Chương 25 & Chương 26 của Thủ thuật Ngoại giao

Thủ thuật Ngoại giao
(Diplomacy)
(1994)
(Cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger)

Trong cuốn sách “Thủ thuật Ngoại giao” (“Diplomacy”) của vị Cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger vào năm 1994, có vài chương nói đến về Chiến tranh Việt Nam gồm Chương 25 : Việt Nam: Ngỏ vào Bãi lầy; Truman and Eisenhower; Chương 26 : Vietnarn : Trên đường đến sự Thất vọng; Tổng thống Kennedy và Tổng thống Johnson; và Chương 27 : Việt Nam: Sự triệt thoái; ông Nixon. Riêng phần cuối, Chương 31 : Một Trật tự Thế giới mới Xét lại, nói về tầm nhìn của ông ta trong một trật tự mới của thế giới như là sự tiên đoán của nhà ngoại giao kỳ cựu Hoa Kỳ gốc Do Thái, cả nổi tiếng và lẫn nhiều tai tiếng nầy.

===========================================
===========================================

[25] [26] [27] [31]

p620

Chương 25 : Việt Nam: Ngỏ vào Bãi lầy;
Truman and Eisenhower

(Những binh lính Hoa Kỳ đang chiến đấu)

Tất cả mọi chuyện bắt đầu với những hảo ý tốt đẹp nhất. Trong hai thập kỷ sau khi kết thúc Thế Chiến thứ II, Mỹ đã nhận lấy vai trò dẫn đầu trong việc xây dựng một trật tự mới mang tầm vóc quốc tế từ những mảnh vụn của một thế giới bị tan vỡ. Nó đã xây dựng lại châu Âu và phục hồi Nhật Bản, trấn áp được chủ thuyết mở rộng của Cộng sản ở Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Berlin, và Hàn Quốc, hòa nhập vào trong những liên minh trong thời bình đầu tiên của mình, và phát động một chương trình viện trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển. Những quốc gia dưới chiếc dù che chở của Mỹ đang hưởng được nền hòa bình, thịnh vượng và sự ổn định.
Ở Đông Dương, tuy nhiên, tất cả những mô hình trước đó về sự tham gia của Mỹ ở nước ngoài bị tan vỡ. Lần đầu tiên trong kinh nghiệm quốc tế vào thế kỷ XX của Mỹ, mối quan hệ trực tiếp, gần như ngẫu nhiên mà một quốc gia đã luôn luôn hưởng được giữa những giá trị và thành tựu của nó, bắt đầu sờn mòn.

p621

Việc ứng dụng quá phổ quát các giá trị của họ khiến cho những người Mỹ bắt đầu đặt câu hỏi về những giá trị đó và lý do tại sao họ đã mang chúng vào trong Việt Nam lần đầu tiên. Một vực thẳm ngăn cách mở ra giữa niềm tin của những người Mỹ trong bản chất ngoại biệt về kinh nghiệm quốc gia của họ và những thỏa hiệp và mơ hồ cố hữu trong những vùng địa hình chính trị chứa đựng chủ nghĩa cộng sản. Trong lò thử thách Việt Nam, chủ nghĩa ngoại biệt của Mỹ chống lại với chính nó. Xã hội Mỹ không tranh luận, như những xã hội khác có thể đã làm, về những thiếu sót thực tế của những chính sách của nó ngoại trừ điều đáng được theo đuổi bất kỳ vai trò quốc tế nào của Mỹ. Chính là khía cạnh nầy của cuộc thảo luận về Việt Nam mà qua đó tạo ra những vết thương vốn đã chứng minh rất đau đớn và rất khó khăn chữa lành được.
Hiếm khi những hậu quả hành động của một quốc gia đã hóa ra là như thế với sự không ăn khớp đối với chủ ý ban đầu của những hành động đó. Ở Việt Nam, Mỹ bị lạc mất dấu vết của nguyên tắc cơ bản về chính sách đối ngoại mà Đức Hồng Y Richelieu đã đưa ra từ ba thế kỷ trước đó: …“điều mà cần được hỗ trợ và lực lượng mà cần phải hỗ trợ nó, nên đứng ở tỷ lệ tưng ứng về mặt hình học với nhau” (xem chương 3). Phương thức giải quyết đầu tiên về mặt địa hình chính trị được trang bị thích hợp cho việc phân tích về lợi ích quốc gia có thể đã phân biệt giữa điều gì là quan trọng về chiến lược và điều gì là ngoại vi. Điều đó có thể đã đặt ra câu hỏi tại sao Mỹ đã nghĩ rằng đó là việc an toàn để đứng yên chờ đợi vào năm 1948, khi những người cộng sản đoạt lấy phần thưởng to lớn Trung Quốc, tuy xác định sự an ninh quốc gia của nó đối với một quốc gia Á châu nhỏ hơn nhiều vốn đã không được độc lập trong 150 năm và chưa bao giờ được độc lập ở những vùng biên giới hiện nay của nó.

(Đức Hồng Y Richelieu (1585–1642) là nhà chính khách dưới triều
đại vua Louis XIII của Pháp, được xem là “vị Thủ tướng Đầu tiên”
trên thế giới vào năm 1624)

Khi, vào thế kỷ XIX, ông Bismarck, là người thực hành chuyên nghiệp về Chính trị Thực dụng, đã tìm thấy hai đồng minh gần gũi của mình, Áo và Nga, trong tình trạng bất hòa với nhau trên vấn đề hỗn loạn ở những khu vực Balkans, vốn nằm cách vài trăm cây số từ những vùng biên giới của Đức, ông ta khẳng định rõ là Đức sẽ không tiến hành chiến tranh trên các vấn đề về Balkan, đối với ông Bismarck, những khu vực Balkans, theo những lời của riêng ông ta, không đáng là những cục xương cho một trung đoàn chuyên tấn công bằng lựu đạn người Đức gốc Pomerania (i.e. dân cư ở vùng biên giới Đức và Ba Lan) độc nhất. Hoa Kỳ đã không dựa trên những tính toán của nó trên một phương trình đại số tương tự. Vào thế kỷ XIX, Tổng thống John Quincy Adams (i.e. vị Tổng thống Hoa Kỳ thứ 6 (03/1825–03/1829), một người thực hành khôn ngoan về chính sách đối ngoại, đã từng báo trước cho những người dân của mình về việc mạo hiểm ở nước ngoài trong công cuộc theo đuổi “những con quái vật ở xa.” Tuy thế, cách giải quyết theo tư tưởng Wilson (i.e. vị Tổng thống Hoa Kỳ thứ 28 (03/1913–03/1921), Thomas Woodrow Wilson) về chính sách đối ngoại không cho phép một sự phân biệt nào được thực hiện trong số những con quái vật bị sát sinh. Những người theo chủ thuyết quốc tế trong cách giải quyết của nó đối với trật tự thế giới, tư tưởng Wilson không thích hợp với sự phân tích về tầm quan trọng tương đối của các quốc gia khác nhau. Mỹ buộc phải chiến đấu cho điều gì là đúng, bất kể những hoàn cảnh địa phương, và độc lập về khu vực chính trị.

(Quan chưởng Ấn Đức, Otto Eduard Leopold, vị Hoàng tử Bismark,
còn được biết đến như là Otto von Bismarck (1815–1898) với thủ
thuật ngoại giao Chính trị Thực dụng (Realpolitik) nổi tiếng của ông ta)

(Balkans là vùng bán đảo đông nam Âu châu chiếm khoảng 490,000 km2,
nó không chỉ bao gồm nhiều quốc gia nằm bên trong biên phận của nó mà
còn bao gồm Slovenia và Romania vào thời hiện đại)

(Vùng Balkans bao gồm những vùng đồi núi bao la của
bán đảo và sâu vào trong một phần đất liền)

(Thomas Woodrow Wilson, vị Tổng thống thứ 28 của Hoa Kỳ, thường
được biết đến với 14 điểm về chính sách đối ngoại mà ông ta tin tưởng
là chúng sẽ tạo ra nền hòa bình trên thế giới, và qua đó những người
kế nhiệm sau nầy thường ứng dụng theo “tư tưởng hệ Wilson”)

Trong suốt lộ trình của thế kỷ XX, một vị Tổng thống kế nhiệm đã tuyên bố rằng Mỹ không có những lợi ích “vị kỷ” nào; mục tiêu chính của nó, nếu không phải là duy nhất, về mặt quốc tế là nền hòa bình và sự tiến bộ toàn cầu.

p622

Trong tinh thần nầy, ông Truman (i.e. vị Tổng thống Hoa Kỳ thứ 33 (04/1945–01/1953), trong bài diễn văn nhậm chức mình vào ngày 20 tháng Giêng năm 1949, đã từng trang trọng cam kết đất nước của mình vào mục tiêu của thế giới mà trong đó “tất cả các nước và tất cả các dân tộc được tự do cai quản chính mình như họ nhìn thấy phù hợp…” Không có một lợi ích quốc gia thực sự sẽ được theo đuổi : “Chúng ta đã không tìm kiếm một lãnh thổ nào. Chúng ta đã không áp đặt ý muốn của mình trên một quốc gia nào. Chúng ta đã không đòi hỏi những đặc quyền nào mà chúng ta sẽ không mở rộng đến những đặc quyền khác.” Hoa Kỳ sẽ “củng cố sức mạnh cho những quốc gia yêu chuộng tự do chống lại những nguy hiểm của sự xâm lược” bằng cách cung cấp “sự góp ý và dụng cụ quân sự cho những quốc gia tự do nào sẽ hợp tác với chúng ta trong việc duy trì hòa bình và an ninh.” Sự tự do của mỗi một quốc gia độc lập đã trở thành mục tiêu quốc gia, bất kể là tầm quan trọng chiến lược của những quốc gia đó đối với Hoa Kỳ.
Trong hai bài diễn văn nhậm chức của mình, ông Eisenhower (i.e. vị Tổng thống Hoa Kỳ thứ 34 (01/1953–01/1961), Dwight David “Ike” Eisenhower) đã tiếp theo cùng một chủ đề trong ngôn ngữ thậm chí được nâng cao hơn. Ông ta mô tả một thế giới mà trong đó những ngai vàng đã bị lật đổ, những vương triều rộng lớn đã bị cuốn trôi, và những quốc gia mới đã nổi lên. Ở giữa tất cả diễn biến của sự rối loạn nầy, định mệnh đã ủy thác Mỹ với nhiệm vụ bảo vệ sự tự do không bị giới hạn bởi những cân nhắc hoặc tính toán lợi ích quốc gia theo đặc điểm địa dư. Thật vậy, ông Eisenhower muốn nói rằng những sự tính toán như thế đi ngược lại hệ thống giá trị của Mỹ, mà trong đó tất cả các quốc gia và dân tộc được đối xử một cách bình đẳng; “Việc nhận thức về sự bảo vệ tự do, giống như chính sự tự do, là một quan điểm chung và không thể tách ra, chúng ta đặt tất cả các lục địa và dân tộc trong sự đối xử bình đẳng và danh dự. Chúng ta từ chối bất kỳ sự ám chỉ bóng gió nào cho rằng một giống dân nầy hoặc một giống dân khác, một dân tộc nầy hoặc một dân tộc khác, nằm trong bất kỳ ý nghĩa xem thường, thấp kém hoặc có thể tận dụng tiêu hủy.”
Ông Eisenhower đã mô tả chính sách đối ngoại của Mỹ như là không giống như chính sách của bất kỳ quốc gia nào khác; chính là sự mở rộng những trách nhiệm đạo đức của Mỹ hơn là một kết quả phát sinh của việc cân bằng những rủi ro và những phần thưởng. Sự thử nghiệm những chính sách của Mỹ không mang phần nhiều tính chất khả thi –mà qua đó được cho là thế– như là một điều xứng đáng: “Vì lịch sử không phó thác lâu dài sự quan tâm về tự do cho những quốc gia yếu kém hoặc nhút nhát.” Vai trò lãnh đạo là phần thưởng của riêng nó; lợi ích của Mỹ được xác định như là đặc quyền giúp đỡ những nước khác để tự giúp chính họ. Chủ nghĩa vị tha rất được nhận thức đã có thể không có những giới hạn nào về mặt chính trị hay địa hình.
Trong bài diễn văn nhậm chức duy nhất của mình, ông Kennedy (i.e. vị Tổng thống Hoa Kỳ thứ 35 (01/1961–11/1963), John Fitzgerald Kennedy) mang chủ đề về lòng vị tha và bổn phận của Mỹ đối với thế giới thậm chí còn đi xa hơn nữa. Công bố rằng thế hệ của mình là hậu duệ dòng chính thuộc cuộc cách mạng dân chủ đầu tiên của thế giới, ông ta cam kết với Chính quyền của mình, trong một ngôn ngữ bay cao, không “cho phép việc tháo bỏ từ từ những nhân quyền mà quốc gia nầy đã luôn luôn cần được cam kết, và chúng ta phải cam kết ngày hôm nay tại quê nhà và trên khắp thế giới. Hãy để mọi quốc gia biết rằng, dù là nó mong muốn chúng ta khỏe mnạh hay yếu bệnh, chúng ta sẽ trả bất cứ giá nào, mang lấy bất kỳ gánh nặng nào, gặp phải bất kỳ sự khó khăn nào, hỗ trợ bất kỳ nước bạn nào, chống lại bất kỳ kẻ thù nào nhằm bảo đảm sự tồn tại và thành công của nền tự do.”

p623

Sự cam kết bao quát toàn cầu của Mỹ không liên quan đến bất kỳ lợi ích cụ thể nào về an ninh quốc gia và không miễn cho một quốc gia hoặc khu vực nào trên thế giới. Phần kết của bài diển văn hùng hồn của ông Kennedy là sự đảo ngược lời tuyên bố chính thức của ông Palmerston, là Đại Quốc Anh không có những nước bạn nào, chỉ có những lợi ích; quốc gia Mỹ, trong việc theo đuổi nền tự do, không có những lợi ích nào, chỉ có những nước bạn.

(Henry John Temple, vị Tử tước Palmerston thứ 3, cũng là vị Thủ tướng
Anh Quốc (06/1859–10/1865) dưới thời Victoria, còn được biết đến như
là Lord Palmerston, một nhân vật bảo thủ theo kiểu vương tôn)

Đến thời điểm lễ nhậm chức của Lyndon B. Johnson (i.e. vị Tổng thống Hoa Kỳ thứ 36 (11/1963–01/1969), Lyndon Baines Johnson) vào ngày 20 tháng Giêng năm 1965, sự khôn ngoan theo tập quán đã lên đến đỉnh điểm qua việc đưa ra ý kiến rằng những cam kết đối ngoại của Mỹ, nguyên thủy phát sinh từ hệ thống chính phủ dân chủ của nó, đã xóa sạch toàn diện sự phân biệt giữa những trách nhiệm trong nước và quốc tế. Đối với Mỹ, ông Johnson xác nhận, không có một nước lạ nào không còn hy vọng: “những nguy hiểm và khó khăn khủng khiếp mà chúng ta có lần gọi là ‘ở ngoài nước,’ hiện thời tồn tại giữa chúng ta không ngừng. Nếu những sinh mạng của người Mỹ phải chấm dứt, và ngân khố của Mỹ phải đổ ra, ở những quốc gia mà chúng ta hầu như không biết đến, sau đó là cái giá mà sự thay đổi đã từng đòi hỏi niềm tin chắc chắn và sự thỏa thuận chịu đựng lâu dài của chúng ta.” Mãi về sau, điều đó trở thành hợp thời để trích dẫn những lời phát biểu như thế như là những thí dụ về sự ngạo mạn của quyền lực, hoặc như là những cái cớ đạo đức giả cho sự truy tìm quyền thống trị của Mỹ. Tính chất nhạo báng cay độc trôi chảy dễ dàng như thế làm hiểu sai thực chất của lòng thành về chính trị của Mỹ, mà qua đó đồng thời là điều “ngây ngô” và rút ra từ điều ngây ngô đó là một động lực cho những cố gắng phi thường. Hầu hết các quốc gia đi đến chiến tranh để chống lại những mối đe dọa cụ thể, có thể xác định được đối với sự an ninh của họ. Trong thế kỷ nầy, Mỹ đã đi đến chiến tranh –từ Thế Chiến thứ I đến Chiến tranh vùng Vịnh Ba Tư vào năm 1991– phần lớn là nhân danh cho cái gì mà nó nhận thức như là những nghĩa vụ đạo đức để chống lại sự xâm lược hoặc bất công như là người được ủy thác về sự an ninh tập thể.
Sự cam kết nầy được tỏ ý đặc biệt là trong số thế hệ các nhà lãnh đạo Mỹ vốn là những người trong thời thanh thiếu niên của họ đã từng chứng kiến thảm kịch ở thủ phủ Munich. Được trui rèn trở thành tâm lý của họ là một bài học mà sự thất bại chống lại cuộc xâm lược –nó xảy ra ở bất cứ nơi nào và dù là như thế nào– bảo đảm rằng nó sẽ buộc phải đối kháng dưới những hoàn cảnh tồi tệ nhiều hơn sau nầy. Từ Cordell Hull trở đi, mỗi vị Ngoại trưởng Mỹ lặp lại chủ đề nầy. Chính là một quan điểm mà qua đó Dean Acheson và John Foster Dulles đã tán thành. Sự phân tích về những mối nguy hiểm cụ thể theo địa hình chính trị được đặt ra bởi cuộc chinh phục của cộng sản trên một đất nước xa xôi được cho là điều phụ kém quan trọng đối với những phương châm song song về việc chống lại cuộc xâm lược theo lý thuyết trừu tượng và việc ngăn chận sự lan rộng xa hơn của chủ nghĩa cộng sản. Chiến thắng của cộng sản ở Trung Quốc đã củng cố thêm niềm tin chắc chắn của những hoạch định chính sách Mỹ vốn cho là không một sự mở rộng xa hơn nào của cộng sản có thể được dung thứ.

(Cordell Hull, vị Ngoại trưởng Hoa Kỳ thứ 47, được biết đến là
nhà chính khách tại nhiệm lâu nhất, 11 năm (03/1933–11/1944),
dưới thời Tổng thống Franklin Delano Roosevelt)

(Dean Gooderham Acheson, vị Ngoại trưởng Hoa Kỳ thứ 51
(01/1949–01/1953) dưới thời Tổng thống Harry S. Truman)

(John Foster Dulles, vị Ngoại trưởng Hoa Kỳ thứ 52
(01/1953–04/1959) dưới thời Tổng thống Dwight D. Eisenhower)

Những tài liệu về chính sách và những lời phát biểu chính thức thuộc một giai đoạn cho thấy là niềm tin chắc chắn nầy phần lớn chưa gặp phải thử thách. Vào tháng Hai năm 1950, bốn tháng trước khi sự khởi đầu cuộc xung đột Triều Tiên, tài liệu số 64 của NSC (i.e. National Security Council: Hội đồng An ninh Quốc gia) đã kết luận rằng Đông Dương là “một khu vực chủ yếu của Đông Nam Á và đang chịu mối đe dọa trực tiếp.”

p624

Văn bản ghi nhớ đánh dấu sự xuất hiện lần đầu của cái gọi là Lý thuyết Domino, vốn dự đoán rằng, nếu Đông Dương sụp đổ, Miến Điện và Thái Lan sẽ sớm theo sau, và rằng “sự cân bằng ở Đông Nam Á sau đó sẽ nằm trong một tình trạnh nguy hiểm nghiêm trọng.”
Vào tháng Giêng năm 1951, Dean Rusk tuyên bố rằng “bỏ qua việc theo đuổi chiều hướng hiện thời của chúng ta đến mức tột bực khả năng của mình sẽ là thảm hoạ đối với những quan tâm của chúng ta ở Đông Dương và, hậu quả là, ở phần còn lại của Đông Nam Á.” Vào tháng Tư năm trước, tài liệu số 68 của NSC(01) đã kết luận rằng sự quân bình toàn cầu đang nằm trong tình trạng hiểm nghèo ở Đông Dương: “…bất kỳ sự mở rộng khu vực cụ thể nào xa hơn nữa dưới sự thống trị của Điện Kremlin (i.e. Cẩm Linh) sẽ nâng cao khả năng là không một liên minh thích hợp nào đối đầu Điện Kremlin với một sức mạnh lớn hơn có thể được triệu tập.”

(David Dean Rusk, vị Ngoại trưởng Hoa Kỳ thứ 54
(01/1961–01/1969) dưới thời Tổng thống John F. Kennedy
và Tổng thống Lyndon B. Johnson)

Nhưng có phải chăng đó là điều thực sự đúng, như tài liệu ngụ ý, rằng mỗi thu hoạch của cộng sản mở rộng thêm khu vực được kiểm soát bởi Điện Kremlin –đặc biệt là qua việc đưa ra một kinh nghiệm của chủ nghĩa Tito ? Và có phải chăng đó là điều có thể nhận thức rằng việc thêm khu vực Đông Dương vào khối cộng sản có thể, bởi chính nó, lật đổ sự cân bằng quyền lực toàn cầu ? Từ lúc những câu hỏi nầy không được nêu ra, Mỹ chưa bao giờ đi đến những thấu hiểu về địa hình chính trị mà, ở Đông Nam Á, nó đang đạt đến điểm nơi mà sự cam kết toàn cầu đang biến thành sự mở rộng quá mức giới hạn –một cách chính xác như Walter Lippmann đã từng cảnh cáo trước đó (xem chương 18).
Thật ra, có những khác biệt to lớn trong bản chất của mối đe dọa. Ở châu Âu, mối đe dọa chính bắt nguồn từ siêu cường Sô-Viết. Ở châu Á, mối đe dọa đối với những quan tâm của Mỹ đến từ những quyền lực phụ hạng vốn là những thứ đại diện tốt nhất của Liên bang Sô-Viết và trên đó quyền kiểm soát của Liên Xô –hoặc đáng lý ra được hiểu– là điều nghi vấn. Trong thực tế, khi Chiến tranh Việt Nam phát triển, Mỹ đã đến để chiến đấu chống lại một thứ đại diện của thứ đại diện khác, mỗi một thứ trong số đó không tin tưởng sâu sắc vào thành phần hợp tác cao cấp tương ứng riêng. Theo sự phân tích của Mỹ, sự quân bình toàn cầu đang bị tấn công bởi miền Bắc Việt Nam, được cho là bị điều khiển từ Beijing, mà qua đó, lần lượt, được nhận biết la bị kiểm soát bởi Moscow. Ở châu Âu, Mỹ đang bảo vệ những đất nước lịch sử; ở Đông Dương, Mỹ đang đối phó với những xã hội, trong những kích thước hiện thời của chúng, đang xây dựng những nhà nước trong lần đầu tiên. Những quốc gia Âu châu có những truyền thống được thành lập lâu đời về việc làm cách nào để hợp tác trong công cuộc bảo vệ cán cân quyền lực. Ở Đông Nam Á, tính chất nhà nước chỉ mới nổi lên, khái niệm về cán cân quyền lực thì xa lạ, và không có tiền lệ nào về sự hợp tác trong số những nhà nước hiện có.

