócar được dân bầu ra sau khi nền dân chủ được tái lập, ông Pinochet tiếp tục phục vụ như vị Tổng Tư lệnh quân đội Chile cho đến ngày 10/03/1998.

(Tướng Augusto Pinochet là vị Tổng thống thứ 30 của Chile, với 16
năm rưỡi tại vị qua hơn 2 nhiệm kỳ 8 năm trong chức vụ, được biết đến
như là một nhà độc tài, nhất là đối với thành phần Cộng sản)

(Patricio Aylwin Azócar, một nhà chính trị Dân chủ Tin Lành Chile, là vị
Tổng thống thứ 31 trong nhiệm kỳ 4 năm từ 11/03/1990–11/03/1994)

Ông ta về hưu và trở thành một thượng nghị sĩ suốt đời theo quy định của Hiến pháp năm 1980. Tuy nhiên, ông Pinochet bị bắt tại London vào ngày 10/10/1998 trong sự kết nối với rất nhiều cáo buộc về quyền con người, nhưng theo sau một cuộc chiến đấu pháp lý trong gần 2 năm, ông ta đã được thả ra và trở về Chile vào tháng 3/2000.
Vào năm 2004, Thẩm phán Chile là Juan Guzmán Tapia ra mệnh lệnh rằng ông Pinochet phù hợp về sức khoẻ để ra hầu tòa và đặt ông ta dưới sự quản thúc tại nhà. Vào thời điểm qua đời của ông ta vào ngày 10/12/2006, có khoảng 300 tội hình sự vẫn còn chưa giải quyết chống lại ông ta ở Chile vì rất nhiều sự vi phạm nhân quyền, trốn thuế, và biển thủ trong suốt gần 17 năm qua cai trị của ông và sau đó. Ông Pinochet cũng bị cáo buộc cho việc đã từng tích lũy một cách tham ô một tài sản 28 triệu U.S. đô-la hoặc hơn nữa.

A- Cuộc đảo chính Quân sự vào năm 1973:

Vào ngày 11/09/1973, các Lực lượng Vũ trang Chile Kết hợp (Quân đội, Hải quân, Không quân và lực lượng Carabineros –là lực lượng cảnh sát quốc gia và cảnh sát quân sự) lật đổ chính phủ Allende, trong suốt cuộc đảo chính mà Dinh Tổng thống “La Moneda,” đã bị dội pháo và Allende đã tử thương. Trong khi quân đội sau đó tuyên bố rằng ông ta đã tự tử, một cuộc tranh cãi xung quanh cái chết của ông Allende, với nhiều tuyên bố rằng ông ta đã có thể bị ám sát.
Trong cuốn hồi ký của mình, ông Pinochet nói rằng ông ta người bày mưu dẫn dắt của cuộc đảo chính và sử dụng vị trí của mình như là vị Tổng Tư lệnh quân đội để phối hợp một âm mưu đạt đến xa rộng với hai nhánh khác của cảnh sát quân đội và quốc gia. Trong những năm sau đó, tuy nhiên, những quan chức quân sự cao cấp từ thời điểm đó nói rằng ông Pinochet càng lúc miễn cưỡng tham gia chỉ một vài ngày trước khi nó được định ngày xảy ra và theo sau sự dẫn dắt của những nhánh khác (đặc biệt là Hải quân, dưới quyền của Merino ) khi họ thực hiện cuộc đảo chính.
Chính phủ mới vây tụ hàng ngàn người và giữ họ trong sân vận động quốc gia, nơi mà nhiều người bị giết chết, lập ra một giai đoạn trong nhiều thập niên của sự đàn áp tàn bạo vốn theo sau. Như nhiều như đến 3.000 người bị thiệt mạng trong suốt những năm của ông Pinochet trong quyền lực, và hơn 1.000 người vẫn còn đang mất tích.
Trong những tháng vốn theo sau cuộc đảo chính, chính quyền quân phiệt, với công việc được cho phép của nhà sử học Gonzalo Vial và Đô đốc Patricio Carvajal, xuất bản một cuốn sách có tựa đề “El Libro Blanco del Cambio de Gobierno en Chile” (thường được biết đến như là “El Libro Blanco,” hoặc là “The White Book of the Charges of Government in Chile” (“Cuốn sách Trắng của những Tội phạm của Chính phủ ở Chile”), nơi mà họ cố gắng biện minh cho cuộc đảo chính bằng cách tuyên bố rằng thật ra, họ đang tham gia vào trong cuộc đảo chính tự diễn biến (đó là Kế hoạch Zeta kết hợp, hoặc Kế hoạch Z ) mà qua đó chính phủ Allende hoặc những người liên kết của nó đang chuẩn bị một cách có mục đích. Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ tin rằng kế hoạch đó là sự tuyên truyền không đúng sự thật. Mặc dù sau đó, bị mất uy tín và chính thức nhìn nhận như là một sản phẩm tuyên truyền chính trị, một số sử gia Chile chỉ ra những sự giống nhau giữa Kế hoạch Z được cho là thế và những kế hoạch bán quân sự khác đang tồn tại của những đảng phái “Đoàn kết Nhân dân” trong sự hỗ trợ tính chất hợp pháp của nó.
Jean Charpentier, người Gia Nã Đại của đài Télévision de Radio-Canada, là nhà báo nước ngoài đầu tiên phỏng vấn Tướng Pinochet sau cuộc đảo chính.

B- Hoa Kỳ hỗ trợ Phía sau cuộc Đảo chính:

