Chương 27 & Chương 31 của Thủ thuật Ngoại giao

[25] [26] [27] [31]

p674

Chương 27 : Việt Nam: Sự triệt thoái; ông Nixon

(Lê Đức Thọ, người đại diện của Hà Nội, và Herry Kissinger, người đại
diện của Washington, sau khi ký kết Hiệp định Paris 1973 với sự nhượng
bộ rất thua thiệt hoàn toàn chất lên chính quyền miền Nam Việt Nam)

Chính quyền Nixon phải chịu trách nhiệm rút Hoa Kỳ ra khỏi kinh nghiệm đầu tiên của nó với một cuộc chiến tranh bất thành, và khỏi sự cam kết đầu tiên với nước ngoài mà trong đó những niềm tin đạo đức của Mỹ đụng độ với cái gì đó là điều có thể xảy ra. Một số công việc của chính sách đối ngoại đã chứng minh phải chịu xiết mạnh hơn, không một quốc gia nào đã từng quản lý quá trình chuyển đổi như thế mà không phải chịu đau đớn.
Mặc dù việc rút lui của Pháp khỏi Algeria thường được dẫn chứng như là một mô hình cho Mỹ để làm theo, thật ra việc đó đã lấy mất ông de Gaulle một khoảng thời gian nào đó mà Chính quyền Nixon đòi hỏi phải kéo dài hơn bốn năm để kết thúc sự can dự của Mỹ ở Đông Dương. Trong việc triệt thoái Pháp khỏi Algeria, ông de Gaulle đã mang trên vai gánh nặng của việc bỏ lại một triệu người định cư Pháp, có một số người mà những gia đình của họ đã từng ở đó trong nhiều thế hệ. Trong việc rút đi những binh lính Mỹ khỏi Việt Nam, ông Nixon đã phải làm tan biến sự cam kết mà bốn vị Tổng thống Mỹ trong suốt hai thập kỷ đã tuyên bố như là điều rất quan trọng đối với sự an ninh của tất cả những dân tộc tự do.
Ông Nixon đã nhận lấy nhiệm vụ rất khốn khổ nầy dưới những hoàn cảnh dễ dàng rối loạn nhất trong nước kể từ khi cuộc Nội Chiến.

p675

Thậm chí với việc loại bỏ hai mươi lăm năm qua, sự đột ngột sụp đổ tính chất đồng thuận quốc gia của Mỹ trên vấn đề Việt Nam cuối cùng đã xảy ra như là một cơn chấn động. Vào năm 1965, Mỹ đã tự cống hiến chính mình –giữa lúc có sự chấp thuận chung– cho việc chiến thắng một cuộc chiến tranh du kích chống lại cái gì đó đã được xem như là một âm mưu toàn cầu của cộng sản, và cho việc xây dựng những cơ sở tự do trong khu vực Đông Nam Á; hai năm sau, vào năm 1967, cùng sự đầu tư liều lĩnh bắt đầu được cảm nhận không chỉ như là đã thất bại, mà còn như là một chính sách thiếu khôn ngoan của các chính trị gia bị mê cuồng chiến tranh. Tại một thời điểm, cộng đồng trí thức đang chúc mừng sự xuất hiện của một vị tổng thống trẻ, tiến bộ (i.e. Tổng thống Kennedy); vào lúc gần như sau đó, nó đang cáo buộc người kế nhiệm ông ta về những hành động tàn ác, nói dối có hệ thống, và một ham muốn chiến tranh, mặc dù sự kiện thực tế là chiến lược mới của vị Tổng thống (i.e. Tổng thống Johnson) –hoặc ít ra là của những nhà chiến lược của ông ta– về cơ bản giống như những chiến lược của những người tiền nhiệm quá cố của ông ta. Đến cuối nhiệm kỳ Tổng thống của mình vào năm 1968, ông Johnson không còn có thể xuất hiện giữa công chúng ngoại trừ trên những căn cứ quân sự hoặc tại các địa điểm khác xa khỏi những nơi mà những người biểu tình bạo lực có thể thực thể bị ngăn chận lại bằng những vòng thép gai. Mặc dù ông ta là một vị Tổng thống đương nhiệm, ông ta thậm chí không tìm thấy có thể xuất hiện tại hội nghị toàn quốc vào năm 1968 của đảng phái mình.
Sau khi tạm dừng chỉ một vài tháng, phe đối lập bạo lực chống chiến tranh tiếp tục và thậm chí gia tăng tốc độ dưới thời kỳ của người kế nhiệm của ông Johnson, là Richard Nixon. Điều mà khiến cho các cuộc tranh luận trong nước quá gay gắt và rất gần như không thể nào giải quyết được đó là những bất đồng chính kiến được công khai hóa trở thành những thứ thay thế cho một cuộc tranh cãi kín về mặt triết lý sâu sắc hơn. Ông Nixon thì nóng lòng muốn đàm phán cho một cuộc triệt thoái trong danh dự, mà ông ta định rõ gần như là bất cứ điều gì ngoại trừ việc chuyển giao cho những người cộng sản Bắc Việt hàng triệu người vốn đã được dẫn dắt bởi những người tiền nhiệm của ông ta để dựa vào Mỹ. Ông ta nhận lấy sự tín nhiệm và danh dự một cách nghiêm túc bởi vì họ xác định khả năng của Mỹ có thể uốn nắn một trật tự hòa bình quốc tế.
Mặt khác, những nhà lãnh đạo của Phong trào Hòa bình xem chiến tranh rất đáng tởm đến nỗi một cuộc triệt thoái danh dự khỏi Việt Nam cuối cùng đã nghe như là một điều vô lý. Điều mà Chính quyền Nixon nhận thức như là sự sỉ nhục quốc gia có thể có mai nầy, là những người biểu tình phản đối vấn đề Việt Nam được đối xử như là một cách làm giảm sự căng thẳng mong muốn của quốc gia. Chính quyền tìm kiếm một kết quả vốn sẽ cho phép Mỹ tiếp tục vai trò quốc tế thời hậu chiến của nó như là một nước bảo vệ và chống đỡ của các dân tộc tự do –chính xác là vai trò mà nhiều người trong Phong trào Hòa bình muốn kết thúc, xem nó như là sự kiêu ngạo và tự phụ của một xã hội không hoàn thiện.
Trong không gian của một thế hệ duy nhất, Mỹ đã đi qua Thế Chiến thứ II, Chiến tranh Triều Tiên, và một thập kỷ rưỡi của những khủng hoảng của Chiến tranh Lạnh. Vấn đề Việt Nam chứng minh là một sự tận dụng sức quá nhiều, một sự hy sinh vốn rất khó thể chịu nổi bởi vì điều đó rất không phù hợp đối với những giá trị truyền thống và những kỳ vọng của Mỹ.

p676

Trong những năm 1920s và 1950s, khi thế hệ của ông Nixon và ông Johnson đã là trong thời kỳ thành niên của nó, những người Mỹ đã xem chính mình như là trên cả những cách cư sử kiểu chủ nghĩa Machiavelli (i.e. chủ nghĩa đề cao sự xảo quyệt, vô luân, và cơ hội để theo đuổi quyền lực chính trị) của những người Âu châu. Trong những thập niên 1940s và 1950s, khi thế hệ đó đến tuổi trưởng thành, đất nước Mỹ tin rằng nó đã được kêu gọi để đảm nhiệm một sứ mệnh chính nghĩa, toàn cầu. Thật vậy, nó nổi lên như là một nước lãnh đạo mặc nhiên của thế giới tự do. Đến lúc, những người đàn ông nầy đang đạt đến đỉnh sự nghiệp chính trị của họ trong những năm 1960s, Phong trào Hòa bình Việt Nam đang được đặt câu hỏi về sứ mệnh toàn cầu đó. Đến thập niên 1970s, một thế hệ mới của những người Mỹ đã đến hiện trường và xem nước Mỹ như là không còn như lúc xưa. Để xứng đáng được can dự khắp thế giới, Mỹ đòi hỏi, theo quan điểm của họ, một khoảng thời gian tập trung vào việc cải thiện của riêng mình.
Như thế, những thế hệ đang chuyển hướng vào thời điểm đúng lúc khi Mỹ phải đối mặt với sự thử thách mơ hồ nhất về mặt đạo đức trong toàn bộ giai đoạn hậu chiến. Các nhà phê bình bị đẩy lui bởi những mô tả qua hình ảnh trên truyền hình về sự tàn bạo của chiến tranh, và ngày càng không chắc chắn về tầm vóc đạo đức của đồng minh Mỹ. Mặc dù được thuyết phục chỉ đơn giản là phải có một số giải pháp nào đó tồn tại vốn cho phép sự chấm dứt việc giết chóc ngay lập, tâm trạng của họ càng lúc biến thành chua chát. Chủ nghĩa Ngoại lệ của Mỹ đã từng duy trì một trong những thời kỳ vĩ đại của chính sách Mỹ với chủ nghĩa lý tưởng của nó, tính chất vô tội vạ của nó và sự cống hiến của nó; bây giờ nó không ngừng quay ra đòi hỏi cùng một tính chất hoàn toàn của những đồng minh Mỹ, và sự biến mất tính chất mơ hồ trong những lựa chọn của Mỹ. Thất bại những điều nầy, nó chỉ đương đầu với sự xấu hổ cho đất nước Mỹ và là sự thảm hại cho những đồng minh của nó.
Tính chất ngay thẳng đạo đức của Mỹ kiềm chế cách ngoại giao linh hoạt. Việt Nam phơi bày hay nhất những lựa chọn thay thế không hoàn hảo và những lựa chọn đau lòng. Một động lực trực giác của Phong trào Hòa bình là thu mình lại khỏi thế giới đó, tìm kiếm sự chấm dứt trong cái nhìn ban đầu của Mỹ về chính nó như là một cột trụ đức hạnh không vết bẩn. Có lẽ, một nhà lãnh đạo có sức lôi cuốn giống như Franklin Roosevelt, John Kennedy, hoặc Ronald Reagan có thể đã tìm ra cách để đối phó với nỗi luyến nhớ quá khứ nầy. Điều đó đã chứng minh vượt khỏi những tài năng lạ thường khác của Richard Nixon. Không giống như ông Johnson, ông Nixon rất phức tạp trong các vấn đề quốc tế. Ông ta bước vào nhiệm kỳ Tổng thống tin tưởng rằng, giống như nhiều nhà phê bình phản chiến, một chiến thắng đương nhiên ở Việt Nam không còn là chuyện có thể có, nếu điều đó đã từng là thế. Ngay từ đầu, ông Nixon hiểu rằng số phận đã giao cho ông ta một sứ mệnh bạc bẽo về việc phải sắp xếp cuộc rút quân và một thứ lối thoát nào đó khỏi cuộc xung đột vô đạo đức. Mà qua đó ông ta lẽ ra mong muốn tiến hành nhiệm vụ nầy bằng sự danh hạnh vốn là điều tự nhiên đối với một vị Tổng thống –điều đó đi kèm với trách nhiệm của công việc. Điều mà ông ta không thể giải quyết, hoặc là do tình cảm hay lý trí, là một sự kiện thực tế mà các sinh viên tốt nghiệp từ những ngôi trường có tiếng nhất và những thành viên thuộc Nhóm cầm Quyền vốn là những người mà ông ta ngưỡng mộ nhiều như ông ta ganh tị, đang thúc đẩy một chiều hướng hành động mà qua đó, theo quan điểm của ông ta, đưa đến một sụp đổ nhục nhã cho nước Mỹ và sự phản bội của một đồng minh.

p677

Ông Nixon đã chọn cách để giải bày về những cuộc biểu tình thường hay bạo lực là về phần của những người mà ông ta xét là có đặc quyền khi cực điểm của một cuộc tấn công cá nhân vào ông ta bởi những kẻ thù suốt đời về tư tưởng hệ. Trong mắt ông ta, điều nầy biến chuyển vấn đề Việt Nam trở thành một trận chiến chính trị. Nhạy cảm và khôn khéo như ông Nixon là thế trong việc tiến hành thủ thuật ngoại giao, ông ta cũng là một đối thủ hung hăng và xão quyệt khi vấn đề chính trị trong nước xảy ra, bằng cách dựa vào những phương pháp mà ông ta không bao giờ ngừng tin tưởng, đã từng là thứ hàng tồn kho có sẵn của nhiều người tiền nhiệm của ông ta.
Điều mà sẽ không bao giờ được biết đến là việc liệu một hành động gia ân của Tổng thống có thể nào đã xoa dịu được cơn giận dữ vốn đã bắt đầu sưng lên từ lâu trước khi ông Nixon nhậm chức. Đến cuối những năm 1960s, cuộc biểu tình bạo lực của những sinh viên đã tăng trưởng trở thành một hiện tượng toàn cầu, cũng xảy ra ở Pháp, Hà Lan, và Đức –không nước nào trong số đó bị lôi cuốn vào một tình huống có thể sánh với Việt Nam hoặc có những vấn đề kỳ thị chủng tộc theo ý nghĩa của Mỹ. Ông Nixon trong bất kỳ trường hợp nào cũng cảm thấy quá bất an và quá dễ bị tổn thương không thể bắt đầu xây dựng những cây cầu cảm thông vào giai đoạn đó của cuộc đời ông ta.
Công bằng mà nói, ắt hẳn đáng lưu ý là ông Nixon ít nhận được sự giúp đỡ từ Nhóm Cầm quyền, mà qua đó, khi mọi việc đã xong, đã để lại cho ông ta một nan đề mà ông ta đang đối mặt. Những quan chức cao cấp của những chính quyền trước vốn đã lôi cuốn Hoa Kỳ vào trong Chiến tranh Việt Nam, chia sẻ phần lớn những niềm tin chắc chắn của Chính quyền Nixon. Những người giống như Averell Harriman và cựu Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford đã từng là trong số những thực tập viên chính về sự đồng thuận trên chính sách đối ngoại của cả hai đảng thời hậu chiến; bình thường họ có thể đã cảm thấy có nghĩa vụ gìn giữ ở một mức độ nào đó về sự gắn bó với quốc gia trong thời gian của cuộc khủng hoảng và có thể đã khép kín hàng ngũ với một chính quyền bị bao vây về một chương trình hòa bình nào đó được tối thiểu đồng ý.
Thời gian nầy, tuy nhiên, những người uốn nắn sự đồng thuận về chính sách đối ngoại sau chiến tranh không thể đem chính mình ra ủng hộ vị Tổng thống của họ. Thực tiển, họ đã là những mục tiêu đầu tiên của những cuộc biểu tình hòa bình –một định mệnh mà họ tìm thấy đang bị đóng dấu riêng biệt bằng sắt nung bởi vì trong đội tiên phong của Phong trào Hòa bình là những người đàn ông và phụ nữ vốn là những người mà họ ngưỡng mộ và từ lâu đã xem như là những cử tri cốt lõi của họ. Họ đã từng là những chiến sĩ bộ binh của Tiền phương Mới (i.e. một chương trình của ông Kennedy) và, theo ý nghĩa ẩn dụ nếu không phải là trên thực tế, xem những người biểu tình như là con cháu của họ. Không chấp thuận những phương pháp của Phong trào Hòa bình, những thành viên chủ chốt của Chính quyền Johnson trượt vào trong sự liên minh thực tế với thành phần cấp tiến hơn trong số những người biểu tình. Hàng rào chấn ngang vô tận của họ bằng sự bất bình có vẻ vừa phải đối với những chính sách của Chính quyền giữ lấy lập trường của họ ngay cả một sự nhân nhượng xa khỏi sự thỏa thuận với ông Nixon và chồng chất thêm sự oán giận của vị Tổng thống là như thế họ đang đặt sự đồng thuận quốc gia ngoài tầm với.
Ông Nixon quyết định tiếp tục kiên nhẫn nhằm mục đích mang lại một nền hòa bình trong danh dự. Bởi vì tôi là người phụ tá chính của ông ta trong nỗ lực nầy, sự đánh giá của tôi về điều đó không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi vai trò mà tôi đang đóng và bởi sự tán thành của tôi với những tiền đề cơ bản của nó.

p678

Trong khoảng thời gian giữa cuộc bầu cử và lễ nhậm chức, ông Nixon đã yêu cầu tôi thông báo cho Bắc Việt về sự cam kết của ông ta đối với kết quả được thương lượng. Câu trả lời của họ là sự giới thiệu của chúng tôi cho cái gì đó trở thành nhu cầu tiêu chuẩn của Hà Nội: việc rút lui vô điều kiện của Mỹ cùng với việc lật đổ chính quyền ở Sài Gòn của Nguyễn Văn Thiệu.
Hà Nội thậm chí không bận tâm kiểm tra sự chân thành của những lời tuyên bố của ông Nixon. Trong vòng ba tuần đến buổi lễ nhậm chức của ông Nixon, Hà Nội tung một cuộc tấn công mới –cái gọi là cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân (còn được gọi là Mini-Tet)– trong suốt thời gian mà một con số trung bình khoảng 1.000 binh lính Mỹ bị thiệt mạng mỗi tháng trên bốn tháng kế tiếp. Rõ ràng là, phần đưa ra của ông Nixon để thỏa hiệp đã thất bại khuấy động bất kỳ ý nghĩa nào về sự trao đổi lẫn nhau ở những nhà lãnh đạo khó thể làm xiêu lòng được đó. Hà Nội cũng không bị kiềm chế một chút nào bởi “sự hiểu được” trong năm 1968 của nó về Chính quyền Johnson vốn cho là nó sẽ không lợi dụng việc ngưng cuộc dội bom.
Chính quyền Nixon đã nắm lấy quyền lực với hy vọng phát triển một sự đồng thuận quốc gia qua những đề xuất thỏa hiệp hợp lý, và bằng cách đó đối đầu với Hà Nội như là một quốc gia được đoàn kết thực chất. Điều đó chẳng bao lâu trở nên rõ ràng là, giống như những người tiền nhiệm của ông ta, ông Nixon đã đánh giá thấp sự kiên trì và quyết tâm của Hà Nội. Hồ Chí Minh đã trở nên càng lúc chắc chắn rằng, qua việc đưa ra ban lãnh đạo thiếu khả năng Sài Gòn và việc ấp úng lời cam kết của Mỹ, những lực lượng của Hà Nội có thể giành được một chiến thắng vô điều kiện. Là một thực tập viên của Chính trị Thực dụng, ông Hồ sẽ không chịu thua tại bàn đàm phán điều gì đó mà ông ta kỳ vọng vào máu và đạn sẽ giành chiến thắng cho ông ta trên chiến trường.
Có thể đã không có những người đàm phán ít có triển vọng hơn cho một thỏa hiệp hòa bình so với những người anh hùng nghiêm khắc vốn là những người thành lập ban lãnh đạo của Hà Nội. Khi Chính quyền Nixon nắm lấy quyền lực, Đảng Dân chủ, vốn đã phát động cuộc phiêu lưu Việt Nam, đã tách ra sâu sắc giữa một nền tảng chính thức và lập trường của nhóm thiểu số thuộc phe “bồ câu” (được ủng hộ bởi những nhà lãnh đạo chẳng hạn như là những Thượng nghị sĩ Ted Kennedy, George McGovern, và Eugene McCarthy) mà qua đó đã bị bác bỏ bởi Hội nghị Quốc gia của Đảng Dân chủ. Trong vòng chín tháng nắm lấy quyền lực, Chính quyền Nixon thuộc Đảng Cộng hòa đã vượt qua cương lĩnh của phe bồ câu thuộc Đảng Dân chủ. Hà Nội bỏ túi mỗi sự nhượng bộ của Mỹ mà không có một gợi ý nào về sự trao đổi lẫn nhau và kiên định bám chặt vào những đòi hỏi của mình cho một thời hạn cố định và vô điều kiện cho những cuộc rút quân của Mỹ và sự thay thế chính quyền Sài Gòn bằng cái gì đó có hiệu quả là một chế độ cộng sản. Hà Nội khẳng định rằng, trừ khi cả hai những đòi hỏi nầy được đáp ứng cùng một lúc, những tù nhân Mỹ sẽ không được thả ra. Những gì mà Hà Nội đang đòi hỏi được thêm vào thỏa ước có điều kiện đầu hàng được điều đình bằng nỗi nhục.

p679

Những vị Tổng thống, tuy nhiên, không thể từ bỏ một công việc bởi vì nó chứng minh khó khăn hơn điều mà họ đã kỳ vọng. Ngay cả trước khi lễ nhậm chức, ông Nixon đã ra lệnh cho công cuộc xem xét lại có hệ thống về việc làm cách nào đưa cuộc chiến tranh đến một kết thúc. Ba phần lựa chọn khác được phân tích: việc rút quân đơn phương; một cuộc thử thách cuối cùng với Hà Nội qua sự kết hợp của áp lực quân sự và chính trị; và sự chuyển đổi dần dần về trách nhiệm cuộc chiến tranh cho chính quyền Sài Gòn nhằm mục đích cho phép Hoa Kỳ rút lui dần dần.
Sự lựa chọn đầu tiên, là về việc rút quân đơn phương, sau nầy sẽ trở thành chủ đề của phần nhiều suy đoán của phe xét lại. Điều đó đã được lập luận rằng, vào lúc nhận lấy chức vụ, ông Nixon đáng lý ra công bố ngày tháng cho việc rút quân và chấm dứt chiến tranh bằng một quyết định đơn phương của Mỹ.
Mong rằng lịch sử thì đơn giản như một bài báo. Mặc dù những vị Tổng thống có một khu vực rộng lớn của quyền tùy ý hành động, nó bị bao quanh bởi môi trường chính trị và bị chế ngự bởi cái thực tế thực dụng. Khi ông Nixon nhậm chức vào năm 1969, không phải là đảng phái chính trị đã từng chủ trương việc rút quân đơn phương và cũng không có cuộc thăm dò ý kiến công chúng cho thấy bất kỳ sự hỗ trợ nào cho nó. Cương lĩnh của phe “bồ câu” vốn bị bác bỏ tại Hội nghị Quốc gia của Đảng Dân chủ vào năm 1968 đã kêu gọi cho việc giảm bớt những chiến dịch tấn công của Hoa Kỳ, việc rút lui hỗ tương của các lực lượng bên ngoài (bao gồm những lực lượng Bắc Việt), và sự khuyến khích một chính sách hòa giải giữa chính phủ Sài Gòn và Mặt trận Giải phóng Dân tộc. Sự trao đổi lẫn nhau trong thương lượng là điều hợp lý cơ bản của nó và không có một sự đề cập nào đã được tạo ra bằng cuộc rút quân đơn phương.
Chương trình hòa bình của Chính quyền Johnson đã được thể hiện trong Thể thức Manila, vốn đề ra là những lực lượng của Mỹ sẽ bắt đầu cuộc rút quân chỉ sáu tháng sau cuộc rút quân của Bắc Việt, và chỉ sau khi mức độ bạo lực đã được giảm xuống. Thậm chí sau đó, một lực lượng quan trọng còn dư lại của Mỹ được cử ra ở lại Việt Nam, theo mô hình của Hàn Quốc. Cương lĩnh chính thức của Đảng Dân chủ đã kêu gọi cho một cuộc tranh luận tự do về Nam Việt Nam, nhưng chỉ sau khi những hoạt động quân sự đã kết thúc. Cuối cùng, cương lĩnh của Đảng Cộng hòa đã kêu gọi cho việc “giải Mỹ hóa” chiến tranh, một sự thay đổi trong chiến lược quân sự, và những cuộc đàm phán được dựa trên không phải là vấn đề “hòa bình bằng bất cứ giá nào” hoặc cũng không phải là chuyện đầu hàng ngụy tạo. Khi ông Nixon nhậm chức, vì vậy, mỗi phe cánh của cả hai đảng chính trị lớn đã nhấn mạnh đến những kết quả mà qua đó, không có sự ngoại lệ, đã khẳng định trên những điều kiện rằng Hà Nội sẽ phải thực hiện xong trước khi Hoa Kỳ sẽ rút lui. Tất cả điều đó đã ngụ ý đến một thỏa hiệp, không phải là sự đầu hàng.
Cuộc rút quân tức thời, vô điều kiện, và đơn phương của Mỹ cũng có thể đã đặt ra những vấn đề thực tiển không thể vượt qua. Hơn nửa triệu người Mỹ đang chiến đấu ở bên cạnh quân đội miền Nam Việt Nam khoảng 700.000 binh lính và đang đối mặt với ít nhất là 250.000 cán binh chính quy của quân đội Bắc Việt và một số lượng tương đương của những du kích quân.

p680

Vào đầu ngày của Chính quyền Nixon, một cam kết tức thời để rút quân đơn phương có thể đã để lại một lực lượng viễn chinh to lớn của Mỹ bị kẹt giữa cơn thịnh nộ của miền Nam Việt Nam, những người bạn đồng minh bị phản bội của Mỹ, và cuộc đột kích không ngừng Bắc Việt.
Bộ Quốc phòng ước tính rằng một cuộc rút quân trật tự không thể được tổ chức trong vòng trễ lắm là mười lăm tháng, trong suốt khoảng thời gian mà vị tthế của những lực lượng Mỹ dần dần có thể đã suy yếu đến một điểm nơi mà các lực lượng còn lại có thể đã trở thành những con tin của cả hai bên Việt Nam. Ngay cả khi người ta giả định rằng quân đội miền Nam Việt Nam chỉ đơn giản là có thể đã sụp đổ hơn là đã tấn công bất ngờ những người đồng minh Mỹ của nó, kết quả có thể sẽ là cuộc rút quân giữa sự hỗn loạn không kể xiết, đặc biệt là kể từ khi Hà Nội có thể chắc chắn đã tìm cách sử dụng vị thế càng lúc có ưu thế của nó để áp đặt lên những điều khoản hòa bình thậm chí xiết chặt hơn. Việc rút quân đơn phương có tất cả những điều tạo ra một thất bại kinh hoàng và đẫm máu.
Trên hết, Chính quyền Nixon tin tưởng rằng cuộc rút quân đơn phương sẽ biến thành một thảm họa về mặt địa hình chính trị. Niềm tự tin vào mức độ tin cậy của Mỹ đã được xây dựng một cách đớn đau trên hai mươi năm. Chính là thành phần quan trọng trong cấu trúc của thế giới tự do. Một sự đảo ngược 180 độ của sự cam kết to lớn của Mỹ đang mở rộng trên bốn chính quyền bởi một vị Tổng thống mà từ trước đến nay được nhận chân bằng một chính sách đối ngoại bảo thủ có thể đã tạo ra một sự tan vỡ ảo tưởng hoàn toàn giữa những đồng minh của Mỹ, riêng biệt là trong số những nước phụ thuộc nhiều nhất vào sự hỗ trợ của Mỹ, bất kể là họ đồng ý với những chi tiết của chính sách về Việt Nam của Mỹ hay không.
Trong những trường hợp nầy, Chính quyền Nixon kết luận rằng nó cần một chiến lược để tạo ảnh hưởng lên sự tính toán của Hà Nội về điều tất yếu của một chiến thắng hoàn toàn của nó và khả năng của nó áp đặt cuộc rút quân đơn phương. Vỉ vậy, sự lựa chọn thứ hai được xét đến là nhằm cố gắng gây căng thẳng những vấn đề một cách mau chóng qua sự kết hợp của các biện pháp chính trị và quân sự. Đây là một chiến lược mà cá nhân tôi thích hơn, bởi vì tôi tin rằng nó sẽ kết thúc cuộc đấu tranh làm cạn nguồn lực trong nước và cho phép Chính quyền chuyển sang những công việc đồng nhất hơn. Sự lựa chọn nầy có ba phần cấu thành: (1) sự chứng thực của Quốc hội để theo đuổi chiến tranh, (2) sự nỗ lực to lớn tại các cuộc đàm phán mà trong đó Mỹ sẽ tạo ra mỗi sự nhượng bộ có thể có nhưng không có sự thông đồng trong việc chiếm lấy của cộng sản, và (3) một chiến lược quân sự được đổi khác mà qua đó, trong phạm vi miền Nam Việt Nam, sẽ tập trung vào việc bảo vệ các khu vực đông dân cư, trong khi đồng thời tìm cách phá hủy các tuyến đường cung cấp của Hà Nội bằng cách bắn phá Đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào, dọn sạch những khu căn cứ ở Cam-pu-chia, và thả mìn ở các bến cảng của miền Bắc Việt Nam. Trong khoảng thời gian bốn năm, tất cả những biện pháp nầy cuối cùng được ứng dụng, và chúng thực sự khiến cho Hà Nội chấp nhận những điều khoản trong năm 1972 mà nó đã không ngừng bác bỏ trong một thập kỷ.

p681

Nếu tất cả những điều khoản được khởi xướng cùng một lúc và trong khi Mỹ vẫn có một lực lượng lớn chiến đấu trên bộ ở Việt Nam, tác động có thể đã chứng minh là điều quyết định.
Đầu nhiệm kỳ của mình, ông Nixon có thể đã đi đến Quốc hội, phác họa những nét chính về ý tưởng của ông ta cho một kết quả trong danh dự của cuộc Chiến tranh Việt Nam, và yêu cầu cho sự chứng thực, bằng cách nhấn mạnh rằng, trong sự thiếu vắng điều đó, ông ta sẽ không có một sự lựa nào chọn ngoại trừ việc rút quân một cách đơn phương, tuy nhiên gây ra những hậu quả làm kinh hoảng tinh thần. Ông Nixon bác bỏ lời khuyên về ảnh hưởng đó trên hai căn cứ. Thứ nhất, ông ta xem điều đó như là một sự từ bỏ trách nhiệm Tổng thống. Thứ hai, sau khi đã phục vụ trong sáu năm tại Quốc hội, ông ta tin tưởng –gần như chắc chắn một cách chính xác– rằng Quốc hội sẽ lẩn tránh làm một việc chọn lựa rõ ràng và cho ông ta –theo cách tốt nhất– một sự chứng thực mơ hồ nào đó được bao bọc bởi rất nhiều điều kiện như là để phóng đại vấn đề.
Lúc đầu, ông Nixon do dự tấn công vào hệ thống hậu cần Việt Nam. Những mối quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc, vốn vẫn còn bấp bênh, có thể đã xấu đi hơn nữa, và mối quan hệ tam giác vốn góp phần rất nhiều cho sự linh hoạt trong chính sách đối ngoại của Mỹ sau nầy, có thể đã bị trì hoãn hoặc cản trở. Những hy vọng chán chường của công chúng về sự bớt đi những căng thẳng ở Việt Nam có thể đã khích động mạnh Phong trào Hòa bình hơn nữa. Kết quả về quân sự dường như không chắc chắn lắm và sự tổn phí trong nước có thể chứng minh là không thể quản lý được. “Chiến lược tiến về phía trước” có thể đã gặp phải rất nhiều sự kháng cự trong số các vị cố vấn thân cận nhất của ông Nixon mà qua đó nó chỉ có thể được thực hiện bởi sự cải tổ của Nội các và sự tiêu dùng năng lực Tổng thống như thế đến nỗi nó có thể đã làm tàn rụi những viễn ảnh cho những khởi đầu rất quan trọng, trong tầm xa khác.
Những người dân Mỹ dường như đang yêu cầu chính phủ mình theo đuổi hai mục tiêu không tương xứng của họ cùng một lúc: họ muốn chiến tranh kết thúc và muốn Mỹ không đầu hàng có điều kiện. Ông Nixon và các vị cố vấn của mình chia sẻ sự mâu thuẫn trong tư tưởng nầy. Trong việc tìm kiếm điều hướng chính sách của Mỹ qua những mâu thuẫn nầy, ông Nixon đã chọn phần lựa chọn thứ ba –cái được gọi con đường Việt Nam hóa chiến tranh– không phải bởi vì ông ta nghĩ điều đó là một phương cách giải quyết sau cùng đầy khôn ngoan nhưng bởi vì, trong sự xét đoán của ông ta, nó vẫn giữ được sự cân bằng tương đối an toàn nhất trong ba thành phần chính của cuộc triệt thoái của Mỹ khỏi Việt Nam: việc duy trì tinh thần trong nước của Mỹ, việc tạo cho Sài Gòn một cơ hội đích thực để đứng lên bằng chính sức mình, và việc cho Hà Nội sự khích lệ để dàn xếp. Việc giữ ba chiều hướng nầy của chính sách trong mối quan hệ lẫn nhau nào đó có thể quản lý được trở thành một thử nghiệm cuối cùng của cuộc triệt thoái của Mỹ khỏi Việt Nam.
Công chúng Mỹ phải được trấn an bằng những cuộc rút quân của các lực lượng Mỹ và bằng những nỗ lực đàm phán nghiêm túc; miền Nam Việt Nam sẽ được cung cấp một cơ hội đích thực để tự bảo vệ mình qua công cuộc viện trợ ào ạt và huấn luyện của Mỹ; Hà Nội sẽ phải đối mặt với củ cà rốt của những sáng kiến hòa bình và lẫn cây gậy trả đủa định kỳ để làm kiệt quệ nó và phục vụ như là lời cảnh cáo là sự kiềm chế của Mỹ có những giới hạn của nó.