(Walter Lippmann (1889–1974), là nhà văn, nhà báo, nhà
bình luận chính trị, được biết đến như là một trong những
người đầu tiên đưa ra khái niệm về Chiến tranh Lạnh)

(Thống chế Josip Broz Tito, cũng là vị Chủ tịch đầu tiên của Đảng
Cộng sản Nam Tư (Yugoslavia) với chủ nghĩa Tito độc lập, đối
lập với chủ thuyết Stalin và tách biệt khỏi khối Cộng sản Liên
Xô, là cái gai nhức nhối đối với Liên Xô)

Những sự khác biệt cơ bản nầy giữa những vùng địa hình chính trị của châu Âu và châu Á, cùng với những quan tâm của Mỹ trong mỗi vùng, bị nhận chìm trong cách giải quyết đầu tiên của Mỹ mang tính chất phổ quát và tư tưởng hệ qua chính sách đối ngoại.

p625

Cuộc đảo chính ở Czech, sự phong tỏa thủ đô Berlin, việc thử nghiệm một quả bom nguyên tử của Liên Xô, cuộc chiến thắng của cộng sản ở Trung Quốc, và cuộc tấn công của cộng sản vào Nam Hàn tất cả được gộp lại với nhau bởi các nhà lãnh đạo của nước Mỹ trở thành một mối đe dọa toàn cầu duy nhất –quả thật, một âm mưu toàn cầu được điều khiển từ trung ương. Một Chính trị Thực dụng lẽ ra đã có cách hạn chế Chiến tranh Triều Tiên đến một tầm mức hạn hẹp nhất như có thể; cái nhìn theo thuyết nhị nguyên về đạo đức (i.e. theo tinh thần Mani giáo hay còn được gọi là Minh giáo) của Mỹ trong cuộc xung đột tác động theo chiều hướng ngược lại. Việc đầu tư vào Hàn Quốc với một ý nghĩa quan trọng về mặt toàn cầu, ông Truman đã kết hợp việc gởi đi những binh lính Mỹ của mình với lời công bố về sự gia tăng đáng kể về viện trợ quân sự cho Pháp trong cuộc chiến tranh của riêng nó chống lại những du kích quân cộng sản ở Đông Dương (sau nầy được gọi là Việt Minh) và đã di chuyển Hạm đội Bảy để bảo vệ Đài Loan. Những nhà hoạch định chính sách Mỹ rút ra sự tương đồng giữa những cuộc tấn công đồng thời của Đức và Nhật ở châu Âu và châu Á trong Thế Chiến thứ II, và những cuộc điều động quân của Moscow và Beijing trong thập niên 1950s, Liên Xô thay thế Đức, và Trung Quốc đứng vào thay cho Nhật. Đến năm 1952, một phần ba những số lượng tổn phí của Pháp ở Đông Dương được trợ cấp bởi Hoa Kỳ.

(Cộng hòa Czech được xem là trung tâm của Âu châu)

(Sau cuộc Cách mạng Nhung vào năm 1989, vùng đất mang tên
Czechoslovakia dưới chế độ Cộng sản được tách ra một cách ôn
hòa trở thành Cộng hòa Czech và Cộng hòa Slovak, đang phát
triển cao độ trong khối Đông Âu)

Việc bước vào trong Đông Dương của Mỹ mở đầu một vấn đề đạo đức hoàn toàn mới. NATO (North Atlantic Treaty Organization: Tổ chức Hiệp ước Bắc đại Tây dương) bảo vệ những nước dân chủ; việc chiếm đóng Nhật Bản của Mỹ đã đưa vào thể chế dân chủ cho quốc gia đó; cuộc Chiến tranh Triều Tiên Chiến đã từng được chiến đấu để quật ngược trở lại cuộc tấn công vào nền độc lập của dân tộc nhỏ bé. Ở Đông Dương, tuy nhiên, trường hợp theo chính sách ngăn chận từ lúc khởi đầu bị ném vào trong điều kiện địa hình chính trị gần như ngoại lệ, làm cho tất cả điều đó trở nên khó khăn hơn để kết hợp vào trong hệ tư tưởng Mỹ đang hiện hành. Có một điều, việc bảo vệ Đông Dương đụng đầu phải truyền thống chống chủ nghĩa thực dân của Mỹ. Trung thực vẫn là những thuộc địa của Pháp, những tiểu bang Đông Dương không phải là những nước dân chủ hoặc thậm chí cũng không phải là độc lập. Mặc dù, vào năm 1950, Pháp đã biến chuyển ba thuộc địa của nó là Việt Nam, Lào, và Cam-pu-chia vào trong “Những nước Liên kết thuộc Liên hiệp Pháp” (Associated States of the French Union), sự quy định mới nầy đã chận đứng nền độc lập một cách hiệu quả mau chóng bởi vì Pháp lo ngại rằng, nếu nó ban cho chủ quyền đầy đủ, nó không có thể làm kém hơn cho ba vùng sở hữu Bắc Phi của nó –Tunisia, Algeria, và Morocco.

(Quốc huy và quốc kỳ của Liên hiệp Pháp được thành lập vào tháng
10/1946 và tan rả vào 10/1958, bao gồm 6 nước: Cộng đồng Pháp
Vương quốc Lào, Vương quốc Cam-pu-chia, Ma-rốc (Morocco),
Tunisia, Khu vực Tây Phi Guinea của Pháp, miền Nam và Bắc Việt Nam)

(Cộng đồng Pháp trên thế giới vào năm 1961, bao gồm những nước nhỏ
thuộc Bắc Phi, Trung Phi, Tây Phi, và một phần nhỏ thuộc Châu Mỹ La-tinh)

(Liên hiệp Pháp trên thế giới vào năm 1920)

Cảm nghĩ chống chủ nghĩa thực dân của Mỹ trong suốt Thế chiến II đã tập trung vào Đông Dương với cường độ riêng biệt, ông Roosevelt đã từng không ưu ông de Gaulle và, đối với vấn đề đó, không phải là người ngưỡng mộ Pháp rất nhiều, đặc biệt là sau sự sụp đổ của nó vào năm 1940. Trong suốt cuộc chiến tranh, ông Roosevelt đã đùa giỡn với tư tưởng về việc chuyển Đông Dương trở thành trách nhiệm ủy trị của Liên Hiệp Quốc, mặc dù ông ta bắt đầu im tiếng mưu tính nầy tại Hội nghị Yalta. Và nó đã bị bỏ rơi bởi Chính quyền Truman, vốn nồng nhiệt cho việc hỗ trợ Pháp trong sự hình thành Liên minh Đại Tây Dương.
Đến năm 1950, Chính quyền Truman đã quyết định rằng vấn đề an ninh của thế giới tự do đòi hỏi Đông Dương được gìn giữ khỏi những bàn tay cộng sản –mà qua đó, trong thực tế, có nghĩa là uốn cong những nguyên tắc chống thực dân của Mỹ bởi việc hỗ trợ cuộc đấu tranh của Pháp ở Đông Dương.

p626

Ông Truman và ông Acheson (i.e. Ngoại trưởng Dean Gooderham Acheson) nhìn thấy không có một sự lựa chọn nào khác vì Ban Tham mưu Kết hợp đã kết luận rằng những lực lượng vũ trang Mỹ được kéo dài đến mức giới hạn bởi các cam kết đồng thời với NATO và Hàn Quốc và rằng không còn một lực lượng nào có thể dư ra cho việc bảo vệ Đông Dương –ngay cả khi nó bị xâm chiếm bởi Trung Quốc. Vì vậy, họ nhìn thấy không có một sự lựa chọn nào ngoại trừ dựa vào quân đội Pháp, vốn sẽ phải chống lại những người cộng sản Đông Dương với sự hỗ trợ tài chính và hậu cần của Mỹ. Sau khi chiến thắng trong cuộc đấu tranh đó, Mỹ có chủ ý điều hòa những niềm tin chắc chắn về chiến lược và chống thực dân của nó bằng cách thúc đẩy nền độc lập.

(Franklin Delano Roosevelt, vị Tổng thống Hoa Kỳ thứ 32
(03/1933–04/1945) trong suốt thời gian nhiệm kỳ là Thế Chiến
thứ II, là người chống chủ nghĩa thực dân, không ưu ông de Gaulle)

(Charles André Joseph Marie de Gaulle, vị Tổng thống Cộng hòa
Pháp (01/1959–04/1969), người cầm đầu Lực lượng Tự do Pháp
vào thời Thế Chiến thứ II)

(Hội nghị Yalta hoặc Crimea ở Ukraine vào tháng 2/1945 sau khi
chiến thắng Thế Chiến thứ II, từ trái qua phải là Winston Churchill,
Franklin D. Roosevelt và Joseph Stalin)

Khi vỡ lẽ ra, sự cam kết ban đầu của Mỹ về Đông Dương vào năm 1950 thành lập mô hình cho sự tham gia của nó trong tương lai; đủ lớn để khiến cho Mỹ bị vướng víu, không đủ đáng kể để chứng minh sự kiên quyết. Trong những giai đoạn đầu của tình trạng sa lầy, đây là phần lớn kết quả của sự thiếu hiểu biết về những điều kiện thực tế và điều gần như bất khả thi của việc tiến hành các hoạt động qua hai lớp thẩm quyền thuộc địa Pháp, cũng như bất cứ những thẩm quyền địa phương gì mà cái được gọi là Những nước Kết hợp gồm Việt Nam, Lào, và Cam-pu-chia được phép thành lập.
Không muốn bị làm nhục bằng cách bôi hắc ín như là một đảng phái đối với chủ nghĩa thực dân, cả Bộ tham mưu Kết hợp và lẫn Bộ Ngoại tìm cách bảo vệ mặt đạo đức của đất nước mình bằng cách thúc đẩy Pháp cam kết nền độc lập cuối cùng. Hành động cân bằng khéo léo nầy cuối cùng đã rơi vào trách nhiệm của Bộ Ngoại giao, vốn bày tỏ nhận thức của nó về những sự phức tạp qua việc đặt tên chương trình Đông Dương của nó là “Chiến dịch Vỏ trứng” (“Operation Eggshell”). Danh hiệu, không may, truyền đạt một sự hiểu biết rất to lớn hơn về tình trạng khó khăn so với nội dung chương trình của nó đưa ra một giải pháp. Tư tưởng là nhằm thúc đẩy Pháp theo chiều hướng của việc ban cho Đông Dương nền độc lập trong khi thúc giục nó tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh chống cộng. Không ai giải thích đưọc lý do sao những người Pháp nên liều mạng trong một cuộc chiến tranh vốn được trù hoạch để tạo ra sự hiện diện của nó trong một khu vực không cần thiết.
Dean Acheson mô tả tình trạng tiến thoái lưỡng nan bằng sự nhức nhối đặc trưng. Một mặt, ông ta nói rằng, Hoa Kỳ có thể sẽ “mất đi phần lợi” nếu nó tiếp tục hỗ trợ “những quan điểm thực dân lỗi thời” của Pháp; mặt khác, nếu bị thúc ép quá xa, Pháp có thể chỉ đơn giản là từ bỏ hết với lập luận là: “Được rồi, cứ chiếm lấy cả quốc gia, chúng tôi không muốn nó nữa.” “Giải pháp” của ông Acheson hóa ra là lời tuyên bố lại về những mâu thuẫn trong chính sách của Mỹ: việc gia tăng viện trợ Mỹ cho Đông Dương trong khi đốc thúc Pháp và người lãnh đạo địa phương được chọn của nó, Bảo Đại, thu nhận “những người theo chủ nghĩa quốc gia về phía mình.” Ông ta không đưa ra một kế hoạch nào cho việc giải quyết tình trạng khó xử nầy.
Đến lúc Chính quyền Truman chuẩn bị rời chức vụ, sự thoái thác đã hoàn thiện trở thành một chính sách chính thức. Vào năm 1952, một tài liệu của Hội đồng An ninh Quốc gia chính thức hóa Lý thuyết Domino và cho nó một đặc tính bao quát.

p627

Mô tả một cuộc tấn công quân sự vào Đông Dương như là một mối nguy hiểm “vốn có trong sự tồn tại của một Trung Cộng thù nghịch và hung hăng,” nó cho rằng sự mất mát của thậm chí một quốc gia ở Đông Nam Á duy nhất sẽ dẫn “đến sự quy phục tương đối nhanh chóng hoặc xếp thành hàng với chủ nghĩa cộng sản bởi phần còn lại. Hơn nữa, việc xếp thành hàng với chủ nghĩa cộng sản của phần còn lại của Đông Nam Á và Ấn Độ, và về lâu dài hơn, của Trung Đông (với những trường hợp ngoại lệ có thể có ít nhất là của Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ) theo tất cả xác suất có thể có sẽ theo sau một cách lũy tiến.”
Rõ ràng là, nếu sự ước tính đó là thực tế, sự sụp đổ cả khối như thế buộc phải gây nguy hiểm cho nền an ninh và cũng như sự ổn định của châu Âu, và “làm cho nó trở nên cực kỳ khó khăn để ngăn chận sự hòa giải cuối cùng của Nhật với chủ nghĩa Cộng Sản.” Văn bản ghi nhớ của NSC(1) không cung cấp một sự phân tích nào về lý do tại sao sự sụp đổ phải là rất tự động hoặc rất toàn cầu. Trên hết, nó đã thất bại khám phá việc có thể thiết lập một vòng đai phòng ngự tại những vùng biên giới của Mã Lai Á và Thái Lan, vốn có sự ổn định rất nhiều hơn so với như Đông Dương –như được ủng hộ bởi các nhà lãnh đạo Anh Quốc. Không phải là sự nhận thức về sự nguy hiểm lâu dài đối với châu Âu vốn được chia sẻ bởi các đồng minh Âu châu của Mỹ, mà qua đó, trong những năm sắp tới, khăng khăng từ chối tham gia trong việc bảo vệ Đông Dương.
Sự phân tích cho biết là một thảm họa tiềm tàng đang ấp ủ ở Đông Dương, được theo sau là một biện pháp khắc phục vốn không là thậm chí hơi ngang hàng với vấn đề khó khăn –quả thật, trong trường hợp nầy, nó không phải là một biện pháp khắc phục gì cả. Vì sự bế tắc ở Hàn Quốc đã phá hủy –ít nhất là trong lúc đó– ý chí của Mỹ chiến đấu một cuộc chiến tranh trên bộ khác ở châu Á. “Chúng ta không thể có một Hàn Quốc khác, chúng ta không thể đặt những lực lượng trên bộ vào trong Đông Dương,” ông Acheson lập luận. Điều đó sẽ là “vô ích và là sự sai lầm khi bảo vệ Đông Dương ở khu vực Đông Dương.” Lời nhận xét khó hiểu nầy dường như muốn nói là, nếu Đông Dương quả thật đã trở thành trục xoay của sự quân bình toàn cầu, và nếu Trung Quốc quả thật là nguồn gốc của sự rắc rối, Mỹ sẽ phải tấn công chính Trung Quốc, ít nhất là với sức mạnh không quân và hải quân –một cách chính xác là điều mà ông Acheson đã kiên quyết chống lại đối với vấn đề liên quan đến Hàn Quốc. Nó cũng bỏ ngỏ một câu hỏi về việc Mỹ nên đáp trả như thế nào nếu Pháp và những đồng minh Đông Dương của của họ bị đánh bại bởi những lực lượng cộng sản bản địa hơn là do sự tham gia của Trung Quốc vào trong cuộc chiến tranh. Nếu Hà Nội là một thứ đại diện cho Beijing, và Beijing là một thứ ủy nhiệm của Moscow, như Bộ Điều hành và lẫn Quốc hội tin rằng, Hoa Kỳ sẽ buộc phải chọn lựa trong thái độ nghiêm chỉnh giữa niềm tin chắc chắn về địa hình chính trị và niềm tin chống thực dân của nó.
Chúng ta ngày nay biết rằng, ngay sau khi chiến thắng cuộc nội chiến của nó, Trung Cộng cuối cùng đi đến việc xem Liên Xô như là một mối đe dọa nghiêm trọng nhất cho nền độc lập của nó, và rằng, theo lịch sử, Việt Nam đã từng có cùng một nỗi sợ hãi đối với Trung Quốc. Vì thế, cuộc chiến thắng của cộng sản ở Đông Dương trong những năm 1950s có thể, có nhiều khả năng, đã gia tăng tốc độ cho tất cả những sự kình địch nầy. Điều đó cũng có thể đã phơi bày một sự thách thức đối với phương Tây, nhưng điều đó không phải là một âm mưu toàn cầu được sắp xếp từ trung ương.
Mặt khác, những lập luận của văn bản ghi nhớ thuộc NSC(1) thì không nông cạn như chúng xuất hiện sau đó.

p628

Ngay cả trong trường hợp không có một âm mưu chủ yếu, và đối với tất cả những nước Tây phương biết rằng vào thời điểm đó, Lý thuyết Domino tuy thế đã có thể là vững chắc. Vị Thủ hiểu biết khôn khéo và chu đáo của Singapore, Lee Kuan Yew (i.e. Lý Quang Diệu), rõ ràng là đã suy nghĩ như thế, và ông ta thường thường đã được chứng minh là đúng. Trong thời kỳ ngay sau thời hậu chiến, chủ nghĩa cộng sản vẫn còn bám giữ chủ thuyết động lực trọng yếu về tư tưởng hệ. Một cuộc biểu tình về sự phá sản cách quản lý kinh tế của nó chỉ cách xa một thế hệ khác. Nhiều nước trong những quốc gia dân chủ, và đặc biệt là trong những quốc gia mới độc lập, xem thế giới cộng sản đang ở tư thế sẵn sàng vượt qua thế giới tư bản trong khả năng về kỹ nghệ. Những chính phủ của nhiều nước trong số những quốc gia mới độc lập thì yếu ớt và bị đe dọa bởi cuộc nổi dậy trong nước. Tại ngay khoảnh khắc đó, văn bản ghi nhớ của NSC(1) được chuẩn bị, một cuộc chiến tranh du kích của cộng sản đang được tiến hành ở Mã Lai Á.
Những nhà hoạch định chính sách ở Washington có lý do chính đáng để lo ngại về cuộc chinh phục Đông Dương bởi một phong trào vốn đã thực sự nhận chìm Đông Âu rồi và chiếm lấy Trung Quốc. Bất kể là liệu sự việc mở rộng của cộng sản được tổ chức từ trung ương không, điều đó dường như có đủ động lực để quơ hết những quốc gia mới, yếu ớt của khu vực Đông Nam Á vào trong khối chống Tây phương. Câu hỏi thực sự không phải là liệu một số con bài Domino có thể ngã đổ ở Đông Nam Á, vốn là có khả năng xảy ra, không nhưng liệu có thể không có những nơi tốt hơn trong khu vực để vạch lằn ranh không –thí dụ, chung quanh những quốc gia nơi mà những yếu tố về chính trị và an ninh trong tình trạng bình thường hơn, chẳng hạn như là ở Mã-Lai-Á và Thái Lan. Và chắc chắn là phần kết luận của sự trình bày chính sách của NSC(1) –là, nếu Đông Dương phải sụp đổ, ngay cả châu Âu và Nhật có thể cuối cùng tin vào sự không thể đảo ngược của làn sóng cộng sản và điều chỉnh theo sao cho phù hợp –đã đi quá xa.
Di sản của ông Truman để cho người kế nhiệm mình, Dwight D. Eisenhower, là một chương trình trợ giúp quân sự hàng năm cho Đông Dương vào khoảng 200$ triệu (hơi hơn 1$ tỷ theo số tiền đô-la vào năm 1995) và một lý thuyết chiến lược trong việc tìm kiếm một chính sách. Chính quyền Truman đã không buộc phải đối mặt với khoảng cách tiềm tàng giữa học thuyết chiến lược và những niềm tin đạo đức của nó, hoặc phải đối đầu với sự cần thiết của việc phải chọn lựa giữa tính chất hợp lý về địa hình chính trị và những khả năng của Mỹ; ông Eisenhower còn lại với trách nhiệm của việc đối phó với sự thử thách lần đầu tiên; ông Kennedy, ông Johnson, và ông Nixon với thử thách lần thứ hai.
Chính quyền Eisenhower không đặt câu hỏi về sự cam kết của Mỹ đối với vấn đề an ninh Đông Dương, mà nó đã thừa hưởng. Nó tìm cách dung hòa học thuyết chiến lược và những niềm tin đạo đức của nó bằng cách đẩy mạnh những áp lực cho việc cải cách ở Đông Dương. Vào tháng Năm năm 1955 –bốn tháng sau khi tuyên thệ nhậm chức– ông Eisenhower đã thúc giục vị Đại sứ Mỹ tại Pháp, Douglas Dillon,