Hoa Kỳ cung cấp vật liệu cho chính phủ quân sự sau cuộc đảo chính, mặc dù chỉ trích nó công khai. Một tài liệu được tung ra bởi Trung ương Cơ quan Tình báo Mỹ (CIA) vào năm 2000, có tiêu đề “CIA Activities in Chile” (“Những hoạt động của CIA ở Chile”), tiết lộ rằng CIA tích cực hỗ trợ chính quyền quân phiệt sau việc lật đổ Allende, và rằng nó tạo nên nhiều sĩ quan của ông Pinochet trở thành những điểm liên lạc được trả tiền bởi CIA hoặc quân đội Hoa Kỳ, ngay cả mặc dù một số được biết đến là tham gia trong những việc vi phạm nhân quyền. Có lẽ nổi tiếng nhất là, CIA duy trì những liên lạc trong số dịch vụ tình báo của Cảnh sát Mật vụ Chile DINA (DINA = Dirección de Inteligencia NAcional; tiếng Anh là “National Intelligence Directorate” (“Ban giám đốc Tình báo Quốc gia”)) trong khi những người cầm đầu DINA, dưới quyền chỉ huy trực tiếp ông Pinochet, dẫn dắt một “chiến dịch chống Chủ nghĩa Cộng sản” đa quốc gia được biết đến như là Chiến dịch Kên Kên (Operation Condor), đưa đến kết quả trong những việc ám sát những chính trị gia và các nhà hoạt động nổi tiếng của cánh tả hợp pháp trong các quốc gia châu Mỹ La-tinh, ở Washington, D.C., và ở châu Âu (xem phần dưới đây).
Riêng biệt là, CIA tiếp xúc với người đứng đầu DINA, Manuel Contreras, được thành lập không bao lâu sau cuộc đảo chính (vào năm 1974, trong suốt giai đoạn quân phiệt trước khi chính thức chuyển giao quyền lực Tổng thống cho ông Pinochet) vào năm 1975, CIA đã duyệt xét lời cảnh báo là việc giữ lại ông Contreras như là một tài sản có thể đe dọa nhân quyền trong khu vực. CIA chọn lựa giữ lại ông ta như là một tài sản, và vào một thời điểm, thậm chí trả tiền cho ông ta. Thêm vào việc Duy trì những tài sản của CIA trong DINA bắt đầu chẳng bao lâu sau cuộc đảo chính, nhiều tài sản của CIA, như là những tay chiến đấu lưu vong người Cuba thuộc tổ chức CORU (CORU từ sự đảo ngược của những chữ = Coordination of United Revolutionary Organizations (Sự phối hợp của những Tổ chức Cách mạng Liên hiệp –là một nhóm chống Fidel Alejandro Gastro, một nhà độc tài Cộng sản, được thành lập bởi những người Cuba bị đài lưu vong, bao gồm Orlando Bosch, Luis Posada Carriles, Guillermo Novo Sampoll and Gaspar Jiménez Escobedo) là Orlando Bosch và Guillermo Novo, đã phối hợp trong những hoạt động của DINA dưới Kế hoạch Kên Kên trong những năm đầu nhiệm kỳ Tổng thống của ông Pinochet.
Trong khi Hoa Kỳ mặc nhiên ủng hộ chính phủ Pinochet sau cuộc đảo chính 1973, không có một bằng chứng nào là Hoa Kỳ trực tiếp có dính dáng trong cuộc đảo chính. Tuy nhiên, Báo cáo Giáo Hội kết luận rằng, trong khi Hoa Kỳ đã không trực tiếp tham gia vào trong cuộc đảo chính 1973, nó đã từng hỗ trợ cuộc đảo chính thử nghiệm vào năm 1970 và đã chuyển trực tiếp tiền bạc cho các phần tử chống lại ông Allende, bao gồm những nhóm có thể là khủng bố, trong suốt giai đoạn 1970–1973. Những lực lượng vũ trang dưới quyền chỉ huy của ông Pinochet có sự phối hợp đủ mạnh và những nguồn quân sự, và động lực đủ thích hợp, để nhận lấy trách nhiệm cuộc đảo chính nhờ vào riêng mình, như được chứng cớ bởi mưu đồ đảo chính trước đó của họ được biết đến như là Tanquetazo (có nghĩa là “Cuộc nổi dậy Chớp nhoáng của Xe tăng” vào ngày 29/06/1973 được dẫn dắt bởi Trung tá Roberto Souper, bị thất bại trong cuộc đảo chính chống lại Tổng thống Allene thuộc Đảng Xã hội.)

(Manuel Contreras, người đứng đầu Cảnh sát Mật vụ Chile DINA trong suốt
thời gian độc tài của Tướng Augusto Pinochet, là một người có quyền lực nhất
và là một kẻ đáng sợ trong quốc gia sau ông Pinochet. Ông ta bị đưa ra tòa án
xét xử từ tháng 12/1993 và tiếp tục những phiên tòa khác mãi đến tháng5/2005
với 25 bản án tổng cộng 289 năm tù vì những tội bắt cóc, thủ tiêu,và ám sát)

C- Sự đàn áp phe Đối lập:

“Ông ta đóng cửa quốc hội, bóp ngẹt đời sống chính trị, cấm đoán những công đoàn trao đổi nghề nghiệp, và tạo nên Chile là vương quốc của ông ta. Chính phủ của ông ta làm biến mất 3.000 người đối lập, bắt giữ 30.000 người (tra tấn hàng ngàn người trong số họ)… Cái tên của ông Pinochet sẽ mãi mãi được liên kết với Desaparecidos (việc cưỡng bức biến mất), Đoàn quân Tử thần và sự tra tấn được thể chế hóa vốn diễn ra trong khu tạp cư Villa Grimaldi.”

(Thor Halvorssen, Chủ tịch của Tổ chức Nhân quyền,
báo National Review)

(Tướng Sergio Arellano Stark and Augusto Pinochet, trong một ít giờ
trước lúc khởi hành của Đoàn quân Tử thần vào tháng 9/1973)