p682

Một chiến lược phức tạp, Việt Nam hóa chiến tranh tuy thế đã lôi cuốn sự nguy cơ to lớn mà qua đó nó chỉ đơn giản là không thể phải chứng minh là có thể giữ ba yếu tố chiến lược hoạt động đồng bộ; thời gian có thể sắp hết, và chính sách có thể cuối cùng trở thành xôi hỏng bỏng không vì sự lưỡng lự giữa hai con đường. Chính là một công việc gánh vác tạm thời theo cách tốt nhất, cho mỗi cuộc rút quân sẽ khuyến khích Hà Nội và mỗi chuyến ra đi sẽ làm bùng lên Phong trào Hòa bình.
Trong một văn bản ghi nhớ gởi mà tôi gởi cho ông Nixon vào ngày 10 tháng Chín năm 1969 –phần lớn của văn bản vốn được thảo ra bởi Anthony Lake, vốn là người sau nầy là phụ tá điều hành của tôi và hiện thời là vị Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng thống Clinton– tôi đã trình bày về những rủi ro của sách lược Việt Nam hóa chiến tranh. Nếu sách lược Việt Nam hóa mất quá nhiều thời gian, văn bản ghi nhớ lập luận, tình trạng bồn chồn của công chúng có thể gia tăng hơn là giảm đi. Chính quyền sau đó sẽ tìm thấy chính mình trong một vùng đất không có người giữa phe diều hâu và phe bồ câu –quá dễ dãi đối với phe diều hâu, quá gây hấn đối với phe bồ câu. Những phát biểu của chính phủ được trù hoạch để xoa dịu cả hai nhóm sẽ “phục vụ nhằm gây khó hiểu cho Hà Nội nhưng cũng xác nhận nó trong quá trình chờ đợi chúng ta ra mặt” :

… “Việt Nam hóa chiến tranh” sẽ càng lúc gặp phải những vấn đề nghiêm trọng khi chúng ta di dần xuống con đường của nó.
– Việc rút đi những binh lính Mỹ sẽ trở thành giống như “những hạt đậu phộng muối” đối với công chúng Mỹ: càng thêm nhiều những binh lính Hoa Kỳ trở về nhà, càng thêm nhiều người sẽ được đòi hỏi. Điều nầy cuối cùng có thể tạo nên kết quả, trong thực tiển, theo những nhu cầu cho việc rút quân đơn phương –có lẽ trong vòng một năm.
– Càng thêm nhiều những binh lính được rút đi, càng thêm nhiều người sẽ được Hà Nội khuyến khích…
– Mỗi người lính Hoa Kỳ vốn được rút đi, sẽ là điều tương đối quan trọng hơn đối với nỗ lực ở miền Nam, khi mà anh ta sẽ tiêu biểu cho một con số phần trăm cao hơn của những lực lượng Hoa Kỳ so với người lính có mặt trước đó…
– Điều đó sẽ trở nên càng lúc khó khăn hơn để duy trì tinh thần của những người vốn còn ở lại, không nói đến những bà mẹ của họ.
– “Việt Nam hóa chiến tranh” có thể không dẫn đến việc rút giảm những thương vong của Hoa Kỳ cho đến những giai đoạn cuối cùng của nó, khi mà tỷ lệ thương vong của chúng ta có thể không liên hệ đến tổng số lượng những binh lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Để giết khoảng 150 binh lính Hoa Kỳ một tuần, đối phương cần tấn công chỉ một phần nhỏ trong số những lực lượng của chúng ta…

(Đây là văn bản mật của Henry Kissinger được gởi cho Tổng thống
Nixon vào ngày 10/09/1969 về vấn đề “những hạt đậu phộng muối”
và “Việt Nam hóa chiến tranh”)

Nếu tất cả điều nầy là sự thật, văn bản ghi nhớ lập luận, Hà Nội sẽ tập trung vào việc gây ra một chiến bại trên Hoa Kỳ về mặt tâm lý, không phải là quân sự; điều đó sẽ kéo dài cuộc chiến tranh, làm ngưng nhưng cuộc đàm phán, và chờ đợi cho tình hình nội tại của nước Mỹ sáng tỏ –một dự đoán về mặt thực chất đã trở thành sự thật.
Văn bản ghi nhớ đã nhìn thấy trước phần nhiều những khó khăn sau nầy của chúng tôi; nó cũng cam chịu là không thích hợp.

p683

Có một điều, mặc dù nó được trình lên Tổng thống, tôi không mang nó vào trong Văn phòng Bầu dục. Ở Washington, những ý tưởng không tự thuyết phục người khác. Những tác giả của những văn bản ghi nhớ vốn không phải là những người sẵn sàng chiến đấu cho họ, có nhiều khả năng tìm thấy những từ ngữ của họ biến thành sự cáo lỗi có ảnh hưởng từ đó trở về sau hơn là những hướng dẫn để hành động. Thu mình lại trước phe đối lập gay gắt và sự bất ổn trong nước mà qua đó một sự lựa chọn khác về việc cố gắng buộc phải lật tẩy những con bài trước Hà Nội có thể đã gợi lên, tôi không bao giờ buộc phải có sự suy xét theo hệ thống về sự lựa chọn nầy. Vị Tổng thống cũng không điều tra về điều đó, gần như chắc chắn với cùng một lý do. Ông Nixon không có một sự thúc đẩy nào để đảo ngược sự quyết định của mình trong khuynh hướng ủng hộ sự lựa chọn Việt Nam hóa chiến tranh miễn là không một cơ quan nào trong số những cơ quan chính phủ có liên quan đến Việt Nam đã bày tỏ bất kỳ những điều kiện hạn chế nào. Và không một cơ quan nào trong số đó đã làm điều đó, chủ yếu bởi vì họ quá bị suy nhược tinh thần bởi những cuộc biểu tình muốn tràn vào trong phòng tuyến hỏa lực.
Tôi đã xem xét lại nỗi khổ não của sự lựa chọn đó nhằm mục đích cho thấy rằng, vào lúc ông Nixon nhậm chức, những sự lựa chọn duy nhất về vấn đề Việt Nam nằm trong số những điều tai hại tương tự. Sự kiện thực tế mà qua đó sách lược Việt Nam hóa chiến tranh sẽ chứng minh là điều khó khăn đến dằn vặt cả lòng, đã không tạo ra được những phần lựa chọn khác thêm bất kỳ sự hấp dẫn nào. Cái thực tế chính yếu nầy vượt quá sự hiểu biết của các nhà phê bình Mỹ về Chiến tranh Việt Nam, như nó thực sự đã lảng tránh phần nhiều công chúng Mỹ trong các trường hợp khác: chính sách đối ngoại thường liên quan đến việc quyết định trong số những sự lựa chọn đầy khuyết điểm. Sự lựa chọn mà ông Nixon phải đối mặt trong vấn đề Việt Nam là giữa những sự lựa chọn thay thế khác gần như khó mà chấp nhận như nhau. Sau hai mươi năm theo đuổi chính sách ngăn chận, Mỹ đang trả một cái giá cho sự mở rộng quá mức; không có những sự lựa chọn đơn giản nào còn lại.
Mặc dù sách lược Việt Nam hóa chiến tranh là một quá trình liều lĩnh, trên cán cân quân bình, đó là điều tốt nhất trong số những phần lựa chọn hiện có. Nó có điểm lợi của việc cho dân tộc Mỹ và miền Nam Việt Nam một cách thức quen dần với việc rút quân không thể tránh khỏi của Mỹ. Nếu, trong quá trình rút giảm các lực lượng Mỹ không thể lay chuyển, Mỹ thành công trong việc gia tăng sức mạnh miền Nam Việt Nam –và Chính quyền Nixon thực sự muốn làm chỉ là như thế– mục tiêu của Mỹ có thể đạt được. Nếu điều đó thất bại và cuộc rút quân đơn phương trở thành sự lựa chọn còn lại duy nhất, việc triệt thoái cuối cùng có thể xảy ra sau khi những lực lượng Mỹ được thu hẹp đến một mức độ mà qua đó giảm bớt những rủi ro của tình trạng hỗn loạn và tình trạng bị làm bẽ mặt.
Khi chính sách nầy được mở ra, ông Nixon đã kiên quyết làm một nỗ lực lớn để đàm phán, và yêu cầu tôi tiến hành nhiệm vụ nầy. Tổng thống Pháp, Georges Pompidou, đã tổng kết một cách ngắn gọn việc gì đó đang ở phía trước tôi. Kể từ khi chính quyền của ông ta sắp xếp vấn đề hậu cần cho các cuộc đàm phán bí mật của tôi ở Paris với những người Bắc Việt, tôi báo cáo cho ông ta gần như sau mỗi phiên họp đàm phán. Vào một dịp như thế, đặc biệt là khi tôi đang cảm thấy lấy làm chán nản về tình trạng bế tắc dường như khó chữa, ông Pompidou nhận xét theo cách thực tế, lẽ thường của mình: “Anh bạn buộc phải thành công.”

p684

Những công chức không có tự do để chọn thời điểm phục vụ cho quốc gia của mình hoặc những nhiệm vụ đang chờ đợi họ. Nếu tôi đã được cho bất kỳ sự lựa chọn nào trong vấn đề nầy, tôi sẽ chắc chắn đã chọn một đối tác đàm phán dễ dãi hơn Lê Đức Thọ. Kinh nghiệm đã củng cố cái ý thức hệ gì đó vốn đã từng dạy cho ông ta và các đồng nghiệp của mình ở Bộ Chính trị Hà Nội –rằng những cuộc chiến tranh du kích là về những người chiến thắng và những kẻ thua cuộc, không phải là về sự thỏa hiệp. Trong những giai đoạn đầu của nó, sách lược Việt Nam hóa chiến tranh không gây ấn tượng đối với họ: “Làm thế nào bạn có thể mong đợi thắng thế chỉ riêng với quân đội miền Nam Việt Nam khi nó không thể chi ến thắng với sự trợ giúp của 500.000 người Mỹ ?” một Lê Đức Thọ vô cùng tự tin đặt ra câu hỏi vào năm 1970. Chính là một câu hỏi ám ảnh vốn cũng đã hành hạ chúng tôi. Hơn bốn năm, một sự kết hợp của việc gia tăng sức mạnh Sài Gòn và làm suy yếu Hà Nội tạo ra một câu trả lời đầy hứa hẹn xuất hiện trong tầm với. Ngay cả vào lúc đó, nó vẫn sẽ chịu đựng một cuộc phong tỏa, một cuộc tấn công thất bại của Bắc Việt, và cuộc dội bom dữ dội để buộc Hà Nội kết thúc sự thỏa thuận.
Hiện tượng của một kẻ thù hoàn toàn không thể làm xiêu lòng chẳng quan tâm đến sự thỏa hiệp –thật ra là, đang tìm cách biến đổi sự bế tắc trở thành một vũ khí– thì xa lạ đối với kinh nghiệm của Mỹ. Một số lượng những người Mỹ ngày càng nhiều hơn khao khát cho sự thỏa hiệp. Nhưng các nhà lãnh đạo Hà Nội đã khởi động cuộc chiến tranh của họ nhằm mục đích giành lấy chiến thắng, không phải để thỏa thuận. Như thế, những đề mục của cuộc tranh luận của Mỹ –phần lớn là những đề xuất cho những việc ngưng lại cuộc dội bom, những cuộc ngưng chiến, những thời hạn cho cuộc rút quân của Mỹ, và một chính phủ liên minh– không bao giờ thích hợp đối với những tính toán của Hà Nội. Hà Nội chỉ mặc cả khi nào nó đang phải chịu áp lực dữ dội –riêng biệt là, bất cứ khi nào Mỹ tiếp tục lại cuộc dội bom, và nhất là sau khi cuộc thả mìn những bến cảng Bắc Việt. Tuy thế sự trông cậy vào áp lực là chính xác cái gì mà hầu hết châm lửa vào những nhà phê bình ở quê nhà.
Những cuộc đàm phán với Bắc Việt diễn ra trên hai mức độ. Có những cuộc họp chính thức của bốn bên về cuộc xung đột tại Khách sạn Majestic ở Paris, bao gồm Hoa Kỳ, chính phủ Thiệu, MtGpDt(12) (tổ chức mặt trận miền Nam Việt Nam của Hà Nội), và chính phủ Hà Nội. Mặc dù nhiều tháng đã được dành cho việc tranh cãi về hình dáng của bàn hội nghị nơi mà MtGpDt có thể được ngồi vào mà không có sự ngụ ý nhìn nhận nó bởi Sài Gòn, những cuộc đàm phán chính thức ngay lập tức chui vào lòng đất. Nơi hội họp thì quá lớn, tính chất công khai quá khe khắt, và Hà Nội chứng tỏ quá khó chịu không thể cho phép Sài Gòn đồng danh phận hoặc, trong vấn đề đó, ngay cả đối với thành phần thay mặt của riêng nó, là MtGpDt.
Chính quyền Nixon vì vậy tiếp tục cái gọi là những cuộc đàm phán riêng –đó là những cuộc đàm phán bí mật, vốn được hạn chế với những đoàn đại biểu Mỹ và Bắc Việt và đã được bắt đầu bởi Averell Harriman và Cyrus Vance, những nhà đàm phán trong suốt những tháng cuối của Chính quyền Johnson. Đặc trưng là, sự xuất hiện của Lê Đức Thọ ở Paris sẽ tạo nên tín hiệu là Hà Nội đang sẵn sàng cho một đợt những cuộc đàm phán.

p685

Mặc dù ông ta giữ vị trí thứ năm trong hệ thống phân cấp của Hà Nội, chính là tính kêu ngạo của Lê Đức Thọ tự gọi chính mình chỉ là một vị cố vấn đặc biệt cho Xuân Thủy, một viên chức thuộc Bộ Ngoại giao theo đúng cách vốn là người đứng đầu phái đoàn Bắc Việt tại Khách sạn Majestic.
Lập trường thương lượng của Mỹ buộc phải tách biệt những vấn đề chính trị và quân sự và nó không thay đổi sau năm 1971. Chương trình nầy kêu gọi cho việc ngưng bắn được theo sau bởi cuộc rút quân hoàn toàn của những lực lượng Mỹ và sự chấm dứt tái tiếp tế và tăng cường từ miền Bắc. Tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam sẽ được để lại cho một cuộc tranh đua tự do về mặt chính trị. Lập trường của Hà Nội cho đến khi bước đột phá vào tháng Mười năm 1972 buộc phải đòi hỏi một thời hạn vô điều kiện cho việc rút quân toàn bộ của Mỹ, và việc tháo bỏ Chính quyền Thiệu. Thời hạn là cái giá cho phép bước vào trong việc đàm phán trên bất kỳ vấn đề nào khác, và sẽ tiếp tục bám giữ những chủ đề khác mà không quan tâm đến sự thành công. Mỹ đang yêu cầu cho sự thỏa hiệp; Hà Nội thì đòi hỏi việc đầu hàng có điều kiện. Không có con đường ở giữa nào cho đến khi một cân bằng lực lượng trên vùng đất tạo ra sự thỏa hiệp có thể có –mà qua đó chỉ kéo dài lâu như sự quân bình lực lượng tồn tại.
Những cuộc họp luôn được yêu cầu bởi phía bên Mỹ, qua việc sử dụng Tướng Vernon Walters, tùy viên quân sự tại tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Paris, như là người trung gian. (Ông Walters sau nầy có một sự nghiệp xuất sắc như là Phó Giám đốc Tình báo Trung ương, vị Đại diện Thường trực cho Liên Hiệp Quốc, và là vị Đại sứ cho Đức, thêm vào việc đảm nhận rất nhiều sứ mệnh nhạy cảm của Tổng thống). Sự điều động Hoa Kỳ vào trong việc thực hiện nước bước đầu tiên là một trong những thủ đoạn không ngừng của Hà Nội hầu thiết lập ưu thế về mặt tâm lý. Chiến thuật cho thấy là Hà Nội đã thấu hiểu cuộc khủng hoảng trong nước của Mỹ rõ như thế nào. Nếu Lê Đức Thọ đang ở Paris trong bất kỳ khoảng thời gian nào mà không được tiếp xúc bởi chính phủ Hoa Kỳ, ông ta chắc chắn thốt ra nhiều lời gợi ý cho các nhà báo hoặc thăm hỏi những thành viên của Quốc hội về sự thất bại của Chính quyền Nixon khám phá ra những ý định diễn tiến hòa bình của Hà Nội. Việc đưa ra tình trạng tranh cãi bên trong nước Mỹ, những sự gợi ý như thế chắc chắn là nhận được sự phổ biến rộng rãi, và ông ta có khả năng buông ra những lời đó ngay cả khi những cuộc đàm phán đang diễn ra.
Trong suốt thời gian mỗi lần trong số những chuyến thăm viếng Paris của Lê Đức Thọ giữa năm 1970 và 1972, năm hoặc sáu cuộc họp sẽ diễn ra trên một khoảng thời gian một vài tháng. (Cũng có nhiều cuộc họp chỉ riêng với Xuân Thủy. Trong sự vắng mặt của Lê Đức Thọ, chúng đã chứng minh một sự lãng phí hết thời gian.)
Những cuộc đàm phán theo sau một thủ tục rập khuôn. Như là người đứng đầu chính thức của nhóm đàm phán Việt Nam, Xuân Thủy sẽ bắt đầu với việc kể lể tràng giang đại hải giống nhau về lập trường đàm phán của Việt Nam vốn quen thuộc đối với chúng tôi từ những phiên họp tại Khách sạn Majestic. Ông ta sau đó sẽ “nhường chỗ cho vị Cố vấn Đặc biệt Lê Đức Thọ.” Vận phục chải chuốt không chê v ào đâu được trong một bộ đồ màu nâu hoặc đen kiểu Chủ tịch Mao,

p686

Lê Đức Thọ sau đó sẽ đưa ra một bài nói chuyện dài nhằng không kém được tập trung vào các vấn đề triết học như ông ta hiểu về chúng, được xen kẽ với những lời tường thuật sử thi về những cuộc đấu tranh giành độc lập trước đây của Việt Nam.
Cho đến khi gần như ngay lúc cuối những cuộc đàm phán, chủ đề của Lê Đức Thọ vẫn còn giống nhau: cán cân lực lượng đang tình thế có lợi cho Hà Nội và sẽ càng lúc gia tăng như thế; những cuộc chiến tranh được chiến đấu cho những mục tiêu chính trị, do đó việc đưa ra đề nghị của Mỹ cho một cuộc ngưng bắn và trao đổi tù nhân là điều phi lý và không thể chấp nhận; một giải pháp chính trị phải bắt đầu với hành động lật đổ chính phủ miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ. (Tại một điểm, Lê Đức Thọ, thậm chí đề nghị một cách hữu ích một phương pháp cho việc hoàn thành mục đích nầy –vụ ám sát ông Thiệu).
Tất cả điều nầy được trình bày bằng sự lịch sự không chê vào đâu được, một thái độ lạnh băng chuyên chở tính chất ưu việt về mặt đạo đức, và trong một vốn từ vựng Mác-xít không thấm qua được những lời xen vào của những tên đế quốc dốt nát bị giam hãm trong u tối. Lê Đức Thọ sẽ đưa ra không đến một phần tư thậm chí một điểm sâu sắc nhất nào đó vốn có thể dùng cho việc chỉ dạy về tư tưởng hệ. Vào một dịp, tôi tìm cách nghĩ ngơi trong những cuộc nói chuyện, gợi lại điều gì mà tôi xem là một sự trình bày có hệ thống, khéo léo đầy đủ về chủ nghĩa Mác-xít –là “sự cần thiết khách quan” thực hiện một sự gián đoạn cần thiết. Điều nầy, tuy nhiên, chỉ làm cho Lê Đức Thọ đưa ra một bài giảng mười phút khác về tính chất không phù hợp của tên đế quốc giống như chính tôi sử dụng thuật ngữ Mác-xít.
Chiến lược cơ bản phía sau cách tiến hành lạnh lùng của Lê Đức Thọ là chuyển tải thời gian đó vốn thuộc về phía ông ta bởi vì ông ta đang có một cái thế khai thác những sự phân chia của Mỹ cho lợi ích của riêng mình. Trong quá trình đợt đầu tiên của các cuộc họp, giữa tháng Hai và tháng Tư năm 1970, ông ta bác bỏ cuộc ngưng bắn, một lịch trình rút quân mười lăm tháng, việc xuống thang chiến đấu, và việc trung hòa hóa Cam-pu-chia. (Điều khá thú vị là, trong danh mục gồm những lời kêu ca của ông ta, mà qua đó không miễn cho chúng tôi một chi tiết nào, Lê Đức Thọ không bao giờ nhắc đến cuộc dội bom “bí mật” vào những khu bất khả xâm phạm ở Cam-pu-chia).
Trong suốt đợt thứ hai của cuộc đàm phán, từ tháng Năm đến tháng Bảy năm 1971, Lê Đức Thọ thăm dò một mức thấp mới của sự hoài nghi. Tại diễn đàn công cộng, MtGpDt(12) đã đệ trình một kế hoạch bảy điểm. Lê Đức Thọ đề xuất một mưu đồ chín điểm gì đó hơn khác biệt và cụ thể hơn trong những cuộc nói chuyện bí mật, nhấn mạnh một cách rõ rệt là văn bản đề nghị sau nầy phục vụ như là một cơ bản cho các cuộc đàm phán thực sự. Trong khi đó, những phát ngôn cộng sản làm ầm lên đòi hỏi câu trả lời cho kế hoạch bảy điểm công khai của họ, và Chính quyền Nixon phải chịu tấn công vì không đáp trả cho một đề xuất mà những nhà đàm phán Việt Nam đã bày tỏ rõ ràng là họ không muốn đàm phán. Trò chơi đố chữ nầy tiếp tục diễn ra cho đến khi ông Nixon để lộ thủ đoạn một cách công khai, và ngay lúc đó Hà Nội công bố một “văn bản soạn thảo công phu” hai điểm của kế hoạch bảy điểm, vốn chẳng bao lâu gợi ra áp lực công chúng thêm nữa trên ông Nixon. Sau khi những cuộc đàm phán cuối cùng chấm dứt, tôi đã hỏi Lê Đức Thọ là một cách chính xác văn bản xây dựng hai điểm đã dựng lên cái gì. “Không gì cả,” ông ta trả lời với một nụ cười.

p687

Trong suốt vòng ba của các cuộc đàm phán, vốn diễn ra từ tháng Tám năm 1972 đến tháng Giêng năm 1975, một sự đột phá đã xảy ra. Vào ngày 8 tháng Mười, Lê Đức Thọ từ bỏ đòi hỏi tiêu chuẩn của mình là muốn Mỹ lật đổ chính quyền Sài Gòn và đồng ý với cuộc ngưng bắn. Từ đó trở đi, những vấn đề di chuyển mau chóng đến một kết thúc. Lê Đức Thọ chứng tỏ rằng ông ta như là có mưu trí trong việc tìm ra những giải pháp khi ông ta đã từng cứng đầu trong suốt khoảng thời gian ngăn chận việc thông qua nghị quyết. Ông ta thậm chí thay đổi bài phát biểu khai mạc, mặc dù không phải ngắn hơn trước đó, vốn biến thành lời hô hào để tạo nên sự tiến triển. Ông ta, tuy nhiên, không cho phép sự công kích về các cuộc đàm phán nghiêm túc nhằm hạn chế xu hướng của ông ta cho việc tự làm cho mình đáng tởm. Một câu nói mà ông ta đưa ra không thay đổi vào mỗi buổi sáng như là một phần của kinh cầu nguyện mới của mình là: “Bạn thực hiện một nỗ lực lớn và chúng tôi sẽ thực hiện một nỗ lực lớn.” Một buổi sáng nọ, ông ta bỏ rơi phần thêm vào, nói rằng Mỹ nên thực hiện một nỗ lực lớn và rằng ông ta sẽ đáp lại bằng nỗ lực. Như là một cách để phá vỡ sự đơn điệu, tôi kêu gọi sự chú ý của ông ta đến điều bỏ sót. “Tôi rất vui vì bạn nhận thấy điều đó,” người đối thoại bình tĩnh của tôi nói. “Nhưng ngày hôm qua, chúng tôi đã thực hiện một nỗ lực lớn và bạn chỉ thực hiện một nỗ lực. Vì vậy, hôm nay chúng tôi đảo ngược phương thức: bạn phải thực hiện một nỗ lực lớn và chúng tôi sẽ chỉ thực hiện một nỗ lực.”
Một phần của sự rắc rối là Lê Đức Thọ chỉ có một mục tiêu, nhưng trái lại, như là một siêu cường, Mỹ phải có nhiều hơn. Lê Đức Thọ có quyết tâm lên đến tột đỉnh sự nghiệp cách mạng của mình trong thắng lợi, Mỹ phải cân bằng những sự suy xét nội tình đối với quốc tế, tương lai của Việt Nam đối với việc duy trì vai trò trên toàn cầu của Mỹ. Lê Đức Thọ giải quyết vấn đề tâm lý của người Mỹ như là một bác sĩ phẫu thuật năng khiếu có thể giải phẩu trên bệnh nhân của mình, Chính quyền Nixon buộc phải chiến đấu trên rất nhiều mặt trận mà nó hiếm khi có cơ hội để tiến hành một thủ thuật ngoại giao áp đảo.
Thật vậy, ngay từ đầu và trong suốt những cuộc đàm phán, Chính quyền Nixon đã phải dành hết một số lượng năng lực khác thường để chống đỡ những cuộc tấn công vào niềm tin tốt đẹp của nó. Mặc dù có nhiều biểu hiện đơn phương, không được đáp trả mà ông Nixon đã thực sự tạo ra đối với Hà Nội, vị Tổng thống phải chịu gần như ngay sau khi nhậm chức, những lời chỉ trích rằng ông ta không cống hiến đủ cho nền hòa bình. Đến tháng Chín năm 1969, Hoa Kỳ đã đưa ra sự thừa nhận sự tham gia của MtGpDt(12) trong quá trình chính trị và những ủy ban tuyển cử hỗn hợp, đã rút đi hơn 10 phần trăm những lực lượng của mình, và đã đồng ý với việc rút đi toàn bộ phần còn lại sau cuộc dàn xếp –mà không có bất cứ điều gì thêm nữa để cho thấy những nhượng bộ nầy nhiều hơn so với những việc lặp đi lặp lại không ngừng của những lời nhai đi nhai lại nằm lòng theo tiêu chuẩn của những người cộng sản về những đòi hỏi của họ cho cuộc rút quân đơn phương và việc lật đổ chính quyền Sài Gòn.
Tuy thế, vào ngày 25 tháng Chín năm 1969, vị Thượng nghị sĩ thuộc Đảng Cộng hòa, Charles Goodell, của New York đã tuyên bố rằng ông ta sẽ đưa ra một nghị quyết yêu cầu việc rút đi tất cả các lực lượng Mỹ khỏi Việt Nam đến cuối năm 1970. Vào ngày 15 tháng Mười, cái gọi là những cuộc biểu tình chống Lệnh Đình hoãn Hành động đã diễn ra trên khắp đất nước.

p688

Một đám đông khoảng 20.000 được tụ tập tại một cuộc mít-tinh lớn vào buổi trưa ở khu tài chính của thành phố New York để nghe Bill Moyers, vốn đã từng là một phụ tá viên của Tổng thống Johnson và là Thư ký Báo chí của Nhà Trắng, lên án chiến tranh. Ba mươi ngàn tụ hợp ở công viên New Haven Green(13) (i.e. công viên Xanh của thành phố New Haven thuộc tiểu bang Connecticut). Năm mươi ngàn người qui tụ ở khu vực Đài tưởng niệm Washington, trong tầm nhìn gần Nhà Trắng. Ở thành phố Boston, 100.000 người hội tụ về công viên Common (i.e. công viên Chung) để lằng nghe Thượng nghị sĩ McGovern trong khi một chiếc máy bay thả khói vẽ một biểu tượng hòa bình lên bầu trời trên cao để bày tỏ rằng Chính quyền đang từ chối mong muốn hòa bình.
Như được hiện thân trong Phong trào Hòa bình, chủ nghĩa biệt lệ của Mỹ không cho phép bất kỳ cuộc thảo luận nào về những thực dụng của việc triệt thoái, và xem những cố gắng làm như thế như là triệu chứng của sự mong muốn lén lút của Chính quyền để tiếp tục cuộc chiến. Sau khi chuyển đổi cuộc chiến tranh hóa thành một cuộc xung đột trong nước giữa điều thiện và điều ác ở quê nhà, Phong trào Hòa bình thích chọn lấy –vì những lý do nào đó nó được xem như là một nền đạo đức cao độ– sự sụp đổ của Mỹ ở Việt Nam hơn là một kết quả nào đó, một cách chính xác là, bởi vì nó có thể được xét như là điều “đáng danh dự,” có thể cũng gợi thèm sự ưu thích của chính phủ cho những cuộc phiêu lưu nước ngoài xa hơn nữa.
Đây là lý do tại sao nó đã chứng minh là không thể nào tìm thấy bất kỳ điểm chung nào giữa Phong trào Hòa bình và Chính quyền. Ông Nixon đã rút giảm những lực lượng Mỹ ở Việt Nam từ con số gần như 550.000 đến 20.000 trong ba năm; những thương vong đã giảm xuống từ con số khoảng 16.000 người hoặc 28% tổng số trong năm 1968 đến khoảng 600 người hay 1% tổng số trong năm 1972, là năm cuối cùng của thời chiến. Điều nầy không làm dịu lại sự thiếu tin tưởng hoặc nỗi đau đớn. Vì sự khác biệt cơ bản có thể không được bắt cầu; ông Nixon muốn rời khỏi Việt Nam trong danh dự và Phong trào Hòa bình tin rằng cái danh dự đó đòi hỏi Mỹ rời khỏi Việt Nam vô điều kiện trong thực tế.
Nếu việc kết thúc chiến tranh là mục tiêu duy nhất, trong con mắt của các nhà phê bình Chính quyền Sài Gòn trở thành một trở ngại cho nền hòa bình hơn là một đồng minh. Những niềm tin chắc chắn ban đầu vốn cho rằng miền Nam Việt Nam là một yếu tố quan trọng của nền an ninh của Mỹ, đã được loại bỏ từ lâu. Cái gì còn lại là ý nghĩa rằng, ở Việt Nam, Mỹ đang kết bạn với bọn người xấu. Phần chính thống mới của các nhà phê bình là ông Thiệu phải được thay thế bằng một chính phủ liên minh, nếu cần thiết bằng cách cắt đứt những ngân quỹ của Mỹ cho miền Nam Việt Nam. Ý tưởng về một chính phủ liên minh biến thành một phương thức sửa chữa chủ quyền của các cuộc thảo luận trong nước vào thời điểm đúng lúc khi các nhà đàm phán Bắc Việt đang bày tỏ rõ ràng là, theo cách định nghĩa của họ, một chính phủ liên minh là một uyển ngữ cho việc chiếm lấy miền Nam của cộng sản.
Bắc Việt thật ra đã sáng chế một cách thức khôn khéo cho việc gây ra sự khó hiểu cho khán giả Mỹ của họ. Họ thừa nhận rằng mục tiêu của họ là một chính phủ “liên minh” ba bên được cấu thành gồm MtGpDt(12) (những con chốt của riêng họ), một thành phần trung lập, và những thành viên của Chính quyền Sài Gòn vốn là những người đứng lên vì “hòa bình, tự do, và độc lập.”

p689

Như đối với rất nhiều động thái trắng trợn của Hà Nội, người ta phải đọc chữ in nhỏ để xác định ý nghĩa thực sự của những đề xuất nghe có vẻ hợp lý theo cách khác. Chỉ sau đó nó thực sự trở nên rõ ràng là một thể chế ba phần sẽ không cai trị Sài Gòn nhưng sẽ thương lượng với MtGpDt cho sự dàn xếp cuối cùng. Nói cách khác là, một thể chế bị cộng sản không trị sẽ đàm phán với một nhóm toàn bộ là cộng sản về tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam. Hà Nội đang đưa ra đề nghị kết thúc chiến tranh qua cuộc đối thoại với chính nó.
Điều nầy, tuy nhiên, không phải là cách mà vấn đề xuất hiện trong các cuộc thảo luận của Mỹ. Trong cuốn sách của mình là “The Crippled Giant” (“Tên khổng lồ Tàn tật”), Thượng nghị sĩ J. William Fulbright khẳng định rằng vấn đề là giữa những kẻ toàn trị đối thủ. Thượng nghị sĩ McGovern, vốn là người vào năm 1971 đã hình dung ra một “chính phủ hỗn hợp” ở Sài Gòn, vào năm 1972, suýt là một ứng cử viên Tổng thống thuộc Đảng Dân chủ, đã thúc giục việc rút đi những lực lượng Hoa Kỳ và việc cắt đứt viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam. Chính quyền Nixon chuẩn bị đánh liều chính phủ Thiệu trong những cuộc tuyển cử tự do được giám sát theo tính cách quốc tế. Điều mà nó từ khước làm là việc lật đổ một chính phủ đồng minh được dựng lên bởi người tiền nhiệm của nó nhằm mục đích đạt được sự triệt thoái của Mỹ.