p629

thúc đẩy chính quyền Pháp bổ nhiệm những vị lãnh đạo mới với thẩm quyền để “giành chiến thắng” ở Đông Dương, và đồng thời để đưa ra “những công bố rõ ràng và không thể lập lờ, được lặp đi lặp lại thường như có thể được mong muốn,” rằng nền độc lập sẽ được ban cho “ngay sau khi cuộc chiến thắng chống lại những người Cộng sản đã giành lấy được.” Vào tháng Bảy, ông Eisenhower than phiền với Thượng nghị sĩ Ralph Flanders rằng sự cam kết của chính phủ Pháp về nền độc lập được thực hiện “theo kiểu mờ ám và vòng vo –thay vì mạnh dạn, thẳng thắn và liên tục.”
Đối với Pháp, vấn đề nầy đã thực sự đi xa hơn việc cải cách chính trị. Những lực lượng của nó ở Đông Dương bị vướng vào một cuộc chiến tranh du kích chán nản, mà họ không có kinh nghiệm gì cả. Trong một cuộc chiến tranh quy ước với những tiền tuyến được thành lập, hỏa lực thượng thừa thường giành được ưu thế. Ngược lại, một cuộc chiến tranh du kích nói chung là không buộc phải chiến đấu từ những vị trí cố định, và quân du kích ẩn náu giữa dân cư. Một cuộc chiến tranh quy ước là về quyền kiểm soát lãnh thổ, một cuộc chiến tranh du kích là về sự an ninh của dân cư. Vì quân du kích không bị ràng buộc với việc bảo vệ bất kỳ lãnh thổ riêng biệt nào, nó đang ở trong thế quyết định cục diện chiến trường đến một mức độ đáng kể và điều hòa những thương vong của cả hai bên.
Trong một cuộc chiến tranh quy ước, tỷ lệ thành công trong một trận chiến khoảng 75 phần trăm sẽ bảo đảm thắng lợi. Trong một cuộc chiến tranh du kích, việc bảo vệ dân cư chỉ là 75 phần trăm thời gian đủ bảo đảm sự thất bại. Một trăm phần trăm về an ninh trong 75 phần trăm đất nước thì tốt hơn nhiều so với 75 phần trăm về an ninh trong 100 phần trăm đất nước. Nếu những lực lượng bảo vệ không thể mang lại sự an ninh gần như hoàn hảo cho dân cư –ít nhất là trong khu vực họ xét là cần thiết– sớm muộn gì, quân du kích cũng giành được chiến thắng.
Một phương trình cơ bản của cuộc chiến tranh du kích thì đơn giản như chính là điều khó khăn để thực hiện: quân đội du kích giành được chiến thắng miễn là nó có thể tránh khỏi mất mát; quân đội quy ước buộc phải mất mát trừ khi nó kiên quyết giành được chiến thắng. Tình trạng thế bí gần như không bao giờ xảy ra. Bất kỳ đất nước nào tự tham gia trong một cuộc chiến tranh du kích ắt hẳn được chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh lâu dài. Quân đội du kích có thể tiếp tục chiến thuật đánh-bỏ-chạy trong một thời gian dài thậm chí với những lực lượng bị giảm mất phần lớn. Một chiến thắng rõ ràng thì rất hiếm; những cuộc chiến tranh du kích thành công thông có đặc trưng là mất dần trong một khoảng thời gian dài. Những thí dụ đáng chú ý nhất về thắng lợi trên những lực lượng du kích đã diễn ra ở Mã Lai Á và Hy Lạp, nơi mà các lực lượng bảo vệ thành công bởi vì những du kích quân bị cắt đứt khỏi những nguồn cung cấp bên ngoài (ở Mã Lai Á theo địa hình, ở Hy Lạp vì sự phá vỡ của ông Tito với Moscow).
Không phải là quân đội Pháp cũng không phải là quân đội Mỹ, vốn đi theo những bước chân của nó một thập kỷ sau đó, từng giải quyết được câu hỏi bí ẩn về cuộc chiến tranh du kích. Cả hai đã chiến đấu chỉ một loại chiến tranh mà họ hiểu được và loại chiến tranh mà họ đã được huấn luyện và trang bị –cuộc chiến cổ điển, quy ước được dựa trên những tiền tuyến được phân định rõ ràng. Cả hai quân đội, dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội, cố gắng đạt được một cuộc chiến tranh gây tiêu hao lực lượng đối phương.

p630

Cả hai đều nhìn thấy rằng chiến lược đã quay lại chống họ bởi một kẻ thù vốn là người, chiến đấu trong đất nước của riêng mình, có thể làm kiệt sức họ với sự kiên nhẫn của hắn ta và tạo ra những áp lực trong nước để chấm dứt cuộc xung đột. Những con số thương vong tiếp tục chồng chất cao trong khi tiêu chuẩn để xác định sự tiến bộ vẫn còn khó nắm bắt được.
Pháp thừa nhận bại trận nhanh hơn so với Mỹ, bởi vì những lực lượng vũ trang của nó được trải ra mỏng hơn trong sự cố gắng của họ bám giữ tất cả đất nước Việt Nam với một phần ba lực lượng mà Mỹ cuối cùng sẽ tham gia vào việc bảo vệ một nửa đất nước. Pháp đang bị cưa khoét như Mỹ sẽ là trong một thập kỷ sau nầy: bất cứ khi nào nó tập trung những lực lượng của mình xung quanh những trung tâm dân cư, những người cộng sản sẽ không chế hầu hết vùng nông thôn; khi nó cố gắng di chuyển ra ngoài để bảo vệ vùng nông thôn, những người cộng sản sẽ tấn công các thị trấn và quân đồn, từng cái một.
Một cái gì đó về Việt Nam không ngừng làm tàn lụi sức mạnh hợp lý của người nước ngoài vốn là những người đầu tư liều lĩnh vào trong nó. Kỳ lạ là, cuộc Chiến tranh Pháp Việt Nam đi đến đỉnh điểm tại một ngã ba đường được gọi là Điện Biên Phủ, vốn nằm ở một góc tây bắc xa xôi của Việt Nam, gần biên giới Lào. Pháp đã đặt một lực lượng tinh nhuệ ở đó với hy vọng quyến dụ những người cộng sản vào trong một trận đánh dàn quân gây tiêu hao lực lượng đối phương, và, trong tiến trình, tự điều động vào trong một tình huống bất lợi. Nếu những người cộng sản chọn cách bỏ qua việc khai triển quân của Pháp, những lực lượng nầy sẽ bị lãng phí trong một vị trí xa khỏi những khu vực của bất kỳ tầm quan trọng chiến lược nào. Nếu những người cộng sản đớp mồi, động lực duy nhất của họ phải là niềm tin rằng họ đang ở trong phạm vi tầm nhìn của một chiến thắng quyết định. Pháp đã giảm đi những sự chọn lựa của nó cho điều không thích hợp hoặc một sự bại trận.
Những người Pháp đã đánh giá quá thấp sự dẻo dai và khéo léo của những đối phương của họ –như những người Mỹ sẽ làm trong một thập kỷ sau nầy. Vào ngày 15 tháng Ba năm 1954, Bắc Việt đã tung ra một cuộc tấn công toàn lực vào Điện Biên Phủ mà qua đó, đã thực sự nằm trong cuộc công kích khởi đầu của nó rồi, bị tràn ngập hai quân đồn bên ngoài tuyến phòng vốn được cho là để khống chế vùng đất cao. Họ đã làm như thế bằng cách sử dụng pháo binh mà họ thậm chí đã không nghĩ là sở hữu, và chúng đã được cung cấp bởi Trung Quốc sau khi chấm dứt cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Từ đó tiếp theo, chỉ là vấn đề thời gian trước khi phần còn lại của lực lượng Pháp sẽ bị nghiền nát. Bị kiệt sức bởi cái gì đó vốn đã trở thành một cuộc chiến tranh gây tiêu hao, và nhìn thấy ít mục đích trong việc chiến đấu chỉ phải rút khỏi Đông Dương dưới áp lực của Mỹ, một chính phủ mới của Pháp chấp nhận một đề nghị của Liên Xô là tổ chức một hội nghị về Đông Dương để bắt đầu tháng Tư đó tại Genève.
Sự việc sắp xảy ra của hội nghị nầy khiến cho những người cộng sản đẩy mạnh những áp lực quân sự và buộc Chính quyền Eisenhower phải chọn lựa –giữa những lý thuyết và những khả thi của nó. Sự sụp đổ của Điện Biên Phủ sẽ buộc Pháp nhường lại một phần đáng kể, nếu không phải tất cả, của Việt Nam cho những người cộng sản.

p631

Tuy thế, Điện Biên Phủ đã chỉ có thể được cứu bởi một cuộc leo thang quân sự to lớn mà qua đó Pháp không có những nguồn tài lực cũng như không có ý chí cho việc đó. Hoa Kỳ đã sẽ phải quyết định liệu có nên trở lại Lý thuyết Domino với hành động quân sự trực tiếp không.
Khi Trưởng ban Tham mưu Pháp, Tướng Paul Ely, thăm viếng Washington vào ngày 25 tháng Ba, Đô đốc Arthur Radford, Chủ tịch Ban Tham mưu Kết hợp, để lại cho ông ta một ấn tượng rằng ông ta sẽ đề cử một cuộc không kích khổng lồ chống lại những vị trí cộng sản xung quanh Điện Biên Phủ –có thể bao gồm việc sử dụng những vũ khí hạt nhân. Ông Dulles (i.e. vị Ngoại trưởng Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Eisenhower), tuy nhiên, rất quá cam kết đối với sự an ninh tập thể không thể dự định một bước như thế mà không có việc đặt ra một nền tảng ngoại giao nào đó cho nó. Trong một bài phát biểu quan trọng vào ngày 29 tháng Ba năm 1954, ông ta vì mục đích thiết thực đã bày tỏ chủ trương về hành động quân sự tập thể cứu lấy Đông Dương từ những người cộng sản, bằng cách sử dụng lập luận truyền thống của trường phái chống sự thỏa hiệp vô nguyên tắc –mà qua đó sự thất bại không hành động ngay lập tức sẽ đòi hỏi những hành động tốn kém nhiều hơn sau nầy :

…sự áp đặt trên trên Đông Nam Á một hệ thống chính trị của Nga Cộng và đồng minh cộng sản Trung Quốc của nó bằng bất kỳ phương tiện nào sẽ là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với khối cộng đồng tự do. Hoa Kỳ cảm thấy rằng khả năng có thể đó không nên được chấp nhận một cách thụ động nhưng nên được đáp ứng bằng Hành động Liên hiệp . Điều nầy có thể lôi cuốn nhưng rủi ro nghiêm trọng nhưng những rủi ro nầy ít hơn nhiều so với những rủi ro vốn sẽ phải đối mặt với chúng ta một vài năm sau kể từ bây giờ nếu chúng ta không dám cương quyết ngày hôm nay…

(Arthur William Radford, vị Đô đốc Hải quân Hoa Kỳ,
và là Chủ tịch Ban Tham mưu Kết hợp)

Dưới biểu ngữ “Hành động Thống nhất,” ông Dulles đề nghị là một liên minh được cấu thành bởi Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Tân Tay Lan, Úc, và Những nước Liên kết Đông Dương được hình thành để ngăn chận xu thế cộng sản ở Đông Dương. Ông Eisenhower nhập cùng với ông ta trong việc nêu ra chủ trương hành động tập thể, mặc dù gần như chắc chắn là nhằm ngăn chận sự can thiệp để hơn là nhằm thúc đẩy nó. Sherman Adams, Trưởng Tham mưu của ông Eisenhower, mô tả thái độ của Tổng thống bằng cách nầy: “Sau khi đã tránh được một cuộc chiến tranh toàn diện với Trung Cộng vào năm trước kia ở Hàn Quốc, khi ông ta có sự hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc, ông ta [Eisenhower] không có tâm trạng khiêu khích một cuộc chiến tranh khác ở Đông Dương… mà không có những đồng minh Anh Quốc và các nước Tây phương khác.”
Ông Eisenhower được biểu hiện là hiện tượng kỳ lạ đó của nền chính trị Mỹ bởi những vị Tổng thống mà họ là những người dường như là chân chất nhất thường hóa ra là những người phức tạp nhất. Trong ý nghĩa nầy, ông Eisenhower là một hình ảnh báo trước về Ronald Reagan, vì ông ta tìm cách che khuất những kỹ năng vận dụng khác thường phía sau một bề ngoài niềm nở. Như ông ta sẽ như thế trên vấn đề Kinh đào Suez hai năm sau nầy, và một lần nữa trên vấn đề Berlin, những lời của ông Dulles ám chỉ một phe cứng rắn –trong trường hợp nầy, là kế hoạch của ông Radford (i.e Đô Đốc Arthur Radford, Trưởng ban Tham mưu Kết hợp) về sự can thiệp trên không hoặc một biến thể nào đó của nó. Điều ưng ý nhất của ông Eisenhower gần như chắc chắn là nhằm tránh né hành động quân sự toàn diện.

p632

Ông ta biết quá nhiều về những vấn đề quân sự để không thể tin rằng một cuộc không kích đơn thuần có thể là quyết định, và ngần ngại dùng đến sự trả đũa ào ạt (một chiến lược chính thức) chống lại Trung Quốc. Và ông ta không có lòng dạ nào ý cho một cuộc chiến tranh trên bộ kéo dài ở Đông Nam Á. Hơn nữa, ông Eisenhower đã có đủ kinh nghiệm với vấn đề ngoại giao liên minh để nhận biết về khả năng không thể xảy ra của chủ trương Hành động Liên hiệp được bao gồm trong một khung thời gian liên quan đến số phận của Điện Biên Phủ. Đối với ông Eisenhower, sự việc không có gì nghi ngờ nầy đưa đến một lối thoát thuận lợi, vì ông ta muốn chọn việc đánh mất Đông Dương hơn là làm ô uế Mỹ với lời buộc tội về việc ủng hộ thực dân. Như ông ta đã viết trong một đoạn chưa được ấn hành của cuốn hồi ký mình :

… vị thế của Hoa Kỳ như là một quyền lực mạnh mẽ nhất trong số những cường quốc chống thực dân là một tài sản có giá trị khôn lường đối với Thế giới Tự do… Như thế chính điều đó là vị trí đạo đức của Hoa Kỳ đang được canh giữ nhiều hơn so với Đồng bằng Bắc bộ, quả thật hơn tất cả những vùng ở Đông Dương.

Bất cứ những điều kiện hạn chế riêng tư gì đó của họ, ông Dulles và ông Eisenhower đã làm một sự cố gắng to lớn để dẫn đến Hành động Liên kết. Vào ngày 4 tháng Tư năm 1954, trong một lá thư dài, ông Eisenhower kêu gọi ông Churchill, vốn là người sau nầy trong năm cuối cùng của ông ta như là vị Thủ tướng :

Nếu họ [Pháp] không nhìn thấy điều đó thông suốt, và Đông Dương chuyển vào tay của những người Cộng sản, một ảnh hưởng mạnh mẽ trên vị trí chiến lược toàn cầu của chúng tôi và của ông bạn với sự chuyển đổi hệ quả trong tỷ lệ sức mạnh trên toàn châu Á và Thái Bình Dương có thể là một thảm họa và, tôi biết, điều không thể chấp nhận đối với ông bạn và tôi. Đó là điều khó khăn để nhìn thấy bằng cách nào Thái Lan, Miến Điện và Indonesia có thể được giữ khỏi bàn tay Cộng sản. Điều nầy, chúng ta không thể có đủ khả năng. Mối đe dọa đối với Mã Lai Á, Úc, và Tân Tây Lan sẽ là trực tiếp. Chuỗi hải đảo xa bờ sẽ bị phá vỡ. Áp lực kinh tế trên Nhật Bản mà nó sẽ bị tống khỏi những thị trường phi Cộng sản và các nguồn thức ăn và nguyên liệu sẽ là như thế, trong một khoảng thời gian, mà đó là điều khó khăn để nhìn thấy bằng cách nào Nhật có thể được ngăn chận khỏi việc đạt đến một sự hòa giải với thế giới Cộng Sản vốn sẽ kết hợp các nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên của châu Á với tiềm năng kỷ nghệ của Nhật.

Ông Churchill, tuy nhiên, không tin chắc, và ông Eisenhower không làm một cố gắng nào hơn nữa để thuyết phục được ông ta. Nhiệt tình như ông ta là thế đối với “mối quan hệ đặc biệt” với Mỹ, ông Churchill là một người Anh Quốc đầu tiên cảm nhận những mối nguy hiểm nhiều hơn ở Đông Dương so với những lợi ích có được. Ông ta đã không chấp nhận việc nêu ra là những con bài Domino sẽ ngã đổ gần như không cách gì thay đổi được đến như thế, hoặc một thất bại của thực dân sẽ tự động dẫn đến một thảm họa toàn cầu.

p633

Ông Churchill và Anthony Eden tin rằng nơi tốt nhất để bảo vệ Đông Nam Á chính là những vùng biên giới Mã Lai Á; ông Churchill vì thế, đáp lại bằng phản ứng không hứa hẹn mà ông Eden sẽ truyền đạt quyết định của Nội các đến ông Dulles, vốn là người sắp đi đến thủ đô London. Sự bác bỏ nội dung của ông Churchill đã để lại một ít nghi ngờ rằng Đại Quốc Anh đang lần mò tìm cách dìm đi sự từ chối của nó đối với chủ trương Hành động Liên kết. Nếu tin tức có lợi, ông Churchill chắc chắn đã sẽ tự mình chuyển đạt nó. Hơn nữa, việc không ưu thích ông Dulles của ông Eden là điều mà ai cũng biết. Ngay cả trước khi chuyến đến của vị Ngoại trưởng, ông Eden “nghĩ rằng đó là điều không thực tế để mong đợi rằng những điều khoản của kẻ chiến thắng có thể được áp đặt lên một kẻ thù bất khả chiến bại.”

(Robert Anthony Eden, Thủ tướng Anh Quốc (04/1955–01/1957))

Vào ngày 26 tháng Tư, ông Churchill đã đích thân bày tỏ những điều kiện hạn chế của mình đến Đô đốc Radford, vốn là người đang thăm viếng thủ đô London. Theo hồ sơ chính thức, ông Churchill cảnh cáo về “cuộc chiến tranh trên những vùng bên ngoài, nơi mà những người Nga mạnh mẽ và có thể huy động lòng nhiệt tình của những người quốc gia và các dân tộc bị áp bức.” Quả thật, không có một cơ sở hợp lý nào về chính trị đối với Vương quốc Anh để càng lúc tham gia vào một nguyên nhân mà ông Churchill đã mô tả bằng cách nầy :

Những người dân Anh sẽ không dễ dàng bị ảnh hưởng bởi chuyện gì xảy ra trong những khu rừng xa xôi của Đông Nam Á; nhưng họ thực sự biết rằng có một căn cứ Mỹ mạnh mẽ ở miền đông Anglia và một cuộc chiến tranh với Trung Quốc, vốn là những người sẽ kêu gọi đến hiệp ước Trung–Nga, có thể có nghĩa là một cuộc công kích bằng những quả bom nguyên tử (i.e. còn được gọi là bom H) trên những hải đảo.

(Miền đông Anglia là một vùng thuộc Vương quốc Anh
và Bắc Ái Nhĩ Lan, nhưng nằm trên nước Anh, cấu thành
gồm 4 khu vực chính quyền địa phương)

Trên hết, một cuộc chiến tranh như thế có thể đã gây cản trở giấc mơ to lớn của một chiến binh già về năm cuối cùng của mình trong chức vụ –hầu sắp xếp một cuộc họp thượng đỉnh với nhóm lãnh đạo sau thời kỳ Stalin “được tính toán để mang về quê nhà cho những người Nga toàn bộ những ẩn ý về sức mạnh Tây phương và gây ấn tượng trên họ về sự điên rồ của cuộc chiến tranh” (xem chương 20).
Đến lúc bấy giờ, thời gian đã đủ trôi qua, bất kể là sự quyết định của Vương quốc Anh, chương trình Hành động Liên kết không còn có thể cứu lấy Điện Biên Phủ nữa, vốn đã sụp đổ vào ngày 7 tháng Năm ngay cả khi các nhà ngoại giao đang thảo luận về Đông Dương tại Geneva. Như thường thường là một trường hợp khi vấn đề an ninh tập thể được kêu gọi, chương trình Hành động Liên hiệp đã biến thành một cái cớ để không làm gì cả.
Cuộc thảo luận trên vấn đề can thiệp tại Điện Biên Phủ cho thấy, trên hết là, sự bối rối vốn đang bắt đầu đổ về chính sách Việt Nam và sự khó khăn ngày càng tăng của việc dung hòa sự phân tích về địa hình chính trị, học thuyết chiến lược, và niềm tin đạo đức. Nếu điều đó đúng là cuộc chiến thắng của cộng sản ở Đông Dương sẽ gây cho những con bài Domino ngã đổ từ Nhật đến Indonesia, như ông Eisenhower dự đoán trong bức thư của mình cho ông Churchill và trong một cuộc họp báo vào ngày 7 tháng Tư, Mỹ sẽ phải quyết định dứt khoát bất kể phản ứng của những quốc gia khác, đặc biệt là kể từ khi sự đóng góp về quân sự của những nước tham gia có tiềm năng trong chương trình Hành động Liên Kết có thể đã là phần lớn biểu tượng.

p634

Mặc dù hành động tập thể là một lợi thế, chắc chắn là không phải là một điều kiện tiên quyết cho việc bảo vệ sự quân bình toàn cầu, nếu điều đó quả thật là cái gì đang lâm vào tình trạng nguy hiểm. Mặt khác, vào khoảng cùng thời điểm mà Chính quyền đang cố gắng tổ chức hành động tập thể, nó đã thay đổi học thuyết quân sự của nó trở thành sự “trả đũa quy mô lớn.” Việc đưa ra đề nghị đánh vào nguồn gây hấn, trong thực hành, có nghĩa là một cuộc chiến tranh trên Đông Dương sẽ được điều hành trực tiếp chống lại Trung Quốc. Tuy thế, không có cơ sở đạo đức hay chính trị nào cho những cuộc không kích chống lại một quốc gia vốn chỉ gián tiếp tham gia trong cuộc Chiến tranh Việt Nam và vì chính nghĩa mà ông Churchill đã mô tả đặc điểm cho ông Radford (i.e. Đô đốc Arthur Radford) như là quá lộ liễu và quá nguy hiểm để có thể duy trì lâu dài trong dư luận Tây phương.