Gần như ngay sau khi việc chiếm giữ quyền lực của phe quân sự, chính quyền quân sự cấm tất cả những đảng cánh tả vốn đã thành lập liên minh “Đoàn kết Nhân dân” của ông Allende. Tất cả những đảng phái khác bị đặt trong tình trạng “nghỉ ngơi vô thời hạn” và sau đó bị cấm hoàn toàn. Bạo lực của chính phủ được điều hành trực tiếp không chỉ chống lại những người bất mãn mà còn chống lại những gia đình của họ và những thường dân khác.
Báo cáo Rettig (chính thức là Ủy ban Quốc gia cho Báo cáo Sự thật và Hòa giải (The National Commission for Truth and Reconciliation Report) được đặt tên sau vị chủ tịch của nó là Raúl Rettig, vị Đại sứ trước đây của Tổng thống Salvador Allene) là kết luận là 2.279 người vốn đã biến mất trong suốt thời gian chính phủ quân sự nắm quyền, bị giết chết vì những lý do chính trị hoặc như là một kết quả của bạo lực chính trị, và khoảng 31.947 người bị tra tấn, theo Báo cáo Valech sau đó (chính thức là Ủy ban Quốc gia về Báo cáo Giam cầm và Tra tấn vì Chính trị (The National Commission on Political Imprisonment and Torture Report) được đặt tên sau vị chủ tịch của nó là Đức Tổng Giám mục Sergio Valech), trong khi 1.312 người bị lưu đày. Những người đó bị rượt đuổi trên khắp thế giới bởi những cơ quan tình báo.
Ở châu Mỹ La-tinh, điều nầy được thực hiện trong khuôn khổ của Chiến dịch Kên Kên, một kế hoạch phối hợp giữa những cơ quan tình báo khác nhau thuộc các quốc gia Nam Mỹ, được hỗ trợ bởi một căn cứ truyền thông CIA Hoa Kỳ ở Panama. Ông Pinochet tin rằng những hoạt động nầy thì cần thiết nhằm mục đích “cứu lấy đất nước khỏi chủ nghĩa cộng sản.” Vào năm 2011, ủy ban nhận diện thêm một con số của 9.800 nạn nhân của sự đàn áp chính trị trong suốt thời gian cai trị của Pinochet. Điều nầy dẫn đến một tổng số những nạn nhân được sửa đổi lại lên khoảng 40.018 người, bao gồm 3.065 người bị thiệt mạng.
Một số nhà khoa học chính trị bị gán cho sự tương đối vấy máu của cuộc đảo chính cho sự ổn định của hệ thống dân chủ hiện tại, mà qua đó đòi hỏi hành động cực đoan để lật đổ. Một số trường hợp nổi tiếng nhất về sự vi phạm nhân quyền xảy ra trong suốt giai đoạn đầu : vào tháng 10/1973, ít nhất là 70 người bị giết chết khắp đất nước bởi Đoàn quân Tử thần. Charles Horman, một nhà báo Mỹ, “bị biến mất,” như Victor Olea Alegria, một thành viên của Đảng Xã hội, và nhiều người khác, trong năm 1973.
Hơn nữa, nhiều quan chức quan trọng khác của chính phủ Allende bị theo dõi bởi DINA trong khuôn khổ Chiến dịch Kên Kên. Như thế, Tướng Carlos Prats, người tiền nhiệm của ông Pinochet và là Tư lệnh quân đội dưới chính phủ Allende, vốn là người đã từ chức hơn là hỗ trợ những động thái chống lại chính phủ Allende, bị ám sát tại Buenos Aires, Argentina, vào năm 1974. Một năm sau, việc mưu sát 119 người đối lập ở nước ngoài được ngụy trang như là một cuộc xung đột nội bộ, DINA dựng lên một chiến dịch tuyên truyền để công nhận luận điểm nầy (qua Chiến dịch Colombo), chiến dịch vốn nhận được sự phổ biến bởi tờ báo hàng đầu ở Chile, là El Mercurio.
Những nạn nhân khác của Chiến dịch Kên Kên bao gồm, trong số hàng trăm người ít nổi tiếng hơn như:
– Juan José Torres, vị Tổng thống trước đây của nước Đa quốc gia Bolivia, bị ám sát tại Buenos Aires vào ngày 2/06/1976.
– Carmelo Soria, một nhà ngoại giao của Liên Hiệp Quốc làm việc cho CEPAL (The United Nations Economic Commission for Latin America and the Caribbean (Ủy ban Kinh tế Liên Hiệp Quốc cho châu Mỹ La-tinh và Caribbean) = UNECLAC hoặc ECLAC, trong tiếng Tây Ban Nha được viết tắt là CEPAL), bị ám sát vào tháng 7/1976.
– Orlando Letelier, vị Đại sứ Chile trước đây tại Hoa Kỳ và là vị Bộ trưởng trong nội các Allende, bị ám sát sau khi việc thả ông ta khỏi sự giam giử và cuộc sống lưu vong ở Washington, D.C. bởi một quả bom xe vào ngày 21/09/1976. Điều này dẫn đến những mối quan hệ căng thẳng với Hoa Kỳ và đối vời việc dẫn độ Michael Townley, một công dân Hoa Kỳ vốn là người làm việc cho DINA và đã từng tổ chức vụ ám sát ông Letelier.

(Vị trí của Đất nước đa quốc gia Bolivia (Plurinational State of Bolivia)
trong vùng Nam Mỹ, là một vùng đất kín, không tiếp giáp với bờ biển)

Những nạn nhân khác bị chấm mục tiêu, vốn là những người đã thoát khỏi cuộc ám sát, bao gồm Bernardo Leighton thuộc nhóm Tin Lành–Dân chủ, vốn là người thoát khỏi mưu toan ám sát tại Rome vào năm 1975 bởi tay khủng bố Ý, Stefano delle Chiaie; Carlos Altamirano, vị lãnh đạo của Đảng Xã hội Chile, bị nhắm mục tiêu vì tội giết người vào năm 1975 bởi Pinochet; theo sau với danh sách là Volodya Teitelboim, một thành viên của Đảng Cộng sản, Pascal Allende, là cháu trai của Salvador Allende và là chủ tịch của MIR (theo tiếng Tây Ban Nha là: Movimiento de Izquierda Revolucionaria; tiếng Anh là: The Revolutionary Left Movement (Phong trào Cách mạng Phe tả)), vốn là người thoát được mưu toan ám sát ở Costa Rica vào tháng 3/1976.
Một Dân biểu Hoa Kỳ, Edward Koch, vốn là người vào năm 2001 trở nên có nhận thức về các quan hệ giữa những mối đe dọa cái chết và sự tố cáo của ông ta về Chiến dịch Kên Kên, v.v. Hơn nữa, theo những điều tra hiện nay, Eduardo Frei Montalva, vị Tổng thống Chile thuộc Tin Lành–Dân trong giai đoạn 1964–1970, có thể đã bị hạ độc vào năm 1982 bởi độc tố được sản xuất bởi nhà hóa sinh thuộc DINA, là Eugenio Berrios.