(Thượng Nghị sĩ George Stanley McGovern từ tiểu bang South Dakota,
thuộc Đảng Dân chủ, là người từng lên tiếng về việc rút đi toàn bộ binh
lính Hoa Kỳ và thậm chí về việc cắt đứt toàn diện những viện trợ quân
sự cho chính quyền miền Nam Việt Nam mà ông ta xem nó như là một
cản trở cho “nền hòa bình ở Đông Dương.” Và ý tưởng nông cạn nầy
được chứng minh qua thực tế khốn nạn của hiện tình Đông Dương sau
năm 1975, và nỗi nhục khó tẩy sạch của một Hoa Kỳ hàng đẩu thế giới)

Tiêu chuẩn cho sự thành công của Phong trào Hòa bình là, theo một cách đơn giản, liệu cuộc chiến tranh có thật sự đang kết thúc không. Và nếu câu trả lời là phủ định, lập trường đàm phán của Mỹ được xem là sai lầm. Phong trào Hòa bình sẽ không lên án Hà Nội, hoặc là vì lập trường đàm phán của nó hoặc là vì phương pháp của việc tiến hành chiến tranh, do đó cho Hà Nội mỗi sự khích lệ để ngăn chận việc thông qua nghị quyết. Đến năm 1972, Hoa Kỳ đã đơn phương rút đi 500.000 binh lính. Sài Gòn đã chính thức đưa ra ý muốn tổ chức những cuộc tuyển cử tự do và để cho Mỹ rút đi tất cả những lực lượng còn lại của nó trong vòng bốn tháng theo sự thỏa thuận. Ông Thiệu đã đồng ý từ chức cách một tháng trước khi có những cuộc bầu cử. Hoa Kỳ đã đề ra tiêu chuẩn của một ủy ban hỗn hợp nhằm giám sát các cuộc tuyển cử, tất cả điều nầy trên điều kiện là một cuộc ngưng bắn được giám sát theo quốc tế và việc trao trả những tù binh chiến tranh. Không một biện pháp nào trong số đó giảm bớt đi cuộc tấn công vào những lý do thúc đẩy hoặc những chính sách của nó.
Khi những tháng trôi qua, cuộc tranh luận trong nước càng lúc tập trung trên điều kiện tiên quyết của Hà Nội là Hoa Kỳ sắp đặt một ngày tháng rút quân chắc chắn như là một thể thức cho việc chấm dứt chiến tranh. Những điều đưa ra cho những thời hạn cố định cho cuộc rút quân mau chóng trở thành phần chính yếu của những nghị quyết chống chiến tranh của Quốc hội (có khoảng 22 nghị quyết trong năm 1971, và 35 trong năm 1972.) Bản chất không ràng buộc của chúng cho những người bảo trợ của chúng điều tốt nhất trong tất cả quốc gia: việc tách ra khỏi Chính quyền mà không có trách nhiệm nào cho những hậu quả. Không có gì dường như đơn giản hơn là việc kết thúc chiến tranh bằng cách chỉ rút quân khỏi nó –ngoại trừ là không có gì ở Việt Nam từng đơn giản như nó có vẻ là thế.

p690

Sau cuộc họp với những nhà đàm phán Bắc Việt và MtGpDt,(12) các thành viên của Phong trào Hòa bình Mỹ tiếp tục báo cáo rằng họ “biết” việc thả những tù binh và việc dàn xếp những vấn đề khác sẽ theo sau một cách nhanh chóng một khi Hoa Kỳ mười đã cam kết chính mình vào một thời hạn cố định, không thể thay đổi cho việc rút quân. Thật ra, Hà Nội đã không bao giờ đưa ra lời hứa hẹn như thế, qua việc theo sát cùng một kịch bản cũ với những mơ hồ trêu ngươi giống nhau mà nó đã được sử dụng trên việc ngưng cuộc dội bom năm 1968. Việc sửa lại thời hạn sẽ tạo ra “những điều kiện thuận lợi” cho giải pháp của những vấn đề khác, Lê Đức Thọ đã quả quyết, nhưng khi đến lúc những cuộc đàm phán thực sự, ông ta khẳng định rằng thời hạn rút quân, một khi được thành lập, sẽ ràng buộc bất kể điều gì xảy ra trong những cuộc đàm phán khác về cuộc ngưng bắn hoặc việc thả những tù binh. Trong thế giới thực tế, Hà Nội thực hiện việc thả những tù binh và việc ngưng bắn phụ thuộc vào việc lật đổ của chính phủ Sài Gòn. Như Lê Đức Thọ liên tục giải thích như thể là ông ta đang tiến hành một cuộc hội thảo của những người mới bắt đầu trong khóa học về môn khoa học chính trị, mà qua đó là lý do tại sao cuộc chiến tranh buộc phải chiến đấu từ lúc đầu.
Điều trớ trêu to lớn nhất về cuộc tranh luận bên trong nước Mỹ hóa ra là Hà Nội thật ra hoàn toàn không quan tâm đến việc rút quân đơn phương của Mỹ. Điểm nầy vẫn còn bị hiểu lầm trong phần nhiều tác phẩm về chiến tranh. Cho đến khi gần cuối cuộc họp, Hà Nội không bao giờ đi lệch khỏi thể thức tiêu chuẩn của nó; một ngày tháng không thể thay đổi cho cuộc rút quân của Mỹ được kèm với sự cam kết của Mỹ lật đổ chính phủ miền Nam Việt Nam trên đường ra ngoài. Đó là điều quan tâm cơ bản trong những sắc thái của những lịch trình rút quân khác nhau mà qua đó những thành viên đúng nghĩa của Quốc hội vui lòng quỳ mọp xuống chân nó, ngoại trừ đến một mức độ như thể họ nuôi dưỡng những sư đoàn Mỹ. Việc làm cho cuộc thượng lượng hấp dẫn hơn bằng cách đưa ra một lịch trình rút quân hơi hòa hợp hơn sẽ không thay đổi lập trường của Bắc Việt. Kết quả của cuộc xung đột, đối với cách suy nghĩ của Hà Nội, sẽ được giải quyết bằng vũ lực. Nó sẽ vui vẻ bỏ túi bất cứ những điều gì đưa ra đúng theo cách của nó mà không để cho chúng gây ảnh hưởng đến lập trường đàm phán của mình. Các nhà phê bình về chiến tranh nghĩ rằng Hà Nội sẽ biến đổi hợp lý nếu Mỹ thể hiện ý muốn của nó đi xa thêm vài dặm. Trong điều nầy, họ đã lầm. Mọi thứ mà Washington nghe từ Hà Nội, chung qui là một sự đòi hỏi vòng vo về việc đầu hàng: cuộc rút quân vô điều kiện được theo sau là việc lật đổ chính quyền đang tồn tại ở miền Nam Việt Nam, sự thay thế nó bằng những con rối của Hà Nội, và sau đó, khi Mỹ không còn những lá bài nào để chơi, một cuộc đàm phán về những tù binh vốn là những người có thể dễ dàng bị giữ lại nhằm mục đích rút ra những nhượng bộ xa hơn nữa.
Khi mọi việc vỡ ra, cuộc tranh luận về việc rút quân đánh dấu một bước ngoặt của Chiến tranh Việt Nam qua cách chứng tỏ rằng phần nhiều những chiến thắng của Chính quyền thật ra là thắng lợi quá đắt kiểu vua Hy Lạp Pyrrhus. Ông Nixon tiếp tục duy trì lập trường của mình, không đồng ý với một thời hạn cố định cho việc rút quân ngoại trừ trong sự đáp lại cho những mục tiêu cần thiết khác của Mỹ.

p691

Nhưng ông ta phải trả một cái giá về việc đồng ý với việc rút quân toàn bộ sau khi những điều kiện của mình được đáp ứng. Miền Nam Việt Nam như thế bị đặt vào vị thế phải tự vệ một mình chống lại một kẻ thù không thể nào làm nguôi nhiều hơn nữa so với bất kỳ đất nước nào trong số những đồng minh khác của Mỹ phải đối mặt, và dưới hoàn cảnh mà Mỹ đã chưa bao giờ yêu cầu bất kỳ đồng minh nào khác hoàn tất. Những binh lính Mỹ đã từng ở Âu châu trong hai thế hệ; hiệp định đình chiến ở Hàn Quốc đã từng được bảo vệ bởi những lực lượng Mỹ trong hơn bốn mươi năm. Chỉ ở Việt Nam, Hoa Kỳ, bị tác động do sự bất đồng quan điểm nội bộ, thực sự đồng ý không để những lực lượng nào còn lại, trong tiến trình, nó tự tước đi chính mình bất kỳ ngoại vi an toàn nào khi nó đi đến việc bảo vệ sự thỏa thuận mà cuối cùng đươc đạt đến.
Ông Nixon đã đặt ra những điều khoản của Mỹ cho việc dàn xếp trong hai bài phát biểu chính, vào ngày 25 tháng Giêng 1972, và vào ngày 8 tháng Năm năm 1972. Những điều khoản nầy là: một cuộc ngưng bắn được quốc tế giám sát; việc trao trả và cung cấp bản báo cáo về những tù binh; việc tiếp tục viện trợ kinh tế và quân sự cho Sài Gòn; và việc để lại một tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam được dàn xếp bởi hai bên Việt Nam trên cơ bản của những cuộc tuyển cử tự do. Vào ngày 8 tháng Mười năm 1972, Lê Đức Thọ chấp nhận những điều chính yếu đưa ra của ông Nixon, và Hà Nội cuối cùng đã từ bỏ đòi hỏi của mình là sự thông đồng của Mỹ với nó trong việc dựng lên một chính quyền cộng sản ở Sài Gòn. Nó đồng ý với việc ngưng bắn, việc trao trả tất cả những tù binh Mỹ, và một bản kê khai những người mất tích trong nhiệm vụ. Chính phủ Thiệu được để lại nguyên vẹn, và Hoa Kỳ được phép tiếp tục cung cấp nó bằng viện trợ quân sự và kinh tế.
Lê Đức Thọ từ đó về sau đã từ khước ngay cả thảo luận những điều khoản như thế. Đây là lý do tại sao ông ta đưa ra đề xuất vốn biểu hiện bước đột phá với lời tuyên bố sau đây :

… đề xuất mới nầy chính xác là cái gì mà chính Tổng thống Nixon đã tự đưa ra: cuộc ngưng bắn, sự kết thúc chiến tranh, việc thả ra những tù binh, và cuộc rút quân… và chúng tôi đưa ra một số lượng những nguyên tắc về các vấn đề chính trị. Bạn cũng đã đưa ra điều nầy. Và chúng tôi sẽ để cho các bên ở miền Nam Việt Nam việc giải quyết những câu hỏi nầy.

Không một phần nào trong số những bi kịch và những cuộc tranh cãi theo sau đã có thể xóa đi sự phấn khởi mà những người trong số chúng ta vốn đã và đang uốn nắn chính sách của Mỹ, cảm thấy khi chúng ta nhận ra rằng chúng ta đang đến gần sự đạt được điều gì mà chúng ta đã tìm kiếm qua bốn năm thống khổ, và rằng Mỹ sẽ không phải từ bỏ những người vốn đã từng tin cậy vào nó. Ông Nixon đã tuyên bố trên vô số dịp, một khi những điều khoản của ông ta được đáp ứng, là ông ta sẽ giải quyết một cách nhanh chóng. Vào ngày 14 tháng Tám năm 1972, tôi đã nói với ông Thiệu rằng, nếu Hà Nội chấp nhận những điều đưa ra của Tổng thống Nixon như chúng vẫn có giá trị, Mỹ sẽ nhanh chóng kết thúc sự thỏa thuận. Chúng tôi có trách nhiệm giữ lời hứa của mình. Và chúng tôi có rất ít sự lựa chọn ngoại trừ giữ điều đó.

p692

Nếu chúng tôi chần chừ, Hà Nội sẽ đã công bố điều đưa ra của nó, buộc chính quyền phải giải thích lý do tại sao nó đã từ chối những điều khoản của riêng mình và khởi động sự biểu quyết của Quốc hội để cắt đứt ngân quỹ.
Một sự kết hợp của những yếu tố mang Hà Nội đến điểm chấp nhận những gì mà nó đã từng khư khư bác bỏ: sự suy giảm tích lũy những nguồn cung cấp của nó như là một kết quả của việc thả mìn những bến cảng ở miền Bắc Việt Nam, cuộc tấn công vào những khu bảo mật ở Cam-pu-chia và Lào vào năm 1970 và 1971, sự thất bại của cuộc tấn công mùa xuân vào năm 1972 của nó, việc thiếu sự hỗ trợ chính trị từ Moscow và Beijing khi Chính quyền Nixon tiếp tục cuộc dội bom miền Bắc, và nỗi lo sợ là ông Nixon, một khi được tái đắc cử, sẽ dồn những vấn đề vào một thử thách cuối cùng.
Yếu tố quyết định có lẽ là trong việc đánh giá những kết quả của cuộc tuyển cử Tổng thống vào năm 1972, những người tính toán cẩn thận ở Hà Nội có lần đã làm một sự tính toán sai lầm to lớn. Hà Nội dường như tin rằng cuộc chiến thắng áp đảo, gần như hoàn toàn chắc chắn trong cuộc bầu cử của ông Nixon sẽ cho ông ta một quyền lực tự do trong việc theo đuổi cuộc chiến tranh. Chính quyền Nixon biết rằng Quốc hội mới sẽ không còn thân thiện đối với chính sách Việt Nam của ông Nixon, và có lẽ thậm chí là một sự thù nghịch cá nhân hơn hướng đến ông. Một trong những sự thực của hoàn cảnh theo nghĩa đen về các nghị quyết của Quốc hội cho việc cắt giảm kinh phí chiến tranh có khả năng sẽ thông qua –có thể được gắn liền với một dự luật bổ sung vốn sẽ phải được đưa ra vào đầu năm 1973 để trả cho những chi phí của việc đánh bại cuộc tấn công mùa xuân của cộng sản vào năm 1972.
Tôi chào đón một viễn ảnh hòa bình với hy vọng rằng nó sẽ cho phép Mỹ bắt đầu một quá trình chữa lành vết thương quốc gia và trui rèn lại sự đồng thuận của hai đảng vốn đã uốn nắn hình thành sách đối ngoại của Mỹ sau chiến tranh. Phong trào Hòa bình, cuối cùng là, có thể đã đạt được mục tiêu hòa bình của nó, trong khi những người vốn đã cố gắng hết mình cho một kết quả đáng vinh dự, có thể cảm thấy hài lòng là sự chịu đựng của họ đã được đáp trả. Trong một cuộc họp báo cáo ngắn ngủi của tôi, vốn phát họa đại cương những điều khoản của văn bản thỏa thuận cuối cùng, tôi đã đưa tay ra đến những đối thủ của bốn năm xung đột trong nước :

… đến lúc nầy điều đó lẽ ra rõ ràng là không ai trong cuộc chiến tranh nầy đã từng có độc quyền về nỗi thống khổ và không ai trong những cuộc tranh luận nầy đã từng có độc quyền về sự thấu hiểu về mặt đạo đức, và hiện thời, cuối cùng là chúng ta đã đạt được sự thỏa thuận mà trong đó Hoa Kỳ nước không đặt ra một tương lai chính trị nào cho những đồng minh của nó, một hiệp ước vốn sẽ giữ gìn phẩm giá và lòng tự trọng của tất cả các bên, mà qua đó cùng với sự hàn gắn những vết thương ở Đông Dương chúng ta có thể bắt đầu hàn gắn những vết thương ở Mỹ.

Những viễn ảnh mong manh cho sự đoàn kết dân tộc, tuy nhiên, đã sụp đổ theo một cách không thể cứu vãn trên vấn đề Cam-pu-chia.

p693

Bởi vì Cam-pu-chia là chiến trường duy nhất của trận chiến của Mỹ ở Đông Dương mà ông Nixon đã không thừa hưởng từ những người tiền nhiệm của mình, nó làm bùng lên những cuộc tranh luận đảng phái, biến chúng thành một thứ gì đó trong số những cuộc tranh cãi gay gắt nhất của thời kỳ Việt Nam.
Không phải là chủ ý của tôi mở ra lại những cuộc tranh cãi nầy ở đây. Những chi tiết của những cuộc tranh cãi đó đã được giải quyết ở nơi khác. Về cơ bản, những lời cáo buộc của các nhà phê bình Chính quyền cô động lại còn hai phần buộc tội chính; đó là ông Nixon mở rộng cuộc chiến tranh vào trong Cam-pu-chia một cách vô cớ, và là, trong quá trình nầy, chính sách của Mỹ cuối cùng phải mang trách nhiệm chính cho cuộc diệt chủng được tiến hành bởi cộng sản Khmer Đỏ sau chiến thắng của họ vào năm 1975.
Ý tưởng cho rằng ông Nixon đã nhẹ dạ mở rộng cuộc chiến tranh là sự tái sinh của một khái niệm sai lầm về chiến lược của giai đoạn 1961–1962 trên đất Lào, cụ thể là vai trò của Mỹ trong cuộc chiến tranh có thể bị giới hạn trong phạm vi miền Nam Việt Nam, ngay cả mặc dù Hà Nội đang chiến đấu cuộc chiến trong tất cả ba quốc gia thuộc chiến trường Đông Dương. Quân đội Bắc Việt đã từng xây dựng một hệ thống mạng lưới của những khu bảo mật bên trong Cam-pu-chia, đối diện với biên giới của miền Nam Việt Nam, từ nơi mà nó tung ra những cuộc tấn công có kích thước sư đoàn vào các lực lượng Mỹ và miền Nam Việt Nam. Những khu bảo mật được cung cấp hoặc là thông qua Đường mòn Hồ Chí Minh xuyên Lào hoặc là thông qua cảng biển Sihanoukville của Cam-pu-chia –tất cả những tuyến đường nằm trong sự vi phạm trắng trợn tính trung lập của Cam-pu-chia. Khi những cuộc rút quân của Mỹ gia tăng tốc độ, vị thế quân sự của cả hai lực lượng miền Nam Việt Nam và Mỹ buộc phải trở nên không thể giữ vững được nếu hệ thống mạng lưới hậu cần đó được để lại nguyên vẹn và những lực lượng ngày càng giảm của Mỹ phải đối đầu với những cán binh Bắc Việt không giảm thiểu với những nguồn cung cấp vô giới hạn từ bên ngoài. Chính quyền Nixon vì vậy làm một quyết định chiến thuật tấn công vào các khu bảo mật bằng đường hàng không vào năm 1969, và trên mặt đất vào năm 1970. Những cuộc không kích là một đòn phản công đối với làn sóng của các cuộc tấn công của Bắc Việt vào miền Nam, mà qua đó giết chết 400 người Mỹ trong một tuần và trong tình trạng vi phạm “sự hiểu biết” của Hà Nội đối với Tổng thống Johnson vào thời điểm của việc ngưng cuộc dội bom vào năm 1968; những cuộc tấn công trên bộ là một chiến lược để bảo vệ những cuộc rút quân của Mỹ, vốn đang đạt đến 150.000 binh lính trong một năm.
Nếu không có việc thách thức những căn cứ hậu cần của Bắc Việt, không có một chiến lược rút quân có thể tưởng tượng được nào của Mỹ có thể đã hiệu quả. Trong mỗi trường hợp, cuộc tấn công của Mỹ đã được chào đón bởi những người có thẩm quyền ở Cam-pu-chia vốn nhìn thấy những binh lính Mỹ như là một sự bảo vệ tính trung lập của đất nước mình; cuối cùng là, không có ai đã mời Bắc Việt vào trong Cam-pu-chia.
Tuy thế, cả hai bước quân sự của Mỹ trở thành những vấn đề rất nhạy cảm ở Hoa Kỳ, qua việc trở thành một cuộc tranh luận vốn đã từ lâu vượt quá chiến lược quân sự. Cam-pu-chia mau chóng ngày càng bị đồng hóa vào trong cuộc tranh luận cơ bản về Việt Nam. Chính sách của Chính quyền phản ảnh một chiến lược; sự phê phán tập trung vào giá trị đạo đức của chính cuộc chiến tranh. Thái độ nầy được phóng đại bởi sự thiếu khả năng của quốc gia thăm dò bản chất và tính chất sôi động của tư tưởng hệ cách mạng.

p694

Tất cả bằng chứng cho thấy rằng Khmer Đỏ đã từng là những kẻ bám chặt vào tư tưởng hệ cuồng tín sớm như những ngày còn là nghiên cứu sinh của họ ở Paris vào những năm 1950s. Họ quyết tâm nhổ bật gốc rễ đổ và tiêu diệt xã hội Cam-pu-chia đang tồn tại và áp đặt một loại tư tưởng đại đồng điên rồ bằng cách tận diệt mọi người có nền giáo dục “tư sản” sơ sài nhất. Viện lý là họ đã bị biến thành những kẻ giết người bởi những hành động của Mỹ mặc dù có cùng mức phát triển về mặt đạo đức như sự tranh luận có thể cho rằng cuộc diệt chủng dân Do Thái đã được gây ra bởi cuộc dội bom của Mỹ theo chiến lược trên nước Đức.
Mục đích của những trang giấy nầy không phải là để tìm kiếm một sự xét đoán cuối cùng trên những vấn đề mà những đam mê đã dâng lên quá cao đến nỗi chúng, trong thời gian tạm thời, đã phát triển trở thành một tác phầm văn học sùng bái riêng của chúng. Nhưng nước Mỹ còn nợ điều đó với chính mình để nhận biết rằng, bất cứ sự xét đoán cuối cùng là như thế nào trên sự khôn ngoan trong chiến thuật của những quyết định của Mỹ trong vấn đề Cam-pu-chia, thật bi kịch, chính là Khmer Đỏ vốn là những kẻ làm chuyện giết người, và những người dân Cam-pu-chia vốn là những người phải chịu phạt cho những sự phân chia bên trong nước Mỹ. Những nhà phê bình, vốn là những người làm cho Mỹ không thể nào tiếp tục trợ giúp chính phủ Cam-pu-chia trong những nỗ lực của nó để chống lại cuộc tàn sát của Khmer Đỏ, đã không không nhận ra rằng một cuộc tắm máu sẽ theo sau việc cắt đứt sự viện trợ của Mỹ mà họ đang tán thành và cuối cùng là đã xảy ra. Họ chắc chắn bị kinh hoàng bởi điều đó. Tuy thế, những xét đoán sai lầm của họ về kẻ thù mang tội ác diệt chủng được hình dung ra rất ít hơn trong những việc mỗ xẻ biến cố của họ so với những lý do kết án đối với đồng bào của riêng mình.
Một thử nghiệm về vấn đề xã hội là liệu Hoa Kỳ có thể nhấn chìm những sự khác biệt trong việc theo đuổi những mục tiêu chung không, và liệu nó có thể ghi nhớ rằng những xã hội phát triển trên những sự hòa giải, không phải trên những xung đột của chúng. Mỹ đã thất bại sự thử nghiệm đó ở Đông Dương.
Những vết thương quá sâu, tuy nhiên, đến nỗi hòa bình mang lại ít niềm vui. Bất cứ là một cơ hội nào vốn đã được tìm thấy cho sự thỏa thuận để trở thành một phương tiện trong việc hàn gắn vết thương quốc gia, bị làm suy yếu hơn bởi khoảng thời gian ba tháng giữa thời điểm khi sự thỏa thuận ban đầu được đạt đến và thời điểm nó được ký kết, và, trên hết là, bởi cuộc dội bom bằng những chiếc máy bay B-52 vào khu vực Hà Nội trong nửa cuối tháng Mười Hai năm 1972. Mặc dù sự thiệt hại về mặt dân sự là tối thiểu, sự bùng nổ như là một kết quả của những cuộc biểu tình chống chiến tranh gây ra việc ký kết thỏa thuận vào ngày 27 tháng Giêng năm 1975, gợi lên, trên hết là, một cảm giác của sự giảm bớt mệt nhòi và cảnh giác.
Về phần họ, những người biểu tình không được hòa giải bởi sự chấp nhận của Hà Nội về những điều khoản hòa bình của Hoa Kỳ. Họ lo sợ rằng, nếu khái niệm về hòa bình trong danh dự của ông Nixon được phép đứng vững, Mỹ có thể bị quyến rũ một lần nữa vào trong cùng một thứ cam kết quá mức về mặt quốc tế cho điều mà, đối với họ, Việt Nam đã trở thành một biểu tượng bị khinh miệt. Vì thế, họ chào đón thỏa thuận hòa bình cùng một sự hoài nghi mà họ đã từng xét về việc tiến hành chiến tranh và thủ thuật ngoại giao.

p695

Những nhà phê bình lập luận theo một cách khác nhau rằng sự thỏa thuận là một mưu đồ chính trị, rằng những điều khoản tương tự đã có sẵn trước đây bốn năm, và rằng điều đó là một sự phản bội của ông Thiệu –bất kể sự đòi hỏi là ông Thiệu phải bị lật đổ đã từng là một chủ đề chính trong số những đòi hỏi của Phong trào Hòa bình trong nhiều năm qua.

(Vị Tổng thống miền Nam Việt Nam, Nguyễn Văn Thiệu (1923–2001),
cũng là cái gai đối với cộng sản Hà Nội và Phong trào Hòa bình ở Mỹ,
mà qua đó cả hai phe liên hiệp luôn đòi hỏi sự lật đổ ông ta như là một
chủ đề chính trong những đòi hỏi được thương lượng bởi Chính quyền
Hoa Kỳ lúc bấy giờ)

Không gì có điều gì có thể đã nằm ngoài sự thật hơn một kế hoạch đề ra mà qua đó sự thỏa thuận với Hà Nội đã được kết thúc hầu gây ảnh hưởng đến cuộc bầu cử quốc gia. Trên sự cân bằng, ông Nixon đã xét đến việc kết thúc thỏa thuận trước cuộc bầu cử một của nợ gây khó khăn; sự dẫn đầu của ông ta trong các cuộc thăm dò ý kiến thì không thể công kích được và có thể chỉ bị gây nguy hại bởi cuộc tranh luận về những điều khoản hòa bình. Động thái của ông ta cho việc tiến hành trước với sự thỏa thuận thì hoàn toàn ngược lại điều gì mà các nhà phê bình cáo buộc: ông ta không muốn những suy xét về tuyển cử làm cản trở sự thỏa thuận mà ông ta đã nhiều lần hứa với dân Mỹ là sẽ được kết thúc ngay khi những điều khoản được tuyên bố của Chính quyền đã được đáp ứng.
Một trong những huyền thoại dai dẳng hơn về chính sách Việt Nam của Chính quyền Nixon đã là một luận điểm mà ông Nixon không cần thiết kéo dài cuộc chiến tranh trong bốn năm vì các điều khoản tương tự có thể đã được thu hoạch trước đó bốn năm. Vấn đề với luận điểm nầy là việc quên mất sự hiện diện của nó đối với tất cả những sự kiện được biết đến. Sự ghi nhận theo lịch sử cho thấy rất nhiều là Mỹ nhanh chóng dàn xếp ngay khi những điều khoản của nó, không ngừng bị bác bỏ bởi Bắc Việt trong suốt bốn năm trước, được chấp nhận.
Vào năm 1975, tất nhiên, nỗ lực của Mỹ ở Đông Dương đã kết thúc trong một sự tan rã của một khối băng vốn có thể đã xảy ra vào bất kỳ thời điểm trước đây nếu mục tiêu của Mỹ là một thoả ước có điều kiện đầu hàng. Nhưng không phải là Chính quyền hoặc cũng không phải là dân Mỹ từng tìm kiếm mục tiêu đó; trong chiến dịch tranh cử vào năm 1968, tất cả những ứng cử viên Tổng thống đã từng chủ trương việc thỏa hiệp, không phải là một thỏa ước đầu hàng. Vào năm 1972, một ứng cử viên thúc đẩy việc đầu hàng có điều kiện đã bị đánh bại thê thảm. Mặc dù vậy, đọc giả có quyền tự do rút ra một kết luận khi nhìn lại quá khứ mà qua đó bản thỏa ước đầu hàng đúng ra đã là mục đích trong năm 1969. Không có gì trong chiến dịch chính trị của năm 1968 cho thấy rằng dân Mỹ hoặc các đảng phái chính trị ủng hộ một kết quả như thế.
Nổi thống khổ không kết thúc bằng Hiệp định Paris. Cuộc chiến tranh đã kết thúc không sớm hơn cuộc tranh cãi chuyển sang cánh phải của Mỹ để thúc ép việc thực thi hòa bình. Không có một thành viên cao cấp, duy nhất nào của Chính quyền Nixon vốn là người không có những nghi ngờ về tính chất bấp bênh của hiệp định. Chúng tôi đã đi đến sự giới hạn ngoài cùng của cái gì đó có thể được thừa nhận, như ông Nixon đã luôn luôn hứa là sẽ làm. Và tình trạng hỗn loạn trong nước để lại cho Chính quyền sự hạn hẹp sử dụng quyền lực.
Tuy thế, ông Nixon và tôi, cùng với nhiều thành viên cao cấp của Chính quyền, tin rằng những điều khoản thoả thuận về quân sự và kinh tế sẽ cho phép miền Nam Việt Nam chống lại những áp lực có thể đoán trước được từ miền Bắc, và quy định Bắc Việt gắn liền với một phần hiệp định vốn ngăn cấm việc xâm nhập trở lại.