(Thành phố Geneva của Switzerland (Thụy Sĩ), nơi đã từng
đưa ra sự quyết định cho số phận chi đôi của nước Việt Nam)

Không còn nghi ngờ gì, các nhà lãnh đạo sau thể chế Stalin tại Điện Kremlin có thể đã rất miễn cưỡng trong năm đầu tiên nắm quyền của họ đối đầu với Mỹ vì lợi ích Trung Quốc. Tuy nhiên, vì các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ không có khả năng về việc mô tả hoặc là những mục tiêu hay là kết quả có khả năng có của sự trả đũa ào ạt chống lại Trung Quốc (hoặc trong phạm vi Đông Dương, vì vấn đề đó), và vì nền độc lập của Đông Dương vẫn chỉ là một kế hoạch, không có một cơ sở thực tế cho việc can thiệp tồn tại. Ông Eisenhower đã khôn khéo trì hoãn việc để lộ khả năng cho đến khi những bộ phận khác theo cách giải quyết đầu tiên của Mỹ có thể được hài hòa. Thật không may, chúng vẫn không nằm trong một trạng thái hài hòa vào một thập kỷ sau, khi Mỹ, không nhớ đến sự rộng lớn của một việc làm khó khăn, bằng một cách tự tin nhận lãnh công việc mà Pháp đã thất bại một cách nhục nhã.
Kể từ khi cả Liên Xô và Trung Quốc lo ngại đến sự can thiệp của Mỹ, phương cách ngoại giao của Eisenhower/Dulles về việc tạo ra những mối đe dọa tiềm ẩn đã giúp mang lại một kết quả là Hội nghị Genève mà trên bề mặt có vẻ tốt hơn nhiều so với tình hình quân sự trên bộ được bảo đảm. Hiệp định Genève vào tháng Bảy năm 1954 quy định cho việc phân vùng của Việt Nam dọc theo Vĩ tuyến 17. Để lại một con đường mở ra cho sự thống nhất, vùng phân chia được mô tả không như là một “ranh giới chính trị” nhưng như là một sự sắp xếp về hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc gom nhóm lại những lực lượng quân sự trước khi có những cuộc bầu cử được giám sát theo tính cách quốc tế. Những cuộc tuyển cử nầy nầy sẽ được tổ chức trong vòng hai năm. Tất cả các lực lượng bên ngoài phải được rút khỏi là ba đất nước Đông Dương trong vòng 500 ngày; những căn cứ nước ngoài và những lực lượng liên minh với những quốc gia khác đã bị cấm.
Việc lên danh mục những vùng phân chia khác nhau, tuy nhiên, đưa đến một ấn tượng sai lệch về quy cách thủ tục và tính chất nghiêm ngặt của Hiệp định Genève. Có nhiều quốc gia ký kết trong những phần khác nhau của bản hiệp nghị nhưng không có bên nào ký kết giao ước, vì vậy không có “những bắt buộc tập thể.” Richard Nixon sau đó tổng kết mớ hỗn hợp như sau: “Chín nước tụ tập tại hội nghị và tạo ra sáu tuyên bố đơn phương, ba thỏa thuận ngưng bắn song phương, và một tuyên bố không có chữ ký.”

p635

Điều mà tất cả được tổng kết là cách chấm dứt những sự thù nghịch, việc phân vùng ở Việt Nam, và việc để lại kết quả chính trị cho tương lai. Những nhà phân tích nghiệp dư thường dùng đến sự mơ hồ của những thỏa thuận như thế như là một chứng tỏ về sự bối rối hay trò hai mặt của người đàm phán –một cáo buộc sau đó nhắm vào chống lại Hòa ước Paris 1973. Tuy thế, hầu hết thời gian, những tài liệu mơ hồ chẳng hạn như là sự phản ảnh thực tế của Hiệp định Genève, họ dàn xếp cái gì có thể để dàn xếp, trong đó sự nhận thức đầy đủ là việc sàn lọc xa hơn nữa phải chờ đợi những phát triển mới. Đôi khi, giai đoạn tạm ngưng trong sự chuyển tiếp cho phép cho chòm sao chính trị mới xuất hiện mà không có sự xung đột; đôi khi, cuộc xung đột bùng nổ một lần nữa, buộc mỗi bên phải xem xét lại việc ra giá của mình.
Vào năm 1954, một bế tắc bực bội được phát triển mà không một nước nào trong số các bên chưa kịp ở trong một vị thế để phá vỡ. Liên Xô không chuẩn bị cho cuộc đối đầu quá sớm nên sau khi cái chết của Stalin và chỉ có những lợi ích quốc gia bên ngoài ở khu vực Đông Nam Á; Trung Quốc lo sợ một cuộc chiến tranh khác với Mỹ chưa đầy một năm sau sự kết thúc cuộc xung đột ở Hàn Quốc (đặc biệt là theo quan niệm của học thuyết mới của Mỹ về đòn trả thù ào ạt); Pháp thì đang ở trong tiến trình rút lui khỏi khu vực; Hoa Kỳ thiếu một chiến lược và lẫn sự hỗ trợ của công chúng cho việc can thiệp; và những người cộng Sản Việt Nam chưa đủ mạnh để tiếp tục cuộc chiến tranh mà không có các nguồn tiếp tế bên ngoài.
Đồng thời, không có gì vốn đạt được tại Hội nghị Genève thay đổi những quan điểm cơ bản của các nhân vật chính. Chính quyền Eisenhower đã không thay đổi niềm tin của nó rằng Đông Dương là trọng điểm đối với cán cân sức mạnh ở châu Á –và có lẽ là toàn cầu; nó cũng không vĩnh viễn tuyên bố từ bỏ sự can thiệp quân sự, hay chỉ là sự can thiệp ở bên cạnh thực dân Pháp. Miền Bắc Việt Nam đã không từ bỏ mục tiêu của nó về việc thống nhất tất cả các nước ở Đông Dương dưới quyền cai trị của cộng sản, mà qua đó những nhà lãnh đạo của nó đã và đang chiến đấu trong hai thập kỷ. Ban lãnh đạo mới của Sô-Viết tiếp tục thừa nhận sự cam kết của mình cho cuộc đấu tranh giai cấp mang tính chất quốc tế. Trong những phần của học thuyết, Trung Quốc là quốc gia cấp tiến nhất trong số những nước cộng sản, mặc dù, như được được học hỏi trong nhiều thập kỷ sau nầy, nó thường gạn lọc những niềm tin tư tưởng hệ của nó qua lăng kính lợi ích quốc gia của riêng mình. Và sự nhận thức của Trung Quốc về lợi ích quốc gia của mình khiến cho nó trở nên mâu thuẫn sâu sắc trong tư tưởng về việc muốn có một quyền lực to lớn, thậm chí là một cường quốc cộng sản, trên vùng biên giới phía nam của nó –một kết quả không thể tránh khỏi của việc thống nhất Đông Dương dưới quyền cai trị của cộng sản.
Ông Dulles khéo léo lách mình qua bụi rậm nầy. Hầu như chắc chắn là ông ta thích chọn sự can thiệp quân sự và sự hủy diệt chủ nghĩa cộng sản hơn, ngay cả ở mặt bắc. Thí dụ, vào ngày 15 tháng Tư 1954, ông ta phát biểu rằng kết quả “thoả mản” duy nhất sẽ là một cuộc rút lui hoàn toàn của những người cộng sản khỏi Đông Dương. Thay vào đó, ông ta tìm thấy chính mình tại cuộc hội nghị mà kết quả có thể có duy nhất của nó sẽ là cho sự cai trị của cộng sản ở miền Bắc Việt Nam một diện mạo của tính hợp pháp mà qua đó, đến phiên nó, sẽ mở rộng ảnh hưởng của cộng sản khắp Đông Dương.

p636

Với tất cả gánh nặng mang lấy của “một người theo Thanh giáo trong một ngôi nhà mang đầy tai tiếng,” ông Dulles đã cố gắng xây dựng một cuộc dàn xếp mà qua đó, mặc dù là “một cái gì đó mà chúng ta sẽ phải bị miệng không được nói về nó,” cũng sẽ là cái gì đó làm “trắng sạch vết nhơ của chủ nghĩa thực dân Pháp.” Lần đầu tiên trong quá trình tham gia của Mỹ ở Việt Nam, sự phân tích về chiến lược và niềm tin đạo đức trùng hợp nhau. Ông Dulles xác định mục đích của Mỹ như là việc trợ giúp “khi đến những quyết định mà qua đó sẽ giúp đỡ một cách ôn hòa các quốc gia thuộc khu vực đó hưởng được sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị dưới những chính quyền ổn định và tự do với cơ hội mở rộng nền kinh tế của họ.”
Điều khó khăn trước mắt, dĩ nhiên, đó là Hoa Kỳ đã từ chối tham gia một cách chính thức tại Hội nghị Genève. Nó đã cố gắng để có mặt và lẫn vắng mặt –một cách thích hợp trên buổi họp để duy trì các nguyên tắc của nó, tuy chưa đủ để đứng về một bên để tránh tình trạng bị tai tiếng trong nước vì phải từ bỏ một số trong những nguyên tắc đó. Sự mập mờ của Mỹ được thể hiện theo cách tốt nhất trong phần phát biểu bế mạc vốn đã tuyên bố rằng Hoa Kỳ “ghi chép lại” những lời tuyên bố sau cùng và sẽ “kiềm chế mối đe dọa hoặc dùng vũ lực để quấy nhiễu họ.” Đồng thời, lời phát biểu cảnh cáo rằng “nó sẽ xem bất kỳ sự đổi mới nào của việc gây hấn trong sự vi phạm những sắp xếp nêu trên bằng mối quan tâm sâu sắc và như là việc đe dọa nghiêm trọng nền hòa bình và an ninh quốc tế.” Tôi không biết về một trường hợp nào khác trong lịch sử ngoại giao của một quốc gia bảo đảm một cuộc dàn xếp mà nó đã từ chối ký vào, và về điều mà nó đã thể hiện những điều kiện hạn chế mạnh mẽ đến như vậy.
Ông Dulles đã không thể ngăn chận sự củng cố của cộng sản ở miền Bắc Việt Nam, nhưng ông ta hy vọng tránh cho những con bài Domino khỏi ngã đổ ở phần còn lại của Đông Dương. Phải đối mặt với những gì mà ông ta và ông Eisenhower nhận thức như là những tai họa song sinh của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa cộng sản, ông ta đã vứt bỏ chủ nghĩa thực dân Pháp và từ đó sẽ được tự do để tập trung vào việc kiềm chế chủ nghĩa cộng sản. Ông ta xem công dụng của Hiệp định Genève là sự sáng tạo của nó về một khuôn khổ chính trị mà nó mang những mục tiêu chính trị và quân sự của Mỹ vào trong sự hài hòa và cung cấp một cơ sở pháp lý cho việc chống lại những động thái xa hơn nữa của cộng sản.
Về phần họ, những người cộng sản đang bận tâm với việc thành lập hệ thống chính phủ của họ ở phía bắc Vĩ tuyến 17, công việc mà họ theo đuổi bằng sự tàn bạo đặc tính, giết chết ít nhất là 50.000 người và đưa 100.000 người khác vào trong các trại tập trung. Một con số khoảng 80.000–100.000 du kích quân cộng sản di chuyển về phía bắc, trong khi 1 triệu dân Bắc Việt trốn chạy đến miền Nam Việt Nam, nơi mà Hoa Kỳ đã khám phá ra Ngô Đình Diệm là một nhà lãnh đạo mà nó nghĩ rằng có thể hỗ trợ. Ông ta có một hồ sơ không tì vết như là một nhà quốc gia; không may là, sự tận tâm cho nền dân chủ đã chứng minh không phải là sở trường của ông ta.
Sự quyết định khôn ngoan của ông Eisenhower không để càng ngày bị lôi cuốn vào Việt Nam trong năm 1954 đã chứng minh là chiến thuật, không phải là chiến lược. Sau Hiệp định Genève, ông ta và ông Dulles vẫn còn tin tưởng về tầm quan trọng thuộc chiến lược quyết định của Đông Dương.

p637

Trong khi Đông Dương tự chọn lựa, ông Dulles hoàn tất công việc còn lại trên khuôn khổ an ninh tập thể vốn đã tịt ngòi trước đó trong năm. Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO = Southeast Asian Treaty Organization), vốn ra đời vào tháng Chín năm 1954, được cấu thành, trong sự bổ sung vào Hoa Kỳ, bởi Pakistan, Philippines, Thái Lan, Úc, Tân Tây Lan, Vương quốc Anh, và Pháp. Điều mà nó thiếu là một mục tiêu chính trị chung hoặc một phương cách cho sự hỗ trợ lẫn nhau. Quả thật, những quốc gia từ chối tham gia vào Tổ chức SEATO thì đáng kể hơn so với những thành viên của nó. Ấn Độ, Indonesia, Mã Lai Á, và Miến Điện thích tìm kiếm sự an toàn trong tính trung lập hơn, và Hiệp định Genève cấm ba quốc gia Đông Dương gia nhập. Như đối với các đồng minh Âu châu của Mỹ, nước Pháp và Đại quốc Anh dường như không muốn gặp phải những rủi ro chỉ vì một vùng đất mà từ đó họ đã bị tống ra rất gần đây. Quả thật, Pháp –và đến một mức độ thấp hơn là Đại quốc Anh– gần như chắc chắn là gia nhập SEATO nhằm mục đích có được quyền phủ quyết trên điều gì họ xét là có tiềm năng cho những hoạt động cẩu thả của Mỹ.
Những nghĩa vụ chính thức có trong Tổ chức SEATO(2) thì khá mơ hồ. Việc đòi hỏi những nước ký kết nhận lấy một “mối nguy hiểm chung” bởi “những tiến trình lập hiến” của họ, Hiệp ước không thành lập một tiểu chuẩn cho việc xác định mối nguy hiểm chung hoặc cũng không tạo nên cổ máy cho hành động chung –như Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO = North Atlantic Treaty Organization) đã làm. Tuy thế, Tổ chức SEATO phục vụ mục đích của ông Dulles bằng cách cung cấp một khuôn khổ pháp lý cho việc bảo vệ Đông Dương. Đây là lý do tại sao, đủ lạ lùng là, Tổ chức SEATO riêng biệt về việc xâm lược của cộng sản chống lại ba quốc gia ở Đông Dương –vốn bị cấm làm thành viên của SEATO bởi Hiệp định Genève– hơn là đối với việc tấn công của cộng sản trên những nước ký kết. Một nghị định thư riêng biệt chỉ rõ những mối đe doạ đối với Lào, Cam-pu-chia, và miền Nam Việt Nam như là thù nghịch đối với nền hòa bình và sự an ninh của các nước ký kết, vì mục đích thiết thực cung cấp một sự đơn phương bảo đảm.
Mọi thứ bây giờ phụ thuộc vào việc liệu những quốc gia mới ở Đông Dương, đặc biệt là miền Nam Việt Nam, có thể được chuyển thành những quốc gia có đủ chức năng hoạt động toàn diện không. Không một nước nào trong số đó đã từng được cai trị như là một thực thể chính trị trong phạm vi những vùng biên giới tồn tại của mình. Huế là một đế đô ngày xưa. Người Pháp đã phân chia Việt Nam thành ba khu vực –Bắc Bộ (Tonkin), Trung bộ (Annam), và Nam bộ (Cochinchina)– được cai trị bởi Hà Nội, Huế, Sài Gòn theo cách tương ứng với khu vực. Khu vực xung quanh Sài Gòn và ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ được định cư bởi những người Việt Nam tương đối gần đây, trong suốt thế kỷ XIX, vào khoảng cùng thời gian mà người Pháp xuất hiện. Chính quyền tồn tại bao gồm một sự kết hợp của những công chức được Pháp đào tạo và một mê cung của những hội kín –những thứ được gọi là những giáo phái– một số của chúng có những hội nhập mang tính chất tôn giáo, nhưng tất cả trong số đó tự cung cấp cho mình và duy trì danh nghĩa tự trị của chúng bằng cách chiêu mộ dân cư.
Ông Diệm, người cai trị mới, là con trai của một quan chức tại triều đình Huế.

p638

Được giáo dục trong những nhà trường Công giáo, ông ta có một ít năm phục vụ như là một quan chức trong chính quyền thuộc địa ở Hà Nội nhưng đã từ chức khi người Pháp từ chối thực hiện một số trong những cải cách được đưa ra của mình. Ông ta đã trải qua hai thập kỷ tiếp theo như là một người ẩn dật trí thức trong đất nước của riêng mình hoặc trong cuộc sống lưu vong nước ngoài –hầu hết là ở Mỹ– từ chối những ân huệ từ người Nhật, những người cộng sản, và các nhà lãnh đạo người Việt được Pháp hỗ trợ để tham gia vào những chính phủ khác nhau của họ.
Các nhà lãnh đạo của những thứ gọi là những phong trào tự do không phải những cá tính dân chủ đặc trưng; họ duy trì bản thân họ qua những năm lưu vong và nhà tù với tầm nhìn của sự chuyển đổi mà họ sẽ mang đến một khi họ nắm lấy quyền lực. Sự khiêm tốn hiếm khi là một trong những thuộc tính của họ; nếu có, họ sẽ không là những nhà cách mạng. Việc thành lập một chính phủ vốn làm cho người lãnh đạo của nó trở nên không quan trọng –thực chất của dân chủ– đánh vào hầu hết họ như là một sự trái ngược trong những điều khoản. Những nhà lãnh đạo của các cuộc đấu tranh giành độc lập có khuynh hướng trở thành những anh hùng, and những anh hùng thường không làm bạn đồng hành thoải mái.
Những đặc điểm cá tính của ông Diệm được pha trộn bởi truyền thống chính trị Nho giáo của Việt Nam. Không giống như lý thuyết dân chủ, vốn xem chân lý như là xuất hiện từ một cuộc đụng độ của các ý tưởng, chủ thuyết Khổng tử duy trì rằng chân lý là mục tiêu và chỉ có thể được nhận thức bởi sự nghiên cứu siêng năng và một nền giáo dục mà trong đó chỉ có một số ít hiếm hoi được cho là có khả năng. Việc tìm kiếm chân lý của nó không xem những ý tưởng nghĩ trái ngược như có giá trị ngang nhau, cách thức mà lý thuyết dân chủ xét đến. Vì chỉ có một chân lý, mà qua đó điều mà không đúng, không thể có một vị thế nào hoặc được nâng cao giá trị qua sự cạnh tranh. Chủ thuyết Khổng tử về cơ bản là sự phân cấp và tầng lớp thượng lưu, qua việc nhấn mạnh lòng trung thành đối với gia đình, những công quyền, và quan quyền. Chưa có một xã hội nào trong số mà chủ thuyết Khổng tử đã tạo ảnh hưởng, từng sản xuất ra được một hệ thống đa nguyên vận hành (với Đài Loan trong những năm 1990s tiến đến điều đó gần nhất).
Vào năm 1954, có ít nền tảng ở miền Nam Việt Nam cho tính chất quốc gia, và thậm chí ít hơn cho nền dân chủ. Tuy thế, không phải là sự đánh giá chiến lược của Mỹ hoặc cũng không phải là niềm tin của nó là miền Nam Việt Nam phải được cứu lấy bởi sự cải cách dân chủ, đã xét đến những thực tế nầy. Với lòng nhiệt tình của một người ngây ngô, Chính quyền Eisenhower tự lao đầu vào việc bảo vệ miền Nam Việt Nam chống lại sự xâm lăng của cộng sản và công việc xây dựng một quốc gia trong một danh phận cho phép một xã hội mà nền văn hóa của nó rất khác biệt từ nền văn hóa của Mỹ, duy trì nền độc lập mới tìm thấy của nó và thực hành quyền tự do theo ý nghĩa người Mỹ.
Ông Dulles đã kêu gọi sự hậu thuẩn cho ông Diệm suốt từ đầu đến cuối, trên một vùng đất mà ông ta là “một con ngựa duy nhất hiện có.” Vào tháng Mười năm 1954, ông Eisenhower đã làm một nghĩa cử đạo đức cần thiết bằng cách viết thư cho ông Diệm với lời hứa hẹn về việc viện trợ còn tùy thuộc vào những tiêu chuẩn của “cách làm việc… trong sự đảm trách những cải cách cần đến.”

p639

Sự trợ giúp của Hoa Kỳ sẽ được “kết hợp với” vấn đề độc lập mà Việt Nam “được phú cho một Chính phủ mạnh mẽ… rất đáp ứng đối với những nguyện vọng chính thể quốc gia của những người dân của nó” khi khiến phải có sự tôn trọng từ trong nước và lẫn quốc tế.
Trong một ít năm, mọi thứ dường như được tiến hành tốt đẹp. Đến cuối Chính quyền Eisenhower (i.e. vào tháng 01/1961), Hoa Kỳ đã giao cho miền Nam Việt Nam hơn 151 tỷ trong phần viện trợ; 1.500 nhân viên Mỹ ở miền Nam Việt Nam; Tòa Lãnh sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn trở thành một trong những tòa đại sứ lớn nhất trên thế giới. Nhóm Cố vấn Quân sự Hoa Kỳ, chứa 692 thành viên, đã bỏ qua những giới hạn về số nhân viên quân sự nước ngoài được thiết lập bởi Hiệp định Genève.
Chống lại tất cả những kỳ vọng và với sự hỗ trợ ào ạt của tình báo Mỹ, ông Diệm đã đàn áp những hội kín, ổn định nền kinh tế, và tìm cách thiết lập quyền điều khiển tập trung –những thành tích gây kinh ngạc vốn đã được đón nhận nồng nhiệt ở Hoa Kỳ. Sau chuyến viếng thăm Việt Nam vào năm 1955, Thượng nghị sĩ Mike Mansfield báo cáo rằng ông Diệm tượng trưng cho “một chủ nghĩa quốc gia chân chính” và đã thực hiện “cái gì là một chính nghĩa tự do bị mất và phà hơi một sức sống mới vào trong nó.” Thượng nghị sĩ John F. Kennedy đã chứng thực tán thành hai trụ cột song sinh của chính sách Việt Nam của Mỹ, là sự an ninh và nền dân chủ, qua việc mô tả Việt Nam không chỉ như là “viên đá trọng yếu của vòm cong” về sự an ninh ở Đông Nam Á mà còn như là “một vùng đất chứng minh cho nền dân chủ ở châu Á.”