Những cuộc biểu tình tiếp tục, tuy nhiên, trong suốt thập niên 1980s, dẫn đến nhiều vụ bê bối. Vào tháng 03/1985, vụ giết người dã man ba Đảng viên Cộng sản đã dẫn đến sự từ chức của César Mendoza, người đứng đầu lực lượng Carabineros (lực lượng cảnh sát quốc gia và cảnh sát quân sự) và thành viên của chính quyền quân phiệt kể từ khi sự thành lập của nó. Trong suốt cuộc biểu tình năm 1986 chống lại ông Pinochet, một nhiếp ảnh gia người Mỹ 21 tuổi, Rodrigo Rojas DeNegri và một sinh viên 18 tuổi, Carmen Quintana Gloria, bị thiêu sống, chỉ có Carmen còn sống sót.
Vào tháng 08/1989, Marcelo Barrios Andres, một thành viên 21 tuổi của FPMR (tiếng Tây Ban Nha là: Frente Patriótico Manuel Rodríguez); tiếng Anh là: The Manuel Rodríguez Patriotic Front (Mặt trận Yêu nước Manuel Rodríguez), cũng được biết đến như là El Frente Patriótico, or đơn giản là El Frente) (là cánh vũ trang của PCC (tiếng Tây Ban Nha là: Partido Comunista de Colombia (Marxista-leninista); tiếng Anh là: The Communist Party of Colombia (Đảng Cộng sản Colombia)), được tạo ra vào năm 1983, mà qua đó đã từng mưu toan ám sát ông Pinochet vào ngày 7/09/1986 ), bị ám sát bởi một nhóm nhân viên quân sự vốn là những người được xem là bắt giữ ông ta theo mệnh lệnh của công tố viên Valparaíso. Tuy nhiên, họ chỉ đơn giản là hành quyết ông ta; trường hợp nầy được đưa vào Báo cáo Rettig. Trong số những người giết chết và biến mất trong suốt chính quyền quân sự là 440 du kích của MIR (Phong trào Cách mạng Phe tả).

(Lá cờ của Mặt trận Yêu nước Manuel Rodríguez
(FPMR), hoặc El Frente Patriótico, hoặc El Frente)

(MIR, Phong trào Cách mạng Phe tả, thực chất là phong trào Cộng sản
Chile theo chủ thuyết Marxist–Lenninist đang vận động quần chúng
biểu tình chống lại chính quyền quân sự của Tổng thống Pinochet)

Theo cuốn sách của Ozren Agnic Krstulovic, những loại vũ khí bao gồm thuốc nổ dẻo C-4, súng phóng phi đạn B-41 RPG-7 (của Liên Xô) và súng phóng lựu M7-2 LAW (của Hoa Kỳ) cũng như hơn ba ngàn khẩu súng trường M-16 (của Hoa Kỳ) đã được nhập lậu vào trong nước Chile bởi những người đối lập chính phủ.
Vào tháng Chín, những vũ khí từ cùng một nguồn cung cấp được sử dụng trong một mưu toan ám sát không thành công chống lại ông Pinochet bởi nhóm FPMR. Bị tập kích bất ngờ, năm người trong số những vệ binh quân đội bị giết chết. Mặc dù chiếc xe chống đạn hiệu Mercedes Benz của ông Pinochet bị trúng phải bởi một phi đạn, nó không phát nổ, và ông Pinochet phải chịu chỉ là những vết thương nhẹ, đã tìm cách thoát khỏi.

05_ The Hague : là trung tâm hành chính của chính phủ Hòa Lan và Quốc hội, Tòa án Tối cao và Hội đồng Nhà nước, nhưng thủ phủ thành phố “The Hague” không phải là thủ đô của Hòa Lan mà theo hiến pháp là Amsterdam. Vua Willem Alexander của Hòa Lan có kế hoạch sống tại Huis ten Bosch và làm việc tại Cung điện Noordeinde ở “The Hague,” cùng với Nữ hoàng Máxima. Hầu hết những tòa Đại sứ quán nước ngoài ở Hòa Lan và 150 tổ chức quốc tế được đặt vị trí trong thành phố, bao gồm Tòa án Công lý Quốc tế và Tòa án Hình sự Quốc tế, mà qua đó làm cho “The Hague” là một trong những thành phố chính giữ vai trò nhà chủ đối với Liên Hiệp Quốc, cùng với New York, Vienna, Geneva, Tokyo và Nairobi.

(Vị trí của “The Hugue” nằm ở hướng nam Hòa Lan)

06_ Những tiêu chuẩn kép: (double standards) là một sự ứng dụng của những bộ nguyên tắc khác nhau cho những tình huống tương tự, hoặc bởi hai người khác nhau trong cùng một tình huống. Một tiêu chuẩn kép có thể mang hình thức của một trường hợp riêng biệt mà qua đó những khái niệm chắc chắn (thường là, thí dụ, một chữ, một nhóm chữ, chuẩn mực xã hội, hoặc quy tắc) được nhận thức như có thể chấp nhận để được áp dụng bởi một nhóm người, nhưng được xét là không thể chấp nhận –điều cấm kỵ– khi được ứng dụng bởi một nhóm khác.
Khái niệm về tiêu chuẩn kép đã từng được áp dụng từ lâu (sớm như vào năm 1872) đối với sự kiện thực tế mà qua đó những cấu trúc đạo đức khác nhau thường được áp dụng cho những người đàn ông và phụ nữ trong xã hội.
Tiêu chuẩn kép do đó có thể được mô tả như là một ứng dụng có thành kiến hoặc không công bằng về mặt đạo đức của nguyên tắc mà tất cả mọi người đều bình đẳng trong quyền tự do của họ. Những tiêu chuẩn kép như thế được xem như là phi lý vì chúng vi phạm một câu châm ngôn cơ bản của luật học công lý hiện đại : là tất cả mọi bên nên đứng ngang nhau trước pháp luật.
Những tiêu chuẩn kép cũng vi phạm nguyên tắc của công lý được biết đến như là sự công bằng, mà qua đó được dựa trên giả định là những giống nhau nên được áp dụng cho tất cả mọi người, không có sự liên quan đến thành kiến chủ quan hoặc tính chất thiên vị được dựa trên tầng lớp xã hội, cấp bậc, chủng tộc, giới tính, tôn giáo, chiều hướng tình dục, tuổi tác hoặc những sự phân biệt khác. Tiêu chuẩn kép vi phạm nguyên tắc nầy bằng cách quy cho những người khác nhau chịu trách nhiệm theo những tiêu chuẩn khác nhau. Nhóm chữ “cuộc sống thì không công bằng” có thể được viện dẫn nhằm mục đích xoa dịu những lo ngại về tiêu chuẩn kép.