p696

Ông Nixon luôn luôn nhìn nhận, tuy nhiên, rằng những vi phạm có thể xảy ra, và về mức độ mà có thể hoặc là không bị ngăn chận hoặc cũng không bị chống lại mà không có sự trợ giúp của Mỹ. Ông ta sẵn sàng khuyến khích Bắc Việt tham gia cộng đồng quốc tế với một chương trình trợ giúp kinh tế. Nhưng nếu tất cả việc khác thất bại, việc sử dụng không lực để thúc ép hiệp định không bao giờ được loại trừ, hoặc là trong tâm trí của những thành viên của Chính quyền Nixon hay là trong những tuyên bố công khai của nó.
Đối với sự kết thúc của cuộc chiến tranh, Chính quyền cố nghiến răng chịu đựng cho việc thử nghiệm sức mạnh mà kinh nghiệm đã dạy rằng điều đó có khả năng xảy ra trên việc thực hiện hiệp định. Chúng tôi thừa nhận là chúng tôi có quyền –thật ra là, trách nhiệm– bảo vệ hiệp định trong việc theo đuổi điều mà 50.000 binh lính Mỹ đã hy sinh vì nó. Về mặt khác, bất kỳ một hiệp định hòa bình nào với Mỹ sẽ là điều tương đương một thỏa ước đầu hàng hợp pháp. Những điều khoản mà sẽ không được bảo vệ, chẳng khác gì là sự đầu hàng. Nếu một quốc gia không được phép thực thi các điều khoản hòa bình, điều tốt hơn là từ bỏ nguyên nhân của nó một cách đơn giản và công khai. Ông Nixon và các vị cố vấn chính yếu của mình công bố ý định của họ muốn bảo vệ hiệp định trên rất nhiều dịp –thí dụ, vào ngày 3 tháng Năm năm 1975, trong bài diễn văn Báo cáo Chính sách Đối ngoại hàng năm của ông Nixon: “Một tiến trình [của những vi phạm to lớn] như thế sẽ gây nguy hiểm cho những thu hoạch khó có được một nền hòa bình ở Đông Dương. Điều đó sẽ nẩy sinh nguy cơ làm sống lại sự đối đầu với chúng ta… chúng ta đã nói, riêng và công khai, với Hà Nội rằng chúng ta sẽ không tha thứ những sự vi phạm Hiệp định.”
Cái mô hình của 5 năm về trước tự lặp lại chính mình. Có lẽ, một vị Tổng thống chưa bị thiệt hại thanh danh, mới được tái đắc cử có thể đã nhấn mạnh trên những biện pháp quân sự sâu sắc theo từng chu kỳ vốn được đòi hỏi để thực thi hiệp định. Nhưng với vấn đề Watergate đang thực sự gặm nhấm tại nhiệm kỳ Tổng thống, không có cơ hội cho việc đó. Thậm chí khi hàng ngàn xe tải Bắc Việt đang đi qua Đường mòn Hồ Chí Minh, gần khoảng 50.000 cán binh Bắc Việt đang tràn vào Việt Nam, và Hà Nội ngăn chận không cho đưa ra một bản báo cáo đầy đủ về tất cả những binh lính Mỹ bị mất tích trong nhiệm vụ mà qua đó là những hành động đang vi phạm trắng trợn sự thỏa thuận –những người phản đối chính sách vốn đã dẫn đến sự thỏa thuận, đã khẳng định rằng ông Nixon không có thẩm quyền để thực thi nó, bất kể là sự vi phạm nghiêm trọng đến như thế nào. Họ xem sự thỏa thuận như thể nó là việc rút quân đơn phương mà họ đã luôn luôn chủ trương. Vào tháng Sáu năm 1975, Quốc hội từ chối việc tài trợ thêm “cho sự hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp những hoạt động chiến đấu của những lực lượng Hoa Kỳ trong hoặc ngoài Cam-pu-chia, Lào, Bắc Việt, và Nam Việt” sau ngày 15 tháng Tám, bao gồm cả việc trinh sát trên không. Vào tháng Bảy năm 1973, điều đó trở nên rõ ràng là không có sự hỗ trợ nào từ Quốc hội cho một chương trình viện trợ kinh tế cho miền Bắc Việt Nam.

p697

Hiệp định hòa bình không được tự tuân thủ; không một hiệp định nào như thế có thể đã được thực thi, Bắc Việt Nam vẫn nhắm vào việc kết hợp Việt Nam dưới quyền cai trị của nó, và mảnh giấy được ký kết tại Paris sẽ không thay đổi những mục đích lâu dài của Hà Nội. Hiệp ước Paris đã rút Hoa Kỳ khỏi cuộc xung đột quân sự ở Việt Nam, ngoại trừ triển vọng về cuộc sống của miền Nam Việt Nam phụ thuộc vào sự hỗ trợ của Mỹ. Quốc hội phải quyết định là liệu có nên tiếp tục chính sách kiểu ngăn chận ở Đông Dương sau khi những binh lính Mỹ rời khỏi. Và nó quyết định chống lại điều đó.
Thậm chí việc trợ giúp kinh tế cho miền Nam Việt Nam bị bóp nghẹt. Vào năm 1972, Quốc hội đã bỏ phiếu thông qua 2$ tỷ Mỹ kim viện trợ; vào năm 1973, số tiền bị giảm xuống còn 1,4 $ tỷ Mỹ kim, và vào năm 1974, nó bị cắt đi một nửa, ngay cả mặc dù những giá cả xăng dầu đã tăng lên gấp bốn lần. Đến năm 1975, Quốc hội đang thảo luận về một khoản trợ cấp 600$ triệu Mỹ kim cuối cùng. Cam-pu-chia bị cắt đứt hoàn toàn, với lập luận rằng điều đó sẽ giúp cứu được nhiều mạng người –một uyển ngữ cho việc ruồng bỏ, và một trò đùa nghiệt ngã trong sự hiểu biết về cuộc diệt chủng theo sau. Vào năm 1975, Cam-pu-chia và miền Nam Việt Nam cùng nhau bị tràn ngập bởi những người cộng sản trong vòng hai tuần, đặt sự chấm dứt nỗi khốn khổ về tình cảm của Mỹ nhưng không đối với điều đó của Đông Dương.
Chủ nghĩa lý tưởng của Mỹ, một nguồn cảm hứng của phần rất lớn trật tự thế giới sau chiến tranh đã tự đánh bại chính mình bằng những vũ khí của riêng nó. Bốn vị Tổng thống đã xác định Việt Nam như là một quốc gia rất quan trọng đối với nền an ninh của Mỹ. Hai vị Tổng thống của hai đảng phái đã đống nhất danh dự của Mỹ với việc không từ bỏ những người vốn đã từng tin cậy vào những tuyên bố của Mỹ. Ông Nixon đã thắng cuộc bầu cử năm 1972 với đa số phiếu trên cơ bản chỉ là những dự kiến đề ra như thế. Theo cách cổ điển của Mỹ, cả hai bên trong cuộc tranh luận về Việt Nam đã từng nhận thức về những mục tiêu của họ trong phần những điều tuyệt đối trên mặt đạo đức và không bao giờ tìm thấy một phương tiện nào bắc cầu qua vực thẳm giữa họ.
Ngay cả sau hai mươi năm, cuộc tranh luận công khai của Mỹ đã không đạt được một tầm nhìn khách quan và vẫn có vẻ ham đổ lỗi hơn là rút ra những bài học từ kinh nghiệm. Chiến thắng của cộng sản nhanh chóng giải quyết một trong những cuộc tranh luận kéo dài quanh năm về thời kỳ Chiến tranh Việt Nam –có hay không bóng ma của cuộc tắm máu được dự kiến trong sự trỗi dậy chiếm đoạt của cộng sản là một điều bịa đặt của việc tìm kiếm những cái cớ của những nhà hoạch định chính sách để tiếp tục cuộc chiến tranh.
Ở Cam-pu-chia, dĩ nhiên, cuộc diệt chủng đã thực sự xảy ra. Những kẻ mới cầm quyền giết chết ít nhất là 15% dân số của riêng họ. Ở Việt Nam, sự gánh chịu khốn khổ ít nặng nề hơn. Tuy nhiên, hàng trăm ngàn người của miền Nam Việt Nam bị dồn vào trong “những trại cải tạo,” một cái tên khác cho những trại tập trung. Vào đầu năm 1977, nhà chức trách cộng sản thừa nhận là đang giữ 50.000 tù nhân chính trị, mặc dù hầu hết các nhà quan sát độc lập tin rằng con số thực sự thì gần đến 200.000 người hơn.

p698

Đối với việc liên quan đến cái gọi là Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam (là MtGpMN), vốn đã được quảng cáo ở phương Tây trong một thập kỷ như là thành phần quan trọng được cho là thuộc về một chính phủ liên minh dân chủ, thành phần Bắc Việt chinh phục đã làm rõ là những kế hoạch thực sự của họ khá khác biệt. Vào năm 1969, MtGpDt(12) đã được biến đổi hình dạng trở thành cái gọi là Chính phủ Cách mạng Lâm thời của Cộng hòa miền Nam Việt Nam, hoặc là PRG (Provisional Revolutionary Government: Chính phủ Cách mạng Lâm thời). Vào tháng Sáu năm 1975, hai tháng sau sự sụp đổ của Sài Gòn, “Nội cát” của PRG hội họp và quyết định trên việc phục hồi có hạn chế những cơ sở ngân hàng ở miền Nam Việt Nam; một ủy ban cố vấn được dựng lên để giúp quản lý đất nước, bao gồm một số nhà chính trị gia không Cộng sản vốn là những người đã từng đối lập với ông Thiệu, PRG thành lập những quan hệ ngoại giao với tám mươi hai quốc gia.
Không có gì mà Hà Nội muốn ít hơn, tuy nhiên, là một miền Nam Việt Nam độc lập, thậm chí là một miền Nam cộng sản, những cám dỗ của chủ thuyết Tito(14) sẽ bị bóp chết từ trong trứng nước. Sự quyết định của “Nội các” bị hủy bỏ một cách mau chóng, những ủy ban cố vấn không được ban cho một vai trò nào, và những vị đại sứ của PRG không bao giờ được gởi ra nước ngoài. Chính phủ miền Nam Việt Nam vẫn nằm trong tay của các ủy ban quân sự địa phương được điều hành bởi của Đảng Cộng sản Bắc Việt và những quan chức quân sự. Đến tháng Sáu năm 1975, các nhà lãnh đạo và báo chí Hà Nội bắt đầu một chiến dịch quảng bá kêu gọi cho việc thống nhất đất nước trước đây –đó là, sự sáp nhập chính thức miền Nam– mà qua đó được hoàn thành trong vòng một năm.
Mặc dù, trong một nghĩa hẹp, những con bài domino duy nhất vốn ngã đổ, là Cam-pu-chia và Lào, những cuộc cách mạng chống Tây phương trong nhiều khu vực khác trên thế giới bắt đầu cảm thấy được khích lệ. Điều đáng ngờ là Chủ tịch Castro đã sẽ can thiệp vào Angola, hay Liên Xô vào Ethiopia, nếu Mỹ không nhận thấy được là đã sụp đổ ở Đông Dương, là đã trở nên mất tinh thần bởi vấn đề Watergate, và sau đó là đã rút vào trong một cái kén. Đồng thời, điều đó đã được lập luận với vẻ hợp lý đáng xét là, nếu miền Nam Việt Nam đã sụp đổ vào đầu những năm 1960s, cuộc đảo chính thất bại của những người cộng sản ở Indonesia, mà qua đó gần như thành công vào năm 1965, đã có thể lật đổ chính phủ và sinh sản một thảm họa chiến lược khác.
Mỹ, ở bất cứ mức độ nào, đã trả một cái giá cho cuộc phiêu lưu của nó ở Việt Nam vốn nằm ngoài tỷ lệ tương xứng đối với bất kỳ sự thu hoạch nào có thể nghĩ đến được. Điều đó rõ ràng là một sai lầm khi đã đặt cược quá nhiều trên những nguyên nhân được xác định yếu kém như thế. Mỹ đã càng lúc bị lôi cuốn vào ngay từ đầu bởi vì nó áp dụng những phương châm của chính sách thành công ở Âu châu của nó cho một khu vực với những điều kiện chính trị, xã hội, và kinh tế hoàn toàn khác nhau tận gốc. Chủ thuyết tư tưởng Wilson không cho phép một sự khác biệt nào về mặt văn hóa, trong khi lý thuyết về sự an ninh chung cho rằng, vấn đề an ninh không thể phân chia, như miếng vải của toàn bộ trật tự quốc tế sẽ bị tháo bung nếu ngay cả một sợi chỉ vải bị kéo ra.
Quá lý tưởng không thể tạo nền tảng cho chính sách của nó trên vấn đề lợi ích quốc gia, và quá tập trung vào những đòi hỏi của cuộc chiến tranh chung chung theo học thuyết chiến lược của mình, Mỹ không thể làm chủ một vấn đề chiến lược quen thuộc mà trong đó những mục tiêu chính trị và quân sự bị xen lẫn nhau.

p699

Được thấm nhuần với niềm tin vào sự hấp dẫn rộng lớn của những giá trị của nó, Mỹ đã đánh giá quá thấp những trở ngại cho việc dân chủ hóa trong một xã hội được uốn nắn bởi chủ thuyết Khổng Tử, và trong số người dân vốn là những người đang tranh đấu cho một nhân dạng chính trị ở giữa một cuộc đột kích bởi các lực lượng bên ngoài.
Có lẽ, con bài domino nghiêm trọng nhất, và chắc chắn là tổn thương nhất, vốn đã ngã đổ như là một kết quả của Chiến tranh Việt Nam, là sự gắn liền với xã hội Mỹ. Chủ thuyết lý tưởng của Mỹ đã thấm nhuần cả những quan chức và các nhà phê bình với quan niệm sai lầm là xã hội Việt Nam có thể được chuyển đổi một cách tương đối dễ dàng và nhanh chóng trở thành một nền dân chủ kiểu Mỹ. Khi đề nghị đưa ra đầy lạc quan đó sụp đổ và càng lúc rõ ràng là Việt Nam còn rất xa trở thành một nền dân chủ, sự vỡ mộng là điều không thể tránh khỏi. Cũng có một quan niệm sai lầm gần như không thể hiểu nổi về bản chất của vấn đề quân sự. Thiếu tiêu chuẩn cho sự xét đoán, những quan chức thường hiểu lầm và vì vậy thường phát biểu sai, những vấn đề. Nhưng khi các quan chức nầy tuyên bố là được nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm, điều đó thật ra là cái gì mà hầu hết trong số họ nhận thức. Tuy hướng dẫn sai lầm những đánh giá của mình, trên hết là họ đã tự lừa dối chính mình.
Điều đó luôn luôn là một trường hợp mà những vấn đề vốn đến được những nhà hoạch định chính sách hàng đầu, thì chung chung là phức tạp; những vấn đề đơn giản, không cần bàn cãi được giải quyết ở những mức thấp hơn của chính phủ qua sự đồng thuận. Tuy thế, một khi một quyết định đã được định, tuy là sự nghi ngờ bên trong của ông ta về điều đó có to lớn, nhà hoạch định chính sách càng lúc hoàn toàn can dự vào; vì vậy sự xuất hiện của việc cam đoan mà nó có thể được trình bày, có thể đang dẫn dắt khá sai lầm. Hơn nữa, ấn tượng sai lầm nầy thường được chồng chất thêm bởi khuynh hướng những vấn đề quan liêu nhằm tô điểm thêm những thành tựu của riêng mình.
Việc phơi bày sự trình bày sai lạc có chủ ý của Phân bộ Điều hành thuộc chính phủ của chúng tôi là một chức năng rất quan trọng của các giới truyền thông và Quốc hội. Không cần một lý do cáo lỗi nào cho việc cố tình trình bày sai lạc. Nhưng có rất ít cơ sở cho việc tuyên bố rằng những vấn đề cơ bản của Việt Nam bị ảnh hưởng bởi các cái gì đó được gọi là những khoảng ngăn cách sự tín nhiệm. Mỹ đã xông vào Việt Nam với tất cả những lá cờ tung bay của nó; không một ai đã lẻn nó vào Việt Nam. Quốc hội có nhận thức về mức độ sự can dự của Mỹ, và nó đã bỏ phiến tán thành cho những hành động thích hợp, cần thiết từ năm nầy đến năm khác. Nhằm muốn ngăn chận sự chiếm đoạt của cộng sản trên một quốc gia mới có thể đã là một điều ngây ngô, nhưng nó không nên dẫn đến cuộc đột kích vào những giá trị cốt lõi của Mỹ mà qua đó trở thành một phần chính của cuộc tranh luận cấp quốc gia như thế.
Những cuộc tranh cãi gay gắt nầy tiếp tục làm lầm lẫn vấn đề về những gì thực sự xảy ra ở Đông Dương, tạo ra một chân không trí tuệ về một giai đoạn đang mở rộng trên hai thập kỷ và bốn chính quyền của cả hai đảng phái chính trị.

p700

Mỹ sẽ chỉ phục hồi từ vấn đế Việt Nam khi mà nó bắt đầu rút ra một số bài học cho cả hai đảng từ một kinh nghiệm bị đóng dấu bằng sắt nung.
Thứ nhất, trước khi Hoa Kỳ tự can dự để chiến đấu, nó nên có một sự hiểu biết rõ ràng về bản chất của mối đe dọa mà nó sẽ phải đối mặt và những mục tiêu mà nó có thể với đến một cách thực tế. Nó phải có một chiến lược quân sự rõ ràng và một xác định không mơ hồ về cái gì đó cấu thành một kết quả chính trị thành công.
Thứ hai, khi Mỹ tự can dự vào hoạt động quân sự, có thể không có một sự lựa chọn nào khác ngoài chiến thắng, như Tướng Douglas MacArthur khuyên nhủ. Những nỗi day dứt không thể lắng yên bởi cách thực hiện do dự; tình trạng bế tắc được kéo dài sẽ làm cạn kiệt sức chịu đựng và do đó đến ý chí của công chúng Mỹ. Điều nầy đòi hỏi một sự soạn thảo công phu, cẩn thận về những mục đích chính trị và chiến lược quân sự để đạt được chúng trước khi sự quyết định đã được định để tiến hành một cuộc chiến tranh.
Thứ ba, một nền dân chủ không thể dẫn đến một chính sách ngoại giao nghiêm túc nếu các phe phái tranh giành bên trong phạm vi nó không thực thi mức tối thiểu của sự kiềm chế hướng tới nhau. Một khi việc chiến thắng trên những người phản đối trong nước trở thành mục tiêu duy nhất của một chính sách, sự gắn bó tan thành hơi nước. Ông Nixon được thuyết phục rằng đó là trách nhiệm cuối cùng của vị Tổng thống để bảo vệ lợi ích quốc gia, thậm chí nếu điều nầy theo chiều hướng chống lại những người bất đồng chính kiến sôi nổi của riêng đất nước mình –có lẽ đặc biệt là sau nầy. Tuy thế, vấn đề Việt Nam cho thấy rằng những vị Tổng thống không thể tiến hành chiến tranh bằng sắc lệnh điều hành. Phải đối mặt với những cuộc biểu tình bạo lực, những nghị quyết của Quốc hội từng bước tiến dần đến việc rút quân đơn phương, và sự thù nghịch của giới truyền thông, ông Nixon đáng lý ra đi đến Quốc hội vào đầu nhiệm kỳ của mình, chiến lược của mình, phác họa đại cương sách lược của mình, và yêu cầu cho sự chứng thực rõ ràng về chính sách của mình. Nếu ông ta không thể có được chứng thực đó, ông ta đáng lẽ yêu cầu cho một cuộc bỏ phiếu để bãi bỏ cuộc chiến tranh và làm cho Quốc hội gánh lấy trách nhiệm.
Như được nhắc đến trước đó, ông Nixon bác bỏ lời khuyên như thế vì ông ta cảm thấy rằng lịch sử sẽ không bao giờ tha thứ cho những hậu quả kinh khủng của điều gì mà ông ta xem là một sự từ bỏ trách nhiệm điều hành. Chính là một quyết định vinh dự –quả thật, là một quyết định có tính cách đạo đức cao và đúng đắn khôn ngoan. Nhưng trong hệ thống kiểm-soát-và-cân-bằng của Mỹ, gánh nặng mà ông Nixon mang trên chính mình, không có nghĩa là phải chịu bởi chỉ một người.
Trong giai đoạn Việt Nam, Mỹ buộc phải giải quyết những giới hạn của nó. Trong hầu hết lịch sử của nó, chủ nghĩa biệt lệ của Mỹ đã từng tuyên bố tính chất ưu việt về mặt đạo đức vốn được hỗ trợ bởi sự phong phú về mặt vật chất của quốc gia. Nhưng ở Việt Nam, Mỹ tìm thấy chính mình bị lôi cuốn vào một cuộc chiến tranh vốn càng lúc mơ hồ về mặt đạo đức, và trong đó tính chất ưu việt về mặt vật chất của Mỹ phần lớn không thích hợp. Những gia đình có hình ảnh hoàn hảo làm vẻ vang những màn ảnh truyền hình của thập niên 1950s đã từng là một nhóm hỗ trợ về mặt văn hóa cho tinh thần cởi mở cao độ về mặt đạo đức của ông Dulles và chủ thuyết lý tưởng đang bay cao của ông Kennedy.

p701

Bị cản trở trong những nguyện vọng nầy, Mỹ tìm kiếm linh hồn của nó và quay vào chính mình. Chắc chắn là không có một xã hội nào khác có thể đã có sự tự tin có thể sánh được trong sự gắn bó cuối cùng của nó để tự xé nát chính mình ra đến thế, chắc chắn là nó có thể tự hàn gắn chính mình với nhau một lần nữa. Không có một dân tộc nào khác có thể đã quá ngạo mạn về việc mạo hiểm gây tan vỡ nhằm mục đích châm ngòi cho sự đổi mới.
Trong phần về kết quả tức thời, vở kịch trong nước là một bi kịch; tuy nhiên, về lâu dài, nỗi thống khổ có thể biến thành cái giá mà Mỹ phải trả để liên kết chủ thuyết hoàn hảo về mặt đạo đức của nó, vốn đã từng gây cảm hứng cho rất nhiều nỗ lực to lớn của Mỹ, với nhũng điều cần thiết của một môi trường quốc tế ít hiếu khách và phức tạp hơn so với bất kỳ môi trường nào trong quá khứ.
Kinh nghiệm về Việt Nam vẫn còn in dấu sâu sắc trên tâm lý dân Mỹ, trong khi lịch sử dường như đã gìn giữ cho chính mình một vài trong số những bài học đáng kể nhất của nó. Sau khi tự tìm kiếm linh hồn của mình, Mỹ phục hồi lòng tự tin của mình, và Liên Xô, mặc dù bề ngoài của nó vững chắc như một khối đá, phải chịu một hình phạt sinh tử cho việc vượt quá mức đạo đức, chính trị, và kinh tế. Sau sự bứt phá của chủ nghĩa bành trướng, Liên Xô tìm thấy chính mình bị sa lầy trong sự mâu thuẫn và cuối cùng bị sụp đổ.
Những phát triển nầy gợi lên một vài phản ảnh khá mỉa mai trên bản chất của những bài học lịch sử. Hoa Kỳ đi vào Việt Nam nhằm mục đích ngăn chận cái gì đó mà nó xem là một âm mưu cộng sản được chỉ đạo trực tiếp từ trung ương, và nó đã thất bại. Từ sự thất bại của Mỹ, Moscow rút ra một kết luận mà những người ủng hộ Lý thuyết domino đã rất lo ngại –rằng mối tương quan lịch sử của những lực lượng đã chuyển đổi theo hướng có lợi cho nó. Kết quả là, nó cố gắng mở rộng vào trong Yemen, Angola, Ethiopia, và cuối cùng là Afghanistan. Nhưng trong quá trình nầy, nó tìm thấy rằng những thực tế về địa hình chính trị được ứng dụng chỉ là phần nhiều đối với những xã hội cộng sản như chúng đã được úng dụng đối với những xã hội tư bản. Thật ra, vì kém khả năng phục hồi, sự mở rộng quá mức của Liên Xô tạo ra, không là sự phục hồi tinh thần, như nó đã làm ở Mỹ, mà là một sự tan rã.
Câu hỏi còn lại là liệu những sự kiện đã sẽ di chuyển theo cùng một chiều hướng nếu Mỹ chỉ đơn giản là vẫn còn thụ động và tin cậy vào sự phát triển của lịch sử để đối phó với sự thách thức của cộng sản. Hoặc là có phải chăng hành động của việc từ bỏ như thế đã sẽ ban một động lực và một niềm tin chiến thắng không thể tránh khỏi cho thế giới cộng sản mà qua đó có thể đã đủ để trì hoãn, có lẽ ngay cả là chận đứng được, sự sụp đổ của Liên Xô ?
Bất cứ là một câu trả lời trừu tượng đến như nào, một chính khách không thể ứng dụng sự thoái thoát như là một nguyên tắc của chính sách. Ông ta có thể học hỏi để điều hòa sự tự tin trong những đánh giá của mình và để tính đến điều không lường trước được; nhưng việc dựa vào sự sụp đổ cuối cùng của một đối thủ hay đe dọa là một chính sách vốn không đưa ra một sự an ủi nào cho hàng triệu nạn nhân trực tiếp, và biến việc hoạch định chính sách trở thành một canh bạc liều lĩnh theo trực giác.

p702

Nỗi thống khổ của Mỹ trên vấn đề Việt Nam là một minh chứng bất thường cho sự đắn đo của nó về mặt đạo đức, mà qua đó chính nó là một câu trả lời hay ho cho tất cả những câu hỏi về tính chất quan trọng trong kinh nghiệm của Mỹ về mặt luân thường đạo lý. Sau một khoảng thời gian tương đối ngắn, những người Mỹ đã phục hồi phong cách của mình trong những năm 1980s. Đến thập niên 1990s, những dân tộc tự do ở khắp mọi nơi một lần nữa đang nhìn vào nước Mỹ cho sự hướng dẫn trong việc xây dựng một trật tự tuy khác cho một thế giới mới. Và nỗi lo sợ lớn nhất của họ không phải là sự tham gia quá tự tin của Mỹ trên thế giới mà là, một lần nữa, việc rút ra khỏi nó. Đây là lý do tại sao nỗi buồn về những kỷ niệm về Đông Dương sẽ phục vụ để nhắc nhở chúng ta rằng sự đoàn kết của Mỹ là một bổn phận và cũng là niềm hy vọng của thế giới.

===========================================
===========================================

p804

Chương 31 : Một Trật tự Thế giới mới Xét lại

(Một Trật tự Thế giới mới)

Đến đầu thập niên cuối của thế kỷ XX (i.e. 20), chủ thuyết Wilson dường như trở nên vinh quang. Những thách thức về tư tưởng hệ cộng sản và địa hình chính trị của Liên Xô đã được vượt qua cùng một lúc. Mục tiêu của sự đối nghịch với chủ nghĩa cộng sản về mặt đạo đức đã kết hợp với công việc chống lại chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô về mặt địa hình chính trị. Không có ngạc nhiên là Tổng thống Bush tuyên bố niềm hy vọng của mình cho một trật tự thế giới mới trong những thuật ngữ của chủ thuyết Wilson xa xưa :

Chúng ta có một tầm nhìn về mối quan hệ đối tác mới của những quốc gia vốn vượt qua Chiến tranh Lạnh. Một quan hệ đối tác được dựa trên sự tham vấn, hợp tác, và hành động tập thể, đặc biệt là qua những tổ chức quốc tế và khu vực. Một quan hệ đối tác được kết hợp bởi nguyên tắc và quy định của pháp luật và được hỗ trợ bởi việc chia sẻ công bằng về cả tổn phí và lẫn cam kết.

p805

Một quan hệ đối tác mà những mục đích của nó là phải gia tăng nền dân chủ, gia tăng sự thịnh vượng, gia tăng nền hòa bình, và giảm bớt vũ khí.

Người kế nhiệm ông Bush thuộc Đảng Dân chủ, Tổng thống Bill Clinton, bày tỏ những mục đích của Mỹ trong những thuật ngữ tương tự, qua việc giảng giải về chủ đề “mở rộng nền dân chủ” :

Trong một kỷ nguyên mới của tình trạng nguy hiểm và cơ hội, mục đích quan trọng hơn của chúng ta phải là mở rộng và thêm sức mạnh cho cộng đồng thế giới của những nền dân chủ được dựa trên thị trường. Trong suốt Chiến tranh Lạnh, chúng đã tìm cách để kiềm chế mối đe dọa đối với sự tồn tại của những thể chế tự do. Bây giờ, chúng ta tìm cách mở rộng vòng tròn của những dân tộc vốn đang sống dưới những thể chế tự do đó, vì giấc mơ của chúng ta thuộc về một ngày khi những quan điểm và năng lực của mọi người trên thế giới sẽ được đưa ra sự biểu hiện đầy đủ trong một thế giới của những nước dân chủ đang phát triển mạnh mà qua đó hợp tác với nhau và sống trong hòa bình.

Lần thứ ba trong thế kỷ nầy, như thế Mỹ đã tuyên bố chủ ý của nó xây dựng một trật tự thế giới mới bằng cách áp dụng những giá trị trong nước của nó với thế giới rộng lớn. Và, trong lần thứ ba, Mỹ dường như vượt hẳn lên trên sân khấu quốc tế. Vào năm 1918, ông Wilson đã làm lu mờ Hội nghị Hòa bình Paris nơi mà những đồng minh của Mỹ quá phụ thuộc vào nó không thể cố nài về việc lên tiếng những mối nghi ngại của họ. Gần cuối Thế Chiến thứ II, Franklin Delano Roosevelt và ông Truman dường như đang ở trong một vị thế đúc lại toàn bộ thế giới trên mô hình của Mỹ.
Sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh tạo ra một sự cám dỗ thậm chí lớn hơn để đúc lại các môi trường quốc tế trong hình ảnh của Mỹ. Ông Wilson đã bị kiềm chế bởi chủ nghĩa biệt lập tại quê nhà (i.e. Hoa Kỳ), và ông Truman đã ra mặt chống lại chủ nghĩa bành trướng theo chủ thuyết Stalin. Trong thế giới sau Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ là một siêu cường duy nhất còn lại với khả năng can thiệp vào mỗi phần của thế giới. Tuy thế, quyền lực đã càng lúc bị phân tán hơn và những vấn đề mà lực lượng quân sự thích hợp với, đã giảm bớt đi. Chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh đã đẩy Mỹ vào trong một thế giới vốn mang nhiều điểm tương đồng với hệ thống nhà nước Âu châu của thế kỷ XVIII (i.e. 18) và XIX (i.e. 19), và với những thực hành mà những chính khách và các nhà tư tưởng Mỹ đã không ngừng đặt câu hỏi. Sự vắng mặt của mối đe dọa mở rộng hơn cả về tư tưởng hệ hoặc chiến lược cho những quốc gia sự tự do theo đuổi những chính sách đối ngoại của họ càng lúc được dựa trên lợi ích quốc gia trực tiếp của mình. Trong một hệ thống quốc tế được đặc trưng hóa bởi có lẽ là năm hoặc sáu cường quốc chính, và một hình thức đa dạng gồm những quốc gia nhỏ hơn, trật tự sẽ phải xuất hiện phần lớn như nó đã làm trong những thế kỷ qua từ việc hòa giải và cân bằng những lợi ích quốc gia đang ganh đua.

p806

Cả ông Bush và lẫn ông Clinton nói về trật tự thế giới mới như thể nó đang ở quanh đây. Thật ra, nó vẫn còn đang trong giai đoạn thai nghén, và hình thức cuối cùng của nó sẽ không thể nhìn thấy cho đến khi lành mạnh trong thế kỷ tới. Phần mở rộng của quá khứ, phần chưa hề nghe qua, một trật tự thế giới mới, giống như những thứ mà nó đã thành công, sẽ nổi lên như là một câu trả lời cho ba câu hỏi: Những phần cơ bản của trật tự quốc tế là gì ? Phương tiện của chúng về việc tương tác là gì ? Những mục đích tiêu biểu mà họ tương tác là gì ?
Những hệ thống quốc tế đang sống còn một cách bấp bênh. Mỗi “trật tự thế giới” bày tỏ khát vọng cho sự vĩnh viễn; thuật ngữ đúng nghĩa có chiếc nhẫn kết hợp vĩnh cữu về nó. Tuy thế, những thành phần vốn cấu thành nó, đang trong tình trạng biến chuyển không ngừng; thật vậy, với mỗi thế kỷ, khoảng thời gian tồn tại của những hệ thống quốc tế đã và đang thu hẹp. Trật tự vốn phát triển từ Hòa ước Westphalia được kéo dài 150 năm, những hệ thống quốc tế được tạo ra bởi Đại hội Vienna duy trì chính nó trong một trăm năm; trật tự quốc tế được đặc trưng hóa bởi Chiến tranh Lạnh đã kết thúc sau bốn mươi năm. (Việc dàn xếp ở Versailles, Pháp, không bao giờ hoạt động như là một hệ thống được gắn bó bởi các cường quốc chính, và chẳng khác gì hơn một ít là một hiệp ước đình chiến giữa khoảng thời gian của hai cuộc chiến tranh thế giới.) Không bao giờ trước đây có những thành phần của trật tự thế giới, khả năng tương tác của họ, và những mục đích của họ tất cả đã thay đổi khá nhanh chóng, sâu sắc, hoặc toàn cầu đến thế.