(Theo kỹ thuật kiến trúc đã có từ thời văn minh La Mã, viên đá trọng
yếu (keystone) nằm ở giữa vòm cong là một viên đá phải gánh chịu
sức nặng, áp xuất nhiều nhất để giữ vững vòm cong mà Nghị sĩ
Kennedy đã ví von ám chỉ vai trò của Việt Nam ở Đông Nam Á)

Những sự kiện thực tế sớm tiết lộ rằng Mỹ đã từng ca ngợi một thời gian tạm lắng trong áp lực của cộng sản, không phải là một thành tích vĩnh viễn. Sự giả định của Mỹ là cái dấu nhãn dân chủ độc đáo của riêng nó sẵn sàng có thể xuất cảng, hóa ra là bị khiếm khuyết. Ở phương Tây, chủ thuyết đa nguyên chính trị đã phát triển mạnh trong số những xã hội gắn kết nơi mà một sự đồng thuận xã hội, mạnh mẽ đã nằm ở nơi đó đủ lâu để cho phép sự khoan dung đối với phe đối lập mà không đe dọa sự sinh tồn của nhà nước. Nhưng nơi mà một quốc gia vẫn chưa được tạo ra, phe đối lập có thể xem như là một mối đe dọa cho sự tồn tại quốc gia, đặc biệt là khi không có một xã hội dân sự nào để cung cấp một mạng lưới an toàn. Trong những điều kiện nầy, sự cám dỗ rất mạnh mẽ, thường áp đảo, để đánh đồng phe đối lập với tội phản quốc.
Tất cả những khuynh hướng nầy càng lúc được phóng đại trong một cuộc chiến tranh du kích. Đối với chiến lược của những du kích quân là nhằm phá hoại ngầm một cách có hệ thống bất cứ sự gắn kết như thế nào mà những cơ quan cai trị tìm cách đạt được. Ở Việt Nam, hoạt động du kích đã không bao giờ ngưng lại, và vào năm 1959, nó đổi qua một tốc độ nhanh. Mục đích ban đầu của những du kích quân là nhằm ngăn chận sự củng cố của những cơ quan ổn định và hợp pháp. Những mục tiêu ưa thích của họ là các quan chức chính phủ tồi tệ nhất và tài giỏi nhất. Họ tấn công những người tồi tệ nhất nhằm mục đích giành lấy những sự cảm thông của quần chúng bằng cách “trừng phạt” những quan chức tham nhũng hoặc áp bức; và họ tấn công những người tài giỏi nhất bởi vì đó là cách hiệu quả nhất của việc ngăn chận chính phủ không đạt được tính chất hợp pháp và của việc làm nản lòng sự phục vụ hiệu quả cho quốc gia.
Đến năm 1960, một số khoảng 2.500 quan chức của miền Nam Việt Nam đã bị ám sát mỗi năm.

p640

Chỉ là một con số nhỏ của những người tận tụy nhất, và một con số phần trăm lớn hơn nhiều của những người tham nhũng nhất, sẽ gặp phải những rủi ro như thế. Trong cuộc tranh đua giữa việc xây dựng quốc gia và sự hỗn loạn, giữa nền dân chủ và sự đàn áp, du kích quân hưởng được một lợi thế to lớn. Ngay cả khi ông Diệm đã từng là một nhà cải cách theo mô hình Mỹ, đó là điều đáng ngờ là liệu ông ta có thể đã thắng trong cuộc đua không cân sức giữa khoảng thời gian cần đến cho việc cải cách và khoảng thời gian đủ thích hợp cho việc đưa đến sự hỗn loạn không. Để chắc chắn là, ngay cả khi đất nước của ông ta đã không bị vướng mắc trong một cuộc chiến tranh du kích, ông Diệm sẽ không chứng minh được là một nhà lãnh đạo dân chủ đáng kể hơn nữa. Một vị quan lại thời xưa, ông ta đã bám giữ như là một mô hình của người cầm quyền kiểu Khổng giáo cai trị bằng đức độ, không phải là sự đồng thuận, và vốn là người đã đạt được tính chất hợp pháp, cái gọi là sự ủy thác của trời, bằng sự thành công. Ông Diệm đã chùn lại theo bản năng trước khái niệm về một phe đối lập hợp pháp, khi mà tất cả các nhà lãnh đạo kiểu Trung Quốc từ Beijing đến Singapore và gần như tất cả các nhà lãnh đạo Đông Nam Á đối mặt với những khó khăn trong nước ít dữ dội hơn nhiều. Trong một khoảng thời gian, những thành tựu của ông Diệm trong việc xây dựng quốc gia che mờ nhịp độ chậm chạp của việc cải cách dân chủ. Tuy nhiên, khi sự an ninh bên trong miền Nam Việt Nam xấu đi, những cuộc xung đột ngấm ngầm các những giá trị của Mỹ và những truyền thống của miền Nam Việt Nam bị buộc phải đào sâu hơn.
Mặc dù việc xây dựng quân đội miền Nam Việt Nam được Mỹ tài trợ, tình hình an ninh trở nên tồi tệ hơn một cách điều đặn. Giới quân sự Mỹ được thúc đẩy bởi cùng một sự tự tin vốn mô tả đặc điểm của các nhà cải cách chính trị Mỹ. Cả hai đều được thuyết phục rằng dù thế nào đi nữa họ đã phát hiện ra một biện pháp không thể sai lầm được cho sự thành công trong một quốc gia bị cuộc xung đột đè nặng có địa dư xa xôi và văn hóa xa lạ đối với Hoa Kỳ. Họ tiếp tục công việc thường làm là việc tạo ra một quân đội Việt Nam như một bản sao của chính họ. Những lực lượng vũ trang Mỹ được chuẩn bị để chiến đấu ở châu Âu; kinh nghiệm duy nhất của họ trong những nước đang phát triển đã là ở Hàn Quốc, nơi mà nhiệm vụ của họ đã là chiến đấu chống lại một quân đội quy ước vượt qua giới tuyến được quốc tế nhìn nhận ở giữa dân cư ủng hộ chung chung, một tình hình rất giống với cái gì mà các nhà hoạch định quân sự đã dự đoán là sẽ xảy ra ở châu Âu. Nhưng ở Việt Nam, cuộc chiến tranh thiếu những tiền tuyến được xác định rõ; đối phương, được cung cấp từ Hà Nội, không cần phải bảo vệ gì cả và tấn công bừa bãi, kẻ thù có mặt cùng một lúc ở mọi nơi và không ở nơi nào.
Từ thời điểm mà lực lượng quân sự Mỹ đến Việt Nam, nó bắt đầu áp dụng phương pháp chiến tranh quen thuộc của nó: việc gây tiêu hao đối phương dựa vào hỏa lực, việc cơ giới hóa, và sự di động. Tất cả những phương pháp nầy không thể áp dụng cho Việt Nam. Quân đội miền Nam Việt Nam được Mỹ đào tạo chẳng bao lâu tìm thấy chính nó trong cùng một cái bẫy tương tự như cái mà lực lượng viễn chinh Pháp mắc phải trong một thập kỷ trước đó. Phương pháp gây tiêu hao đối phương có hiệu nghiệm tốt nhất chống lại một đối thủ vốn là kẻ không có một sự lựa chọn nào ngoại trừ bảo vệ cái gì rất muốn sống chết chiếm giữ. Nhưng những du kích quân hiếm khi có một cái gì rất muốn chiếm giữ mà họ phải bảo vệ. Việc cơ động hóa và cách tổ chức thành những phân đội khiến cho quân đội Việt Nam trở nên gần không thích hợp đối với cuộc đấu tranh cho đất nước của riêng mình.

p641

Trong những ngày đầu của sự tham gia của Mỹ ở Việt Nam, cuộc chiến tranh du kích vẫn còn trong giai đoạn trứng nước của nó, và nan đề quân sự chưa trội hẳn. Vì thế, điều đó dường như thể là sự tiến triển thực thụ đang được tạo ra. Mãi đến khi ngay lúc cuối Chính quyền Eisenhower, Hà Nội tung ra cuộc chiến tranh du kích với tốc độ cao, và nó vẫn sẽ là thế trong một thời gian nào đó trước khi Bắc Việt có khả năng thiết lập một hệ thống hậu cần cho việc cung cấp một cuộc chiến tranh du kích lớn. Nhằm mục đích hoàn thành việc nầy, họ xâm chiếm Lào, một quốc gia nhỏ bé, yên bình, và trung lập, thông qua đó họ xây dựng cái gì mà sau nầy trở nên được biết đến như là Đường mòn Hồ Chí Minh.
Khi ông Eisenhower chuẩn bị rời khỏi chức vụ, Lào là thực ra mối quan tâm chính của ông ta. Trong cuốn sách “Waging Peace” (“Tiến hành Hòa bình”), ông ta mô tả quốc gia đó như là một đinh chốt của “Lý thuyết Domino” :

… sự sụp đổ của Lào trước chủ nghĩa cộng sản có thể có nghĩa là sự sụp đổ theo sau –giống như một hàng đổ nhào của những con bài Domino— của các nước láng giềng vẫn còn đứng vững của nó, Cam-pu-chia và miền Nam Việt Nam và, rất có thể là, Thái Lan và Miến Điện. Một chuỗi các sự kiện như thế sẽ mở đường cho sự chiếm giữ của cộng sản trên tất cả các nước Đông Nam Á.

Ông Eisenhower xem nền độc lập của Lào đó rất quan trọng đến nỗi ông ta chuẩn bị “chiến đấu… cùng với những đồng minh của mình hoặc không có họ.” Việc bảo vệ Lào là khuyến nghị cụ thể nhất mà ông ta đề bạc đến vị Tổng thống đắc cử Kennedy trong suốt giai đoạn chuyển tiếp trước tháng Giêng năm 1961.
Khi chính quyền đang thay đổi, mức độ và bản chất của sự tham gia của Mỹ ở Đông Dương chưa phải là một hình thức quy mô vốn gây tai hại cho uy tín toàn cầu của Mỹ đến mức không còn lấy lại được. Nỗ lực của Mỹ vẫn mang một sự tương quan nào đó đối với những mục tiêu an ninh khu vực; và điều đó chưa phải là một mức độ to lớn mà hành động của sự bào chữa, chính nó sẽ đưa ra sự biện minh của riêng mình.
Lý thuyết Domino đã trở thành tính chất khôn ngoan theo tập quán và hiếm khi bị thách thức. Tuy nhiên, giống như chính chủ thuyết Wilson, Lý thuyết Domino không phải là quá nhiều sai trái như nó được xem là không có gì khác biệt. Những vấn đề thực tế được đặt ra bởi Việt Nam không phải là việc liệu chủ nghĩa cộng sản có nên bị chống đối ở châu Á không, nhưng là việc liệu Vĩ tuyến 17 là nơi đúng để vạch giới tuyến không; không phải là vấn đề về chuyện gì sẽ xảy ra ở Đông Dương nếu con bài Domino của miền Nam Việt Nam ngã đổ, nhưng là việc liệu một tuyến phòng thủ khác có thể được vạch ra, thí dụ như là, tại những vùng biên giới của Mã Lai Á không.
Vấn đề đó chưa bao giờ được khảo nghiệm một cách về mặt địa hình chính trị. Vấn đề ở thủ phủ Munich từng là một bài học chuyên đề của thế hệ đó của các nhà lãnh đạo Mỹ, việc rút lại được xem như chồng chất thêm những khó khăn, và trên hết, như là điều sai trái về mặt đạo đức.

p642

Điều nầy, thật ra, là ông Eisenhower bảo vệ sự tham gia của Mỹ vào năm 1959 như thế nào :

… những lợi ích quốc gia của riêng chúng ta đòi hỏi sự giúp đỡ nào đó từ chúng ta trong việc duy trì tinh thần chiến đấu ở Việt Nam, sự tiến triển về kinh tế, và sức mạnh quân sự cần thiết cho sự tồn tại tiếp tục của nó trong nền tự do… Những cái giá phải trả cho việc bỏ qua những vấn đề nầy từ trước đến nay sẽ rất nhiều hơn so với những tổn phí mà hiện thời chúng ta phải mang lấy –quả thật nhiều hơn những thứ mà chúng ta có thể chịu được.

Truyền thống của những người theo thuyết phổ quát của Mỹ chỉ đơn giản là sẽ không cho phép nó phân biệt trong số các nạn nhân có thể có trên cơ sở của tính chất thủ đoạn chiến lược. Khi các nhà lãnh đạo Mỹ kêu gọi lòng vị tha của dân tộc họ, chính là bởi vì họ chân thành tin tưởng vào nó; có nhiều khả năng là họ bảo vệ một đất nước để chứng minh một nguyên tắc hơn là trên cơ sở lợi ích quốc gia của Mỹ.
Bằng cách lựa chọn Việt Nam như là nơi để vạch tuyến chống lại chủ nghĩa bành trướng của cộng sản, Mỹ biết chắc rằng những tình trạng khó xử sâu sắc sẽ phơi ra ở phía trước. Nếu việc cải cách chính trị là cách để đánh bại những du kích quân, có phải chăng sức mạnh đang tăng trưởng của họ có nghĩa là những khuyến nghị của Mỹ không được ứng dụng một cách đúng đắn, hoặc là những khuyến nghị nầy chỉ đơn giản là không thích đáng, ít nhất là vào giai đoạn đó của cuộc đấu tranh ? Và nếu Việt Nam quả thật quan trọng đối với sự cân bằng toàn cầu như hầu hết tất cả các nhà lãnh đạo Mỹ khẳng định, có phải chăng điều đó không có nghĩa là những nhu cầu cần thiết về địa hình chính trị, cuối cùng, sẽ đè lên tất cả những thứ khác và buộc Mỹ tiếp nhận một cuộc chiến tranh cách xa quê nhà 12.000 dặm ? Những câu trả lời cho những câu hỏi nầy được để lại cho người kế nhiệm của ông Eisenhower, John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson.

p643

Chương 26 : Vietnarn : Trên đường đến sự Thất vọng;
Tổng thống Kennedy và Tổng thống Johnson

(Tổng thống Lyndon Baines Johnson, thứ 36 của Hoa Kỳ)

Như là vị thứ ba kế tiếp có nhiệm vụ giải quyết vấn đề Đông Dương, John F. Kennedy thừa hưởng cả khối những điều kể trên của một chính sách được thiết lập kỹ lưởng. Giống như những người tiền nhiệm của mình, ông Kennedy nhận xét Việt Nam là một nối kết rất quan trọng trong vị trí địa hình chính trị toàn cầu của Mỹ. Ông ta tin tưởng, như ông Truman và ông Eisenhower đã từng, rằng việc ngăn chận thắng lợi của cộng sản ở Việt Nam là điều quan tâm tối hậu của Mỹ. Và, giống như những người tiền nhiệm của mình, ông ta xem ban lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội như là một thứ đại diện của Điện Kremlin.

p644

Tóm lại là, ông Kennedy đồng ý với hai chính quyền trước đó rằng việc bảo vệ miền Nam Việt Nam là cần thiết đối với chiến lược toàn diện của sự ngăn chận trên toàn cầu.
Mặc dù chính sách về Việt Nam của ông Kennedy nhìn chung là sự tiếp nối với chính sách của ông Eisenhower, có ba sự khác biệt quan trọng. Ông Eisenhower đã xem cuộc xung đột theo cách mà một người lính có thể nhìn thấy –như là một cuộc chiến tranh giữa hai thực thể khác biệt, Bắc và Nam Việt Nam. Đối với nhóm nghiên cứu của ông Kennedy, những cuộc tấn công của Việt Cộng vào miền Nam Việt Nam không tượng trưng cho một cuộc chiến tranh truyền thống phần nhiều giống như một cuộc xung đột bán dân sự được đặc tính hóa bởi hiện tượng chiến tranh du kích tương đối mới. Giải pháp ưa thích của nhóm nghiên cứu của ông Kennedy là, đối với Hoa Kỳ, xây dựng miền Nam Việt Nam trở thành một quốc gia –về mặt xã hội, chính trị, kinh tế, và quân sự– để cho nó có thể đánh bại những du kích quân mà không gây cơ cho những sinh mạng người Mỹ.
Đồng thời, nhóm nghiên cứu của ông Kennedy giải thích về khía cạnh quân sự của cuộc xung đột bằng những ngôn từ thậm chí thê thảm như ngày tận thế hơn so với những người tiền nhiệm của nó đã nói. Trong khi đó, ông Eisenhower đã nhìn thấy mối đe dọa quân sự đối với Việt Nam qua lăng kính của cuộc chiến tranh quy ước, nhóm nghiên cứu của ông Kennedy tin tưởng –một cách hấp tấp khi biết ra– rằng một sự bế tắc về vũ khí hạt nhân đã thực sự tồn tại giữa Hoa Kỳ và Liên Xô mà qua đó tạo nên một cuộc chiến tranh chung chung, theo những lời của vị Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, không thể tưởng tượng được. Chính quyền được thuyết phục rằng sẽ việc xây dựng quân sự của nó sẽ lấy đi cơ hội của những người cộng sản muốn tiến hành những cuộc chiến tranh hạn chế như loại ở Hàn Quốc. Bằng một tiến trình loại trừ, nó cuối cùng xét cuộc chiến tranh du kích như làn sóng trong tương lai và sự đề kháng đối với nó là cuộc thử nghiệm tối hậu về khả năng của Mỹ kiềm chế chủ nghĩa cộng sản.
Vào ngày 6 tháng Giêng năm 1961, hai tuần trước khi có buổi lễ nhậm chức của ông Kennedy, ông Khrushchev (i.e. Chủ tịch Đảng Cộng sản Liên Xô) đã mô tả “những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc” như là sự hỗ trợ được tuyên thề và “thiêng liêng” của Liên Xô cho chúng. Chương trình Tiền phương Mới còn non trẻ của ông Kennedy đối phó với lời tuyên thề nầy như là một tuyên bố chiến tranh chống lại niềm hy vọng của nó về việc đưa ra tầm quan trọng mới cho những quan hệ của Mỹ với các nước đang phát triển. Ngày hôm nay, bài diễn văn của ông Khrushchev được nhận biết một cách rộng rãi như là đã từng được nhắm chủ yếu vào những kẻ hành hạ tư tưởng hệ của nó ở Beijing, vốn là những kẻ cáo buộc ông ta về chủ thuyết Lennin suy đồi bởi vì ông ta vừa mới kéo dài tối hậu thư cho Berlin lần thứ ba, và bởi vì những điều kiện hạn chế thường được thể hiện về cuộc chiến tranh hạt nhân. Vào thời điểm đó, tuy nhiên, ông Kennedy, trong bài Diễn văn Nhà nước Liên minh trong lần đầu tiên của ông ta vào ngày 31 tháng Giêng năm 1961, đối phó với bài phát biểu của ông Khrushchev như là một bằng chứng về “những tham vọng thống trị thế giới” của Liên Xô và Trung Quốc –“những tham vọng mà họ mạnh mẽ phát biểu lại chỉ một thời gian ngắn trước đây.”
Vào tháng Chín năm 1965, cùng một sự hiểu lầm có thể đã xảy ra trong suốt Chính quyền Johnson liên quan đến Trung Quốc khi bản tuyên ngôn của vị Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lin Piao về cuộc “Chiến tranh Nhân dân” đã nói một cách trịch thượng về việc “bao vây” những cường quốc kỹ nghệ trên thế giới bằng những cuộc cách mạng khắp Thế giới Thứ ba.