07_ “phương hướng II” (Track II) : là một loại ngoại giao không theo quy định cụ thể, mà trong đó những người không phải là quan chức (những nhà học giả, những quan chức dân sự và quân sự về hưu, những nhân vật quần chúng, và những nhà hoạt động xã hội) tham gia trong cuộc đối thoại, với mục đích của việc giải quyết sự xung đột, hoặc xây dựng lòng tin. Loại ngoại giao nầy đặc biệt hữu ích sau những sự kiện vốn có thể được giải thích theo một số lượng những phương cách khác nhau, cả hai phía đều nhận ra sự việc thực tế nầy, và không bên nào muốn leo thang hoặc lôi cuốn những đảng phái thứ ba vì sợ tình hình xoắn khỏi tầm kiểm soát.
Bản chất không theo quy định ngoại giao phương hướng II cho phép những vấn đề nghiêm trọng và có tiềm năng nguy hiểm được thảo luận trong một diễn đàn cởi mở, không chính thức.
Vào năm 1981, Joseph Montville, sau đó là một nhân viên thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đặt ra những cụm từ ngoại giao Phương hướng I và ngoại giao Phương hướng II trong bài viết “Foreign Policy According to Freud” (“Chính sách Đối ngoại theo Freud”) (của Montville & Davidson, 1981), vốn xuất hiện trên tạp chí Foreign Policy (Chính sách Đối ngoại). Ngoại giao Phương hướng I là cái gì mà những nhà ngoại giao làm những cuộc đàm phán chính thức giữa các quốc gia được tiến hành bởi các nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Ngoại giao Phương hướng II ám chỉ đến những nỗ lực giải quyết sự xung đột bởi những thực dụng gia và lý thuyết gia. “Phương hướng II như chủ đích của nó, có sự giảm thiểu hoặc cách giải quyết cuộc xung đột, trong phạm vi một quốc gia hoặc giữa các quốc gia, bằng cách làm giảm bớt sự tức giận hoặc căng thẳng hoặc lo sợ hãi vốn tồn tại, qua sự giao thoại được cải thiện và sự hiểu biết tốt hơn về quan điểm của nhau” (trích từ cuốn sách “Conflict Resolution: Track Two Diplomacy” (“Cách giải quyết sự Xung đột: Ngoại giao Phương hướng II”) của McDonald & Bendahmane, 1987, trang 1) (i.e. hai tác giả là những vị Đại sứ Hoa Kỳ).
Những nỗ lực của những chuyên gia giải quyết xung đột, thường hoạt động qua các tổ chức phi chính phủ (NGO = Non-Governmental Organizations) và các trường đại học, phát sinh từ sự nhận thức của các nhà ngoại giao và những người khác mà qua đó những sự tương tác có quy củ chính thức của chính phủ đối với chính phủ thì không nhất thiết phải là những phương pháp hiệu quả nhất cho việc bảo đảm sự hợp tác quốc tế hoặc giải quyết những sự khác biệt.
Vào năm 1996, Tiến sĩ Louise Diamond và Đại sứ McDonald xuất bản cuốn sách “Multi-Track Diplomacy: A Systems Approach to Peace” (“Ngoại giao Đa hướng: Một hệ thống Phương pháp Tiếp cận Hòa bình”). Kể từ đó, mô hình đã được phát triển một cách mạnh mẽ hơn và phương hướng II lúc ban đầu đã được mở rộng trở thành chín đường như được minh họa trong biểu tượng.

08_ Hiệp hội Kissinger : (Kissinger Associates, Inc.) được thành lập và điều hành bởi Henry Kissinger và Brent Scowcroft vào năm 1982 –sau khi ông ta rời khỏi chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao vào năm 1977, chỉ khoảng 2 năm sau khi miền Nam Việt Nam bị bán đứng bởi ông ta– là một công ty tư vấn quốc tế, có trụ sở chính ở New York. Công ty trợ giúp những khách hàng của nó trong việc nhận diện những người hợp tác và những cơ hội đầu tư theo sách lược, tư vấn cho những khách hàng về các mối quan hệ chính phủ khắp thế giới. Được biết đến vì sự bí mật, những hoạt động cụ thể của nó không được công bố ra ngoài.
Hiệp hội Kissinger không tiết lộ danh sách của những khách hàng tập đoàn doanh nghiệp, và những khách hàng luật sư được báo cáo từ những mối quan hệ thừa nhận. Tuy nhiên, qua thời gian, những chi tiết về những sự trình bày qua người được ủy nhiệm và khuynh hướng của các doanh nhân cấp cao nói về mối quan hệ của họ với ông Kissinger đã bị rò rỉ ra ngoài và một con số gồm những khách hàng tập đoàn lớn của đã được nhận diện.
Sự bí mật của danh sách khách hàng tập đoàn công ty của họ đã gây ra những vấn đề khó khăn nơi mà ông Kissinger hoặc một thành viên của ban quản trị được kêu gọi cho sự phục vụ công cộng. Vào năm 1989, Tổng thống George H.W. Bush đề cử Lawrence Eagleburger như là Thứ trưởng Ngoại giao của ông ta. Quốc hội yêu cầu ông Eagleburger tiết lộ tên của 16 khách hàng, một số trong những khách hàng là của ông ta thông qua sự xác định tư cách của Hiệp hội Kissinger. Sau đó, chính ông Kissinger được bổ nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về những cuộc Tấn công Khủng bố trên Hoa Kỳ (National Commission on Terrorist Attacks Upon the United States) bởi Tổng thống George W. Bush. Những người thuộc Đảng Dân chủ trong Quốc hội nhấn mạnh rằng ông Kissinger tiết lộ những tên của khách hàng. Ông Kissinger và Tổng thống Bush tuyên bố rằng những tiết lộ như thế không cần thiết, nhưng ông Kissinger cuối cùng bước xuống vai trò Chủ tịch đó, viện dẫn những xung đột vì lợi ích.
Một danh sách được chọn lựa trong số những công ty đáng chú ý hơn (từ hơn hai chục công ty trong tổng số) kể từ năm 1982, vai trò điều hành của ông ta nơi mà có thể áp dụng; và một số quốc gia nơi mà sự cố vấn/tiếp xúc được biết đến đã được sử dụng:
American Express – Giám đốc (Hungary, Nhật Bản)
American International Group – Giám đốc, Ủy ban Tư vấn Quốc tế (Argentina, Trung Cộng, Hàn Quốc)
Atlantic Richfield
Chase Manhattan Bank (hiện tại là JP Morgan Chase) – Chủ tịch, Ủy ban Tư vấn Quốc tế
Coca-Cola (Malaysia)
Fiat
Freeport-McMoRan – Giám đốc (Burma, Indonesia, Panama)
Heinz (Ivory Coast, Turkey, Zimbabwe)
Hollinger Inc – Giám đốc
Lehman Brothers Kissinger McLarty Assoc. (được liệt kê như là một chủ nợ trong những việc Thiết lập Hồ sơ Phá sản)
Merck
Volvo
Warburg