(Sự phê chuẩn của Hòa ước Münster ở Đức –trong một phần của Hòa ước
Westphalia– vào năm 1648 với hàng loạt những hiệp ước hòa bình được
ký kết hầu kết thúc những xung đột ở Âu châu)

(Bức tranh vẽ của William Orpen, “The Signing of Peace in the Hall of
Mirrors, Versailles, 28th June 1919 ” (“Việc Ký kết Hòa bình ở Sảnh
đường Mirrors, Versailles, ngày 28 tháng Sáu, 1919”)
. Đây là Hòa ước
sau Thế Chiến thứ I với 32 quốc gia, bao gồm Nhật, Đức, và Ý vốn trở
thành đồng minh thuộc phe trục trong Thế Chiến thứ II sau nầy)

Bất cứ khi nào các đối tượng hình thành một hệ thống quốc tế thay đổi tính cách của họ, thì một giai đoạn khủng hoảng không thể tránh khỏi theo sau. Cuộc Chiến tranh Ba mươi Năm(15) nằm trong một phần lớn về sự chuyển đổi từ những xã hội phong kiến được dựa trên truyền thống và những tuyên bố về tính chất phổ quát đối với hệ thống nhà nước hiện đại được dựa trên raison d’état (lý do của nhà nước). Những cuộc chiến tranh của cuộc Cách mạng Pháp đánh dấu sự chuyển đổi sang nhà-nước-quốc-gia được định nghĩa theo ngôn ngữ và văn hóa chung. Những cuộc chiến tranh của thế kỷ XX (i.e. 20) là do sự tan rã của Đế quốc Habsburg và Đế quốc Ottoman, một sự thách thức cho quyền thống trị châu Âu, và sự kết thúc của chủ nghĩa thực dân. Trong mỗi quá trình chuyển đổi, những gì đã được cho là điều tất nhiên bất ngờ nhiên trở thành lỗi thời; những nước thuộc đa quốc gia trong thế kỷ XIX (i.e. 19), chủ nghĩa thực dân trong thế kỷ XX.
Kể từ Đại hội Vienna, chính sách đối ngoại đã tạo liên kết những quốc gia với nhau –vì vậy có thuật ngữ “những mối quan hệ quốc tế.” Trong thế kỷ XIX, sự xuất hiện của ngay cả chỉ một quốc gia mới –chẳng hạn như là nước Đức thống nhất– đã sinh ra những thập kỷ bất ổn. Kể từ khi kết thúc Thế Chiến thứ II, gần khoảng một trăm quốc gia mới cuối cùng đã trở thành như thế, nhiều nước trong số đó khá khác biệt đối với nhà-nước-quốc-gia của Âu châu xưa cổ. Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô và sự tan rã của Nam Tư (Yugoslavia) đã nẩy sinh một nhóm hai mươi quốc gia khác, nhiều nước trong số mà đã tập trung vào việc tái diễn những trò ham tắm máu trong thế kỷ xa xưa.
Quốc gia Âu châu thuộc thế kỷ XIX được dựa trên ngôn ngữ và văn hóa chung, và, được trao cho kỹ thuật của thời đại, được cung cấp một khuôn khổ có điều kiện tốt nhất cho nền an ninh, sự tăng trưởng kinh tế, và cho những sự kiện gây ảnh hưởng quốc tế.

p807

Trong thế giới sau Chiến tranh Lạnh, những nhà-nước-quốc-gia theo truyền thống Âu châu –những quốc gia vốn hình thành Hòa hợp châu Âu cho đến khi Thế Chiến thứ I– thiếu các nguồn tài lực cho vai trò toàn cầu. Sự thành công nhờ nỗ lực của họ củng cố chính mình trở thành Liên minh Âu châu sẽ quyết định sự ảnh hưởng của họ trong tương lai. Châu Âu Kết hợp sẽ tiếp tục như là một Quyền lực Vĩ đại; được phân chia thành những nhà nước quốc gia, nó sẽ trượt vào trong danh phận thứ cấp.
Phần tình trạng hỗn loạn được kết hợp với sự xuất hiện của một trật tự thế giới mới là kết quả từ sự kiện thực tế mà ít nhất có ba loại nhà nước tự gọi chính mình là “quốc gia” đang tương tác với nhau trong khi chia sẻ vài thuộc tính lịch sử của những nhà-nước-quốc-gia. Trên một khía cạnh là những mảnh vụn chủng tộc từ những đế quốc tan rã, chẳng hạn như là những tiểu thuộc quốc của Nam Tư hoặc của Liên Xô. Bị ám ảnh bởi những mối bất bình lịch sử và những cuộc tìm kiếm lâu đời cho sự nhận dạng, họ cố gắng hết mình chủ yếu là để chiếm ưu thế trong những cuộc tranh tài chủng tộc thời xưa. Mục đích của trật tự quốc tế thì vượt ngoài những lãnh vực quan tâm của họ và thường vượt xa khỏi những tưởng tượng của họ. Giống như những đất nước nhỏ hơn bị lôi kéo vào cuộc Chiến tranh Ba mươi Năm, họ tìm cách gìn giữ nền độc lập của mình và gia tăng sức mạnh của mình mà không quan tâm đến những suy xét mang tính chất thế giới thêm nữa về một trật tự chính trị quốc tế.

(Những đường ranh giới quốc gia trong phạm vi châu Âu như
được quy định bởi Đại hội Vienna vào năm 1815 theo Hiệp ước
Hòa hợp châu Âu, còn được gọi là Hệ thống châu Âu nhằm cân
bằng sức mạnh những quốc gia của nó)

Một số trong những quốc gia sau thời kỳ thuộc địa còn tiêu biểu cho một hiện tượng riêng biệt khác. Đối với nhiều nước trong số đó, những biên giới hiện thời tượng trưng cho sự tiện lợi về mặt hành chánh của những cường quốc vương quyền. Vùng châu Phi thuộc Pháp, có một bờ biển lớn, bị phân ra thành mười bảy đơn vị hành chánh, mỗi đơn vị trong số mà đã trở thành một tiểu quốc kể từ đó. Vùng châu Phi thuộc Bỉ –sau đó được gọi là Congo, hiện tại là Zaire– chỉ có một ngỏ ra rất hẹp đến biển, và vì vậy được cai quản như là một đơn vị riêng lẽ ngay cả mặc dù nó tạo thành một khu vực lớn như Tây Âu. Trong những hoàn cảnh như thế, nhà nước cũng thường trở thành ý nghĩa là quân đội, mà qua đó thường thường là một cơ quan “quốc gia” duy nhất. Khi tuyên bố đó đã sụp đổ, một cuộc nội chiến thường hay là một hậu quả. Nếu những tiêu chuẩn về tính chất quốc gia của thế kỷ XIX hoặc những nguyên tắc Wilson về quyền tự quyết được áp dụng cho các quốc gia như thế, việc sắp xếp lại những biên giới theo nguồn gốc và khó thể đoán được sẽ là điều không thể tránh khỏi. Đối với họ, một sự lựa chọn khác cho nguyên trạng lãnh thổ nằm trong cuộc xung đột dân sự vô tận và tàn bạo.
Cuối cùng, có những tiểu quốc loại lục địa –mà qua đó có lẽ sẽ tượng trưng cho những đơn vị cơ bản của trật tự thế giới mới. Quốc gia Ấn Độ vốn nổi lên từ quyền cai trị của thực dân Anh kết hợp một hình thức đa dạng gồm những ngôn ngữ, tôn giáo, và dân tộc. Vì nó dễ cảm ứng hơn đối với các dòng tôn giáo và tư tưởng hệ trong phạm vi các tiểu quốc lân cận so với những quốc gia Âu châu thuộc thế kỷ XIX, đường phân chia giữa những chính sách đối ngoại và đối nội của nó thì cả khác biệt và cũng rất mong manh hơn.

p808

Tương tự như thế, Trung Quốc là một khối kết của những ngôn ngữ khác biệt được bám giữ với nhau bằng chữ viết chung, văn hóa chung, và lịch sử chung. Chính là cái gì mà châu Âu đã có thể trở thành nếu không phải vì những cuộc chiến tranh tôn giáo của thế kỷ XVII (i.e. 17), và là cái gì mà nó đã có thể chưa biến thành là thế nếu Liên minh Âu châu đáp ứng những hy vọng của những người ủng hộ của nó. Tương tự như thế, hai siêu cường quốc của giai đoạn Chiến tranh Lạnh chưa bao giờ đã là những nhà-nước-quốc-gia theo nghĩa Âu châu. Mỹ đã thành công trong việc hình thành một nền văn hóa riêng biệt từ sự cấu thành quốc gia bằng nhiều thứ tiếng, Liên Xô là một đế quốc chứa nhiều dân tộc tính khác nhau. Những tiểu thuộc quốc của nó –đặc biệt là Liên bang Nga– vào lúc đang viết cuốn sách nầy, bị giằng xé giữa sự tan rã và sự tái lập đế chế hóa, phần nhiều như là Đế quốc Habsburg và Ottoman thuộc thế kỷ XIX (i.e. 19).
Tất cả điều nầy đã hoàn toàn thay đổi tận gốc thực chất, phương pháp, và trên hết là, tầm với của những quan hệ quốc tế. Cho đến khi thời kỳ hiện đại, những lục địa khác nhau theo đuổi các hoạt động của họ phần lớn là trong sự cô lập với nhau. Có thể đã là điều không thể nào đo lường được sức mạnh, thí dụ như là, của Pháp chống lại sức mạnh của Trung Quốc bởi vì hai quốc gia không có phương tiện nào cho việc tương tác. Một khi tầm với của kỹ thuật đã mở rộng hơn, tương lai của những lục địa khác được quyết định bởi Hiệp ước “Hòa hợp” của những cường quốc Âu châu. Không có một trật tự quốc tế trước đó đã chứa các trung tâm quyền lực chính được phân phối khắp toàn bộ hoàn cầu. Cũng không phải là những chính khách đã từng buộc phải tiến hành thủ thuật ngoại giao trong một môi trường nơi mà những sự kiện có thể được trải kinh nghiệm ngay lập tức và cùng một lúc bởi các nhà lãnh đạo và công chúng của họ.
Khi số lượng của các tiểu quốc nhân lên và khả năng của họ để tương tác cao hơn, vậy trên những nguyên tắc gì một trật tự thế giới mới có thể được tổ chức ? Đươc đưa ra là sự phức tạp của hệ thống quốc tế mới, có phải chăng những khái niệm chủ thuyết Wilson giống như “mở rộng nền dân chủ” có thể phục vụ như là những hướng dẫn chính yếu cho chính sách đối ngoại của Mỹ và như là sự thay thế cho chiến lược ngăn chận của Chiến tranh Lạnh không ? Rõ ràng là, những khái niệm nầy đã hoặc là không phải một thành công thiếu chất lượng hoặc cũng không phải là một thất bại không đúng nghĩa. Một số trong những hành động tinh tế nhất của cách ngoại giao trong thế kỷ XX có nguồn gốc của chúng trong chủ thuyết lý tưởng của Woodrow Wilso: Kế hoạch Marshall, một sự cam kết can đảm về việc kiềm chế chủ nghĩa cộng sản, bảo vệ nền tự do của Tây Âu, và thậm chí là Đội ngũ Quốc gia yểu mệnh và hóa thân của nó sau nầy của nó, là Liên Hiệp Quốc.
Đồng thời, chủ thuyết lý tưởng của ông Wilson đã sinh ra thừa thãi những nan đề. Như được thể hiện trong sách lược Mười bốn Điểm, một sự tán thành không cần phê phán về quyền tự quyết chủng tộc không tính đến các mối quan hệ quyền lực và những ảnh hưởng gây bất ổn của các nhóm chủng tộc nhất tâm theo đuổi những tranh đua được tích lũy và hận thù lâu đời của họ. Sự thất bại để cho Đội ngũ Quốc gia một cơ chế thực thi quân sự đã nhấn mạnh đến những nan đề cố hữu trong quan điểm của ông Wilson về nền an ninh chung. Hiệp ước Kellogg–Briand vô hiệu quả vào năm 1928, mà qua đó các quốc gia không thừa nhận chiến tranh như là một phương tiện của chính sách, cho thấy những giới hạn của sự kiềm chế rất ư hợp pháp.

p809

Như Hitler phải chứng tỏ là, trong thế giới của ngoại giao, một khẩu súng được nạp đạn thường mạnh mẽ hơn một cuộc báo cáo ngắn gọn hợp pháp. Việc kêu nài chính phủ Mỹ của ông Wilson khởi đầu trong việc theo đuổi nền dân chủ đã tạo ra những hoạt động sáng tạo tuyệt vời. Nó cũng dẫn Mỹ đến những cuộc thập tự chinh thảm khốc chẳng hạn như là Việt Nam.
Sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh đã tạo ra điều gì mà một số nhà quan sát đã được gọi là một thế giới “đơn cực” hoặc “siêu cường độc nhất.” Nhưng Hoa Kỳ thực sự là đang ở trong vị thế không có khá hơn để đơn phương có quyền đưa ra một chương trình nghị sự toàn cầu so với vị thế vào lúc bắt đầu Chiến tranh Lạnh. Mỹ đang vượt trội hơn so với nó mười năm trước đây, tuy thế, trớ trêu là, quyền lực cũng đã trở nên bị phân tán hơn. Như thế, khả năng của Mỹ để sử dụng quyền lực hầu định hình phần còn lại của thế giới đã thực sự giảm đi.
Chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh đã làm cho nó càng khó khăn hơn khi thực hiện giấc mơ của chủ thuyết Wilson về nền an ninh chung thế giới. Trong sự thiếu vắng quyền lực có tiềm năng thống trị, những quốc gia chính yếu không xem những mối đe dọa đối với nền hòa bình trong cùng một cách, hoặc cũng không phải là họ sẵn sàng dám làm cùng những điều liều lĩnh trong việc vượt qua những mối đe dọa mà họ thực sự nhận thấy (xem chương 10, 11, 15, và 16). Cộng đồng thế giới đang đủ sẵn sàng để phối hợp trong việc “gìn giữ hòa bình” –đó là, trong việc giám sát một thỏa thuận hiện có bằng lực lượng cảnh sát không bị thách thức bởi bất kỳ đảng phái nào trong số đó– nhưng đó đã từng là điều khó đoán trước được trong việc kiến tạo hòa bình –một sự triệt hạ những thách thức thực sự đối với trật tự thế giới. Điều nầy không đáng ngạc nhiên, vì không ngay cả Hoa Kỳ cho đến nay đã chưa phát triển một khái niệm rõ ràng về điều gì mà nó sẽ đơn phương chống lại trong thế giới sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
Như một cách tiếp cận chính sách đối ngoại, chủ thuyết Wilson cho là Mỹ sở hữu một bản chất biệt lệ được thể hiện trong đức tính không gì sách kịp và sức mạnh vô song. Hoa Kỳ quá tự tin về sức mạnh của nó và đức tính của những mục đích của nó mà qua đó nó có thể hình dung việc chiến đấu cho những giá trị của nó trên cơ bản khắp thế giới. Chủ thuyết Ngoại lệ của Mỹ phải là một điểm khởi đầu cho chính sách đối ngoại theo chủ thuyết Wilson.
Như là những phương pháp tiếp cận của thế kỷ XXI (i.e. 21), những lực lượng rộng lớn toàn cầu đang làm việc, trong một khoảng thời gian giới hạn, vốn sẽ làm cho nước Mỹ ít biệt lệ hơn. Sức mạnh quân sự của Mỹ sẽ vẫn còn vô địch trong tương lai có thể nhìn thấy được. Tuy thế, điều mong muốn của Mỹ phóng ra sức mạnh đó vào trong vô số những cuộc xung đột trên quy mô nhỏ mà thế giới gần như có thể chứng kiến trong những thập kỷ sắp đến –Bosnia, Somalia, và Haiti– là một thách thức quan trọng về khái niệm đối với chính sách đối ngoại của Mỹ. Hoa Kỳ gần như sẽ có một nền kinh tế mạnh nhất của thế giới ngay trong thế kỷ kế tiếp. Tuy sự giàu có sẽ càng lúc trải rộng hơn, cũng như kỹ thuật cho việc tạo ra sự giàu có. Hoa Kỳ sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh kinh tế của một loại mà nó chưa bao giờ có kinh nghiệm trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

p810

Mỹ sẽ là một quốc gia vĩ đại nhất và mạnh mẽ nhất, nhưng là một quốc gia với những người bình đẳng; một quốc gia thuộc loại primus inter pares (đứng đầu trong số những quốc gia ngang nhau) nhưng không vì thế là một quốc gia giống như những quốc gia khác. Chũ nghĩa biệt lệ của Mỹ vốn là một nền tảng không thể thiếu được cho chính sách đối ngoại theo chủ thuyết Wilson, vì thế dường như kém thích hợp trong thế kỷ sắp đến.
Những người Mỹ sẽ không xem điều nầy như là một cách khiêm tốn của Mỹ hoặc như là một triệu chứng suy đồi quốc gia. Trong hầu hết lịch sử của nó, Hoa Kỳ thật ra là một quốc gia trong số những quốc gia khác, không phải là một siêu cường quốc có ưu thế hơn. Sự vươn lên của các trung tâm quyền lực khác –ở Tây Âu, Nhật Bản, và Trung Quốc– sẽ không gây hoảng sợ những người Mỹ. Cuối cùng là, việc chia sẻ những nguồn tài lực của thế giới và sự phát triển của những xã hội và nền kinh tế khác đã từng là một mục tiêu riêng biệt của Mỹ kể từ Kế hoạch Marshall.
Tuy thế nếu tiền đề của chủ thuyết Wilson đang trở nên kém thích hợp và tiếng gọi của chính sách đối ngoại Wilson –nền an ninh chung, sự chuyển đổi những nước tranh đua của một nước nào đó theo cách của Mỹ, một hệ thống quốc tế vốn phán xét những cuộc tranh chấp theo cách hợp pháp, và sự hỗ trợ không hạn chế cho quyền tự quyết theo chủng tộc– đang trở nên ít thực dụng, vậy trên những nguyên tắc gì Mỹ nên đặt nền tảng cho chính sách đối ngoại trong thế kỷ sắp tới ? Lịch sử không cung cấp một cuốn sách hướng dẫn nào, hoặc thậm chí những phép so sánh tương đồng nào vốn đáp ứng một cách hoàn toàn. Tuy thế, lịch sử dạy bằng thí dụ và, khi Mỹ di chuyển vào trong vùng biển chưa có trên họa đồ, nó sẽ làm hết sức mình để suy xét thời kỳ bắt đầu trước Tổng thống Woodrow Wilson và tài liệu “Thế kỷ của Mỹ” cho những manh mối về những thập kỷ sắp đến.
Khái niệm của ông Richelieu về raison d’état (lý do của nhà nước) –là những lợi ích của nhà nước biện minh cho những phương tiện được sử dụng để theo đuổi chúng– đã luôn luôn là điều phản cảm đối với những người Mỹ. Điều đó không phải nói rằng những người Mỹ đã chưa bao giờ thực nghiệm raison d’état –có nhiều trường hợp về vấn đề đó, từ thời điểm của những cách cư xử khôn ngoan của những Người cha Lập quốc với những cường quốc Âu châu trong đầu những thập kỷ của nước cộng hòa đối với việc chú tâm theo đuổi sự mở rộng của Tây phương, vốn được đặt dưới đề mục của chủ thuyết “vận mệnh hiển nhiên.” Nhưng những người Mỹ đã chưa từng bao giờ cảm thấy thoải mái thừa nhận một cách công khai những lợi ích vị kỷ của riêng mình. Việc chiến đấu hoặc là những cuộc chiến tranh thế giới hay những cuộc xung đột địa phương, các nhà lãnh đạo Mỹ luôn luôn tuyên bố là đang đấu tranh vì nhân danh nguyên tắc, không phải vì lợi ích.
Đối với bất kỳ sinh viên nào nghiên cứu về lịch sử Âu châu, khái niệm về cán cân quyền lực có vẻ rất ư hiển nhiên. Nhưng cán cân quyền lực, giống như raison d’ état, là một sự phát triển của vài thế kỷ cuối cùng, lúc đầu được truyền bá bởi vị vua Anh Quốc, William III, vốn là người tìm cách kiềm chế những động lực thúc đẩy của những người Pháp theo chủ nghĩa bành trướng. Một khái niệm mà qua đó một liên minh của các tiểu quốc yếu hơn sẽ kết hợp với nhau để hình thành một đối trọng đối với một nước mạnh mẽ hơn, không có là đặc biệt trong chính nó. Tuy thế, sự quân bình quyền lực đòi hỏi việc trông nom thường xuyên. Trong thế kỷ tới, các nhà lãnh đạo Mỹ sẽ phải nói rõ cho công chúng của họ về khái niệm lợi ích quốc gia và giải thích về việc lợi ích đó được phục vụ như thế nào –ở châu Âu và châu Á– bằng sự duy trì cán cân quyền lực.

p811

Mỹ sẽ cần đến những đối tác để gìn giữ sự quân bình trong nhiều vùng trên thế giới, và những đối tác nầy có thể không luôn luôn được lựa chọn trên cơ bản của những suy xét chỉ về mặt đạo đức. Một xác định rõ ràng về lợi ích quốc gia cần phải là một hướng dẫn không kém cần thiết cho chính sách của Mỹ.
Hệ thống quốc tế vốn kéo dài một cuộc chiến tranh lâu nhất mà nhưng không lớn là một hệ thống theo sau Đại hội Vienna. Nó kết hợp tính chất hợp pháp và quân bình, chia sẻ những giá trị, và thủ thuật ngoại giao cân bằng sức mạnh. Những giá trị chung hạn chế tầm ngắm những nhu cầu của các quốc gia trong khi sự quân bình giới hạn khả năng cương quyết đòi hỏi chúng. Trong thế kỷ XX, Mỹ đã cố gắng gấp đôi để tạo ra một trật tự thế giới được dựa trên những giá trị của nó gần như ngoại biệt. Nó tiêu biểu cho một nỗ lực quả cảm chịu trách nhiệm cho phần lớn điều gì tốt đẹp trong thế giới đương thời. Nhưng chủ thuyết Wilson không thể là một nền tảng duy nhất cho thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh.
Sự tăng trưởng của nền dân chủ sẽ tiếp tục như là nguyện vọng thống trị của Mỹ, nhưng đó là điều cần thiết để nhận biết những trở ngại mà nó phải đối mặt vào thời điểm dường như là niềm vinh quang về mặt triết học của nó. Việc kiềm chế quyền lực chính quyền trung ương đã từng là mối quan tâm chính của các nhà lý thuyết chính trị Tây phương, nhưng trái lại, trong hầu hết những xã hội khác, lý thuyết chính trị đã từng tìm cách chống đỡ thẩm quyền của nhà nước. Không nơi nào khác đã từng có sự khẳng định như thế về việc mở rộng quyền tự do cá nhân. Nền dân chủ Tây phương tiến triển trong những xã hội đồng nhất về mặt văn hóa với một lịch sử chung, lâu dài (ngay cả Mỹ, với dân cư nói nhiều thứ tiếng của nó, phát triển một bản sắc văn hóa mạnh mẽ). Xã hội và, theo ý nghĩa đó, quốc gia đứng trước nhà nước mà không cần phải được tạo ra bởi nó. Trong một khung cảnh như thế, những đảng chính trị tượng trưng cho cho những mặt đa dạng của một sự đồng thuận ngấm ngầm; một nhóm nhỏ hôm nay sẽ là một nhóm lớn của ngày mai trong tương lai.
Trong hầu hết những phần khác của thế giới, nhà nước đã từng đứng trước quốc gia; nó vẫn còn và thường là yếu tố chính trong việc hình thành nó. Những đảng phái chính trị, nơi mà chúng tồn tại, phản ảnh những bản sắc không thay đổi, và thường mang tính chất cộng đồng; những nhóm nhỏ và những nhóm lớn có khuynh hướng tồn tại lâu dài. Trong những xã hội như thế, tiến trình chính trị là về sự thống trị, không phải là sự thay thế khác trong việc nắm quyền, vốn diễn ra, nếu có, bởi cuộc đảo chính hơn là do những thủ tục hiến định. Khái niệm về một phe đối lập trung thành –bản chất của nền dân chủ hiện đại– hiếm khi chiếm ưu thế. Nhiều khi, phe đối lập được xem như là một mối đe dọa đối với sự gắn kết quốc gia, đồng nghĩa với việc phản quốc, và bị đàn áp thẳng tay.
Nền dân chủ kiểu Tây phương giả định trước một sự đồng thuận trên những giá trị vốn đặt ra những giới hạn cho vai trò của cả hai đảng phái. Mỹ sẽ không chân thực với chính nó nếu nó không cương quyết trên tính chất có thể áp dụng phổ quát của tư tưởng về sự tự do. Mà qua đó Mỹ sẽ đưa ra sự chọn lựa ưu thích những chính phủ dân chủ hơn những chính phủ đàn áp và sẵn sàng trả một cái giá nào đó cho những niềm tin đạo đức của nó, thì không cần bàn cãi gì nữa.

p812

Mà qua đó có một khu vực tự do hành động vốn sẽ được sử dụng theo chiều hướng có lợi cho chính phủ và những cơ quan trong việc thúc đẩy những giá trị dân chủ và nhân quyền, thì cũng rõ ràng. Sự khó khăn phát sinh trong việc xác định một cái giá chính xác phải trả và mối quan hệ của nó đối với những việc ưu tiên thiết yếu khác của Mỹ, bao gồm vấn đề an ninh quốc gia và sự cân bằng tổng thể địa hình chính trị. Nếu những lời cổ vũ của Mỹ vượt ngoài tính cách hùng biện yêu nước, chúng phải phản ánh một sự hiểu biết thực tế về tầm với đến của Mỹ. Mỹ phải cẩn thận không để nhân lên những cam kết đạo đức trong khi và những nguồn tài chánh và quân sự cho việc tiến hành một chính sách đối ngoại toàn cầu đang bị cắt bớt. Những lời tuyên bố chung chung không đi đôi với hoặc là khả năng hay sự sốt sắng hỗ trợ cho chúng cũng làm giảm ảnh hưởng của Mỹ trên tất cả những vấn đề khác.
Sự cân bằng chính xác giữa yếu tố đạo đức và chiến lược trong chính sách đối ngoại của Mỹ không thể được quy định một cách trừu tượng. Nhưng sự khởi đầu khôn ngoan bao gồm việc nhận biết là sự cân bằng cần phải được nhắm vào. Tuy nhiên, một nước Mỹ mạnh mẽ, không một quốc gia nào có khả năng áp đặt tất cả những chọn lựa ưa thích của nó trên phần còn lại của nhân loại; những việc ưu tiên phải được thiết lập. Ngay cả khi các nguồn tài lực dành cho nó còn tồn tại, chủ thuyết Wilson không có gì khác biệt sẽ không được hỗ trợ một khi công chúng Mỹ hiểu một cách rõ ràng về những điều cam kết và những việc tham gia có hệ quả tất yếu của nó. Điều đó có nguy cơ bị biến thành một tiếng thét xung trận để thoát khỏi những sự lựa chọn khó khăn về địa hình chính trị bằng phương cách của những lời tuyên bố kéo theo sự nguy cơ ít rõ ràng. Một khoảng ngăn cách đang đe dọa mở ra trong chính sách của Mỹ giữa lời tuyên bố giả tạo của nó và sự sốt sắng của nó hỗ trợ cho chúng; sự vỡ mộng quá dễ dàng nầy gần như không thể tránh khỏi biến thành một cái cớ cho việc rút lui khỏi tất cả những vấn đề thế giới cùng một lúc.
Trong thế giới sau Chiến tranh Lạnh, chủ nghĩa lý tưởng của Mỹ cần chất lên men của sự phân tích địa hình chính trị để tìm ra cách của nó qua khỏi mê cung của những sự phức tạp mới. Điều đó sẽ không là dễ dàng. Mỹ từ chối thống trị ngay cả khi nó có độc quyền về hạt nhân, và nó xem thường cán cân quyền lực ngay cả khi đang tiến hành, như trong suốt cuộc Chiến tranh Lạnh, cái gì đó đang trong tình trạng có ảnh hưởng đến phạm vi của thủ thuật ngoại giao hữu ích. Trong thế kỷ XXI (i.e. 21), Mỹ, giống như những quốc gia khác, phải học để điều hướng giữa sự cần thiết và lựa chọn, giữa các hằng số bất biến của những mối quan hệ quốc tế và các yếu tố phụ thuộc vào sự tùy ý hành động của những chính khách.
Bất cứ nơi nào sự cân bằng được thiết lập giữa các giá trị và sự cần thiết, chính sách đối ngoại phải bắt đầu với một định nghĩa nào đó về điều gì đó tạo thành một lợi ích rất quan trọng –một sự thay đổi trong môi trường quốc tế rất có khả năng làm suy yếu ngầm nền an ninh quốc gia vốn phải được chống đỡ không cần biết mối đe dọa chọn hình thức gì hoặc nó xuất hiện với vẻ hợp pháp bề ngoài như thế nào. Trong suốt thời kỳ hoàng kim của nó, Đại quốc Anh có thể đã đi đến chiến tranh để ngăn chận sự chiếm đóng những cổng Kênh đào ở những Quốc gia Đất thấp (i.e. những nước trong vùng tây bắc Âu châu có phần lớn vùng đất dưới mực nước biển) ngay cả khi chúng đã bị chiếm lấy bởi một quyền lực lớn bị chi phối bởi giáo hội. Đối với phần lớn hơn của lịch sử nước Mỹ, Học thuyết Monroe phục vụ như là một định nghĩa hoạt động về lợi ích quốc gia của Mỹ.

p813

Kể từ khi việc bước vào Thế Chiến thứ I của Tổng thống Woodrow Wilson, Mỹ đã tránh định nghĩa về lợi ích quốc gia với lập luận là nó không phản đối sự thay đổi như thế, ngoại trừ việc dùng vũ lực để đạt lấy điều đó. Không phải là sự định nghĩa không còn thích hợp; Học thuyết Monroe thì quá hạn chế, chủ thuyết Wilson thì quá mơ hồ và lẫn tính pháp lý quá nặng nề. Cuộc tranh cãi xung quanh gần như tất cả những hành động quân sự của Mỹ trong giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh cho thấy rằng một sự đồng thuận rộng lớn hơn về việc nơi nào Mỹ nên vạch đường ranh hạn chế vốn chưa có. Để thực hiện điều đó là một thách thức lớn đối với ban lãnh đạo quốc gia.