p645

Chính quyền Johnson giải bày điều nầy như là một lời cảnh cáo rằng Trung Quốc có thể can thiệp vào Hà Nội, bỏ qua ẩn ý của ông Lin, vốn nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tự lực trong những cuộc cách mạng. Được nhấn mạnh hơn bởi lời bình luận của ông Mao rằng quân đội Trung Quốc không đi ra nước ngoài, điều đó cũng có ý là đưa ra một ám chỉ mạnh mẽ rằng Trung Quốc không có ý định trở nên bị lôi cuốn một lần nữa trong những cuộc chiến tranh giải phóng của cộng sản. Rõ ràng là cả hai bên trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên đã học được những bài học giống nhau; họ quyết tâm không lặp lại điều đó.
Những lời giải bày của Chính quyền Kennedy và Chính quyền Johnson về những tuyên bố của cộng sản khiến cho Đông Dương không còn được cảm nhận như là một trận chiến trong số nhiều nhiều trận đánh trong Chiến tranh Lạnh. Đối với chương trình Tiền phương Mới, Đông Dương tượng trưng cho một trận chiến quyết định mà qua đó sẽ xác định về việc liệu cuộc chiến tranh du kích có thể bị chận đứng và cuộc Chiến tranh Lạnh giành được thắng lợi không. Lời giải bày của ông Kennedy của cuộc xung đột như là một âm mưu được phối hợp toàn cầu khiến ông ta kết luận rằng Đông Nam Á là nơi để khôi phục lại uy tín của mình sau khi ông ta đã bị dọa nạt bởi ông Khrushchev tại Hội nghị Thượng đỉnh Vienna vào tháng Sáu năm 1961: “Hiện thời, chúng ta có một nan đề,” ông ta nói với James Reston (i.e. một nhà báo Mỹ), vốn là người sau nầy là nhà phê bình hàng đầu của tờ báo New York Time, “trong việc cố gắng làm cho sức mạnh của chúng ta đáng tin cậy, và tạo ra một nước Việt Nam trông giống như nơi nầy.”
Như trong một bi kịch cổ điển mà trong đó người anh hùng bị dẫn dắt từ bước nầy đến bước không thể nhận thức được đi đến số phận của mình bằng những sự kiện dường như ngẫu nhiên, lối vào Việt Nam của Chính quyền Kennedy là bằng con đường của cuộc khủng hoảng mà từ đó những người tiền nhiệm của nó đã được miễn thứ –như là một tương lai của nước Lào. Một số ít người đã ít đáng phải chịu sự khốn khổ vốn rơi xuống đầu họ hơn những người dân Lào hiền lành, yêu chuộng hòa bình. Xen vào giữa những dãy núi nghiêm cấm vốn đối mặt với Việt Nam và dòng sông Cửu Long rộng lớn, mà qua đó đánh dấu vùng biên giới với Thái Lan, những người dân Lào không yêu cầu gì với người hàng xóm hiếu chiến của họ ngoại trừ muốn được để yên. Đó là một điều ước, tuy nhiên, Bắc Việt không bao giờ ban cho họ. Có lần Hà Nội đã tung ra một cuộc chiến tranh du kích của nó ở miền Nam Việt Nam vào năm 1959, những áp lực trên đất nước Lào không tránh khỏi gia tăng. Nếu Hà Nội đã cố gắng cung cấp cho những lực lượng du kích ở miền Nam qua lãnh thổ Việt Nam, nó sẽ phải xâm nhập qua cái gọi là Khu phi Quân sự, giới tuyến phân chia Việt Nam vốn kéo dài vào khoảng 64 km dọc theo Vĩ tuyến 17. Khoảng cách đó có thể đã bị phong kín bởi quân đội miền Nam Việt Nam với sự hỗ trợ của Mỹ. Hoặc một cách khác hơn là Bắc Việt có thể đã phải tung ra một cuộc tấn công qua những đơn vị quân sự có tổ chức vượt qua Vĩ tuyến 17, mà qua đó gần như chắc chắn là sẽ khởi động sự can thiệp của Mỹ và có lẽ của cả tổ chức SEATO(02) –một thứ mà Hà Nội dường như không muốn mạo hiểm mãi cho đến năm 1972, hơi khá muộn trong cuộc Chiến tranh Việt Nam.
Qua lý luận máu lạnh vốn đã nhấn mạnh đến chiến lược của cộng sản trong suốt cuộc chiến tranh, Hà Nội kết luận rằng việc xâm nhập vào trong miền Nam Việt Nam qua đất nước Lào và Cam-pu-chia trung lập sẽ mắc vào những xử phạt quốc tế ít hơn so với một cuộc tấn công công khai vượt qua Vĩ tuyến 17.

p646

Ngay cả mặc dù tính chất trung lập của Lào và Cam-pu-chia đã được bảo đảm bởi Hiệp định Genève vào năm 1954 và được tái khẳng định bởi Hiệp ước SEATO, (02)Hà Nội tạo ra cây gậy phán quyết của nó. Trong thực tế, nó sát nhập vùng cán chảo thuộc chủ quyền nước Lào và thiết lập những khu căn cứ ở đó và lẫn Cam-pu-chia mà không có sự phản đối đáng kể nào từ cộng đồng thế giới. Quả thật, điều gì được chuyển qua cho sự đánh giá của thế giới, rơi tỏm mất hút với cách lý luận quái dị của Hà Nội: chính là những nỗ lực của Mỹ và miền Nam Việt Nam làm gián đoạn mạng lưới xâm nhập rộng lớn trên vùng đất trung lập mà qua đó càng lúc bị trừng phạt như là “những vùng mở rộng” của cuộc chiến tranh.
Vùng cán chảo của Lào cung cấp cho Bắc Việt với những tuyến đường đi vào dưới tàn là khu rừng của khoảng 1.045 km dọc theo toàn bộ biên giới của miền Nam Việt Nam với Lào và Cam-pu-chia. Hơn 6.000 cán binh Bắc Việt Nam di chuyển vào trong Lào trong năm 1959 với sứ mệnh bề ngoài là hỗ trợ cộng sản Pathet Lào, vốn là những người, kể từ khi Hiệp định Genève năm 1954, đã được áp đặt bởi Hà Nội trong các tỉnh đông bắc dọc theo biên giới Việt Nam.
Như là một quân nhân, ông Eisenhower hiểu rằng việc bảo vệ miền Nam Việt Nam phải bắt đầu tại Lào. Ông ta nói với Kennedy một cách rõ ràng trong suốt quá trình chuyển đổi rằng ông ta chuẩn bị can thiệp vào Lào, nếu cần thiết cho một bên. Những lời phát biểu đầu tiên của ông Kennedy về Lào thì phù hợp với những khuyến nghị của ông Eisenhower. Tại một cuộc họp báo vào ngày 23 tháng Ba năm 1961, ông ta đã cảnh cáo: “Vấn đề an ninh của tất cả các nước Đông Nam Á sẽ bị đe dọa nếu Lào mất sự độc lập trung lập của nó. Sự an toàn của riêng nó tiến hành song song với sự an toàn của tất cả chúng ta –theo tính chất trung lập thực tế được quan sát bởi tất cả chúng ta.” Tuy thế, khi trình bày chính sách quốc phòng mới của mình chỉ năm ngày sau đó, ông Kennedy khẳng định rằng “những vấn đề cơ bản đối mặt với thế giới ngày nay không cho phép hành động bằng một giải pháp quân sự.” Mặc dù không hoàn toàn mâu thuẩn với quyết định bảo vệ Lào, lời phát biểu nầy không chính xác là lời kêu gọi vang truyền cho hành động quân sự. Hà Nội không bao giờ có bất kỳ những ảo tưởng nào khi mà nó đang có chiến tranh, và nó sẽ sử dụng tất cả phương tiện sẵn có của mình để thắng cuộc chiến. Ông Kennedy thì mơ hồ hơn. Ông ta hy vọng thắng thế kiềm chế được những người cộng sản qua biện pháp chính trị và bằng sự thỏa hiệp nếu như có thể có, bất kể là gì.
Vào tháng Tư năm 1961, bị rung động bởi vấn đề vịnh Con Heo, ông Kennedy quyết định chống lại sự can thiệp, thay vào đó chọn cách dựa vào các cuộc đàm phán để củng cố tính chất trung lập của Lào. Một khi mối đe dọa về sự can thiệp của Mỹ được gỡ bỏ, những cuộc đàm phán về tính chất trung lập chắc chắn là điều xác nhận sự bóp nghẹt của Hà Nội. Thật vậy, đây là lần thứ hai mà Hà Nội đang bán đứng tính chất trung lập của Lào, sau khi đã cam đoan thực sự tôn trọng nó tại Hội nghị Genève vào năm 1954.
Trong khi phát triển mạng lưới hậu cần mà sau nầy được mệnh danh là Đường mòn Hồ Chí Minh, Bắc Việt đàm đình trệ những đàm phán trong một năm.

p647

Cuối cùng, vào tháng Năm năm 1962, ông Kennedy gởi những binh lính Thủy quân Lục chiến đến nước Thái Lan láng giềng. Điều nầy mang lại một sự kết thúc nhanh chóng cho những cuộc đàm phán. Tất cả những binh lính và các vị cố vấn nước ngoài được yêu cầu phải được rút lui khỏi Lào qua những trạm kiểm soát quốc tế. Mỗi vị cố vấn Thái và Mỹ phải rời khỏi theo như lịch trình; trong số hơn 6.000 nhân viên quân sự Bắc Việt vốn là những người đã di chuyển vào trong đất Lào, một cách chính xác là bốn mươi người (vâng, bốn mươi người) rời khỏi qua các trạm kiểm soát quốc tế. Còn đối với những người còn lại, Hà Nội trơ trẽn phủ nhận là họ không còn có mặt ở đó. Con đường đến miền Nam Việt Nam hiện nay đang nằm mở rộng.
Ông Eisenhower hóa ra đã đúng. Nếu quả thật Đông Dương là hòn đá trọng yếu của sự an ninh của Mỹ ở Thái Bình Dương, như các nhà lãnh đạo ở Washington đã từng tuyên bố trong hơn một thập kỷ, Lào là một nơi tốt hơn để bảo vệ nó so với Việt Nam; thực vậy, có lẽ nó là một nơi duy nhất để bảo vệ Đông Dương. Ngay cả mặc dù Lào là một đất nước xa xôi và bị nhốt giữa đất liền, Bắc Việt, như lo sợ và thù ghét những người nước ngoài, có thể đã không tiến hành một cuộc chiến tranh du kích trên vùng đất của nó. Người Mỹ có thể đã chiến đấu ở đó theo một loại chiến tranh quy ước mà quân đội của nó đã được huấn luyện, và những binh lính Thái Lan gần như chắc chắn sẽ hỗ trợ những nỗ lực của Mỹ. Phải đối mặt với những viễn ảnh như thế, Hà Nội cũng đã có thể rút trở lại để chờ đợi một thời điểm thuận lợi hơn cho cuộc chiến tranh trên quy mô toàn diện.
Quá máu lạnh đối với một sự phân tích chiến lược, tuy thế, được xem là không phù hợp cho một cuộc xung đột, vẫn được nhận thức phần lớn trong phần tư tưởng hệ. (Cũng chẳng phải là quan điểm riêng của tôi vào lúc đó.) Trong một thập kỷ, các nhà lãnh đạo Mỹ đã từng tạo ra một trường hợp cho việc bảo vệ Việt Nam bởi vì nó tượng trưng cho một yếu tố quan trọng trong khái niệm bảo vệ Á châu; việc xét lại chiến lược đó bằng sự bất ngờ quy định một vương quốc đồi núi xa xôi và lạc hậu như là một đinh chốt của Lý thuyết Domino đã có thể phá vỡ sự đồng thuận trong nước.
Trong tất cả những lý do nầy, ông Kennedy và các vị cố vấn của mình kết luận rằng Đông Dương phải được bảo vệ ở miền Nam Việt Nam, nơi mà sự xâm lăng của cộng sản có một số ý nghĩa nào đó đối với những người Mỹ, bất kể sự kiện thực tế là họ vừa mới làm một quyết định mà qua khiến cho công việc đó gần như không thể thực hiện bằng quân sự. Không phải chỉ là đối với những tuyến đường cung cấp qua Lào đang nằm mở rộng, mà là những kẻ cai trị xảo quyệt, hay thay đổi của Cam-pu-chia, Hoàng tử Sihanouk, quyết định rằng trò chơi đã chấm dứt và ngầm ưng thuận trong việc thiết lập những khu căn cứ của cộng sản nằm dọc theo biên giới của Cam-pu-chia với miền Nam Việt Nam. Vì vậy, một tình huống Catch-22(04) không lối thoát khác thực sự được thiết lập: nếu những khu căn cứ được để yên không bị quấy nhiễu, Bắc Việt có thể tấn công miền Nam Việt Nam và rút vào trong nơi an toàn để nghỉ ngơi và trang bị lại, làm cho việc phòng thủ của miền Nam Việt Nam không thể quản lý được; nếu những khu căn cứ bị tấn công, miền Nam Việt Nam và các đồng minh của nó sẽ bị bêu riêu cho việc nhúng tay vào cuộc “xâm lược” chống lại một quốc gia “trung lập.”

(“Catch-22” là cuốn tiểu thuyết được ấn bản vào năm 1961 về Thế
Chiến trong năm 1943 qua kinh nghiệm của chính tác giả nghiệp dư
người Mỹ, Joseph Helle. Chính là một tác phẩm trứ danh trong thế kỷ
20 mô tả về những hoàn cảnh mâu thuẩn không lối thoát của những
phi công B-52 Hoa Kỳ bằng một giọng văn châm biếm)

(Cuộc viếng thăm Hà Nội vào thập niên 70s của Hoàng tử Sihanouk
gặp gỡ Phạm Văn Đồng, trong việc thương lượng cho phép cộng sản
Hà Nội thiết lập những khu căn cứ dọc theo biên giới Lào và miền
Nam Việt Nam. Là người mà vị cố vấn Ngô Đình Nhu đã ám sát hụt
vào năm 1959 khi phát hiện ra tính cách hai mặt vị Hoàng tử yếm thế,
non kém về chính trường nhưng hay ra vẻ đạo đức bề ngoài nầy)

p648

Phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng trên thủ đô Berlin, sự miễn cưỡng của ông khi mạo hiểm một cuộc chiến tranh ở Lào, trên vùng biên giới của Trung Quốc, và trong một đất nước mà không đến 1 phần trăm công chúng Mỹ đã từng nghe đến, là một điều dễ hiểu. Một sự lựa chọn khác, từ bỏ hoàn toàn Đông Dương, không bao giờ được xét đến. Ông Kennedy không thích đảo ngược sự cam kết của cả hai đảng trong một thập kỷ, đặc biệt là trong sự trỗi dậy của vấn đề vịnh Con Heo. Việc rút quân cũng có thể đã có nghĩa là chấp nhận sự bại trận trong cái gì đó được xem như là một trường hợp thử nghiệm cho việc vượt qua chiến lược mới của cộng sản về cuộc chiến tranh du kích. Trên hết là, ông Kennedy tin tưởng vào lời khuyên mà ông ta đang nhận được, cụ thể là sự giúp đỡ của Mỹ sẽ cho phép các lực lượng quân sự của miền Nam Việt Nam đánh bại những du kích quân cộng sản. Trong những ngày bình yên đó, không có một người Mỹ dẫn đầu nào của một trong hai đảng phái có sự nghi ngờ ít nhất nào rằng Mỹ đang đâm đầu vào trong một vũng lầy.

(Chiến dịch Vịnh Con Heo của ông Kennedy được đảm nhiệm bởi nhóm
bán quân sự được CIA bảo trợ bị thất bại với 118 binh lính Mỹ bị thiệt
mạng và khoảng 1.200 bị bắt, là một phần trong Chiến tranh Lạnh)

Ông Kennedy có hồ sơ về lời bình luận của công chúng trên vấn đề Đông Dương vốn mở rộng hơn một thập kỷ. Sớm như vào tháng Mười Một năm 1951, ông ta đã gặp phải một chủ đề mà ông ta sẽ không bao giờ từ bỏ: một mình lực lượng lẽ loi không đủ để ngăn chận chủ nghĩa cộng sản; những đồng minh của Mỹ trong cuộc đấu tranh đó phải xây dựng một nền tảng chính trị cho nó.

Việc kiểm soát xu thế tiến triển ở phía nam của chủ nghĩa cộng sản là điều có lý nhưng không phải chỉ qua sự phụ thuộc vào sức mạnh của những loại vũ khí. Nhiệm vụ là xây dựng một tình cảm bản địa mạnh mẽ không cộng sản bên trong nhnữg khu vực nầy và dựa vào đó như là một mũi nhọn phòng thủ hơn là dựa vào những quân đoàn của Tướng De Lattre [vị chỉ huy Pháp ở Đông Dương].

Vào tháng Tư năm 1954, trong suốt chiến dịch Hành động Liên kết của ông Dulles nhằm cứu lấy Điện Biên Phủ, ông Kennedy, trong một bài phát biểu trước Thượng viện, phản đối việc can thiệp cho đến khi nào Đông Dương vẫn còn là thuộc địa Pháp. Đến năm 1956, sau khi Pháp đã rút đi và nền độc lập của miền Nam Việt Nam đã đạt được, ông Kennedy sẵn sàng gia nhập vào tính chất chính thống hiện hành: “Đây là con cháu của chúng ta –chúng ta không thể từ bỏ nó.” Đồng thời, ông ta nhắc lại rằng cuộc xung đột không phải phần nhiều là quân sự như là một thách thức về chính trị và đạo đức “trong một đất nước nơi mà những khái niệm về tự do kinh doanh và chủ nghĩa tư bản là vô nghĩa, nơi mà nạn nghèo đói không phải là những kẻ thù vượt qua Vĩ tuyến 17 nhưng là những kẻ thù bên trong phạm vi ở giữa của họ… Điều mà chúng ta phải đưa ra cho họ là một cuộc cách mạng –một cuộc cách mạng về chính trị, kinh tế, và xã hội vượt xa nhiều hơn bất cứ điều gì mà những người Cộng sản có thể đưa ra.” Không có gì kém hơn sự tín nhiệm của Mỹ đang bị đe dọa; “Và nếu nó trở thành nạn nhân của bất kỳ hiểm họa nào trong những thứ vốn đe dọa sự tồn tại của nó –chủ nghĩa Cộng sản, tình trạng hỗn loạn chính trị, sự nghèo nàn và phần còn lại– sau đó Hoa Kỳ, với một sự biện minh nào đó, sẽ phải chịu trách nhiệm, và uy tín của chúng ta ở châu Á sẽ chìm xuống đến mức thấp mới.”
Cái mẹo, mà ông Kennedy dường như đang nói đến, là làm cho nạn nhân ít dễ bị xâm lược. Cách giải quyết ban đầu đó buộc phải sinh ra một khái niệm mới không được tìm thấy trước đây trong từ vựng ngoại giao, vốn vẫn còn đó với chúng ta ngày hôm nay –khái niệm về “xây dựng quốc gia.”

p649

Chiến lượct ưu thích của ông Kennedy là gia tăng sức mạnh cho những người miền Nam Việt Nam để cho chính họ có thể chống lại những người cộng sản. Hoạt động dân sự và sự cải cách trong nước được nhấn mạnh và lời văn hùng biện chính thức đã được sửa đổi để cho thấy rằng uy tín và sự tín nhiệm của Mỹ, không nhất thiết phải là vấn đề an ninh của Mỹ, đang nằm trên một hàng ở Việt Nam.
Mỗi chính quyền mới buộc phải đối phó với vấn đề Đông Dương dường như càng lúc bị thu hút sâu hơn vào trong bãi lầy. Ông Truman và ông Eisenhower đã từng thành lập chương trình viện trợ quân sự; sự nhấn mạnh của ông Kennedy về việc cải cách dẫn đến sự tham gia đang tăng trưởng của Mỹ trong vấn đề chính trị nội bộ của miền Nam Việt Nam. Nan đề đó là việc cải cách và xây dựng một quốc gia ở miền Nam Việt Nam sẽ phải mất nhiều thập kỷ để đơm hoa kết trái. Ở châu Âu trong những năm 1940s và 1950s, Mỹ đã giúp đỡ thành lập những quốc gia với truyền thống chính trị mạnh mẽ bằng cách mở rộng viện trợ của Kế hoạch Marshall và bằng phương tiện của liên minh quân sự NATO.(03) Nhưng Việt Nam là một đất nước hoàn toàn mới mẻ và không có những cơ quan để xây dựng trên đó. Tình trạng khó xử chính yếu trở thành là mục đích chính trị của Mỹ về việc khai mở một nền dân chủ ổn định ở miền Nam Việt Nam không thể đạt được đúng lúc để ngăn chận thắng lợi của du kích quân, mà đó là mục đích chiến lược của Mỹ. Mỹ sẽ phải tu chỉnh hoặc là mục tiêu quân sự hay chính trị của nó.
Khi ông Kennedy nhậm chức, cuộc chiến tranh du kích ở miền Nam Việt Nam đã đạt đến một mức độ bạo lực đủ để ngăn chận sự củng cố của chính quyền Ngô Đình Diệm mà chưa có việc nêu lên những nghi ngờ về sự tồn tại của nó. Trạng thái dường như bình bình nầy của hoạt động du kích quân đã cám dỗ Chính quyền Kennedy vào trong ảo tưởng rằng một nỗ lực thêm vào tương đối nhỏ có thể đạt được thắng lợi hoàn toàn. Sự ru ngủ tạm thời, tuy nhiên, chủ yếu là do mối bận tâm của Hà Nội đối với Lào; điều đó hóa ra là sự yên tỉnh trước khi có cơn bão. Một khi các tuyến đường cung cấp mới xuyên qua Lào được mở ra, cuộc chiến tranh du kích ở miền Nam bắt đầu tăng tốc một lần nữa, và những tình trạng khó xử của Mỹ tăng trưởng dần lên không thể giải quyết được.
Chính quyền Kennedy bắt tay vào cuộc hành trình của nó vào trong bãi lầy Việt Nam vào tháng Năm năm 1961 với một sứ mệnh đến Sài Gòn của Phó Tổng thống Johnson nhằm mục đích “đánh giá” tình hình. Những sứ mệnh như thế gần như phát ra tín hiệu không thay đổi là một quyết định đã thực sự được đạt đến. Không có vị Phó Tổng thống nào ở trong một cái thế làm một sự phán đoán độc lập về cuộc chiến tranh du kích xưa cả một thập kỷ trong một chuyến viếng thăm hai hoặc ba ngày. Mặc dù sự tiếp cận của ông ta đến thông tin tình báo và những điện thư báo cáo cáp thường thường rộng lớn (tùy thuộc vào Tổng thống), ông ta không có những nhân viên thích hợp cho việc phân tích mở rộng, và không có ai cho việc theo dõi tin tức. Những sứ mệnh ở nước ngoài của vị Phó Tổng thống thường được trù hoạch để góp thêm uy tín của Mỹ, hoặc cung cấp sự tín nhiệm cho các quyết định vốn đã được chọn rồi.