09_ Chiến dịch Searchlight (Chiến dịch Đèn pha) : Vào năm 1970, Pakistan tổ chức những cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên kể từ khi độc lập –Pakistan, và Ấn Độ được Anh Quốc trao trả vào tháng 8/1947, với Muhammad Ali Jinnah là vị Tổng Thống đốc đầu tiên và cũng là người thành lập Hồi Quốc, Pakistan– qua đó có nghĩa là để đánh dấu một quá trình chuyển đổi từ chế độ quân sự sang dân chủ, nhưng sau khi Liên đoàn Awami Đông Pakistan giành được chiến thắng, Yahya Khan và tầng lớp ưu tú cầm quyền ở vùng Tây Pakistan từ chối trao ra quyền lực. Có tình trạng bất ổn dân sự ở phía Đông, và quân đội Pakistan –được thành lập trước năm 1947, thuộc vùng Tây Pakistan, trước khi có bản Tuyên ngôn đánh dấu sự thành lập Cộng hòa Hồi giáo Pakistan, nó được Trung Cộng và Hoa Kỳ cung cấp vũ khí hàng năm và nhiều nước khác trên thế giới cũng hỗ trợ– tung ra mắt một chiến dịch quân sự vào ngày 25 tháng Ba năm 1971 –mang tên là Chiến dịch Searchlight (Chiến dịch Đèn pha)– nhằm lấy lại quyền kiểm soát của tỉnh.

(Vị Tổng thống thứ 3 của Hồi Quốc (03/1969–12/1971), Agha Yahya Khan,
sau sự thất bại của Chiến dịch Searchlight và bị cáo buộc về cuộc diệt chủng
vào năm 1971, ông ta phải trao quyền Tổng thống cho Zulfikar Ali Bhutto
và bị quản thúc tại gia trong hầu hết thập niên 1970s. Sau cuộc đảo chính
quân sự vào năm 1977 do Tướng Fazle Haq, lật đổ ông Bhutto, ông ta được
thả ra và mất vào năm 1980)

(Tổng thống Richard Nixon và Tổng thống Agha Yahya Khan, Hồi Quốc)

Chiến dịch Searchlight là một hoạt động quân sự nhằm kiềm chế phong trào dân tộc Bengal trong vùng Đông Pakistan xưa kia. Được ra lệnh từ chính quyền trung ương ở vùng Tây Pakistan, điều này được nhìn thấy như là phần tiếp theo của “Chiến dịch Blitz” (“Chiến dịch Chớp nhoáng”) vốn được tung ra vào tháng 11/1970, khoảng tám tháng trước đó.
Tổng thống Yahya Khan tại cuộc hội nghị tháng Hai nói rằng: “Hãy giết ba triệu họ (những người trong vùng Bangladesh) và phần còn lại sẽ ăn từ những bàn tay của chúng ta.” Cuộc đề kháng của dân tộc Bengal kéo dài không được lường trước bởi các nhà lãnh đạo quân đội Pakistan. Giai đoạn chính của Chiến dịch Searchlight kết thúc với sự sụp đổ của một thị trấn lớn cuối cùng nằm trong tay của dân tộc Bengal vào giữa tháng Năm.
Chiến dịch nầy cũng khinh xuất tạo nên cuộc diệt chủng Bangladesh vào năm 1971 và gây ra khoảng 10 triệu người tị nạn chạy trốn sang Ấn Độ cũng như những cái chết từ 1 đến 3 triệu thường dân. Giới trí thức, học giả Bengal và những người Ấn giáo bị nhắm mục tiêu cho sự đối xử khắc nghiệt nhất, với việc giết chóc bừa bãi đáng kể xảy ra. Những vụ giết người có hệ thống nầy làm phẩn nộ những người dân Bengal, vốn là những người đã tuyên bố độc lập khỏi Pakistan, hầu đạt được một nhà nước mới của Bangladesh.
Kết quả tạo nên bạo lực từ Chiến dịch Searchlight hoạt động đã đưa đến cuộc chiến tranh giải phóng bởi Mukti Bahini (i.e. Quân đội Giải phóng của dân tộc Bengali được Ấn Độ cung cấp vũ khí) chống lại những lực lượng “chiếm đóng” Pakistan ở Bangladesh. Theo sau Chiến dịch Chengiz Khan bất hạnh, sự can thiệp của Ấn Độ đưa đến kết quả trong việc đầu hàng vô điều kiện của quân đội Pakistan đối với sự chỉ huy liên minh của quân đội Ấn Độ và Mukti Bahini vào ngày 16 tháng 12 năm 1971.

(Đại tá Muhammad Ataul Gani Osmani là vị Tổng Tư lệnh của
Giải phóng Quân Bengali, sau nầy trở thành Tướng)

10_ Ngân quỹ Carnegie dành cho Hòa bình Quốc tế (The Carnegie Endowment for International Peace) : là đầu não cho chính sách đối ngoại với những trung tâm ở Washington, D.C., Moscow, Beirut, Beijing, và Brussels. Tổ chức mô tả chính nó như là dành cho việc tiến triển sự hợp tác giữa quốc gia và thúc đẩy sự tham gia tích cực mang tính quốc tế của Hoa Kỳ. Được thành lập vào năm 1910 bởi Andrew Carnegie, công việc của nó thông thường là không kết hợp với bất kỳ đảng phái chính trị nào.