(Những Quốc gia Đất thấp trong vùng tây bắc Âu châu,
bao gồm Belgium, Netherlands)

Về mặt địa dư, Mỹ là một hòn đảo nằm ngoài những bờ biển của khối lục địa tiếp giáp Á–Âu, mà những nguồn tài nguyên và dân số của nó vượt xa những thứ đó của Hoa Kỳ. Sự thống trị bởi một quyền lực duy nhất của một trong hai khu vực chính –châu Âu hoặc châu Á– vẫn là một định nghĩa rõ về sự nguy hiểm trên mặt chiến lược cho Mỹ, dù có Chiến tranh Lạnh hay không. Đối với việc phân nhóm như thế sẽ có khả năng vượt xa hơn Mỹ về mặt kinh tế và, cuối cùng, là mặt quân sự. Sự nguy hiểm đó sẽ phải được chống lại thậm chí là quyền lực thống trị có vẻ nhân từ, vì nếu những chủ ý từng thay đổi, Mỹ sẽ tìm thấy chính nó một khả năng đề kháng hiệu quả bị suy giảm cực kỳ và sự thiếu khả năng ngày càng tăng trưởng để biến đổi những sự kiện.
Mỹ buộc phải đặt mình vào trong Chiến tranh Lạnh bởi sự đe dọa của chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô, và nó đã dựa trên phần lớn những kỳ vọng sau Chiến tranh Lạnh của nó vào sự biến mất mối đe dọa của cộng sản. Chỉ giống như những thái độ đối với sự thù nghịch của Liên Xô đã biến đổi những thái độ của Mỹ đối với trật tự toàn cầu –từ quan điểm về sự kiềm chế– vì vậy, đúng là những nỗ lực cải cách Nga Sô đã chi phối cách suy nghĩ của Mỹ về trật tự thế giới sau Chiến tranh Lạnh. Chính sách của Mỹ đã được dựa trên tiền đề mà qua đó nền hòa bình có thể được bảo đảm bởi một nước Nga bị kiềm chế bằng nền dân chủ và bởi sự tập trung năng lực của mình vào việc phát triển một nền kinh tế thị trường. Trong sự hiểu biết nầy, công viếc chính của Mỹ được nhận thức là để gia tăng sức mạnh cải cách của Nga, bằng những phương thức được rút ra từ kinh nghiệm của Kế hoạch Marshall hơn là từ những mô hình truyền thống của chính sách đối ngoại.
Không liên quan gì đến một quốc gia nào khác, chính sách của Mỹ đã được đẩy mạnh một cách kiên định như đối với sự đánh giá về những ý định của nó hơn là đối với tiềm năng hoặc thậm chí những chính của nó. Franklin Roosevelt đã đánh cược những hy vọng của mình vào một thế giới hòa bình sau chiến tranh cho một mức độ đáng kể trên sự chừng mực của Stalin. Trong suốt Chiến tranh Lạnh, chiến lược hành động của Mỹ –là sự kiềm chế– đã có như sự nhắm đến được tuyên bố của nó thay đổi những mục đích của Liên Xô, và cuộc thảo luận liên quan đến nó thường là về việc liệu sự thay đổi được kỳ vọng trong những mục đích của Liên Xô đã thực sự xảy ra không . Trong số những vị Tổng thống thời hậu chiến, chỉ có ông Nixon kiên định đối phó với Liên bang Sô-Viết như là một thách thức về địa hình chính trị. Thậm chí ông Reagan đặt phần cổ phiếu lớn vào cái gì đó chẳng khác gì là sự chuyển đổi của các nhà lãnh đạo Liên Xô.

p814

Không có gì đáng ngạc nhiên, khoảng thời gian theo sau sự sụp đổ của cộng sản, nó đã được cho rằng những ý định thù nghịch đã biến mất, và, vì truyền thống của chủ thuyết Wilson khước từ những lợi ích gây ra xung đột, chính sách sau Chiến tranh Lạnh của Mỹ đã được thực hiện như thể những suy xét về chính sách đối ngoại theo truyền thống không còn áp dụng nữa.
Những sinh viên về địa hình chính trị và lịch sử cảm thấy băng khoăn về chủ tâm duy nhất đầu óc của cách giải quyết nầy. Họ sợ rằng, trong sự đánh giá quá cao khả năng của Mỹ uốn nắn sự phát triển nội bộ của Nga Sô, Mỹ có thể tự lôi cuốn chính mình một cách không cần thiết vào trong những cuộc tranh cãi nội bộ của Nga Sô, tạo ra một phản ứng dữ dội của phe dân tộc, và bỏ qua những công việc thông thường của chính sách đối ngoại. Họ sẽ ủng hộ một chính sách được trù định để sửa đổi tính hung hăng truyền thống của Nga Sô và vì lý do đó sẽ ủng hộ việc viện trợ kinh tế và những dự án hợp tác về các vấn đề toàn cầu.
Họ sẽ tranh luận, tuy nhiên, rằng Nga Sô, bất kể ai là người cai trị nó, ngồi dạng chân trên lãnh thổ theo lý thuyết địa hình chính trị của Halford Mackinder được gọi là vùng đất trung tâm về địa hình chính trị, và là người thừa kế một trong những truyền thống đế chế mạnh mẽ nhất. Thậm chí sự chuyển đổi về mặt đạo đức được mặc nhiên công nhận phải xảy ra, điều đó sẽ cần thời gian, và trong thời gian khoảng giữa đó, Mỹ nên tự bảo vệ chính mình bằng cách tránh sự lựa chọn sai lầm.

(Sir Halford John Mackinder, người Anh Quốc, là cha đẻ của
lý thuyết về địa hình chính trị có ảnh hưởng rất mạnh trong
chính sách chiến lược của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Lạnh)

Mỹ cũng không có nên kỳ vọng vào việc viện trợ kinh tế hầu đạt được những kết quả ở Nga Sô có thể so sánh với những kết quả của Kế hoạch Marshall. Vùng Tây Âu trong giai đoạn ngay sau thời hậu chiến có một hệ thống thị trường đang hoạt động, những cơ cấu hành chính được thành lập vững chắc, và, trong hầu hết các quốc gia, là một truyền thống dân chủ. Nó được kết liền với Mỹ bởi mối đe dọa về quân sự và tư tưởng hệ từ Liên bang Sô-Viết. Phía sau lá chắn của Liên minh Đại Tây Dương, một cuộc cải cách kinh tế khiến cho một thực tế về địa hình chính trị tiềm ẩn xuất hiện trở lại; Kế hoạch Marshall cho phép châu Âu tái thiết lập mô hình truyền thống của nó về việc cai trị trong nước.
Những điều kiện có thể so sánh không tồn tại ở bất cứ nơi nào ở Nga Sô trong thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh. Việc làm giảm đi sự chịu đựng khốn khổ và việc khuyến khích sự cải cách kinh tế là những công cụ quan trọng của chính sách đối ngoại của Mỹ; chúng không phải là, tuy nhiên, những thứ thay thế cho nỗ lực nghiêm túc duy trì sự cân bằng quyền lực toàn cầu trực tiếp liên quan đến một quốc gia với lịch sử lâu dài của chủ nghĩa bành trướng.
Lúc viết cuốn sách nầy, đế chế Nga Sô rộng lớn vốn thu hoạch được qua tiến trình trong hai thế kỷ thì đang trong một tình trạng tan rã –phần nhiều khi nó ở trong giai đoạn 1917–1925, từ đó nó phục hồi mà không có sự gián đoạn nhịp điệu truyền thống theo chủ nghĩa bành trướng của nó. Việc quản lý sự suy giảm của một đế chế đang mục rã là một trong những công việc to lớn đáng nể nhất của thủ thuật ngoại giao. Cách ngoại giao của thế kỷ XIX làm chậm lại việc gỡ bỏ Đế quốc Ottoman và giữ cho nó khỏi tràn lan ra trở thành một cuộc chiến tranh chung; cách ngoại giao của thế kỷ XX chứng minh là không thể nào kiềm chế những hậu quả tan rã của Đế quốc Áo–Hung. Những đế chế sụp đổ tạo ra hai nguyên nhân căng thẳng: những cố gắng của các nước láng giềng lợi dụng lợi sự suy yếu của trung tâm đế chế, và những nỗ lực của việc làm suy giảm đế chế hầu khôi phục thẩm quyền của nó ở vùng bên ngoài.

p815

Cả hai tiến trình đang diễn ra cùng một lúc trong những tiểu thuộc quốc của Liên bang Sô-Viết trước đây. Iran và Thổ Nhĩ Kỳ đang tìm cách gia tăng vai trò của họ ở những nước cộng hòa Trung Á, nơi mà phần lớn dân số thuộc đạo Hồi. Nhưng sự thúc đẩy về mặt khống chế địa hình chính trị đã từng là sự cố gắng thử thách của Nga Sô hầu khôi phục địa vị cao trọng trước đó của nó trong tất cả các vùng lãnh thổ bị điều khiển trước đây từ Moscow. Nhân danh việc gìn giữ hòa bình, Nga Sô tìm cách tái thiết lập một hình thức của sự giám hộ nào đó của Nga, và Hoa Kỳ, qua việc tập trung vào thiện chí của một chính phủ “theo chủ nghĩa cải cách” và miễn cưỡng chấp nhận một chương trình nghị sự về địa hình chính trị, đã từng mặc nhận cho đến lúc đó. Nó đã làm rất ít để cho phép những nước cộng hòa thuộc quốc –khác hơn những tiểu quốc thuộc vùng biển Baltic– đạt được chấp nhận của quốc tế. Những chuyến thăm ở đó của những quan chức cao cấp Mỹ thì chỉ một số ít và cách khoảng; việc viện trợ chỉ là tối thiểu. Các hoạt động của những binh lính Nga trên lãnh thổ của họ, hoặc thậm chí sự hiện diện của họ, hiếm khi bị thách thức. Moscow được đối đãi trên thực tế như là một trung tâm đế chế, vốn cũng là cái gì mà nó nhận biết chính mình là thế.
Điều nầy là một phần vì Mỹ đang đối phó với những cuộc cách mạng chống cộng và phản đế đang diễn ra trên vùng đất của đế quốc Sô-Viết trước đó như thể chúng là một hiện tượng duy nhất. Thật ra, chúng hoạt động theo những chiều hướng đối nghịch. Cuộc cách mạng chống cộng đã từng hưởng được sự hỗ trợ có giá trị thực sự trên toàn lãnh thổ của Liên bang Sô-Viết trước đó. Cuộc cách mạng phản đế, trực tiếp chống lại sự thống trị của Nga Sô, thì phổ biến rộng rãi trong những nước cộng hòa mới không thuộc Nga Sô và tuyệt nhiên không được phổ biến ở Liên bang Nga. Đối với những nhóm lãnh đạo Nga Sô dựa trên lịch sử đã từng nhận thức nhà nước của họ trong phần của một sứ mệnh “văn minh” (xem chương 7 và 8); đại đa số những nhân vật hàng đầu của Nga –bất cứ khuynh hướng chính trị của họ là như thế nào– từ chối chấp nhận sự sụp đổ của Đế quốc Sô-Viết hoặc tính chất hợp pháp của các tiểu thuộc quốc, đặc biệt là của Ukraine, cái nôi Chính thống Nga Sô. Thậm chí Aleksandr Solzhenitsyn, khi viết về việc làm cho Nga Sô thoát khỏi của cái bóng đè của những chủ đề đối ngoại không mong muốn, đã kêu gọi việc Moscow giữ lại nhóm chính yếu Ukraine, Belarus, và hầu như một nửa Kazakhstan, gần khoảng 90% vùng đất của đế quốc trước đây. Trên lãnh thổ của Liên bang Sô-Viết trước đó, không phải mỗi vùng đất chống cộng là một tiểu quốc dân chủ, và không phải mỗi tiểu quốc dân chủ đối nghịch với chủ nghĩa đế quốc Nga.
Một chính sách thực tế sẽ nhận ra rằng ngay cả chính phủ cải cách của Nga, Boris Yeltsin, đã duy trì quân đội Nga trên lãnh thổ của hầu hết các nước cộng hòa thuộc Sô-Viết xa xưa –tất cả những thành viên của Liên Hiệp Quốc– thường chống lại sự mong muốn rõ ràng của chính phủ đầu não. Những lực lượng quân sự nầy đã từng tham gia trong các cuộc nội chiến của nhiều nước cộng hòa. Vị Bộ trưởng Ngoại giao của Nga đã liên tiếp đưa ra một khái niệm về quyền độc tôn của Nga trên việc gìn giữ hòa bình ở vùng “nước ngoài gần bên,” giống y như một nỗ lực tái thiết lập sự thống trị của Moscow. Những viễn ảnh lâu dài cho nền hòa bình sẽ bị ảnh hưởng bởi việc cải cách của Nga Sô, nhưng những viễn ảnh ngắn hạn sẽ phụ thuộc vào việc liệu quân đội Nga có thể bị xui khiến ở lại quê nhà không.

p816

Nếu họ xuất hiện trở lại dọc theo những vùng biên giới của đế chế xa xưa ở châu Âu và ở Trung Đông, sự căng thẳng về mặt lịch sử –được chồng chất thêm bởi sự sợ hãi và nghi ngờ lẫn nhau— giữa Nga Sô và các nước láng giềng của nó chắc chắn sẽ tái xuất hiện (xem chương 6 và 7).
Nga Sô buộc phải có một lợi ích an ninh đặc biệt trong cái gì mà nó gọi là vùng “nước ngoài gần bên” –những nước cộng hòa thuộc Liên bang Sô-Viết trước đó– như được phân biệt đối với các vùng đất nằm ngoài đế chế cũ. Nhưng nền hòa bình của thế giới đòi hỏi rằng điều lợi ích nầy phải được thỏa mãn mà không có áp lực quân sự hoặc sự can thiệp quân sự đơn phương. Vấn đề trọng yếu là liệu có nên xem như mối quan hệ của Nga Sô với những nước cộng hòa mới như là một nan đề quốc tế tùy theo những quy định được chấp nhận về chính sách đối ngoại, hoặc như là một kết quả tự nhiên của việc ra đơn phương ra quyết định của Nga mà qua đó Mỹ sẽ tìm cách gây ảnh hưởng, nếu có, bằng những lời kêu gọi đến thiện chí của ban lãnh đạo Nga. Trong những khu vực nhất định –thí dụ, những nước cộng hòa Trung Á bị đe dọa bởi chủ thuyết nền tảng của Hồi giáo– sự lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ có thể song song với lợi ích của Nga Sô, ít nhất là khi nó áp dụng vào việc đề kháng chủ thuyết nền tảng của Iran. Sự phối hợp ở đó sẽ là điều hoàn toàn có thể miễn là nó không viết một kịch bản nào cho việc trở lại của chủ nghĩa đế quốc truyền thống của Nga.
Lúc viết cuốn sách nầy, những viễn ảnh cho nền dân chủ ở Nga thì như chưa có gì là chắc chắn, cũng không có gì rõ ràng là thậm chí một nước Nga dân chủ sẽ tiến hành những chính sách dẫn đến sự ổn định quốc tế. Trong suốt lịch sử bi thảm của nó, Nga đã từng hoàn toàn tin theo những nguyên tắc khác hẳn phần còn lại của thế giới Tây phương. Nó không bao giờ có một nhà thờ tự quản; nó đã bỏ lỡ Thời kỳ Cải cách, Thời kỳ Khai sáng, Thời kỳ Khám phá, và nền kinh tế thị trường hiện đại. Những nhà lãnh đạo với kinh nghiệm về dân chủ thì không có đủ cho nhu cầu. Hầu hết tất cả các nhà lãnh đạo Nga –cũng như những người trong các nước cộng hòa mới– giữ chức vụ cao dưới chủ nghĩa cộng sản; sự cam kết cho việc đa nguyên không phải là bản năng đầu tiên của họ, và nó có thể không chứng minh là bản năng cuối cùng của họ.
Hơn nữa, việc chuyển đổi từ một nền kinh tế theo kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường đã chứng minh là điều đau đớn ở bất cứ nơi nào mà nó đã từng thử cố gắng. Những người quản lý không có một kinh nghiệm nào với những thị trường và những khuyến khích; những công nhân của họ đã mất đi động lực thúc đẩy của mình, các vị Bộ trưởng chưa bao giờ phải tự mình quan tâm đến chính sách tài chánh. Sự trì trệ, thậm chí lùi dần, gần như là không thể tránh khỏi. Không có một nền kinh tế nào theo kế hoạch tập trung được thực sự quản lý để tránh sự thắt chặc đau đớn trên con đường đến nền kinh tế thị trường, và nan đề đã được thêm vào bởi cách giải quyết hấp tấp, lạnh lùng như kiểu gà đông lạnh được đề nghị bởi rất nhiều chuyên gia cố vấn Mỹ. Việc không hài lòng với những tổn phí về xã hội và kinh tế của quá trình chuyển đổi đã cho phép những người cộng sản thu hoạch được một cách đáng kể ở Ba Lan, Slovakia, và Hungary trong thời kỳ hậu cộng sản. Trong cuộc tuyển cử quốc hội Nga vào tháng Mười Hai năm 1995, Đảng Cộng sản và Đảng Quốc gia cùng nhau đạt được gần khoảng 50 % số phiếu.

p817

Thậm chí những nhà cải cách chân thành có thể nhìn thấy trong chủ nghĩa dân tộc truyền thống của Nga một lực lượng thống nhất hầu đạt được những mục tiêu của họ. Và, ở Nga, chủ nghĩa dân tộc theo lịch sử đã từng mang tính chất truyền giáo và đế chế. Những nhà tâm lý học có thể thảo luận về việc liệu có một lý do nào đó có ý nghĩa từ nguồn gốc sâu xa về sự mất an ninh hoặc tính chất gây hấn tương đắc. Đối với những nạn nhân của việc mở rộng của Nga, sự khác biệt đã là điều không thực tế. Ở Nga Sô, vấn đề dân chủ hóa và chính sách đối ngoại bị kiềm chế có thể không nhất thiết phải đi đôi với nhau. Đây là lý do tại sao có lập luận là nền hòa bình sẽ được bảo đảm chủ yếu bằng việc cải cách trong nước của Nga vốn tìm thấy một ít người trung thành ủng hộ ở Đông Âu, Scandinavia, hoặc Trung Quốc, và lý do tại sao Ba Lan, Cộng hòa Czech, Slovakia, và Hungary thì rất hăng hái gia nhập vào Liên minh Đại Tây Dương.
Nếu chiều hướng hoạt động ăn khớp với chính sách đối ngoại, những suy xét sẽ tìm cách tạo ra những đối trọng đối với những xu hướng có thể dự đoán trước và sẽ không đặt tất cả thẻ tiền cược vào việc cải cách trong nước. Trong khi hỗ trợ những thị trường tự do và nền dân chủ của Nga Sô, nó cũng sẽ tìm cách gia tăng những trở ngại hơn đối với việc mở rộng của Nga. Điều đó có thể được lập luận, trên thực tế, rằng việc cải cách của Nga sẽ được gia tăng mạnh mẽ hơn nếu Nga được khuyến khích để tập trung –lần đầu tiên trong lịch sử của nó– vào việc nhấn mạnh sự phát triển của lãnh thổ quốc gia của nó, mà qua đó, đang mở rộng hơn mười một khu vực khác múi giờ, từ St. Petersburg đến Vladivostok, không đưa ra một nguyên nhân nào cho nỗi sợ nơi khoảng không gian hạn hẹp.
Trong giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh, chính sách của Mỹ đối với Nga Sô trong thời kỳ hậu cộng sản đã đặt cược tất cả mọi thứ trên một loại của việc kiến thiết xã hội thích hợp theo cá nhân của các nhà lãnh đạo. Trong chính quyền Bush, chính là Mikhail Gorbachev và, dưới ông Clinton, chính từng đã là Boris Yeltsin, vốn là người, bởi vì dốc lòng cá nhân cho nền dân chủ được nhận thức của họ, đã từng được xem như là những người đích thân bảo đảm cho một chính sách đối ngoại ôn hòa của Nga Sô và sự hội nhập của nó vào trong cộng đồng quốc tế. Ông Bush lấy làm xót xa cho sự tan rã của Liên bang Sô-Viết của ông Gorbachev, và ông Clinton đã ngầm ưng thuận với những nỗ lực khôi phục vùng cầu ảnh hưởng xưa kia của Nga Sô. Các nhà lãnh đạo Mỹ đã từng miễn cưởng kêu gọi những tạm ngưng ngoại giao theo truyền thống trên chính sách đối với Nga Sô vì lo ngại gây khích động đến những đối thủ của ông Yeltsin (và, trước đó, là những đối thủ của ông Gorbachev) được xem như là thuộc phe dân tộc.
Những quan hệ Nga–Mỹ rất ư cần đến một cuộc đối thoại nghiêm túc về những vấn đề của chính sách đối ngoại. Điều đó không phải làm cho nước Nga được xem như là miễn khỏi những cân nhắc bình thường về chính sách đối ngoại, vì điều nầy sẽ có một kết quả thực dụng của việc buộc nó trả một cái giá nặng nề hơn sau nầy nếu nó bị quyến rủ vào trong những quá trình hoạt động mà qua đó không có cách nào rút lui khỏi. Những nhà lãnh đạo Mỹ sẽ không lo ngại những cuộc thảo luận thẳng thắn về nơi nào là những điểm lợi ích của Mỹ và Nga hội tụ và nơi nào chúng khác biệt nhau. Các cựu chính khách của những cuộc đấu tranh nội bộ của Nga không phải là những người mới tập sự còn hỗ thẹn mà những cân bằng nội bộ của họ sẽ bị mất thăng bằng bởi cuộc đối thoại thực tế. Họ có khả năng khá về việc thấu hiểu một chính sách được dựa trên sự tôn trọng tương quan về các lợi ích quốc gia của nhau.

p818

Thật ra, họ gần như hiểu được một phương thức tính toán như thế tốt hơn là những lời kêu gọi cho một chủ nghĩa không tưởng đầy trừu tượng và xa xôi.
Việc kết hợp Nga vào trong một hệ thống quốc tế là một công việc rất quan trọng của việc làm xuất hiện trật tự quốc tế. Nó có hai thành phần vốn phải được giữ trong trạng thái cân bằng; việc tạo ảnh hưởng đến những thái độ của Nga và việc gây ảnh hưởng đến những tính toán của Nga. Sự trợ giúp hào phóng về kinh tế và cố vấn về kỹ thuật là điều cần thiết để giảm bớt những nỗi đau của quá trình chuyển đổi, và Nga nên được chào đón trong các tổ chức vốn tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác kinh tế, văn hóa, và chính trị –chẳng hạn như Hội nghị An ninh Âu châu. Nhưng việc cải cách của Nga sẽ bị cản trở, không được giúp đỡ, bởi việc nhắm mắt làm ngơ đối với sự tái xuất hiện của những lời tuyến bố thiếu hậu thuẩn về mặt lịch sử của đế chế Nga. Sự độc lập của một nền cộng hòa mới tái lập, cuối cùng được nhìn nhận bởi Liên Hiệp Quốc, ắt hẳn không bị ngấm ngầm triệt hạ bởi sự mặc nhận trong những động thái quân sự của Nga trên vùng đất mình.
Chính sách của Mỹ đối với Nga sẽ được ăn khớp với những lợi ích lâu dài, không phải với những dao động bất thường của chính trị bên trong nước Nga. Nếu chính sách đối ngoại của Mỹ xem vấn đề chính trị bên trong nước Nga là ưu tiên hàng đầu của nó, nó sẽ trở thành nạn nhân của các lực lượng trên cơ bản là ngoài sự kiểm soát của nó và sẽ mất tất cả các tiêu chuẩn cho sự xét đoán. Có phải chăng chính sách đối ngoại nên được hiệu chỉnh theo hướng mỗi rung động của một tiến trình cách mạng chủ yếu ? Có phải là Mỹ không tách rời khỏi Nga bất cứ khi nào một sự thay đổi nào đó trong nước xuất hiện mà nó không chấp thuận ? Có phải chăng Hoa Kỳ có thể đủ sức cô lập Nga và Trung Quốc cùng một lúc và làm sống lại bằng cái tên trong những chọn lựa ưu thích trong nước của nó là liên minh Trung–Xô ? Một chính sách ít xâm nhập hơn của Nga ở giai đoạn nầy sẽ cho phép một chiều hướng lâu dài, bền vững hơn sau nầy.
Những người chủ trương về điều mà tôi đã xác định trong chương 28 như là một trường phái “tâm thần” của chính sách đối ngoại có khuynh hướng bác bỏ những lập luận như là điều “bi quan.” Họ nói rằng, sau cùng, Đức và Nhật Bản đã thay đổi đặc tính của chúng, tại sao Nga Sô không thể ? Nhưng điều đó cũng đúng là một nước Đức dân chủ đã thay đổi theo chiều hướng ngược lại trong những năm 1950s, và những người vốn tin vào những ý định của nó, đột nhiên tìm thấy chính mình mặt đối mặt với những khả năng của nó.
Một chính khách luôn luôn có thể thoát khỏi tình huống khó xử của mình bằng cách tạo ra giả thuyết thuận lợi nhất về tương lai, một trong những thử nghiệm của ông ta là khả năng của mình bảo vệ chống lại những sự việc bất ngờ thiếu thuận lợi và thậm chí không lường trước được. Ban lãnh đạo mới của Nga có quyền hiểu về quá trình thống khổ của việc cố gắng vượt qua hai thế hệ của sự cai trị tồi tàn của cộng sản. Không được phép trao tay khu vực có ảnh hưởng mà những Nga hoàng và những đại diện giám mục đã từng thèm muốn khắp tất cả những vùng biên giới rộng lớn của Nga trong 500 năm. Nếu Nga muốn trở thành một đối tác nghiêm túc trong việc xây dựng một trật tự thế giới mới, nó phải sẵn sàng cho các nguyên tắc ổn định cũng như những lợi ích của nó.
Chính sách của Mỹ vốn đã đến gần định nghĩa được chấp nhận chung chung nhất về lợi ích sống còn, đã được hướng tới các đồng minh của nó trong khu vực Đại Tây Dương.

p819

Mặc dù Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương thường được chứng minh là đúng theo những phần của chủ thuyết Wilson như là một công cụ an ninh tập thể và không phải như là một liên minh, nó thật ra tượng trưng cho một tổ chức mà qua đó hầu hết gần như hài hòa với những mục tiêu đạo đức và địa hình chính trị của Mỹ (xem chương 16). Vì mục đích của nó là nhằm ngăn chận sự thống trị của Liên Xô ở châu Âu, nó phục vụ mục đích về mặt địa hình chính trị qua việc giữ những trung tâm quyền lực của châu Âu và châu Á khỏi sụp đổ dưới sự cai trị của một quốc gia thù nghịch, bất cứ sự biện minh gì được đưa ra trên danh nghĩa của nó.
Những kiến trúc sư của Liên minh Đại Tây Dương đã sẽ cảm thấy hoài nghi nếu họ được cho biết rằng chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh sẽ nêu lên những nghi ngờ về tương lai của sự sáng tạo của họ. Họ mặc nhiên thừa nhận phần thưởng chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh là một quan hệ đối tác lâu dài của Liên minh Đại Tây Dương. Trong danh nghĩa của mục đích đó, một số trong những trận chiến chính trị quyết định của Chiến tranh Lạnh buộc phải chiến đấu và chiến thắng. Trong tiến trình nầy, Mỹ bị buộc vào châu Âu bởi những tổ chức tham vấn thường xuyên và một hệ thống chỉ huy quân sự kết hợp –một cấu trúc độc đáo của một phạm trù và khoảng thời gian trong lịch sử liên minh.
Cái gì đó cuối cùng được gọi là Cộng đồng Đại Tây Dương –một thuật ngữ hoài cổ rất ít thịnh hành kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh– đã và đang đánh dấu thời điểm kể từ sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản. Việc hạ thấp mối quan hệ với châu Âu đã trở thành quá ư hợp thời. Sự nhấn mạnh vào việc mở rộng dân chủ ấy thế mà, Mỹ bây giờ có vẻ đang đưa ra ít sự quan tâm đến xã hội vốn có những tổ chức tương tự và với điều mà nó chia sẻ những thái độ chung về nhân quyền và các giá trị cơ bản khác hơn so với những khu vực khác trên thế giới. Những người sáng lập các mối ràng buộc vùng Đại Tây Dương –ông Truman, ông Acheson, ông Marshall, và ông Eisenhower– chia sẻ hầu hết sự bảo tồn của người Mỹ về phong cách ngoại giao Âu châu. Nhưng họ hiểu rằng, không có những mối ràng buộc vùng Đại Tây Dương của nó, Mỹ sẽ tìm thấy chính mình trong một thế giới của các quốc gia mà –ngoại trừ ở vùng Tây bán cầu– nó có vài mối liên kết về mặt đạo đức hoặc những truyền thống thông thường. Trong những trường hợp nầy, Mỹ sẽ bắt buộc tiến hành một kiểu Chính trị Thực dụng thuần túy, mà qua đó về cơ bản thì không thích hợp với với truyền thống Mỹ.
Một phần lý do cho sự suy giảm của cái gì đó có lần đã là một chính sách quan trọng nhất, đó là NATO(03) đã dần dần mặc nhận như là một phần của phong cảnh vốn không cần chăm sóc nhiều hơn nữa. Có lẽ quan trọng hơn là, thế hệ của các nhà lãnh đạo Mỹ vốn đã đạt đến sự nổi bật trong một thập kỷ rưỡi cuối đã được rút ra chủ yếu từ vùng phía Nam và phía Tây, nơi có những ràng buộc ít hơn về tình cảm và riêng tư với châu Âu so với trong số những thiết lập quan hệ trong vùng Đông Bắc cũ. Hơn nữa, những đảng viên thuộc phe tự do của Mỹ –những người theo tiêu chuẩn của chủ thuyết Wilson– đã thường cảm thấy bị bỏ rơi bởi các đồng minh dân chủ vốn thực hành một chính sách vì lợi ích quốc gia hơn là vì an ninh tập thể và việc dựa vào luật pháp quốc tế; họ dẫn chứng Bosnia và Trung Đông như là những thí dụ về sự thất bại thỏa thuận mặc những giá trị chung.

p820

Đồng thời, phe biệt lập thuộc chủ nghĩa bảo thủ Mỹ –một hình thức khác của chủ nghĩa biệt lệ– đã từng bị cám dỗ quay lưng lại với điều gì mà nó khinh thị như là thuyết tương đối xảo quyệt và sự ích kỷ của châu Âu.

(Bosnia là tên chính thức bao gồm hai vùng Bosnia và Herzegovina)

Những bất đồng với châu Âu có đặc tính gây khó chịu của những cuộc cãi vã trong gia đình. Tuy thế, trên gần như mỗi vấn đề quan trọng, từng có sự hợp tác nhiều hơn từ châu Âu hơn là từ bất kỳ khu vực khác. Về mặt công bình, điều ắt hẳn được nhắc lại là, ở Bosnia, những binh lính Pháp và Anh đang ở trên vùng đất, và những binh lính Mỹ thì không, mặc dù những lời lẽ công chúng đã tạo ra ấn tượng ngược lại. Và, trong Chiến tranh vùng Vịnh, những đạo quân nhỏ quan trọng nhất không phải là người Mỹ, một lần nữa, là người Anh và Pháp. Hai lần trong một thế hệ, các giá trị và những lợi ích được chia sẻ mang những binh lính Mỹ đến châu Âu. Trong thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh, châu Âu có thể không có khả năng tự tập hợp chính mình theo chính sách mới cho vùng Đại Tây Dương, nhưng Mỹ còn nợ điều đó với chính mình vì không từ bỏ các chính sách của ba thế hệ trong một giờ chiến thắng. Nhiệm vụ trước Liên minh là nhằm thích ứng với hai tổ chức cơ bản vốn hình thành mối quan hệ vùng Đại Tây Dương, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và Liên minh Âu châu (trước đây là Cộng đồng Kinh tế Âu châu), đối với những thực tế của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh.
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương vẫn còn là sự liên kết chính về mặt cơ quan giữa Mỹ và châu Âu. Khi được NATO được thành lập, những binh lính Sô-Viết đứng tại dòng sông Elbe trong một nước Đức bị phân chia. Nói chung, người ta tin rằng khả năng tràn ngập Tây Âu với những lực lượng thông thường của nó, sự thành lập về mặt quân sự của Liên Xô chẳng bao lâu cũng sẽ đòi hỏi một xưởng vũ khí hạt nhân tăng trưởng nhanh chóng. Trong suốt Chiến tranh Lạnh, Tây Âu phụ thuộc vào Hoa Kỳ cho sự an ninh của nó, và cơ quan NATO sau Chiến tranh Lạnh vẫn phản ảnh tình trạng nầy của những vấn đề. Hoa Kỳ kiểm soát quyền chỉ huy được kết hợp chung vốn được lãnh đạo bởi một tướng lãnh Mỹ, và nó đã chống lại những cố gắng của Pháp mang lại một bản sắc Âu châu riêng biệt cho việc bảo vệ.