p650

Chuyến đi của ông Johnson đến Việt Nam là một thí dụ điển hình của những quy luật nầy. Trước khi công bố sứ mệnh, ông Kennedy gặp mặt với Thượng nghị sĩ J. William Fulbright, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, và báo trước cho ông ta biết rằng những binh lính Mỹ có thể đã được gởi đến Việt Nam và Thái Lan. Thượng nghị sĩ Fulbright hứa là sẽ hỗ, trừ khi là những quốc gia có liên quan phải tự mình yêu cầu sự trợ giúp. Thái độ của ông Fulbright là một phản ứng cổ điển kiểu Mỹ. Một ông Richelieu, ông Palmerston, hoặc ông Bismarck có thể đã hỏi rằng cái gì là lợi ích quốc gia đang được phục vụ. Ông Fulbright thì quan tâm nhiều hơn về vị thế pháp lý và đạo đức của Mỹ.
Cùng một lúc với chuyến khởi hành của ông Johnson, một chỉ thị của Hội đồng An ninh Quốc gia có ghi ngày 11 tháng Năm yêu cầu thiết lập sự ngăn chận quyền thống trị của cộng sản trên miền Nam Việt Nam như là một mục tiêu quốc gia của Mỹ. Chiến lược là “nhằm tạo ra trong đất nước đó một xã hội có thể tồn tại được và ngày càng dân chủ” qua những hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế, tâm lý, và bí mật. Việc kiềm chế cộng sản đang chuyển thành việc xây dựng quốc gia.
Ông Johnson báo cáo rằng sự nguy hiểm to lớn nhất ở Đông Dương không phải là sự thách thức của cộng sản –mà qua đó, vì những lý do không giải thích được, ông ta đã mô tả như là “tạm thời”– nhưng là sự đói kém, sự thiếu hiểu biết, nghèo nàn, và bệnh tật. Ông Johnson đánh giá ông Diệm như là người đáng ngưỡng mộ nhưng “xa cách” người dân của mình; sự lựa chọn duy nhất của Mỹ, ông ta nói, là giữa việc ủng hộ ông Diệm và việc kéo ông ta ra. Miền Nam Việt Nam có thể được cứu lấy trừ khi Hoa Kỳ hành động nhanh chóng và dứt khoát. Ông Johnson đã không giải thích làm cách nào Hoa Kỳ có thể trừ tiệt đói kém, nghèo nàn, và bệnh tật trong một khung thời gian liên quan đến nhịp độ của chiến tranh du kích.
Sau khi đã đề ra nguyên tắc, kế tiếp là Chính quyền buộc phải thiết lập một chính sách. Tuy nhiên, trong ba tháng tới, nó phải bận tâm với cuộc khủng hoảng ở thủ đô Berlin. Đến lúc nó có thể quay sang Việt Nam lần nữa, vào mùa thu năm 1961, tình hình an ninh đã xấu đi đến một điểm nơi mà nó chỉ có thể được làm giảm nhẹ đi bởi một loại can thiệp quân sự nào đó của Mỹ.
Tướng Maxwell Taylor, vị cố vấn quân sự của Tổng thống, và Walt Rostow, Giám đốc Ban Hoạch định Chính sách thuộc Bộ Ngoại giao, được gởi đến Việt Nam để phát triển một chính sách thích hợp. Không giống như vị Phó Tổng thống, ông Taylor và ông Rostow là những thành viên của nhóm cố vấn bên trong của ông Kennedy; giống như ông Johnson, họ đã từng thiết lập kỹ lưởng những quan điểm về chính sách Việt Nam của Mỹ trước khi họ rời ngay khỏi Washington. Mục đích thực sự của sứ mệnh của họ là xác định sự quy mô và cách thức mà qua đó Mỹ nên gia tăng sự cam kết của nó.
Hóa ra là, ông Taylor và ông Rostow khuyến nghị một sự gia tăng khổng lồ trong vai trò cố vấn của Mỹ tại tất cả các cấp của chính quyền Việt Nam. Một cái gì được gọi là lực lượng hậu cần quân sự của 8.000 người đã được gởi đi, bề ngoài là trợ giúp kiểm soát lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng được trang bị với đủ vật dụng hỗ trợ chiến đấu để bảo vệ chính mình; một sự gia tăng đáng kể trong số lượng của những vị cố vấn dân sự là một phần của sự khuyến nghị.

p651

Thật ra, kết quả là một sự thỏa hiệp giữa những người trong Chính quyền Kennedy vốn là những người muốn kiềm hãm sự tham gia của Mỹ ở Việt Nam trong vai trò cố vấn và những người vốn ủng hộ việc đưa ra tức thời những binh lính chiến đấu. Trường phái tư tưởng sau cùng rất được đồng thuận về việc sứ mệnh của những binh lính Hoa Kỳ phải là gì; một lần duy nhất họ rơi vào việc đánh giá quá thấp mức độ quan trọng của vấn đề. Vị Phụ tá Thư ký Hành động thuộc Bộ Quốc phòng, William Bundy, ước đoán rằng việc đổ quân lên đến 40.000 binh lính chiến đấu, như được khuyến cáo bởi Ban Tham mưu Kết hợp, có một cơ hội 70 phần trăm của việc “chận lại những thứ đó.” Kể từ khi cuộc chiến tranh du kích không biết đến điểm nửa đường giữa chiến thắng và bại trận, việc “chận lại những thứ đó” sẽ, dĩ nhiên, chỉ là trì hoãn sự sụp đổ trong khi góp vào sự tín nhiệm toàn cầu của Mỹ. Ông Bundy theo tiên đoán nói thêm rằng điều mà ông ta mô tả như là một cơ hội 30 phần trăm thất bại sẽ lôi cuốn một hậu quả như thể là Pháp đã gánh chịu vào năm 1954. Cùng lúc đó, Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara và Ban Tham mưu Kết hợp ước tính rằng sự thắng lợi sẽ đòi hỏi 205.000 người Mỹ nếu Hà Nội và Beijing can thiệp công khai. Hóa ra là, điều nầy là ít hơn một nửa số lượng binh lính mà Mỹ cuối cùng đã dự phần chiến đấu chống lại Hà Nội một mình.
Sự thỏa hiệp theo kiểu chính quyền thường phản ảnh niềm hy vọng sâu kín mà một cái gì đó sẽ xảy ra trong khoảng thời gian tạm thời khiến cho vấn đề tự hóa giải. Nhưng trong trường hợp của Việt Nam cho, không có một cơ sở nào có thể hình dung được cho niềm hy vọng như thế. Với những ước tính chính thức trong khoảng giữa 40.000 binh lính cho tình trạng giới bế tắc và 205.000 người cho sự thắng lợi, Chính quyền Kennedy phải xem sự can dự của 8.000 binh lính hoặc như là rất ư không đủ hoặc như là một phần xây dựng đầu tiên trong vai trò lớn hơn từng có của Mỹ. Và trong khi phần còn lại của 70 phần trăm cho việc “ngăn chận những thứ đó” có thể dường như hấp dẫn, chúng cần phải được cân nhắc đối với tác động toàn cầu về một thảm họa như thể là thảm họa mà Pháp đã phải gánh chịu.
Rõ ràng là, tất cả cái đà chuyển động nằm trong chiều hướng của những gia tăng hơn nữa, kể từ khi ông Kennedy đã không thay đổi sự đánh giá của mình về điều gì đang bị đe dọa. Vào ngày 14 tháng Mười Một năm 1961, ông nói với ban nhân viên của mình rằng phản ứng của Hoa Kỳ đối với sự “xâm lược” của cộng sản sẽ được “giám nghiệm trên cả hai mặt của Bức màn Sắt… như một sự đo lường về những chủ ý và sự quyết tâm của chính quyền.” Nếu Mỹ chọn lựa để đàm phán hơn là gởi quân tiếp viện, “thật ra,” nó có thể “được xét đoán là yếu kém hơn ở Lào.” Ông ta bác bỏ một đề nghị từ Chester Bowles và Averell Harriman cho một “cuộc thương thuyết” nhằm tu bổ Hiệp định Genève năm 1954, một cách uyển ngữ cho việc từ bỏ nỗ lực ở miền Nam Việt Nam.
Nhưng nếu cuộc đàm phán đã bị từ chối và việc củng cố sức mạnh được giải quyết như là điều không thể tránh khỏi, lời cam kết bỏ ngỏ của Mỹ chỉ có thể tránh được nếu Hà Nội chịu thối lui.

p652

Điều đó, tuy nhiên, sẽ đòi hỏi lớn một sự củng cố sức mạnh ào ạt, không gia tăng, xem như cuối cùng nó có thể đạt được. Mỹ không chuẩn bị để dũng cảm đương đầu với khó khăn mà sự lựa chọn thực sự là can dự toàn lực hoặc rút lui toàn diện, và quá trình nguy hiểm nhất là sự leo thang chiến tranh dần dần.
Thật không may, việc leo thang chiến tranh từng lúc là kiểu cách của thời đại. Được trù hoạch để ngăn chận cuộc xâm lược mà không cần ứng dụng vũ lực quá mức, nó có mục đích rộng hơn nhằm tránh cho việc lên kế hoạch quân sự khỏi đi quá xa với các quyết định chính trị, như đã xảy ra trong thời gian trước của Thế Chiến thứ I. Sự đáp ứng từng lúc được nhận thức lúc ban đầu như là một chiến lược trong cuộc chiến tranh hạt nhân –việc leo thang chiến tranh từng mức và do đó tránh được toàn thể một cuộc tàn sát khủng khiếp. Khi được ứng dụng cho cuộc chiến tranh du kích, tuy nhiên, nó gặp phải nguy cơ của việc mời gọi cuộc leo thang chiến tranh không kết thúc. Mỗi cam kết can dự hạn chế lôi cuốn sự nguy hiểm được giải bày như là sự kiềm chế hơn là giải quyết, qua đó khuyến khích đối phương tiếp tục việc leo cao của mình theo nấc thang chiến tranh; đủ thời gian để dàn xếp, ông ta có thể lý luận, khi và nếu những sự rủi ro thực sự trở nên không thể chịu đựng được.
Sự chú ý tỉ mỉ hơn đến hồ sơ lịch sử có thể đã cho thấy rằng các nhà lãnh đạo ở Hà Nội sẽ không bị nản lòng bởi các lý thuyết chiến lược bí truyền của Mỹ, họ có một tài năng vượt qua kỹ thuật Tây phương, và nền dân chủ không phải là một trong những mục tiêu của họ hoặc cũng không phải là một hệ thống mà họ ngưỡng mộ. Những niềm vui của việc xây dựng hòa bình không có được một sự cám dỗ nào đối với những cựu cán binh cứng rắn nầy thuộc nơi biệt giam của Pháp và những thập niên của cuộc chiến tranh du kích. Một phiên bản Mỹ về sự cải cách gợi lên sự khinh miệt của họ. Họ đã từng chiến đấu và gánh chịu khốn khổ suốt cuộc sống của mình để thiết lập một nước Việt Nam cộng sản thống nhất, và tống khứ ảnh hưởng ngoại quốc.(05) Chiến tranh cách mạng là chuyên nghiệp độc nhất của họ. Nếu Mỹ đã tìm kiếm hết thế giới, nó có thể đã không tìm thấy một đối thủ nào cứng đầu hơn.
Mục tiêu của Mỹ, theo Roger Hilsman, vốn là người sau nầy là Giám đốc Cục Tình báo và Nghiên cứu thuộc Bộ Ngoại giao, phải biến đổi từ ngữ Việt Cộng thành “những băng đảng chết đói, cướp bóc ngoài vòng pháp luật dành hết tất cả năng lực của mình để được sống còn.” Nhưng cuộc chiến tranh du kích trong lịch sử có đưa ra tiền lệ cho một kết quả như thế không ? Ở Mã Lai Á, đã phải mất khoảng 13 năm thời gian của 80.000 binh lính Anh và gấp đôi số lượng đó của những binh lính Mã Lai Á để đánh bại đối phương có số lượng không hơn 10.000 vốn là những người không có sự hỗ trợ đáng kể nào từ bên ngoài hoặc những đường dây thông tin liên lạc an toàn, và một ít cơ hội bổ sung người vào những số lượng của nó. Ở Việt Nam, quân đội du kích có số lượng lên đến hàng chục ngàn, và miền Bắc đã tổ chức chính mình như là khu vực hậu cần cho cuộc đấu tranh, đã xây dựng những khu căn cứ dọc theo hàng trăm cây số biên giới, và nắm giữ sự lựa chọn vĩnh viễn về việc can thiệp bằng một quân đội Bắc Việt có kinh nghiệm bất cứ khi nào quân đội du kích phải chịu quá nhiều áp lực.

p653

Mỹ đã điều động chính mình vào trong cái gì được mô tả theo cách hay nhất có thể là một tình trạng bế tắc mà theo sự đòi hỏi trên ước tính của ông Bundy là 40.000 binh lính, mà trong số đó vẫn là quá thiếu. Khi ông Kennedy nhậm chức, số lượng nhân viên quân sự Mỹ ở Việt Nam gần khoảng 900 người. Đến cuối năm 1961, nó đã tăng lên 3.164 người; đến lúc ông Kennedy bị ám sát vào năm 1963, con số nằm tại mức 16.263 người; với thêm một trong hệ thống ẩn mật. Trong năm 1960, số người Mỹ chết là 5; trong năm 1961, là 16; trong năm 1963, là 123, và vào năm 1964, một năm thời bình cuối cùng trước khi các đơn vị chiến đấu của Mỹ phải dự vào, con số đã tăng lên hơn 200 người chết. Tình hình quân sự, tuy nhiên, đã không cải tiến một cách đáng kể.
Vai trò quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam càng được mở rộng hơn, Mỹ càng nhấn mạnh hơn việc cải cách chính trị. Và, Washington càng lúc khăng khăng hơn về sự thay đổi trong nước, nó càng Mỹ hóa cuộc chiến tranh hơn. Trong việc xem xét lại vấn đề quốc phòng trong lần đầu tiên của mình, vào ngày 28 tháng Ba năm 1961, ông Kennedy trình bày lại chủ đề chính của mình: đó là, không cần biết những vũ khí chiến lược của Mỹ mạnh mẽ như thế nào, vũ khí, tuy thế nó vẫn có thể bị gặm nhấm mất đi từ từ tại những vùng ngoại vi “bởi các lực lượng thuộc loại lật đổ, xâm nhập, hăm dọa, xâm lược gián tiếp hoặc không công khai, cách mạng nội bộ, tống tiền ngoại giao, chiến tranh du kích” –cuối cùng là, những nguy hiểm vốn chỉ có thể được vượt qua bằng sự cải cách chính trị và xã hội cho phép những nạn nhân mai sau tự giúp lấy mình.
Chính quyền Kennedy nhận lấy một sự thật hiển nhiên của cái gì đó vốn sẽ hóa ra là một trong nhiều tình huống khó xử, không thể giải quyết đuợc của Đông Dương; sự nhất định trên việc cải cách chính trị và muốn thắng lợi về quân sự cùng một lúc lập nên một vòng tròn luẩn quẩn. Trong phạm vi những vùng giới hạn rộng lớn, những du kích quân đang ở một vị thế quyết định cường độ của cuộc chiến tranh, và vì thế mức độ an ninh mà qua đó, trong một thời gian ngắn, khá độc lập đối với nhịp độ cải cách. Sự bất an càng lớn, chính quyền Sài Gòn dường như trở nên càng khó giải quyết. Và miễn là Washington xem những thành công của quân du kích là kết quả, thậm chí là trong một phần, của việc gây trì trệ công cuộc cải cách, Hà Nội có thể điều động theo cách là nó sẽ thổi phòng những áp lực của Mỹ trên chính quyền Sài Gòn mà nó đang tìm cách phá hoại ngầm. Bị kẹt giữa những người bào chữa cuồng tín cho tư tưởng hệ ở Hà Nội và những người theo đuổi lý tưởng thiếu kinh nghiệm ở Washington, chính phủ của ông Diệm đông cứng trở thành khắc khe và cuối cùng bị sụm xuống.(06)
Ngay cả một nhà lãnh đạo chính trị được uốn nắn ít hơn bởi những truyền thống quan lại so với Diệm, có thể đã tìm thấy đó là điều nản lòng để xây dựng một nền dân chủ đa nguyên ở giữa một cuộc chiến tranh du kích và trong một xã hội bị phân mảnh bởi những vùng đất, giáo phái, và những phe đảng. Một hố ngăn cách của sự tín nhiệm gắn liền cố hữu trong toàn bộ công cuộc đầu tư liều lĩnh của Mỹ, không phải bởi vì các nhà lãnh đạo Mỹ đánh lừa công chúng quá nhiều nhưng bởi vì họ lừa dối chính mình về những khả năng của họ, bao gồm sự dễ dàng với việc mà những cơ quan quen thuộc có thể được chuyển giao cho những nền văn hóa khác. Về cơ bản, Chính quyền Kennedy đang thực hiện những giả định của chủ thuyết Wilson.
p654
Chỉ giống như ông Wilson đã từng tin rằng những quan điểm của Mỹ về dân chủ và ngoại giao có thể được ghép vào châu Âu trong hình thức của Mười bốn Điểm, vì vậy chính quyền Kennedy tìm cách trao cho những người Việt Nam những luật lệ cơ bản của Mỹ mà qua đó để tự cai trị chính mình. Nếu những kẻ chuyên quyền ở miền Nam Việt Nam có thể bị truất phế và những nhà dân chủ tài giỏi được gài vào, cuộc xung đột tàn khốc ở Đông Dương chắc chắn sẽ giảm đi.(07)

(Tổng thống Ngô Đình Diệm và vị cố vấn Ngô Đình Nhu, lãnh đạo
chính quyền miền Nam Việt Nam vốn bị người Mỹ lên án là theo cách
gia đình trị qua qua cái nhìn thiếu trung thực của một số cố vấn và nhất
là những Nghị sĩ bảo thủ của Mỹ trong chuyến công du thậm chí là một
lần trong vài ngày, cùng sự tuyên truyền của cộng sản Hà Nội)

(Tổng thống John F. Kennedy và vị cố vấn Robert F. Kennedy, cũng đồng
thời với chính quyền ông Diệm, cũng do hai anh em lãnh đạo đất nước,
nhưng trớ trêu là, chưa ai từng xem đó là cách gia đình trị mà người ta cố
tình gán cho chính quyền miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Tuy nhiên, điều
đáng chú ý là định mệnh dường như gắn liền với nhau trong 4 nhân vật nầy.
Khi một cặp bị ám sát, thì cặp kia dù cách xa ngàn dặm cũng cùng số phận
bị ám sát do chính mưu toan của mình trước đó)

Mỗi chính quyền mới của Mỹ tìm cách làm gia tăng viện trợ cho Việt Nam trên điều kiện về việc cải cách. Ông Eisenhower đã làm như thế trong năm 1954; ông Kennedy thậm chí nhất định hơn trong năm 1961, qua việc nối kết sự gia tăng viện trợ khổng lồ với việc được ban cho vai trò cố vấn của Hoa Kỳ trên tất cả các cấp chính quyền. Dự đoán được, ông Diệm đã từ chối; những nhà lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập hiếm khi nhìn thấy sự tuyệt vời trong sự giám hộ. Thượng nghị sĩ Mansfield, đến thăm Việt Nam vào cuối năm 1962, đã đảo ngược sự xét đoán trước đó của riêng mình (xem chương 25) và đồng ý rằng chính phủ Diệm “dường như xa rời, hơn là đến gần gũi hơn, thành tích của một chính phủ có trách nhiệm và đáp ứng công chúng.”
Sự xét đoán đó rất chính xác. Tuy thế, câu hỏi chính yếu là những tình hình nầy đang ở mức độ nào vì những việc không thoả đáng của chính phủ, vì khoảng cách văn hóa giữa Việt Nam và Mỹ, hoặc vì sự quấy phá của những du kích quân. Những mối quan hệ giữa Chính quyền Kennedy và ông Diệm xấu đi suốt năm 1963. Giới truyền thông tường trình từ Sài Gòn, vốn đã từng tỏ ra ủng hộ việc can dự của Mỹ cho đến sau nầy quay ra thù nghịch. Những lời chỉ trích không đặt câu hỏi về những mục tiêu của Mỹ, như họ sẽ đưa ra sau đó, ngoại trừ về tính chất khả thi của việc tạo ra một miền Nam Việt Nam dân chủ, không cộng sản trong sự liên hiệp với một nhà lãnh đạo hà khắc giống như ông Diệm. Ông Diệm thậm chí còn bị nghi ngờ về việc suy xét sự thỏa hiệp với Hà Nội –chính là quá trình mà, trong một ít năm sau nầy, vị Tổng thống kế tiếp của miền Nam Việt Nam, Nguyễn Văn Thiệu, sẽ bị chê trách bởi giới truyền thông vì từ chối thỏa hiệp với cộng sản Hà Nội.
Sự gãy đổ cuối cùng với Sài Gòn được khích động bởi cuộc xung đột giữa các Phật tử ở miền Nam Việt Nam và ông Diệm, mà chính phủ của ông ta đã ban hành một sắc lệnh nghiêm cấm việc treo cờ của các giáo phái, nhóm tôn giáo, hoặc những đảng phái chính trị. Thực hiện mệnh lệnh, những binh lính bắn vào những người Phật giáo biểu tình phản đối, giết chết nhiều người trong số họ ở Huế vào ngày 8 tháng Năm năm 1963. Những người chống đối có những mối bất bình mà chẳng bao lâu được đưa lên bởi giới truyền thông quốc tế –mặc dù việc thiếu dân chủ không phải là một trong số điều bất bình đó. Những Phật tử, vốn là những người độc tài như ông Diệm, từ chối nói rõ bất kỳ những điều khoản nào mà ông Diệm có thể đã đáp ứng phó, nếu ông ta đã quá thiên vị. Cuối cùng, vấn đề không phải là dân chủ quá nhiều như là quyền lực. Bị tê liệt bởi cuộc chiến tranh du kích và bởi những việc không thích ứng của riêng nó, chính phủ Diệm từ chối thực hiện những nhượng bộ. Washington gia bội áp lực của nó trên ông Diệm để làm như thế, và thúc giục việc loại bỏ người em trai của ông ta, Ngô Đình Nhu, vốn là nắm quyền những lực lượng an ninh, một động thái mà ông Diệm giải bày như là một sức mạnh chủ yếu rời bỏ ông ta cho ân huệ của những kẻ thù của mình.

p655

Sự vi phạm cuối cùng đã xảy ra vào ngày 21 tháng Tám, khi những mật vụ của ông Nhu bố ráp một số ngôi chùa và bắt giữ 1.400 nhà sư.