(Andrew Carnegie (1835–1919), một nhà kỷ nghệ, một người
nhân đức, và là người lập ra Ngân quỹ Carnegie dành cho Hòa
bình Quốc tế vào ngày 25/11/1910, cũng là ngày sinh nhật thứ
75 của ông ta với món quà 10 triệu cho ngân quỹ)

11_ Phong trào Phi phái (NAM = The Non-Aligned Movement) : là một nhóm của những quốc gia mà qua đó chính thức không được xếp cùng hàng với hoặc chống lại bất kỳ khối quyền lực lớn nào. Thời gian cuối cùng vào năm 2012, phong trào có 120 thành viên và 17 nước quan sát.
Tổ chức được thành lập ở thủ đô Belgrade, Cộng hòa Serbia năm 1961, và phần lớn đã được nghĩ ra bởi Thủ tướng Ấn Độ đầu tiên, Jawaharlal Nehru; Tổng thống Indonesia đầu tiên, Sukarno; Tổng thống thứ hai của Ai Cập, Gamal Abdel Nasser; Tổng thống đầu tiên của Ghana, Kwame Nkrumah, và Tổng thống Nam Tư (Yugoslavia), Josip Broz Tito. Tất cả năm vị lãnh đạo là những người chủ trương nổi bật của chiều hướng trung dung cho những quốc gia trong Thế giới đang Phát triển giữa các khối Tây phương và Đông phương trong Chiến tranh Lạnh. Chính nhóm chữ được sử dụng lần đầu tiên để tiêu biểu cho học thuyết bởi nhà ngoại giao Ấn Độ Vengalil Krishnan Krishna Menon vào năm 1953, tại Liên Hiệp Quốc.

(Cộng hòa Serbia có diện tích là 83.361 km2 với dân số
khoảng 7.2 triệu –theo thống kê vào năm 2011)

(Nước Serbia và vùng phụ cận)

Trong một bài phát biểu được đưa ra trong suốt buổi lễ Tuyên Ngôn Havana của năm 1979, Fidel Castro nói rằng mục đích của tổ chức là nhằm bảo đảm “nền độc lập dân tộc, chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của các quốc gia phi phái” trong “cuộc đấu tranh của họ chống lại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa thực dân mới, chủng tộc phân biệt, và tất cả những hình thức xâm lược, chiếm ngụ, thống trị, can thiệp hoặc bá quyền của nước ngoài cũng như chống lại quyến lực to lớn và đảng khối chính trị.”
Những quốc gia của Phong trào Phi phái tiêu biểu cho gần 2/3 thành viên của Liên Hiệp Quốc và bao gồm 55 % dân số thế giới. Số thành viên được tập trung riêng biệt ở các quốc gia được xem là đang phát triển hoặc một phần của Thế giới Thứ ba.
Những thành viên có những lúc bao gồm Cộng hòa Liên bang Xã hội Chủ nghĩa Nam Tư, Argentina, Namibia, Cyprus, và Malta. Trong khi nhiều nước trong số những thành viên của Phong trào Phi phái thì thực sự tạo phe phái khá chặt chẽ với một thành viên hoặc một nước khác thuộc những cường quốc, phong trào vẫn duy trì được sự gắn kết suốt Chiến tranh Lạnh. Một số thành viên bị lôi cuốn vào những cuộc xung đột nghiêm trọng với các thành viên khác (thí dụ, Ấn Độ và Pakistan, Iran và Iraq). Phong trào bị rạn nứt từ những mâu thuẫn nội bộ của riêng nó khi Liên bang Sô-Viết xâm chiếm Afghanistan vào năm 1979. Trong khi những đồng minh của Liên Xô hỗ trợ cuộc xâm lược, các thành viên khác của phong trào (riêng biệt là những quốc gia Hồi giáo chiếm ưu thế) lên án nó.
Bởi vì Phong trào Phi phái được thành lập như là một nỗ lực để ngăn chặn Chiến tranh Lạnh, nó đã đấu tranh để tìm sự thích hợp kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Sau khi việc tách ra của Nam Tư, một thành viên sáng lập, số thành viên của nó đã bị đình chỉ vào năm 1992 tại Hội nghị Bộ trưởng thường xuyên của phong trào, được tổ chức tại New York trong suốt những phiên họp thường năm của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.
Những quốc gia kế thừa của Cộng hòa Liên bang Xã hội Chủ nghĩa Nam Tư đã thể hiện ít quan tâm đến việc trở thành thành viên, mặc dù một số nước có những danh vị là quan sát viên. Vào năm 2004, Malta và Cyrus chấm dứt là thành viên và gia nhập Liên minh Âu châu. Belarus vẫn còn là thành viên duy nhất của Phong trào ở châu Âu. Azerbaijan và Fiji là những nước mới vào gần đây nhất, gia nhập vào năm 2011. Những đơn xin gia nhập của Bosnia và Herzegovina và Costa Rica đã bị từ chối trong năm 1995 và 1998, theo cách tương ứng.
Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 16 của NAM (Phong trào Phi phái) đã diễn ra tại thủ đô Tehran, Iran, từ ngày 26–31/08/2012. Theo cơ quan thông tấn MehrNews, những đại diện từ hơn 150 quốc gia đã được lên lịch trình tham dự. Số người tham dự ở cấp cao nhất bao gồm 27 Chủ tịch, 2 vị vua và tiểu vương, 7 Thủ tướng, 9 Phó Chủ tịch, 2 phát ngôn viên Quốc hội và 5 đại diện ngoại giao. Tại Hội nghị Thượng đỉnh, Iran đã chiếm lấy từ Ai Cập như là Chủ tịch của Phong trào Phi phái trong giai đoạn 2012–2015. Cuộc Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 17 của Phong trào Phi phái sắp được tổ chức tại thủ đô Caracas, Venezuela, vào năm 2015.
Chính thuật ngữ “Không phe phái” được đặt ra bởi V.K. Krishna Menon, vị Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ, trong những lời bình luận vào năm 1953 tại Liên Hiệp Quốc. Người bạn của ông Menon, Animesh Agrawal đã dùng nhóm chữ đó trong một bài diễn văn vào năm 1954 tại thủ đô Colombo, Sri Lanka. Trong bài diễn văn của mình, vị Thủ tướng Ấn Độ, ông Nehru đã mô tả năm cột trụ được sử dụng như là kim chỉ nam cho những quan hệ Trung Quốc–Ấn Độ, mà qua đó được nêu ra lần đầu tiên vào tháng 4/1954 bởi Thủ tướng Trung Quốc Zhou EnLai. Được gọi là Panchsheel (năm điều ràng buộc hay năm điều đạo đức theo nghĩa Ấn Độ), những nguyên tắc nầy sẽ phục vụ sau đó như là nền tảng của Phong trào Phi phái. Năm nguyên tắc là:
Tôn trọng lẫn nhau cho sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của mỗi nước khác.
Không xâm lược lẫn nhau.
Không can thiệp vào những vấn đề nội bộ của nhau.
Bình đẳng và lợi ích hỗ tương.
Cùng tồn tại hoà bình.