(Dòng sông Elbe ở phần Đông Đức)

Phong trào hội nhập Âu châu có nguồn gốc của nó trong hai dự kiến đề ra: đó là, trừ khi châu Âu học hỏi nói lên cùng một lời, nó có thể dần dần trượt vào tình trạng không thích hợp, và đó là một nước Đức bị phân chia không được đặt vào trong một vị trí nơi mà nó sẽ bị cám dỗ trôi nổi giữa hai khối và khích hai bên trong Chiến tranh Lạnh kình chống với nhau. Trong lúc viết cuốn sách nầy, Liên minh Âu châu, ban đầu được hình thành gồm sáu quốc gia, đã tăng trưởng lên mười hai và đang trong quá trình mở rộng để bao gồm Scandinavia, Áo (Austria), và cuối cùng là một số những vệ tinh của Liên Xô trước đây.
Những cơ sở mà cả hai những tổ chức nầy được thành lập, đã từng bị chấn động bởi sự sụp đổ của Liên bang Sô-Viết và việc thống nhất của Đức. Quân đội Liên Xô không còn tồn tại, và quân đội Nga đứng phòng thủ cách hàng trăm cây số từ phía đông.

p821

Trong tương lai trước mắt, sự bất ổn bên trong nước Nga làm cho một cuộc tấn công vào Tây Âu là điều không thể xảy ra. Đồng thời, những khuynh hướng của Nga để thiết lập lại đế chế trước đây đã làm thức tỉnh lại những nỗi lo ngại trong lịch sử về chủ nghĩa bành trướng của Nga, đặc biệt là trong các quốc gia vệ tinh trước đây của Đông Âu. Không có một nhà lãnh đạo nào trong số các nước láng giềng gần gũi của Nga chia sẻ niềm tin của Mỹ trong sự chuyển đổi của Nga như là một yếu tố quan trọng đối với vấn đề an ninh của đất nước mình. Tất cả đều thích chọn Tổng thống Boris Yeltsin hơn những người đối lập của ông ta, nhưng chỉ như là một việc giảm thiểu đi hai mối tiềm năng đe dọa, không phải như là một nhân vật vốn là người có thể xua tan sự bất an trong lịch sử của họ.
Sự xuất hiện của một nước Đức được thống nhất chồng chất thêm những nỗi lo sợ nầy. Nhận thức là hai gã khổng lồ Lục địa có lịch sử đã từng hoặc là khắc lên những nước lân cận hoặc là từng chiến đấu những trận đánh trên lãnh thổ của họ, những quốc gia nằm giữa họ khiếp sợ khoảng chân không an ninh đang trỗi lên; vì vậy có sự mong muốn mãnh liệt của họ cho sự bảo vệ của Mỹ –như được bày tỏ trong vai trò thành viên của NATO.
Nếu NATO cần thích ứng với sự sụp đổ của quyền lực Liên Xô, Liên minh Âu châu phải đối mặt với một thực tế mới của một nước Đức được thống nhất, mà qua đó đe dọa việc mặc cả ngấm ngầm vốn đã từng ở ngay tâm điểm hội nhập Âu châu: sự chấp nhận của Cộng hòa Liên bang về vai trò lãnh đạo chính trị của Pháp trong Cộng đồng Âu châu để đổi lấy một tiếng nói có ưu thế hơn về những vấn đề kinh tế. Liên bang Cộng hòa như thế đã được gắn liền với phương Tây qua vai trò lãnh đạo của Mỹ trên các vấn đề chiến lược trong phạm vi NATO, và vai trò lãnh đạo của Pháp trên các vấn đề chính trị trong phạm vi Liên minh Âu châu.
Trong những năm tới, tất cả các mối quan hệ truyền thống của vùng Đại Tây Dương sẽ thay đổi. Châu Âu sẽ không cảm thấy việc cần đến sự bảo vệ của Mỹ trước đó và sẽ theo đuổi tư lợi về mặt kinh tế của nó nhiều tích cực hơn; Mỹ sẽ không sẵn sàng hy sinh phần nhiều cho vấn đề an ninh Âu châu và sẽ bị cám dỗ bởi chủ thuyết biệt lập trong những vỏ bọc khác nhau; trong quá trình thích đáng, Đức sẽ nhấn mạnh vào ảnh hưởng chính trị mà sức mạnh quân sự và kinh tế của nó cho phép và sẽ không quá phụ thuộc theo tình cảm vào sự hỗ trợ về mặt quân sự của Mỹ và chính trị của Pháp.
Những xu hướng nầy sẽ không hoàn toàn rõ ràng, miễn là Helmut Kohl, người thừa kế theo truyền thống Adenauer( (xem chương 20), đang nắm quyền. Tuy thế, ông ta tiêu biểu là người cuối cùng của kiểu nhà lãnh đạo đó. Thế hệ đang nổi lên không có một hồi ức cá nhân nào về các cuộc chiến tranh hoặc về vai trò của Mỹ trong việc phục hồi một nước Đức thời hậu chiến bị tàn phá trước đó. Nó không có một lý do tình cảm nào để làm theo những cơ quan cao cấp quốc gia hoặc đặt mình dưới quan điểm của nó hoặc là đối với Mỹ hay Pháp.

(Konrad Hermann Joseph Adenauer, vị Thủ tướng Tây Đức
đã đưa đất nước mình ra khỏi sự phá sản sau Thế Chiến thứ II)

Thành tựu to lớn của thế hệ sau chiến tranh của các nhà lãnh đạo Mỹ và Âu châu là sự nhìn nhận của họ rằng, trừ khi Mỹ bị lôi cuốn vào châu Âu như là một phần quan trọng, nó sẽ có nghĩa vụ tự mình tham gia sau đó dưới những hoàn cảnh rất ít thuận lợi hơn cho cả hai phía của vùng Đại Tây Dương. Điều đó thậm chí còn đúng hơn ngày hôm nay.

p822

Đức đã trở nên quá mạnh đến nổi những tổ chức Âu châu đang tồn tại không thể bằng chính mình đánh vào sự cân bằng giữa Đức và các đối tác Âu châu của nó. Cũng không phải là châu Âu có thể, ngay cả với Đức, tự quản lý hoặc là sự hồi sinh hoặc là sự tan rã của Nga, hai kết quả gây đe dọa nhất của các biến động thời hậu Sô-Viết.
Chính là trong tình trạng không có lợi ích nào của đất nước mà Đức và Nga nên gắn bó với nhau như hoặc là một đối tác chính hoặc là kẻ thù chính. Nếu họ trở nên quá gần, họ nêu lên những nỗi sợ hãi về chế độ quản lý chung; nếu họ cãi nhau, họ lôi cuốn châu Âu vào trong những cuộc khủng hoảng leo thang. Mỹ và châu Âu có một lợi ích chung trong việc tránh né những chính sách thả lỏng cấp quốc gia của Đức và Nga cạnh tranh trên vấn đề trung tâm Lục địa. Nếu không có Mỹ, Đại quốc Anh và Pháp không thể duy trì sự cân bằng chính trị ở Tây Âu; Đức sẽ bị cám dỗ bởi chủ nghĩa dân tộc; Nga sẽ thiếu đi một nước đối thoại về mặt toàn cầu. Và không có châu Âu, Mỹ có thể biến thành, theo mặt tâm lý cũng như địa lý và địa hình chính trị, một hòn đảo ngoài khơi bờ biển của lục địa Á–Âu.
Cái trật tự thời hậu Chiến tranh Lạnh đối mặt Liên minh Bắc Đại Tây Dương với ba phần nan đề; những quan hệ nội bộ bên trong cấu trúc liên minh theo truyền thống; những quan hệ của các quốc gia thuộc vùng Đại Tây Dương đối với những tiểu quốc vệ tinh trước đây của Liên bang Sô-Viết ở Đông Âu; và, cuối cùng là, mối quan hệ của các những tiểu thuộc quốc của Liên bang Sô-Viết, đặc biệt là Liên bang Nga, đối với các quốc gia thuộc vùng Bắc Đại Tây Dương và Đông Âu.
Việc điều chỉnh các mối quan hệ nội bộ trong Liên minh Bắc Đại Tây Dương đã từng bị chi phối bởi cuộc chiến gay go qua lại lâu năm giữa các quan điểm của Mỹ và Pháp về các mối quan hệ Đại Tây Dương. Mỹ đã khống chế NATO dưới ngọn cờ của sự kết hợp. Pháp, ca ngợi nền độc lập của châu Âu, đã hình thành Liên minh Âu châu. Kết quả của sự bất đồng của họ đó là vai trò của Mỹ quá chiếm ưu thế trong lãnh vực quân sự nhằm thúc đẩy bản sắc chính trị Âu châu, trong khi vai trò của Pháp thì quá khăng khăng về quyền tự chủ chính trị Âu châu nhằm thúc đẩy sự gắn kết của NATO.
Xét về mặt tri thức, sự tranh chấp lặp lại cuộc xung đột giữa các khái niệm của ông Richelieu và những ý tưởng của ông Wilson –giữa chính sách đối ngoại như là việc cân bằng những lợi ích và thủ thuật ngoại giao như một khẳng định về sự hài hòa ngấm ngầm. Đối với Mỹ, quyền chỉ huy được kết hợp của NATO đã từng là cách biểu hiện của sự đoàn kết đồng minh; đối với Pháp, nó đã từng là một lá cờ đỏ. Những nhà lãnh đạo Mỹ có sự hiểu biết khó khăn về lý do tại sao một quốc gia cứ sẽ khăng khăng đòi quyền hành động độc lập nếu nó không muốn giữ lại sự lựa chọn rời khỏi đồng minh của nó trong lúc hoạn nạn. Pháp đã nhìn thấy trạng thái lo lắng của Mỹ về vai trò quân sự độc lập của châu Âu, một nỗ lực khống chế được giấu kín.
Mỗi nước đối tác, thật ra, đã từng theo đuổi một khái niệm về những quan hệ quốc tế được rút ra từ lịch sử của nó. Pháp là nước thừa kế phong cách Âu châu về thủ thuật ngoại giao, mà quả thật là nó có nguồn gốc trên 500 năm trước đây.

p823

Trong khi đó, Đại quốc Anh đã phải từ bỏ vai trò của nó về việc canh giữ cán cân quyền lực, Pháp, vì điều tốt hơn hoặc tồi tệ hơn, tiếp tục đứng ra bênh vực cho những chính sách về lý do nhà nước và cho sự tính toán chính xác về những lợi ích hơn là việc theo đuổi sự hài hòa trừu tượng. Chỉ giống như một cách kiên định, nếu trong một thời gian ngắn, Mỹ đã thực hành chủ thuyết Wilson. Tin tưởng về sự tồn tại của một sự hài hòa ngấm ngầm, Arnerica đã từng khẳng định rằng, kể từ khi những mục tiêu Âu châu và Mỹ giống hệt nhau, quyền tự chủ của Âu châu thì hoặc là không cần thiết hoặc nguy hiểm.
Hai thách thức to lớn của châu Âu về giai đoạn đương thời –sự kết hợp của một nước Đức thống nhất vào trong phương Tây và mối quan hệ của Liên minh Đại Tây Dương đối với một nước Nga mới– không thể được giải quyết bởi sự ứng dụng theo nghĩa đen về nghệ thuật quản trị nhà nước của một trong hai người là ông Richelieu hoặc ông Wilson. Cách giải quyết đầu tiên của ông Richelieu là nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc của những quốc gia Âu châu cá biệt và dẫn đến một châu Âu bị phân mảnh. Chủ thuyết Wilson không bị làm loãng sẽ làm suy yếu cảm giác bản sắc Âu châu. Nỗ lực để xây dựng các tổ chức Âu châu được dựa trên sự đối lập với Hoa Kỳ cuối củng sẽ làm đắm chìm cả sự thống nhất Âu châu và lẫn sự gắn kết của vùng Đại Tây Dương. Trên mặt khác, Hoa Kỳ không cần lo sợ bản sắc Âu châu được nâng cao trong phạm vi NATO bởi vì đó là điều khó khăn để tưởng tượng ra hành động quân sự Âu châu tự quyết trên bất kỳ quy mô nào và trong bất kỳ khu vực nào mà không có sự hỗ trợ về chính trị và hậu cần của Mỹ. Cuối cùng, điều đó không phải là quyền chỉ huy được kết hợp vốn tạo ra sự thống nhất ngoại trừ một cảm giác về những lợi ích được chia sẻ về mặt chính trị và an ninh.
Cuộc tranh cãi giữa Hoa Kỳ và Pháp, giữa những lý tưởng của ông Wilson và ông Richelieu, đã bị chiếm lấy bởi các sự kiện. Cả Liên minh Đại Tây Dương và lẫn Liên minh Âu châu là những khối xây dựng rất cần thiết của một trật tự thế giới mới và ổn định. NATO là sự bảo vệ tốt nhất chống lại việc tạo mối đe dọa về quân sự từ bất kỳ phía nào, Liên minh Âu châu là một thể chế cần thiết cho sự ổn định ở Trung Âu và Đông Âu. Cả hai tổ chức được cần đến để có sự quan hệ những vệ tinh và các tiểu thuộc quốc trước đó của Liên bang Sô-Viết với một trật tự quốc tế hòa bình.
Tương lai của Đông Âu và những tiểu thuộc quốc của Liên bang Sô-Viết không cùng chung một nan đề. Đông Âu bị chiếm đóng bởi Hồng quân. Điều đó đã tự nhận dạng, về mặt văn hóa và chính trị, với những truyền thống Tây Âu. Điều nầy rất đặc biệt là đúng đối với những quốc gia thuộc vùng đất cao như Ba Lan, Cộng hòa Czech, Hungary, và Slovakia. Nếu không có những ràng buộc với Tây Âu và các tổ chức thuộc vùng Đại Tây Dương, những nước nầy sẽ trở thành một vùng đất ngăn cách không thuộc về ai giữa Đức và Nga. Và để cho những sự gắn bó nầy có ý nghĩa, những quốc gia thuộc vùng đất cao sẽ phải thuộc về Liên minh Âu châu và lẫn Liên minh Đại Tây Dương. Để càng lúc có thể đứng vững được về mặt kinh tế và chính trị, họ cần Liên minh Âu châu, và, đối với vấn đề an ninh, họ nhìn vào Liên minh Đại Tây Dương.

p824

Sự thật là, con số thành viên trong một tổ chức ám chỉ con số thành viên trong một tổ chức khác. Vì hầu hết những thành viên của Liên minh Âu châu là những thành viên của NATO, và vì đó là điều không thể hiểu được rằng họ sẽ bỏ qua các cuộc tấn công vào một trong những thành viên của mình sau khi việc hội nhập Âu châu đã đạt đến một điểm nhất định, con số thành viên trong Liên minh Âu châu sẽ, bằng một cách nầy hay cách khác, dẫn đến một sự mở rộng bảo đảm của NATO ít nhất là trên thực tế.
Cho đến nay, vấn đề nầy đã từng được lãng tránh bởi vì con số thành viên thuộc Đông Âu trong cả hai tổ chức đã bị ngăn chận. Tuy nhiên, sự lập luận phía sau hai phần loại trừ nầy đã là khác biệt như điều mà giữa những truyền thống chính trị Âu châu và Mỹ. Châu Âu đã từng dựa trên sự quyết định của mình để mở rộng Liên minh Âu châu về phía đông theo Chính trị Thực dụng: nó đã từng chấp nhận nguyên tắc và đưa ra con số thành viên liên hiệp được còn đang chờ đợi việc cải cách nền kinh tế Đông Âu (và, trong quá trình, nhằm che chở nền kinh tế của Tây Âu khỏi sự cạnh tranh trong một thời gian dài hơn). Điều nầy sẽ tạo cho con số thành viên chủ yếu một vấn đề về mặt kỹ thuật được giải quyết theo sự qua đi của thời gian.
Sự phản đối của Mỹ đối với con số thành viên của NATO dành cho những quốc gia thuộc vùng đất cao là một điều trong nguyên tắc. Quay trở lại sự phản đối những liên minh trước đây của ông Wilson trong lịch sử –bởi vì chúng được dựa trên sự mong đợi của cuộc đối đầu– Tổng thống Clinton đã sử dụng dịp hội nghị thượng đỉnh NATO vào tháng Giêng năm 1994 để đưa ra một tầm nhìn khác hơn. Giải thích lý do tại sao Hoa Kỳ không ủng hộ việc cho phép Ba Lan, Hungary, Cộng hòa Czech, và Slovakia vào trong NATO, ông ta lập luận rằng Liên minh Đại Tây Dương không thể đủ điều kiện để “vạch một đường mới giữa Đông và Tây vốn có thể tạo ra lời tiên đoán tự trọn vẹn về cuộc đối đầu trong tương lai… Tôi nói với tất cả những người ở châu Âu và Hoa Kỳ vốn là những người sẽ chỉ đơn giản là muốn chúng ta vạch một đường mới ở châu Âu xa hơn về hướng đông mà qua đó chúng ta không nên ngăn chận điều có thể xảy ra của một tương lai tốt nhất có thể có cho châu Âu, vốn là một nền dân chủ ở khắp mọi nơi, một nền kinh tế thị trường ở khắp mọi nơi, người dân hợp tác ở khắp mọi nơi cho vấn đề an ninh tương trợ lẫn nhau.”
Trên tinh thần đó, Tổng thống Clinton đưa ra một kế hoạch có hệ thống mà ông ta gọi là Quan hệ Đối tác vì Hòa bình. Nó mời gọi tất cả những tiểu thuộc quốc của Liên bang Sô-Viết và tất cả những vệ tinh Đông Âu trước đây của Moscow gia nhập vào cái gì chồng chất lên một hệ thống mơ hồ về vấn đề an ninh chung. Sự pha trộn của chủ thuyết Wilson và lời phê bình của ông Wallace về chính sách ngăn chận được mô tả trong chương 16, nó áp dụng những nguyên tắc về an ninh chung; việc đặt ngang hàng những nạn nhân của chủ nghĩa đế quốc Sô-Viết và Nga với những thủ phạm của nó, nó đưa ra cùng một danh nghĩa cho những nước cộng hòa Trung Á ở những vùng biên giới của Afghanistan như nó làm đối với Ba Lan, một nạn nhân trong số bốn phân vùng mà Nga đã từng tham gia trong đó. Kế hoạch Quan hệ Đối tác vì Hòa bình không phải là trạm đường vào trong NATO, như thường được xác nhận một cách sai lạc, nhưng là một cách khác đến với nó, chỉ giống như Hiệp ước Locarno (xem chương 11) là một cách khác đến với Liên minh Anh mà Pháp tìm kiếm trong thập niên 1920s.

p825

Tuy thế, Hiệp ước Locarno cho thấy rằng không có một vùng đất trung gian giữa một liên minh được dựa trên mục đích chung và một tổ chức đa phương vốn được dựa vào không phải là trên một nhận thức chung về mối đe dọa, nhưng trên sự làm tròn những điều kiện được ghi rõ về việc cai trị trong nước. Kế hoạch Quan hệ Đối tác vì Hòa bình có nguy cơ tạo ra hai nhóm của những vùng biên giới ở châu Âu; những vùng biên giới vốn được bảo vệ bởi những bảo đảm an ninh, và những vùng khác nơi mà những sự bảo đảm như thế đã bị từ chối –một tình trạng về những vấn đề buộc phải chứng minh là việc cám dỗ đối với những kẻ xâm lược trong tương lai và việc làm mất tinh thần đối với các nạn nhân tiềm năng. Sự quan tâm phải được thực hiện vì sợ rằng, nhân danh của việc tránh né cuộc đối đầu, một vùng đất không thuộc về ai theo chiến lược và khái niệm được tạo ra ở Đông Âu và Trung Âu –nguồn gốc của rất nhiều cuộc xung đột ở châu Âu.
Nó sẽ chứng minh là điều không thể giải quyết những nan đề song sinh về sự an ninh đối với Đông Âu và về sự kết hợp Nga vào trong cộng đồng quốc tế như là một phần của cùng một chương trình. Nếu kế hoạch Quan hệ Đối tác vì Hòa bình được tạo ra như là một khía cạnh của NATO, nó cũng có thể làm suy yếu ngầm Liên minh Đại Tây Dương bằng cách chuyển hướng nó vào trong các hoạt động không liên quan đến bất cứ nhiệm vụ an ninh thực tế nào, phóng đại cảm giác bất an của Đông Âu, và tuy thế, là điều đủ mơ hồ, không xoa dịu được Nga. Quả thật, Quan hệ Đối tác vì Hòa bình có nguy cơ bị xem như là không thích hợp, nếu không phải là nguy hiểm, bởi các nạn nhân tiềm năng của cuộc xâm lược trong khi ở châu Á được xem như là một câu lạc bộ chủng tộc được điều hành chủ yếu chống lại Trung Quốc và Nhật Bản.
Đồng thời, việc tạo quan hệ Nga với các quốc gia vùng Đại Tây Dương là điều quan trọng. Có một nơi dành cho một tổ chức vốn tự gọi là Quan hệ Đối tác vì Hòa bình, quy định những thoả thuận với những nhiệm vụ mà tất cả các thành viên của nó hiểu trong cùng một cách trên thực chất. Những công việc chung như thế tồn tại trong lãnh vực phát triển về mặt kinh tế, giáo dục, và văn hóa. Hội nghị An ninh và Hợp tác châu Âu (CSCE = Conference for Security and Cooperation in Europe) có thể được mở rộng những chức năng cho các mục đích nầy, và được đổi tên là Quan hệ Đối tác vì Hòa bình.
Trong một trù hoạch như thế, Liên minh Đại Tây Dương sẽ thiết lập một khuôn khổ chính trị chung và cung cấp sự an ninh toàn diện; Liên minh Âu châu sẽ thúc đẩy con số thành viên đối với những nước vệ tinh Đông Âu trước đây; và Hội đồng Hợp tác Bắc Đại Tây Dương (NACC = North Atlantic Cooperation Council) và Hội nghị An ninh và Hợp tác châu Âu, có lẽ được đổi tên như là Quan hệ Đối tác vì Hòa bình, sẽ tạo liên hệ các nước cộng hòa thuộc Liên bang Sô-Viết trước đây –và đặc biệt là Liên bang Nga– với cấu trúc Liên minh Đại Tây Dương. Một chiếc dù an ninh sẽ được mở rộng trên các nước dân chủ mới ở Đông Âu. Nếu Nga vẫn còn bên trong những vùng biên giới của nó, việc tập trung vào vấn đề an ninh sẽ chuyển đổi theo thời gian đối với Quan hệ Đối tác vì Hòa bình. Những dự án chính trị và kinh tế chung sẽ càng lúc khống chế mối quan hệ Đông–Tây.

p826

Tương lai của mối quan hệ Đại Tây Dương không nằm trong những mối quan hệ Đông–Tây, nhưng trong vai trò quyết định của nó trong việc giúp Mỹ đối phó với sự tiến triển có thể nhìn thấy trước của thế kỷ XXI. Trong lúc viết cuốn sách nầy, không thể nào biết lực lượng nào trong số những lực lượng có thể tưởng tượng đến đang dấy lên sẽ là chiếm ưu thế nhất hoặc đang đe dọa nhất, hoặc trong sự kết hợp gì đó; cho dù điều đó sẽ là Nga, Trung Quốc, hay Hồi giáo nền tảng. Nhưng khả năng của Mỹ để đối phó với bất kỳ những tiến triển nầy sẽ được tăng cường bởi sự hợp tác của các quốc gia thuộc vùng Bắc Đại Tây Dương. Trong cách thức nầy, cái gì đó thường được gọi là những vấn đề “bên ngoài khu vực” sẽ trở thành cốt lõi của mối quan hệ Bắc Đại Tây Dương, mà qua đó nên được tổ chức lại cho mục đích đó.
Có một sự dấy lên về mối quan tâm của Mỹ ở châu Á như được biểu tượng hóa bởi điều đưa ra cho một Cộng đồng Thái Bình Dương được tạo nên bởi ông Clinton tại một cuộc họp với những người đứng đầu chính phủ thuộc vùng Á châu vào năm 1995. Nhưng thuật ngữ “cộng đồng” áp dụng cho châu Á chỉ trong ý nghĩa hạn chế nhất, cho các mối quan hệ ở vùng Thái Bình Dương trên nền tảng khác biệt với những mối quan hệ trong khu vực Đại Tây Dương. Trong khi mà những quốc gia châu Âu được gôm nhóm trong những tổ chức chung, các quốc gia Châu Á xem chính mình như là phân biệt và cạnh tranh. Các mối quan hệ của các quốc gia chính yếu thuộc vùng Á châu đối với nhau mang lấy hầu hết những thuộc tính của hệ thống cân bằng sức mạnh của Âu châu thuộc thế kỷ XIX (i.e. 19). Bất kỳ sự gia tăng đáng kể nào trong sức mạnh của một trong số những quốc gia đó thì gần như chắc chắn là khơi lên một sự điều động bù trừ bởi những những nước khác.
Lá bài liều mạng là thái độ của Hoa Kỳ, vốn có khả năng –mặc dù không nhất thiết là điều triết lý– hoạt động trong phần lớn cùng một cách mà Đại quốc Anh đã làm trong việc duy trì sự cân bằng quyền lực Âu châu cho đến khi có hai cuộc chiến tranh thế giới của thế kỷ XX. Sự ổn định của khu vực châu Á –Thái Bình Dương, việc tạo nên nền tảng của sự thịnh vượng được khoe khoang của nó, không phải là một quy luật tự nhiên nhưng là kết quả của trạng thái quân bình mà qua đó sẽ cần đến sự chăm nom ngày càng cẩn thận và cân nhắc trong thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh.
Chủ thuyết Wilson có một số ít người theo ở châu Á. Không có sự giả vờ nào về vấn đề an ninh chung hoặc sự hợp tác đó nên được dựa trên những giá trị được chia sẻ trong nước, ngay cả trên phần của một số ít quốc gia dân chủ đang tồn tại. Tất cả sự nhấn mạnh là về trạng thái quân bình và lợi ích quốc gia. Những chi phí về mặt quân sự đang thực sự nhô cao trong tất cả các nước lớn ở châu Á. Trung Quốc đang trên con đường đến vị thế siêu cường. Với tốc độ tăng trưởng 8%, vốn kém hơn tốc độ mà nó đã từng duy trì trrên thập niên 1980s, Tổng Sản xuất Quốc gia của Trung Quốc sẽ tiến đến điều đó của Hoa Kỳ vào cuối thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI. Khá lâu trước khi mà, cái bóng chính trị và quân sự của Trung Quốc sẽ rơi trên châu Á và sẽ gây ảnh hưởng đến những tính toán của các cường quốc khác, tuy nhiên chính sách thực sự của Trung Quốc có thể chứng minh bị hạn chế. Những quốc gia khác thuộc châu Á có khả năng là đang tìm kiếm những đối trọng đối với một Trung Quốc ngày càng mạnh mẽ như họ thực sự đã làm đối với Nhật Bản.

p827

Mặc dù họ sẽ chối bỏ nó, những quốc gia thuộc vùng Đông Nam Á bao gồm cả một Việt Nam lo sợ từ trước đến nay trong nhóm của họ (ASEAN) phần lớn là nhằm mục đích cân bằng Trung Quốc và Nhật Bản. Và đó cũng là lý do tại sao ASEAN đang yêu cầu Hoa Kỳ ở lại dự phần trong khu vực của họ.
Vai trò của Nhật Bản chắc chắn sẽ được thích nghi với những hoàn cảnh thay đổi đó, mặc dù, theo phong cách quốc gia của họ, các nhà lãnh đạo Nhật sẽ thực hiện việc điều chỉnh bằng sự tích tụ những sắc thái dường như khó thể nhận thấy. Trong suốt cuộc Chiến tranh Lạnh, Nhật, từ bỏ sự tự lực của mình ngày trước, đắm mình trong sự bảo vệ của Hoa Kỳ. Một đối thủ kiên quyết cạnh tranh về mặt kinh tế, nó trả cho quyền tự do điều động trong lãnh vực kinh tế bằng đặt những chính sách đối ngoại và an ninh của nó bên dưới đối với những chính sách của Washington. Ngày nào Liên bang Sô-Viết có thể được cảm nhận như là mối đe dọa an ninh chính bởi cả hai quốc gia, đó là điều hữu lý khi xem những trị lợi ích quốc gia của Mỹ và Nhật như nhau.
Mô hình đó không có khả năng lả đang tiếp tục. Với Hàn Quốc và Trung Quốc đang có được sức mạnh quân sự, và với một phần ít suy yếu nhất của sức mạnh quân sự Liên Xô được đặt ở Siberia, những nhà lên kế hoạch lâu dài người Nhật sẽ không mặc nhận một cách mập mờ danh nghĩa tuyệt đối về những lợi ích của Mỹ và Nhật Bản. Khi mỗi chính quyền Mỹ sắp đến bắt đầu nhiệm kỳ của mình bằng cách tuyên bố sự đánh giá lại những chính sách đang có (hoặc ít nhất ngụ ý là chúng khó tránh khỏi thay đổi), và khi sự đối đầu trên các vấn đề kinh tế trở thành quy luật hơn là sự ngoại lệ, đó là điều khó khăn khi tranh luận rằng những lợi ích về chính sách đối ngoại của Mỹ và Nhật không bao giờ có thể đi lệch. Trong bất kỳ trường hợp nào, quan điểm của Nhật liên quan đến phần đất liền Á châu khác biệt đối với quan điểm của Mỹ bởi vì sự quan hệ gần gũi về mặt địa lý và kinh nghiệm lịch sử. Vì vậy, ngân sách quốc phòng của Nhật đã và đang bò lên cho đến khi nó đã trở thành chi phí lớn nhất thuộc hàng thứ ba trên thế giới và, đưa đến những nan đề nội bộ của Nga, có lẽ là ảnh hưởng nhất thuộc hàng thứ hai.
Khi, vào năm 1992, kế đó vị Thủ tướng Nhật Kiichi Miyazawa được hỏi về việc liệu Nhật sẽ chấp nhận khả năng hạt nhân của Bắc Triều Tiên, ông ta đã trả lời với sự thẳng thắn rất là không-phải-Nhật bằng một ngôn từ duy nhất “không.” Có phải chăng điều nầy có nghĩa là Nhật sẽ phát triển khả năng hạt nhân của riêng mình ? Hoặc là nó sẽ tìm cách triệt hạ khả năng của Bắc Triều Tiên không ? Một sự kiện thực tế duy nhất là những câu hỏi nầy có thể được đặt ra, cho thấy điều có thể có của việc thả lỏng của Nhật, đến một mức độ nào đó, khỏi sự an ninh của Mỹ và nơi thả neo chính sách đối ngoại.
Điều mà những phân tích thậm chí được làm rõ hơn sẽ là điều có thể liên quan đến những cường quốc chính khác, cho thấy tình trạng quân bình ở châu Á có thể trở thành sự chuyển đổi như thế nào và có lẽ thậm chí là bấp bênh. Đối với mức độ mà Hoa Kỳ cố gắng bảo tồn trạng thái quân bình của châu Á, nó không thể chờ đợi cho đến khi sự cân bằng đã thực sự lâm vào tình trạng nguy hiểm. Chính sách của nó phải được linh hoạt một cách thích hợp để có thể gây ảnh hưởng đến tất cả các diễn đàn Á châu hiện có.

p828

Đến một mức độ nào đó, điều nầy thực sự đang xảy ra. Vai trò phụ trợ trong ASEAN (cho Đông Nam Á) và sự tham gia chính yếu trong tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Á–Thái Bình Dương (APEC = Aisa-Pacific Economic Cooperation) đã từng được thiết lập.
Nhưng những giới hạn ảnh hưởng của Mỹ trên những tổ chức đa phương như thế cũng đã trở thành hiển nhiên. Điều đưa ra của ông Clinton cho một Cộng đồng Thái Bình Dương được thể chế hóa hơn theo mô hình Âu châu được nhận lấy bằng thái độ xa lánh lịch sự, phần lớn là do các quốc gia thuộc vùng châu Á không xem chính mình như là một cộng đồng. Họ không muốn một khuôn khổ thể chế vốn có thể cho những quốc gia Á châu có tiềm năng siêu cường –hoặc ngay cả Hoa Kỳ– một tiếng nói chính yếu trong các vấn đề của họ. Những quốc gia thuộc châu Á đang mở ra đối với những trao đổi của Mỹ về những ý tưởng; họ cũng tán đồng việc giữ cho Mỹ được dự phần một cách đầy đủ để cho, trong trường hợp khẩn cấp, nó có thể giúp ngăn ngừa những mối đe dọa đối với nền độc lập của họ. Nhưng họ quá nghi ngờ về các nước láng giềng mạnh mẽ và ở một mức độ nào đó đối với Hoa Kỳ, không thể ủng hộ những tổ chức chính thức, mở rộng khắp vùng Thái Bình Dương.
Khả năng của Mỹ định hướng các sự kiện vì thế sẽ, cuối cùng, phụ thuộc chủ yếu vào những quan hệ song phương với các nước lớn thuộc châu Á. Đây là lý do tại sao những chính sách của Mỹ hướng tới cả Nhật và lẫn Trung Quốc –trong lúc viết cuốn sách nầy, phần lớn bị vùi dập trong cuộc tranh cãi– chiếm lấy tầm vóc tối quan trọng như thế. Có một điều, vai trò của Mỹ là then chốt đối với việc giúp đỡ Nhật và Trung Quốc cùng tồn tại bất chấp những nghi ngờ của họ với nhau. Trong tương lai trước mắt, Nhật, phải đối mặt với một dân số già nua và một nền kinh tế trì trệ, có thể quyết định đẩy mạnh ưu thế về mặt kỹ thuật và chiến lược của mình trước khi Trung Quốc nổi lên như là một siêu cường và Nga phục hồi sức mạnh của nó. Sau đó, nó có thể có nguồn lực đối với một nước ngang tầm vĩ đại đó, là kỹ thuật hạt nhân.
Liên quan đến một trong hai việc bất ngờ, những quan hệ Nhật–Mỹ chặt chẽ sẽ là một đóng góp rất quan trọng cho sự điều độ của Nhật và là sự bảo đảm đáng kể đối với các quốc gia khác thuộc châu Á. Sức mạnh quân sự của Nhật được kết nối với Mỹ làm Trung Quốc lo lắng và các quốc gia khác thuộc châu Á kém hơn những khả năng quân sự thuần túy quốc gia của Nhật. Và Nhật sẽ quyết định rằng nó cần sức mạnh quân sự ít hơn miễn là mạng lưới an toàn của Mỹ tồn tại –thậm chí như thể đó là điều ít bao gồm hơn so với trước đây. Sự hiện diện thực tiển về mặt quân sự Mỹ ở vùng Đông Bắc Á (Nhật và Hàn Quốc) sẽ được cần đến. Trong sự vắng mặt của nó, sự cam kết của Mỹ đối với vai trò thường trực ở châu Á sẽ thiếu sự tin cậy, và Nhật và Trung Quốc càng lúc sẽ bị cám dỗ theo đuổi những chiều hướng hành động có tính cách quốc gia mà qua đó, cuối cùng, cũng có thể được điều hành chống lại với nhau và tất cả các tiểu quốc bị đệm ở giữa.
Việc làm sống lại và làm rõ những mối quan hệ Nhật–Mỹ trên cơ bản của những lợi ích song song về mặt địa hình chính trị sẽ phải đối mặt với những trở ngại lớn lao. Những bất đồng về kinh tế thì khá quen thuộc; những trở ngại về văn hóa có thể chứng minh thậm chí âm ỉ hơn. Những điều nầy là những điều hiển nhiên đau đớn nhất –và đôi khi làm điên tiết– trong những cách giải quyết khác biệt thuộc cấp quốc gia đối với việc ra quyết định.

p829

Mỹ ra quyết định trên cơ bản về địa vị; một người nào đó có thẩm quyền, thường là vị Tổng thống, thỉnh thoảng là Ngoại trưởng, chọn lựa chiều hướng ưa thích của mình từ những phần tùy chọn hiện có, nhiều hoặc ít hơn do bởi vị thế của mình. Nhật hoạt động bằng sự đồng thuận. Không một người duy nhất nào — không ngay cả vị Thủ tướng– có thẩm quyền đưa ra quyết định. Mọi người vốn phải thực hiện quyết định, tham dự vào việc hình thành sự đồng thuận, mà qua đó không được xem là hoàn tất cho đến khi tất cả đã đồng ý.
Tất cả điều nầy bảo đảm một cách thực tiển rằng, tại các cuộc họp giữa một Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Nhật, những sự khác biệt tồn tại riêng được chồng chất thêm bởi sự hiểu lầm. Khi vị Tổng thống Mỹ bày tỏ sự thỏa thuận, ông ta đang báo trước hành động; khi Thủ tướng Nhật tán thành, ông ta đang chuyển tải một thái độ vốn ám chỉ không quá nhiều rằng ông ta đồng ý với vị thế của Mỹ như là đó ông ta đã hiểu điều đó và sẽ trình nó lên nhóm đồng thuận của mình. Ông ta cho rằng điều rõ ràng là thẩm quyền của mình không mở rộng ra ngoài việc đó. Đối với những cuộc đàm phán về tương lai phát triển của châu Á, Mỹ đòi hỏi sự kiên nhẫn lớn hơn, và Nhật phải đặt mình vào vị thế để thảo luận một cách đầy đủ ý nghĩa về các chính sách dài hạn mà qua đó sự hợp tác trong tương lai chủ yếu phụ thuộc vào chúng.
Theo sự hiểu biết, sự vững chắc của những mối quan hệ Nhật–Mỹ sẽ là mặt trái của mối quan hệ Trung–Mỹ. Mặc dù có sự giống nhau đáng kể về văn hóa Trung Quốc, Nhật đã từng bị giằng xé giữa sự ngưỡng mộ và sợ hãi, giữa sự mong muốn tình hữu nghị và sự ham muốn chiếm ưu thế. Sự căng thẳng giữa Trung–Mỹ cám dỗ Nhật tách ra khỏi Hoa Kỳ trong một nỗ lực, nếu không phải là nhằm nâng cao ảnh hưởng của nó ở Trung Quốc, ít nhất là không hạ thấp nó bởi việc theo sau sự dẫn dắt của Mỹ quá gần gũi. Đồng thời, một cách giải quyết mang tính chất quốc gia thuần túy của Nhật có nguy cơ được giải thích ở Beijing như là một biểu hiện của sự thèm muốn cho sự thống trị của Nhật. Những quan hệ tốt đẹp của Mỹ với Trung Quốc vì thế là điều kiện tiên quyết cho những quan hệ tốt đẹp, lâu dài với Nhật, cũng như cho những quan hệ tốt đẹp Trung–Nhật. Chính là một tam giác mà mỗi bên trong các nhóm có thể từ bỏ chỉ là nguy cơ rất lớn. Điều đó cũng là một sự mơ hồ mà Hoa Kỳ không hoàn toàn cảm thấy thoải mái, vì nó đi ngược lại khuynh hướng của Mỹ dán nhãn các quốc gia một cách gọn gàng như hoặc là bạn hay thù.
Trong số tất cả những quyền lực to lớn, và có tiềm năng to lớn, Trung Quốc có uy thế đang lên nhất. Hoa Kỳ thực sự là một quốc gia mạnh mẽ nhất, châu Âu phải ra sức truy rèn sự đoàn kết lớn hơn, Nga là một gả khổng lồ loạng choạng, và Nhật thì giàu có nhưng, cho đến nay, nhút nhát. Trung Quốc, tuy nhiên, với những tốc độ tăng trưởng về kinh tế đạt đến gần 10% hàng năm, một ý thức mạnh mẽ về sự gắn kết quốc gia, và một quân đội từng nở nang cơ bắp hơn, sẽ cho thấy sự gia tăng tương đối to lớn nhất có tầm cỡ trong số các cường quốc chính. Vào năm 1943, ông Roosevelt đã hình dung ra Trung Quốc như là một trong “Bốn Cảnh sát,” nhưng Trung Quốc chẳng bao lâu từ đó về sau chìm vào trong tình trạng hỗn loạn của cuộc nội chiến.

p830

Một Trung Quốc theo chủ thuyết Mao vốn nổi lên, có ý định trở thành một sức mạnh vĩ đại độc lập, nhưng đã thất vọng bởi những miếng da che mắt tư tưởng hệ của nó. Sau khi đã đặt những biến động về tư tưởng hệ ở phía sau họ, các nhà lãnh đạo cải cách của Trung Quốc đã theo đuổi lợi ích quốc gia của Trung Quốc với sự kiên trì khéo léo. Một chính sách đối đầu với Trung Quốc tạo nguy cơ cho sự cô lập của Mỹ ở châu Á. Không một quốc gia nào ở châu Á sẽ muốn –hoặc có thể có đủ khả năng trở thành — nước hỗ trợ của Mỹ trong bất kỳ cuộc xung đột chính trị nào với Trung Quốc mà nó xem là kết quả của một chính sách được hướng dẫn sai lầm của Hoa Kỳ. Trong những hoàn cảnh như thế, đa phần các quốc gia thuộc châu Á sẽ tách ra khỏi Mỹ đến một mức độ lớn hơn hoặc kém hơn, tuy nhiên phần lớn các quốc gia đó có thể từ bên trong không thích làm như vậy. Trong gần như mỗi nước nhìn vào Mỹ để tạo ra một khuôn khổ ổn định lâu dài vốn sẽ kết hợp cả Trung Quốc và Nhật –một sự lựa chọn vốn bị tước bỏ trước mặt cả hai quốc gia bởi sự đối đầu Trung–Mỹ.
Như là một quốc gia với lịch sử dài nhất về chính sách đối ngoại độc lập và truyền thống đặt cơ bản chính sách đối ngoại của mình vào lợi ích quốc gia, Trung Quốc chào đón sự tham gia của Mỹ ở Châu Á như là một đối trọng đối với các nước láng giềng đáng lo ngại, Nhật và Nga, và –ở một mức độ thấp hơn– là Ấn Độ. Tuy thế, chính sách của Mỹ vốn tìm kiếm đồng thời đó tình hữu nghị với Beijing cũng như với các nước vốn được cảm nhận như là những mối đe dọa tiềm năng đối với sự an ninh của Trung Quốc tại Beijing –mà qua đó là lập trường đúng đắn của Hoa Kỳ– đòi hỏi một cuộc đối thoại cẩn thận và thường xuyên giữa Washington và Beijing.
Trong bốn năm sau những sự kiện của Thiên An Môn vào năm 1989, cuộc đối thoại nầy bị ngăm cấm bởi sự từ chối của Mỹ tham gia vào những cuộc tiếp xúc cao cấp –một biện pháp không bao giờ được sử dụng chống lại Liên bang Sô-Viết thậm chí tại đỉnh cao của Chiến tranh Lạnh. Nhân quyền vì thế di chuyển đến tâm điểm của mối quan hệ Trung–Mỹ.
Chính quyền Clinton vãn hồi một cách khôn ngoan những tiếp xúc cao cấp; tương lai của những mối quan hệ Trung–Mỹ từ nay trở về sau trên cơ bản phụ thuộc vào bản chất của những trao đổi nầy. Rõ ràng là, Hoa Kỳ không thể từ bỏ sự quan tâm theo truyền thống của mình đối với nhân quyền và các giá trị dân chủ. Vấn đề không phải là sự biện minh của Mỹ về những giá trị của nó nhưng là mức độ mà tất cả các khía cạnh của những quan hệ Trung–Mỹ được tạo nên có điều kiện trên chúng. Trung Quốc tìm thấy sự hạ mình hàm nghĩa là những mối quan hệ Trung–Mỹ được dựa vào không phải trên những lợi ích tương quan nhưng trên những ân huệ của Mỹ vốn có thể được theo đuổi hoặc đóng lại tùy theo ý muốn của Washington. Một thái độ như thế làm cho Mỹ có vẻ không đáng tin cậy và lẫn xâm phạm, và sự không đáng tin cậy là điều thất bại lớn hơn không trong mắt của Trung Quốc.
Đối với Trung Quốc, một quốc gia trội hẳn theo lịch sử trong khu vực của nó –quả thật, trong thế giới được biết đến nó– bất kỳ sự cố gắng nào thiết lập những quy định cho những cơ quan và những thực hành trong nước của nó sẽ gây ra sự bất bình sâu sắc.

p831

Sự nhạy cảm chung chung nầy được phóng đại bởi quan điểm của Trung Quốc về sự tham gia của Tây phương trong lịch sử của nó. Kể từ khi các cuộc Chiến tranh Nha phiến vào đầu thế kỷ XIX (i.e. 19) buộc mở toang đất nước ra, dân Tây phương đã được xem bởi những người Trung Quốc như là tác nhân của một chuỗi vô tận những sự nhục mạ. Sự bình đẳng về thân phận địa vị, một sự khẳng định quyết liệt về việc không cúi đầu trước sự quy định luật lệ của nước ngoài, đối với những nhà lãnh đạo Trung Quốc không phải là một chiến thuật nhưng là một sự sai khiến về mặt đạo đức.
Điều mà Trung Quốc tìm kiếm từ Hoa Kỳ, là mối quan hệ chiến lược nhằm cân bằng những nước láng giềng mà nó xem là mạnh mẽ và lẫn tham lam. Để đạt được mức độ của sự phối hợp chính sách đối ngoại nầy, Trung Quốc có thể sẵn sàng thực hiện một số nhượng bộ về nhân quyền, quy định chúng có thể được hiện diện như là sự xuất hiện từ sự chọn lựa tự do của riêng mình. Nhưng sự khăng khăng của Mỹ về những điều kiện quy định luật lệ công khai được cảm nhận ở Trung Quốc như là một cố gắng nhằm chuyển hướng xã hội của nó đến các giá trị của Mỹ –do đó tạo nên sự nhục mạ– và lẫn như là một thiếu vắng sự nghiêm túc của Mỹ. Vì nó cho rằng Mỹ không có một lợi ích quốc gia nào trong sự quân bình ở châu Á như thế. Nhưng nếu Mỹ không thể được tin tưởng vì mục đích đó, Trung Quốc sẽ không có lợi ích nào trong việc thực hiện những nhượng bộ cho nó. Vấn đề chính đối với những quan hệ Trung–Mỹ — nghịch lý, ngay cả về vấn đề nhân quyền– là một sữ hợp tác ngầm về chiến lược toàn cầu, và đặc biệt là ở châu Á.
Đối với việc liên quan đến châu Âu, Mỹ chia sẻ một cộng đồng gồm những giá trị nhưng đã chưa có thể đưa ra một chính sách chung hoặc những tổ chức thích hợp trong giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh; đối với việc liên quan đến châu Á, điều có thể đối với Mỹ là xác định một chiến lược tổng thể như được mong muốn nhưng không phải là một cộng đồng gồm những giá trị. Tuy nhiên, khá bất ngờ là, nơi hợp dòng luân lưu của những mục đích về đạo đức và địa hình chính trị, của chủ thuyết Wilson và Chính trị Thực dụng, đang xuất hiện ở vùng Tây bán Cầu.
Chính sách đối ngoại trước đây của Hoa Kỳ ở vùng Tây bán Cầu trên cơ bản là một chính sách trong chủ thuyết can dự của Siêu Cường quốc. Chính sách Láng giềng Tốt của Tổng thống Franklin Roosevelt, tuyên bố vào năm 1933, đánh dấu sự chuyển hướng đến việc hợp tác. Hiệp ước Rio vào năm 1947 và Công ước Bogota vào năm 1948 cung cấp một phần cấu thành về an ninh vốn được thể chế hoá trong Tổ chức Các nước châu Mỹ. Chính sách Liên minh vì Tiến triển vào năm 1961 của Tổng thống Kennedy giới thiệu việc viện trợ nước ngoài và sự hợp tác về kinh tế, mặc dù chính sách nhìn xa trông rộng đã bị kết liểu bởi chiều hướng tập trung quyền lực vào chính phủ của những người nhận được.
Trong suốt cuộc Chiến tranh Lạnh, hầu hết các quốc gia châu Mỹ La-tinh được cai trị bởi bởi nhà độc tài, phần lớn là về quân sự, những chính phủ dính dáng vào việc kiểm soát nhà nước về nền kinh tế của họ. Bắt đầu từ giữa những năm 1980s, châu Mỹ La-tinh giũ sạch tình trạng tê liệt về kinh tế của nó và bắt đầu tiến lên với sự nhất trí đáng chú ý về hướng dân chủ và nền kinh tế thị trường. Brazil, Argentina, và Chile bỏ rơi chính quyền quân sự trong sự ủng hộ quyền cai trị dân chủ.
Trung Mỹ kết thúc những cuộc nội chiến của nó. Bị phá sản bởi việc vay mượn vô tâm, châu Mỹ La-tinh tự nọp mình cho những nguyên tắc về tài chính.

p832

Gần như ở mọi nơi, nền kinh tế bị nhà nước khống chế được dần dần mở ra cho các lực lượng thị trường.
Chính sách Doanh nghiệp Khởi đầu châu Mỹ được công bố bởi Tổng thống Bush vào năm 1990, và trận chiến cho Hiệp định Tự do Thương mại Bắc Mỹ (North American Free Trade Agreement = NAFTA) với Mexico và Canada được kết thúc một cách thành công bởi Tổng thống Clinton vào năm 1993, tiêu biểu cho một chính sách đổi mới nhất của Mỹ đối với châu Mỹ La-tinh trong lịch sử. Sau hàng loạt những thăng trầm, vùng Tây bán Cầu dường như đang ở ven bờ của sự chuyển hướng trở thành một yếu tố quan trọng của một trật tự mới và toàn cầu mang tích chất nhân đạo. Một nhóm các quốc gia dân chủ đã tự hứa cam kết với chính phủ được công chúng ủng hộ, nền kinh tế thị trường, và tự do thương mại mở rộng nửa bán cầu. Chế độ độc tài duy nhất của những người theo chủ nghĩa Mác-xít còn lại trong vùng Tây bán cầu là Cuba; mọi nơi khác, những phương pháp có tính cách quốc gia của phe chủ trương bảo vệ về việc quản lý kinh tế đang được thay thế bởi nền kinh tế tự do có tích cách ưu đải đối với sự đầu tư từ nước ngoài và hỗ trợ những hệ thống thương mại quốc tế mở rộng. Việc nhấn mạnh những nghĩa vụ tương quan và hành động hợp tác, mục tiêu cuối cùng và đầy cảm xúc là việc tạo ra một khu vực thương mại tự do từ Alaska đến Mũi Sừng (Cape Horn) –một khái niệm mà, một thời gian ngắn trước đây, có thể đã được xem là điều không tưởng vô vọng.
Một hệ thống tự do thương mại mở rộng vùng Tây bán Cầu –với NAFTA như là một bước đầu tiên– sẽ cho Mỹ vai trò chỉ huy mà không cần biết điều gì xảy ra. Nếu các nguyên tắc của Vòng hội nghị ở Uruguay của Hiệp định Chung về Thương mại và Thuế quan (GATT = General Agreement on Trade and Tariffs) được thương lượng vào năm 1993 thắng thế trên thực tế, vùng Tây bán Cầu sẽ là một sự tham gia chính yếu trong sự tăng trưởng toàn cầu về kinh tế. Nếu những việc phân nhóm riêng biệt theo khu vực chiếm ưu thế, vùng Tây bán Cầu, với thị trường rộng lớn của nó, sẽ có thể cạnh tranh một cách hiệu quả với những khối thương mại thuộc khu vực khác; quả thật, NAFTA là phương tiện hiệu quả nhất để ngăn chận sự tranh đua như thế hoặc để lan rộng trong nó nếu điều đó xảy ra. Bằng cách đưa ra con số thành viên liên kết đến các quốc gia bên ngoài vùng Tây bán Cầu vốn sẵn sàng quan sát những nguyên tắc của nó, một NAFTA được mở rộng có thể tạo ra những khích lệ nhằm tuân theo chính sách tự do thương mại, và trừng phạt các quốc gia cứ khư khư trên những quy luật hạn chế hơn. Trong một thế giới nơi mà Mỹ thường buộc phải đánh vào sự cân bằng giữa những giá trị và những gì cần thiết của nó, nó đã phát hiện ra là những lý tưởng và những mục tiêu về địa hình chính trị của mình đan kết một cách thực thể ở vùng Tây bán Cầu, nơi mà những tham vọng của nó khởi đầu và những sáng kiến đầu tiên về chính sách đối ngoại chính yếu được tiến hành.
Trong việc từ phát khởi lần thứ ba trong thế kỷ nầy trên việc tạo ra một trật tự thế giới mới, công việc khống chế của Mỹ là nhằm đánh vào sự cân bằng giữa những cám dỗ song đôi vốn có trong chủ nghĩa biệt lệ của nó: cái khái niệm mà Mỹ phải sửa chữa mỗi sai lầm và ổn định mỗi trục trặc, và bản năng tiềm ẩn để rút vào trong chính mình.

p833

Việc tham dự không cần phân biệt trong tất cả cuộc khủng hoảng về chủng tộc và những cuộc nội chiến của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh sẽ làm cạn một nước Mỹ đang tham gia cuộc viễn chinh. Tuy là một nước Mỹ vốn tự hạn chế trong phạm vi tinh tế về vấn đề đạo đức trong nước của nó, cuối cùng, từ bỏ sự an ninh và thịnh vượng của Mỹ cho những quyết định được đưa ra bởi các xã hội khác ở những nơi xa xôi và qua đó dần dà Mỹ sẽ mất quyền kiểm soát.
Khi, vào năm 1821, John Quincy Adams (i.e. vị Tổng thống thứ sáu của Hoa Kỳ) cảnh cáo những người Mỹ chống lại chiều hướng mãnh liệt muốn tiêu diệt “những con quái vật ở xa,” ông ta đã không thể tưởng tượng đến số lượng đúng và độ lớn của những con quái vật vốn sẽ tồn tại trong thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh. Không phải mọi cái ác có thể gặp phải sự đối chọi của Mỹ, thậm chí ít hơn bởi một mình Mỹ. Nhưng một số quái vật cần gặp phải, nếu không bị hạ sát, ít nhất là đối kháng. Điều mà cần đến nhất là những tiêu chuẩn cho sự chọn lọc.
Những nhà lãnh đạo Mỹ nói chung đã từng nhấn mạnh động cơ thúc đẩy trên cấu trúc. Họ đã đặt sự chú trọng nhiều hơn trên việc tạo ảnh hưởng đến những thái độ so với những sự tính toán của các đối tác của họ. Kết quả là, xã hội Mỹ có mâu thuẫn trong tư tưởng riêng biệt về những bài học lịch sử. Những phim ảnh Mỹ thường mô tả một sự kiện bi thảm nào đó chuyển đổi kẻ gian ác trở thành một mẫu mực về đạo đức như thế nào (đôi khi chán ngắt như thế) –một sự phản ảnh về niềm tin quốc gia lan tỏa mà quá khứ không có một tuyên bố cuối cùng nào và qua đó những cuộc khởi hành mới luôn luôn là điều có thể có. Trong thế giới thực tế, những sự chuyển biến như thế hiếm khi được nhìn thấy trong những cá nhân, thậm chí ít hơn như thế trong số những quốc gia vốn là những hỗn hợp của nhiều sự lựa chọn cá thể.
Sự bác bỏ lịch sử ca ngợi hình ảnh của một người phổ quát sống với những châm ngôn phổ quát, không liên hệ gì đến quá khứ, địa dư, hoặc hoàn cảnh không thể biến đổi khác. Kể từ khi truyền thống Mỹ nhấn mạnh đến chân lý phổ quát hơn là đặc điểm quốc gia, những nhà hoạch định chính sách của Mỹ nói chung đã từng ưu chọn những cách giải quyết đa phương hơn những người quốc gia: chương trình nghị sự về việc giải trừ quân bị, hạn chế sản xuất vũ khí diệt chủng, và nhân quyền hơn là những vấn đề trên cơ bản là về quốc gia, địa hình chính trị, hoặc chiến lược.
Việc khước từ của Mỹ khỏi bị ràng buộc bởi lịch sử và sự khẳng định trên điều có thể có cho sự đổi mới vĩnh viễn ban cho một phẩm cách vĩ đại, thậm chí tuyệt đẹp, trên cách sống của Mỹ. Nỗi lo sợ của quốc gia mà qua đó những người vốn bị ám ảnh với lịch sử, sản xuất ra những lời tiên tri tự hoàn tất, thực sự biểu hiện một sự khôn ngoan tuyệt vời của dân gian. Tuy nhiên, câu châm ngôn của Santayana mà qua đó những người vốn bỏ qua lịch sử, bị lên án khi lặp lại điều đó, có thể được hỗ trợ bởi ngay cả những thí dụ nhiều hơn.
Một quốc gia với truyền thống lý tưởng của Mỹ không thể dựa trên chính sách của nó về sự cân bằng quyền lực như là một tiêu chuẩn duy nhất cho một trật tự thế giới mới. Nhưng nó phải học hỏi rằng trạng thái quân bình là một điều kiện tiên quyết có nền tảng cho việc theo đuổi những mục đích lịch sử của nó. Và những mục đích cao hơn nầy không thể đạt được bằng lời nói hùng biện hoặc ra điệu bộ. Một hệ thống quốc tế đang xuất hiện thì phức tạp rất nhiều hơn bất kỳ hệ thống nào trước đây gặp phải bởi thủ thuật ngoại giao của Mỹ.

p834

Chính sách đối ngoại phải được thực hiện bởi một hệ thống chính trị vốn nhấn mạnh đến điều trước mắt và cung cấp một số ít khích lệ cho điều ở xa. Những nhà lãnh đạo của nó buộc phải để đối phó với các cử tri vốn có khuynh hướng nhận lấy thông tin của mình qua những hình ảnh trực quan. Tất cả điều nầy khuyến khích cảm xúc và tâm trạng trong khoảnh khắc đúng vào thời điểm vốn đòi hỏi việc xem xét lại những việc ưu tiên và sự phân tích về những khả năng.
Lịch sử, tuy nhiên, sẽ không tha thứ cho sự thất bại bởi tầm quan trọng của nhiệm vụ. Điều mà Mỹ phải nắm vững là quá trình chuyển đổi từ một thời kỳ khi tất cả sự chọn lựa dường như mở ra cho một giai đoạn khi nó vẫn có thể hoàn tất nhiều hơn bất kỳ một xã hội nào khác nếu nó có thể chỉ học hỏi những giới hạn của mình. Xuyên qua hầu hết lịch sử của nó, Mỹ biết là không có một đe dọa ngoại bang nào đối với sự tồn tại của nó. Khi một mối đe dọa như thế khi cuối cùng xuất hiện trong suốt cuộc Chiến tranh Lạnh, nó hoàn toàn bị đánh bại. Kinh nghiệm của Mỹ là thế đã từng khuyến khích niềm tin mà Mỹ, một mình trong số các quốc gia trên thế giới, không tiếp thu được và nó có thể chiếm ưu thế bằng những thí dụ về các đức tính của nó và những công việc tốt đẹp.
Trong thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh, một thái độ như thế sẽ biến sự vô tội trở thành sa ngã. Vào một thời điểm khi Mỹ có thể không phải là thống trị thế giới hoặc cũng không phải là rút lui khỏi thế giới, khi nó tìm thấy chính mình tràn đầy mạnh mẽ và lẫn hoàn toàn dễ bị tổn thương, nó không phải từ bỏ những lý tưởng vốn đã từng xem như là sự vĩ đại của nó. Nhưng không phải là nó phải gây nguy hiểm cho sự vĩ đại đó bởi việc nuôi dưỡng những ảo tưởng về mức độ của sự vói đến của mình. Vai trò lãnh đạo thế giới vẫn gắn liền trong quyền lực và những giá trị của Mỹ, nhưng nó không bao gồm đặc quyền của việc giả vờ là Mỹ đang làm một điều tốt cho các quốc gia khác qua việc liên kết với chúng, hoặc là nó có một khả năng vô giới hạn áp đặt ý chí của mình bằng cách giữ lại những ân huệ của nó. Đối với Mỹ, bất kỳ một sự liên kết nào với Chính trị Thực dụng phải tính đến các giá trị cốt lõi của xã hội đầu tiên trong lịch sử đã được tạo ra một cách rõ ràng nhân danh quyền tự do. Tuy thế, sự tồn tại và tiến bộ của Mỹ cũng sẽ phụ thuộc vào khả năng của nó để làm những chọn lựa vốn phản ánh hiện thực đương thời. Nếu không, chính sách đối ngoại sẽ biến đổi trở thành dáng điệu tự mãn. Tầm quan trọng tương đối được cho ra cho mỗi thành phần trong những số nầy và cái giá được kết hợp với mỗi việc ưu tiên xác định sự thách thức và lẫn tầm vóc của các nhà lãnh đạo chính trị. Điều mà không một nhà lãnh đạo nào phải từng làm là đưa ra ý kiến rằng sự lựa chọn đó không có một cái giá nào, hoặc là không có sự cân bằng nào vốn cần phải đánh vào.
Trong việc đi theo con đường đến một trật tự thế giới lần thứ ba trong kỷ nguyên hiện đại, chủ nghĩa lý tưởng của Mỹ vẫn còn cần thiết như đã từng, có lẽ thậm chí hơn thế nữa. Nhưng trong một trật tự thế giới mới, vai trò của nó sẽ là cung cấp niềm tin để duy trì Mỹ qua tất cả những sự mơ hồ về lựa chọn trong một thế giới không hoàn hảo. Chủ nghĩa lý tưởng theo truyền thống của Mỹ phải kết hợp với sự đánh giá sâu sắc về những thực tế đương thời hầu mang lại một định nghĩa có thể sử dụng về những lợi ích của Mỹ.

p835

Trong quá khứ, những cố gắng về chính sách đối ngoại của Mỹ được cảm hứng bởi những tầm nhìn không tưởng của một quan điểm cuối cùng nào đó mà sau khi sự hài hòa ngấm ngầm của thế giới sẽ chỉ đơn giản là tái khẳng định chính mình.
Từ nay trở đi, một số ít những kết quả cuối cùng như thế nằm trong viễn ảnh; việc hoàn tất những lý tưởng của Mỹ sẽ phải được tìm kiếm trong sự tích tụ kiên nhẫn của những thành công chưa trọn vẹn. Những điều tin chắc về mối đe dọa thực tiển và tư tưởng hệ thù nghịch đặc trưng của cuộc Chiến tranh Lạnh đã mất hết. Những niềm tin chắc chắn được cần đến hầu nắm vững sự trật tự của thế giới mới đang trỗi lên là điều trừu tượng hơn: một tầm nhìn về tương lai vốn không thể được chứng minh khi nó được đưa ra về phía trước và những xét đoán về mối quan hệ giữa niềm hy vọng và điều có thể có vốn là, trong bản chất của chúng, điều phỏng đoán. Những mục đích của chủ thuyết Wilson về thời gian qua của Mỹ –nền hòa bình, sự ổn định, sự tiến bộ, và quyền tự do cho nhân loại– sẽ có phải được tìm kiếm trong một cuộc hành trình vốn không có sự kết thúc. “Đối với người đi đường,” một câu tục ngữ Tây Ban Nha cho biết, “không có những con đường nào. Những con đường được tạo nên bằng cách đi bộ.”

[25] [26] [27] [31]

===========================================

Phụ Chú :
12_ MtGpDt : Mặt trận Giải phóng Dân tộc.
13_ Công viên New Haven Green : là một công viên thuộc tư nhân làm chủ, và là khu tiêu khiển chung ở trung tâm thành phố New Haven thuộc tiểu bang Connecticut. Nơi có Hội chợ Nghệ thuật và Sáng kiến và Hội chợ nhạc Jazz và những hoạt động khác vào mùa hè thu hút hàng trăm ngàn người đến đó mỗi năm.

14_ Chủ thuyết Tito : Thống chế Josip Broz Tito, vị Chủ tịch đầu tiên của Đảng Cộng sản Nam Tư, đề ra chủ thuyết nầy.
Những thành phần của chủ thuyết Tito được đặc trưng hóa bởi các chính sách và thực hành được dựa trên nguyên tắc là trong mỗi quốc gia, những phương tiện để đạt được những mục đích cuối cùng của cộng sản phải được bức chế bởi những điều kiện của đất nước riêng biệt đó, hơn là bằng một mô hình được dựng lên ở một nước khác. Nó khác biệt đối với lý thuyết Chủ nghĩa Xã hội trong Một Quốc gia của Joseph Stalin khi ông Tito chủ trương sự hợp tác giữa các quốc gia qua các Phong trào Không Liên kết, trong khi đồng thời cũng theo đuổi chủ nghĩa xã hội theo bất cứ là những cách gì miễn sao phù hợp nhất với những quốc gia riêng biệt. Về mặt khác, lý thuyết Chủ nghĩa Xã hội trong Một Quốc gia tập trung vào việc kỹ nghệ hóa và hiện đại hóa nhanh chóng nhằm mục đích cạnh tranh với cái gì mà Stalin hiểu được như là những quốc gia phương Tây tiên tiến hơn. Trong suốt thời kỳ của Tito, những ý tưởng của ông ta đặc biệt muốn nói là mục đích cộng sản nên được theo đuổi một cách độc lập (và thường trong tình trạng đối lập) đối với cái gì đó mà ông ta ám chỉ đến như là những chính sách của Stalin và đế quốc của Liên bang Sô-Viết.
Những cuộc tấn công tuyên truyền tập trung vào tranh biếm họa về “Tito, Một tay Đồ tể” [của Giai cấp Công nhân], nhằm chỉ đích danh ông ta như là một tay mật vụ của “chủ nghĩa đế quốc” Tây phương. Ông Tito thật ra được hoan nghênh bởi những cường quốc Tây phương như là một đồng minh, nhưng ông ta không bao giờ đánh những niềm tin cộng sản của mình.

15_ Cuộc Chiến tranh Ba mươi Năm : là hàng loạt những cuộc chiến ở Trung Âu trong khoảng thời gian 1618–1648, đã lôi cuốn khoảng 23 nước ở châu Âu vào cuộc xung đột giữ hai phe Tin Lành giáo (gồm 14 đồng minh có cả Pháp, Anh, Nga) và Công giáo (gồm 9 đồng minh có cả Áo, Tây Ban Nha, Hungary). Và nó được chấm dứt với Hòa ước Osnabrück và Hòa ước Münster, một phần của Hòa ước Westphalia rộng lớn hơn.

One thought on “Chương 27 & Chương 31 của Thủ thuật Ngoại giao

  1. Pingback: Chương 25 & Chương 26 của Thủ thuật Ngoại giao |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s