(Vengalil Krishnan Krishna Menon, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ
(1957–1962), là người đặt ra thuật ngữ “không phi phái” (“non-alignment”)
và cũng là người có nhiều quyền lực nhất đứng hàng thứ hai sau Thủ tướng
Jawaharlal Nehru –một người bạn thân và là đồng mình của ông ta)

(Các quốc gia thành viên của Phong trào Phi phái vào năm 2007 trong
màu xanh đậm và màu xanh nhạt là các quốc gia quan sát viên)

Trên thực tế cho thấy rằng, Phong trào Phi phái xuất phát từ sự cổ vũ của Ấn Độ vào năm 1961 sau khi ký kết Hiệp ước Thương mại với Trung Cộng vào năm 1954. Với “năm nguyên tắc đạo đức” của Thủ tướng Trung Cộng nhằm kêu gọi sự tham gia của những nước trên thế giới, đặc biệt là trong Thế giới Thứ ba với mục đích đứng ngoài cuộc Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, Chiến tranh Lạnh là một cuộc chiến giữa hai phe tư bản và cộng sản mà tiêu biểu là Hoa Kỳ và Liên Xô. Thực chất của Phong trào Phi phái là triệt tiêu ý nghĩa đồng minh nhằm cô lập Hoa Kỳ và tạo sự ủng hộ cho Quyền lực Đỏ mà Trung Cộng và Liên Xô ra sức ngầm lôi kéo những nước thành viên hầu đạt được lợi ích khác trong những chính sách về sau. Một vài bằng chứng cụ thể là cuộc xâm lược Afghanistan vào năm 1979 của Liên Xô và cuộc tranh chấp biển Đông mà Trung Cộng ngang nhiên muốn chiếm lấy chủ quyền của Việt Nam từ năm 1974 và tuyên bố trước Liên Hiệp Quốc qua bản đồ “đường chín đoạn” tự phát họa vào năm 2009.

(Hình dáng lưỡi bò, hay “đường chín đoạn” mà Trung Cộng đã đệ trình
lên Liên Hiệp Quốc vào ngày 7/05/2009 trong việc tuyên bố chủ quyền
biển Đông của mình một cách bất hợp pháp mặc dù nó cũng là một thành
viên của Phong trào Phi phái với “năm điều đạo đức” được Zhou Enlai
nêu ra vào năm 1954 như là kim chỉ nam của phong trào)

12_ Mặt trận Quốc gia vì Tổ quốc và Tự do: (tiếng Tây Ban Nha: Frente Nacionalista Patria y Libertad hoặc chỉ đơn giản là Patria y Libertad = PyL) là một nhóm thuộc chủ nghĩa quốc gia và độc đoán về chính trị và bán quân sự bị lên án bởi những đối thủ của họ như là phát xít và là một mặt trận cho các hoạt động của Cơ quan Tình báo Trung ương ở Chile.
Nhóm được thành lập bởi Pablo Rodríguez Grez vào năm 1970, và biến đổi càng lúc càng bí mật hơn trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống của Salvador Allende. Nó đã chính thức tan rã vào ngày 12/09/1973, sau cuộc đảo chính của Tướng Pinochet.
Vào tháng 6/1973, nhóm đã cố gắng tiến hành một cuộc đảo chính chống lại chính phủ Allende nhưng thất bại, trong một sự kiện được biết đến như là Tanquetazo (cuộc đảo chính chớp nhoáng bằng xe tăng). Vào tháng 7/1973, nhóm nhận được những mệnh lệnh từ Hải quân Chile, mà qua đó đi ngược lại Học thuyết Schneider về sự tuân thủ của quân đội đối với hiến pháp, nhằm phá ngầm hạ tầng cơ sở của Chile. Sự hợp tác giữa nhóm Tổ quốc và Tự do và những lực lượng vũ trang Chile gia tăng sau khi cuộc đột kích thất bại vào tháng 10/1972 vốn đã tìm cách lật đổ chính quyền Allende. Trong sự thỏa thuận với các phân bộ đối kháng ông Allende trong quân đội, nhóm đã ám sát một phụ tá hải quân của ông Allende, Arturo Araya Peeters, vào ngày 26/07/1973. Việc phá hoại ngầm đầu tiên được thực hiện cùng ngày nầy. Những việc khác bao gồm việc tạo ra tình trạng cúp điện trong khi ông Allende đang trên đài phát sóng.
Các thành viên của PyL sau đó được tuyển dụng bởi những phục vụ an ninh cho Chile và tham gia vào cuộc đàn áp những người phản đối Hội đồng quân nhân cầm quyền đất nước của Tướng Pinochet. Kể từ khi việc chuyển đổi sang dân chủ, một số nhóm nhỏ từ đó đã tuyên bố là người kế nhiệm của nó, nhưng không chính thức được liên kết với nhóm PyL thuở đầu.

(Huy hiệu của nhóm Patria y Libertad, do Pablo Rodríguez Grez thành lập vào
năm 1970 và bị tan rả vào năm 1973. Với Tư tưởng thuyết bao gồm Chủ nghĩa
Quốc gia, Chủ nghĩa Hợp đoàn, Chống-Chủ nghĩa Cộng sản, Tân Chủ nghĩa
Phát-xít, Chống-Chế độ Đại nghị, Chế độ Toàn Trị)

(Pablo Rodríguez Grez, lãnh tụ nhóm Tổ quốc và Tự do,
chống lại chính phủ Allene đương quyền)

(Hai chiến binh Chile với những khẩu súng máy nằm ở phía nam Dinh thự
La Moneda, nơi làm việc của Tổng thống Chile, trong suốt cuộc đảo chính
thất bại lần thứ hai được biết đến như là El Tanquetazo vào ngày 29/06/1973)

13_ Ngày-D : (D-Day) là ngày 6/06/1944, khởi đầu sự phản công của đồng minh qua việc xâm chiếm bờ biển Normandy, Pháp, dưới sự khống chế của Đức Quốc Xã trong Thế Chiến thứ II.

Advertisements

2 thoughts on “Phần I : Chương 01–05 (Cuộc Xét xử Henry Kissinger)

  1. Pingback: Phần II : Chương 06–11 (hết) và Phục lục (Cuộc Xét xử Henry Kissinger) |

  2. Pingback: Vài lời về Cuốn sách “Cuộc Xét xử Henry Kissinger” |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s