(Chùa Từ Đàm, Huế, nơi chứa chấp những cán bộ Hà Nội vào hoạt động
trong Nam, và những hầm vũ khí chôn giấu, cũng là nơi Việt cộng trà
trộn trong giới tăng sĩ để lợi dụng thời cơ xách động Phật tử ngây ngô
biểu tình chống phá chính phủ miền Nam. Hiện nay, nó là chùa quốc
danh theo đúng nghĩa nhất dưới chế độ cộng sản Việt Nam)

Vào ngày 24 tháng Tám, vị Đại sứ mới đến, Henry Cabot Lodge, được chỉ thị là đòi hỏi việc loại bỏ ông Nhu và cảnh cáo ông Diệm rằng, nếu ông ta từ chối, Hoa Kỳ phải “đối mặt với điều có thể xảy ra là chính bản thân ông Diệm không thể được bảo tồn.” Những nhà lãnh đạo quân sự Sài Gòn được đặt tống cho một thông báo chính thức rằng sự viện trợ của Mỹ trong tương lai phụ thuộc vào trong việc loại bỏ ông Nhu, một cái gì đó mà những Việt đối thoại của ông Lodge hiểu được ý nghĩa là ông Diệm phải bị lật đổ. Ông Kennedy và ông McNamara kế đó lặp lại những đòi hỏi giống nhau trên cơ bản một cách công khai. Vì e là những tướng lãnh Việt Nam không thấy rõ ẩn ý, họ được cho biết rằng Hoa Kỳ sẽ cung cấp cho họ “sự hỗ trợ trực tiếp trong bất kỳ giai đoạn tạm ngưng nào về sự tê liệt của cơ chế chính quyền trung ương.” Những tướng lãnh của miền Nam Việt Nam phải mất gần hai tháng để thu lấy sự can đảm của mình và hành động trên những sự lời khuyến khích của người đồng minh nhất quyết của họ. Cuối cùng, vào ngày 1 tháng Mười Một, họ đã lật đổ ông Diệm, giết chết ông ta và ông Nhu trong tiến trình.
Bằng cách khuyến khích việc lật đổ ông Diệm, Mỹ đã ném việc can dự của nó ở Việt Nam vào khối bê tông. Sau hết là, mỗi cuộc chiến tranh cách mạng sẽ mang tính chất hợp pháp của chính phủ, việc phá hoại ngầm nó là mục tiêu chính của những du kích quân. Việc lật đổ ông Diệm đã trao mục đích đó cho không cho Hà Nội. Như là một hậu quả của một kiểu chính phủ phong kiến của ông Diệm, việc loại bỏ ông ta gây ảnh hưởng lên mỗi nấc chính quyền dân sự xuống đến cấp làng xã. Thẩm quyền bây giờ phải được xây dựng lại từ dưới lên trên. Và lịch sử dạy cho luật lệ sắt nầy về những cuộc cách mạng: càng mở rộng sự tận diệt của chính quyền hiện hữu, những người kế thừa của nó càng phải dựa vào quyền lực trần trụi (i.e. không được bảo vệ, hỗ trợ) để tự lập nên. Vì vậy, cuối cùng là, tính chất hợp pháp kéo theo sự chấp nhận của chính quyền mà không có sự ép buộc; sự thiếu vắng của nó biến đổi mỗi cuộc tranh giành trở thành một cuộc thử nghiệm về sức mạnh. Trước khi có cuộc đảo chính, có một điều có thể xảy ra đã luôn luôn hiện hữu, ít nhất là về mặt lý thuyết, là Mỹ sẽ từ chối trở thành trực tiếp tham gia vào những hoạt động quân sự, phần nhiều giống như ông Eisenhower đã làm khi ông ta thối lui khỏi bờ vực trên Điện Biên Phủ gần một thập kỷ trước đó. Kể từ khi cuộc đảo chính đã được biện minh là tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh hiệu quả hơn, việc rút quân của Mỹ biến mất như là một lựa chọn chính sách khác.

(Henry Cabot Lodge, Jr., vị Đại sứ dưới thời Kennedy, chính là
người thi hành kế hoạch đảo chính nhằm loại bỏ ông Ngô Đình
Diệm và Ngô Đình Nhu theo mưu tính của anh em Kennedy)

(Nữ hoàng Anh Quốc trong vai vị độc tôn, mới chính là một chính phủ
kiểu phong kiến. Trong khi đó, nền dân chủ non nớt của nền Đệ nhất
Cộng hòa của miền Nam Việt Nam chỉ mới được 8 tuổi và trong một
hiện tình luôn bị quấy nhiễu về sự an ninh quốc gia, thì khó mà phô
trương hai chữ “dân chủ” như chính quyền Kennedy mong muốn)

Việc loại bỏ ông Diệm không hợp nhất được người dân đứng phía sau các tướng lãnh, như Washington đã hy vọng. Mặc dù tờ báo New York Times ca ngợi cuộc đảo chính như là một cơ hội “hướng đến việc đẩy lui những cuộc đột nhập xa hơn của cộng sản khắp Đông Nam Á,” điều đảo ngược đã xảy ra. Việc xây dựng nền mống của một xã hội đa nguyên là sự đồng thuận trên những giá trị tiềm ẩn, mà qua đó nó ngầm đặt ra sự giới hạn cho những yêu sách của những cá nhân hoặc nhóm đang cạnh tranh. Ở Việt Nam, sự đồng thuận đó đã rất yếu kém để bắt đầu bằng điều đó.

p656

Cuộc đảo chính đã phá hủy cấu trúc vốn đã được xây dựng hơn một thập kỷ, để lại trong chổ của nó một nhóm những tướng lãnh đang ganh nhau mà không có kinh nghiệm về chính trị hoặc đi theo con đường chính trị.

(Cảnh hỗn loạn tại Dinh Gia Long của chính phủ Ngô Đình Diệm, gồm
những người phái tả đủ loại thành phần và có cả Việt cộng. Tuy nhiên,
sau khi cuộc đảo chính đã hoàn tất, họ trở thành những kẻ ngu ngơ vì
không có người nào đủ tài để dẫn dắt đất nước như ông Diệm)

(Tướng Dương Văn Minh (ở giữa) của chính quyền miền Nam Việt Nam là
người nghe theo lời dẫn dụ của Hoa Kỳ, cầm đầu những tướng lãnh phản loại
làm cuộc đảo chính và đã ra lệnh cho cận vệ của mình là Đại úy Nguyễn Văn
Nhung ra tay hạ sát một cách tàn bạo hai anh em họ Ngô)

Chỉ riêng trong năm 1964, thêm bảy thay đổi nữa của chính phủ đã diễn ra, không cái nào trong số đó đưa đến vẻ giống như một nền dân chủ, và tất cả trong số đó là những kết quả của cuộc đảo chính của một loại nầy hay loại khác. Những người thừa kế của ông Diệm, thiếu mất uy tín của ông ta như là một nhà quốc gia và như là hình ảnh của một người cha có phong cách quan lại thời xưa, có ít sự lựa chọn nào khác hơn là phải chuyển cuộc chiến tranh qua cho những người Mỹ. Trong sự thức tỉnh của việc lật đổ ông Diệm, điều đó đã được lập luận một cách đúng đắn rằng “những câu hỏi sẽ không phải là làm cách nào để khuyến khích chế độ ở miền Nam Việt Nam mà Mỹ có thể hỗ trợ, nhưng là về việc tìm ra một người vốn sẽ chống đỡ đất nước trong việc tiếp tục cuộc đấu tranh chống lại những người cộng sản đang mừng rỡ.”
Những người có ảnh hưởng quyền lực ở Hà Nội nắm lấy cơ hội của họ ngay lập tức. Một cuộc họp của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản vào tháng Mười Hai năm 1963 đã đề ra một chiến lược mới: những đơn vị du kích sẽ được tăng cường, và cuộc xâm nhập vào trong miền Nam sẽ được gia tốc. Điều quan trọng nhất là, những đơn vị chính quy Bắc Việt sẽ được đưa ra: “Chính là thời điểm cho miền Bắc gia tăng viện trợ cho miền Nam, miền Bắc phải phát huy xa hơn nữa vai trò của nó như là một căn cứ cách mạng cho cả nước.” Chẳng bao lâu từ đó trở về sau, sư đoàn 325 chính quy Bắc Việt bắt đầu di chuyển vào trong miền Nam. Trước khi cuộc đảo chính, cuộc xâm nhập từ miền Bắc đã từng bao gồm phần lớn những người miền Nam vốn là những người đã được lập thành nhóm lại trong năm 1954; về sau nầy, con số phần trăm của những người miền Bắc tăng lên một cách đều đặn cho đến khi, sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân vào năm 1968, gần như tất cả những người xâm nhập là dân Bắc Việt. Với việc đưa ra những đơn vị quân đội chính quy Bắc Việt, cả hai bên đều vượt qua những điểm không thể quay lại của họ trên như trên dòng sông Rubicon phân chia.

(Dòng sông Rubicon cạn, có bùn đỏ, dài khoảng 80 cây số, nằm vắt qua
nước Ý n hư điểm phân chia hai miền Nam–Bắc của nó, nơi mà vị Đại
đế La Mã, Gaius Julius Caesar, từng vượt qua vào năm 49 trước Công
nguyên. Nó mang ý nghĩa là “điểm không thể quay lại”)

Một thời gian ngắn sau việc lật đổ ông Diệm, ông Kennedy bị ám sát. Vị Tổng thống mới, Lyndon Baines Johnson, giải bày sự can thiệp là do những đơn vị chính quy Bắc Việt như là một trường hợp ngày xưa của cuộc xâm lược công khai. Sự khác biệt là Hà Nội đang tiến hành một chiến lược trong khi Washington chỉ có những lý thuyết thi đua, không cái nào trong số đó được thúc đẩy đi đến những kết cuộc của nó.
Bị treo lơ lửng giữa sự khao khát của mình cho một thắng lợi phi quân sự và sự tiên đoán về một thảm họa quân sự, Mỹ phải đối mặt với một tình thế bối rối, bi thảm. Vào ngày 21 tháng Mười Hai năm 1963, ông McNamara báo cáo cho vị Tổng thống mới rằng tình hình an ninh bên trong miền Nam Việt Nam đã trở nên rất đáng lo ngại. Mỹ không còn có thể tránh được việc đối mặt với sự lựa chọn mà nó đã tiềm ẩn từ trước đến nay: sự gia tăng việc can dự quân sự đầy ấn tượng sâu sắc của nó hoặc sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam. Chính quyền Kennedy đã lo ngại việc bước vào cuộc chiến ở bên một đồng minh thiếu dân chủ; Chính quyền Johnson lo ngại việc bỏ rơi một chính quyền Sài Gòn mới, thiếu dân chủ hơn là nó làm chuyện tham dự vào trong cuộc chiến.

p657

Hồi tưởng lại, thời điểm cuối cùng mà Mỹ có thể rút lui khỏi Việt Nam với một cái giá có thể chấp nhận được –mặc dù vẫn còn nặng nề– có thể đã là hoặc ngay trước khi hoặc ngay sau khi ông Diệm bị lật đổ. Chính quyền Kennedy đã đúng trong việc đánh giá của nó rằng nó không thể chiến thắng với ông Diệm.(08) Chính quyền Johnson tự đánh lừa mình để tin rằng nó có thể chiến thắng với những người kế nhiệm của mình. Trong sự soi sáng của điều xảy ra tiếp theo cuộc đảo chính, điều đó có thể đã là dễ dàng hơn cho Mỹ buông ra bằng cách để cho ông Diệm sụp đổ vì những việc không thích ứng của riêng mình hoặc, ở mức tối thiểu, bằng cách không ngăn cản những cuộc đàm phán mà ông ta bị nghi ngờ về việc có kế hoạch với Hà Nội.(09) Ông Kennedy đã đúng theo cách phân tích khi từ chối bất kỳ mưu toan nào trên vùng đất mà nó không sao tránh khỏi sẽ dẫn đến sự chiếm lấy của cộng sản. Vấn đề là Mỹ được chuẩn bị không phải là để đối mặt với những ẩn ý của biện pháp sửa chữa hoặc cũng không là để chấp nhận kết quả có thể có của việc để cho mọi chuyện xảy ra.
Một số thành viên trước đây của Chính quyền Kennedy đã lập luận rằng, sau cuộc bầu cử Tổng thống vào năm 1964, vị Tổng thống của họ có ý định rút đi những lực lượng Mỹ, vốn vẫn đang được tăng lên. Những người khác, ít ra cũng có được vị trí cao, đã từ chối điều nầy. Tất cả điều mà người ta có thể nói ở mức độ khác biệt nầy về ý định cuối cùng của ông Kennedy là mỗi sự tăng cường lực lượng tiếp theo cho Việt Nam làm cho sự lựa chọn của ông ta lộ hẳn ra hơn, và những hậu quả của việc hoặc là can dự hoặc là rút lui đau đớn và tốn kém hơn. Và với mỗi tháng trôi qua, những cây cọc nguy cơ của Mỹ được nâng lên xa thêm nữa, trước tiên chỉ là về quân sự nhưng chẳng bao lâu trong phần về vị thế quốc tế của Mỹ cũng theo sau.
Vụ ám sát ông Kennedy khiến cho việc triệt thoái khỏi Việt Nam của Mỹ thậm chí khó khăn hơn. Nếu quả thật, ông Kennedy đã cảm thấy sự đau nhói của việc nhận ra rằng Mỹ đã bắt tay vào một quá trình không bền vững, ông ta chỉ cần đảo ngược quyết định của riêng mình; ông Johnson, mặt khác, có thể đã phải vứt bỏ chính sách rành rành của người tiền nhiệm đáng kính, đã nằm xuống. Đây là một trường đặc biệt là khi không ai trong số các vị cố vấn mà ông ta kế thừa từ ông Kennedy, đưa ra lời khuyến nghị rút khỏi cuộc chiến (với sự ngoại lệ đáng chú ý của vị Phó Ngoại trưởng George Ball, vốn là người, tuy nhiên, không phải nằm trong giới chính khách bên trong). Điều đó có thể đã cần đến lòng tự tin và sự hiểu biết thực sự khác thường của một nhà lãnh đạo để đảm nhận việc rút quân có mức độ to lớn như thế vừa ngay sau khi nhậm chức. Và khi điều đó xảy đến chính sách đối ngoại, ông Johnson cảm thấy không chắc chắn lắm về chính mình.
Hồi tưởng lại, vị Tổng thống mới có thể đã làm rất tốt khi tiến hành sự phân tích về việc liệu những mục tiêu quân sự và chính trị về phần của một nước Mỹ mà nó đã thực sự đầu tư quá nhiều, có thể đạt được không, bằng cách gì, và trên khoảng thời gian bao lâu –quả thật là, về việc liệu những điều kể trên vốn đã tạo ra những sự cam kết nầy, còn đúng không. Ngoài ra, một sự kiện thực tế là ông Johnson tìm thấy những vị phụ tá thiếu khôn ngoan vốn là những người mà ông ta đã thừa hưởng từ ông Kennedy, đồng thuận ủng hộ việc cố gắng giành lấy thắng lợi ở Việt Nam (một lần nữa, với sự ngoại lệ của George Ball); điều đáng ngờ là, nếu bất kỳ sự phân tích nào như thế đã được thực hiện, kết quả lẽ ra đã khác biệt một cách đáng kể.

p658

Những nhân viên thuộc Bộ Quốc phòng của ông McNamara và thuộc Nhà Trắng của ông Bundy là những người đam mê việc phân tích. Cả hai nhóm đều là những người đàn ông thông minh phi thường. Điều mà họ thiếu là một tiêu chuẩn để đánh giá sự thử thách như thế là không hợp với kinh nghiệm của Mỹ và tư tưởng hệ của Mỹ.
Động lực ban đầu của Mỹ trong việc tự can dự vào đã là điều mà qua đó việc mất đi Việt Nam sẽ dẫn đến sự sụp đổ của một Châu Á phi cộng sản và dẫn đến sự hòa giải của Nhật với chủ nghĩa cộng sản. Trong phần của sự phân tích đó, trong việc bảo vệ miền Nam Việt Nam, Mỹ đang chiến đấu cho chính mình, bất kể là dù miền Nam Việt Nam có là dân chủ hay có thể từng được tạo ra như thế không. Một sự phân tích như thế, tuy nhiên, quá theo hướng địa hình chính trị và cường quyền đối với những người Mỹ, và chẳng bao lâu bị phủ trùm bởi chủ nghĩa lý tưởng của ông Wilson. Một chính quyền nầy đến một chính quyền khác đã cố gắng thử một công việc với hai mục đích, mỗi phần chỉ riêng trong số đó có thể đã là rất khó để đạt được bởi riêng một chính quyền; việc đánh bại một đội quân du kích với những căn cứ an toàn khắp tất cả một vùng ngoại vi mở rộng, và việc dân chủ hóa một xã hội không có truyền thống đa nguyên.
Trong cái chão dầu Việt Nam, Mỹ phải học hỏi rằng có những giới hạn đối với ngay cả những niềm tin bất khả xâm phạm nhất, và buộc phải đi đến sự hòa hoãn với sự khác biệt to lớn vốn có thể vươn lên giữa quyền lực và nguyên tắc. Một cách chính xác là, bởi vì Mỹ miễn cưỡng chấp nhận những bài học quá trái ngược đối với kinh nghiệm lịch sử của nó, nó cũng tìm thấy việc cắt bỏ những thua thiệt của nó cực kỳ khó khăn. Như thế, sự đau đớn được kết hợp với cả hai nỗi thất vọng nầy là kết quả tốt nhất của nó, không phải là những phẩm chất tồi tệ nhất của nó. Sự từ chối của Mỹ về lợi ích quốc gia như là nền tảng của chính sách đối ngoại đã thả quốc gia trôi dạt trên biển cả của chủ thuyết đạo đức không phân biệt.
Vào tháng Tám năm 1964, một cuộc tấn công tiếp theo của Bắc Việt vào chiếc tàu tuần dương Maddox dẫn đến một cuộc đánh trả của Mỹ chống lại miền Bắc Việt Nam mà qua đó được tán thành gần như đồng thuận bởi Thượng viện thông qua cái gọi là Giải pháp vịnh Bắc Bộ. Giải pháp nầy được sử dụng đúng lúc để biện minh cho những cuộc không kích trả đũa cách một vài tháng trước đó. Vào tháng Hai năm 1965, một cuộc tấn công vào doanh trại của một nhóm cố vấn Mỹ tại thành phố Tây Nguyên, Pleiku, đã khởi động một cuộc đột kích trả đũa của Mỹ trên miền Bắc Việt Nam, mà qua đó nhanh chóng biến thành một chiến dịch dội bom có hệ thống được mang mật mã là “Rolling Thunder” (“Cơn Sấm sét”). Đến tháng Bảy năm 1965, những đơn vị chiến đấu của Mỹ được tham gia đầy đủ, và sự hiện diện của binh lính Mỹ bắt đầu tăng trưởng, đạt đến 545.000 người vào đầu năm 1969.
Theo sau là, vấn đề về việc liệu Chính quyền Johnson đã hoàn toàn thẳng thắn với dân Mỹ về cuộc tấn công vào con tàu Maddox vốn trở thành một phần của cuộc tranh luận càng lúc gay gắt về Việt Nam không. Điều đó được sử dụng để gây tai tiếng cho cả Giải pháp vịnh Bắc Bộ và lẫn sự tham gia của Mỹ trong cuộc chiến. Để chắc chắn là, Giải pháp vịnh Bắc Bộ không dựa trên sự trình bày đầy đủ về các sự kiện, thậm chí cho phép sự nhầm lẫn về cuộc chiến.

p659

Nhưng một trong hai điều đó không phải là yếu tố chính trong việc can dự của Mỹ vào cuộc chiến trên bộ ở Việt Nam. Đúng hơn là, nó là một bước nhỏ dọc theo một con đường mà qua đó sẽ mang người Mỹ đến cùng một đích điểm, qua việc đưa ra những niềm tin chắc chắn của tất cả các nhân vật hàng đầu.
Những phương pháp được sử dụng để đạt được Giải pháp vịnh Bắc Bộ sẽ không khả thi ngày hôm nay, và nền dân chủ Mỹ là điều tốt hơn cho nó. Cùng thời điểm đó, không phải là chiến thuật của ông Johnson hoặc cũng không phải là tính thẳng thắn của ông ta thì khác biệt đáng kể đối với bản tính của Franklin Delano Roosevelt khi ông ta đã nhích dần nước Mỹ về hướng tham dự vào cuộc Thế Chiến lần thứ II –thí dụ, bản tính bộc trực của ông Roosevelt không phải là hoàn toàn thẳng thắn vì việc phóng ngư lôi của chiếc khu trục Greer; tiền đề cho Mỹ tham gia trong một cuộc hải chiến ở Đại Tây Dương vào năm 1941. Trong mỗi trường hợp, mỗi vị Tổng thống đang xác định theo chiều hướng một bên về điều gì mà Mỹ sẽ không khoan thứ; cuộc chiến thắng của Đức trong thập niên 1940s; việc chiếm lấy Đông Dương trong những năm 1960s. Cả hai vị Tổng thống đều chuẩn bị để đặt những lực lượng quân sự của đất nước mình trong một tình huống nguy hại và để ứng phó nếu điều nguy hại quả thật rơi xuống đầu, như là điều có khả năng xảy ra. Trong mỗi trường hợp, sự quyết định tối hậu bước vào cuộc chiến tranh được dựa trên những suy xét vốn đi xa hơn vượt qua những biến cố trước mắt.

(Chiến hạm USS Maddox (có mã số là DD-731) là chiếc khu trục trong
“Biến cố vịnh Bắc Bộ” vào tháng 08/1964 bị 3 tàu phóng ngư lôi của cộng
sản Hà Nội tấn công. Tuy nhiên, biến cố nầy vẫn còn là vấn đề tranh cải
về việc liệu con tàu Maddox có gây chiến trước không)

(Chiến hạm USS Greer (có mã số là DD–45) là chiếc khu trục đầu tiên đã bắn
vào tàu ngầm của Đức Quốc Xã, cách ba tháng trước khi Hoa Kỳ tham gia vào
Thế Chiến thứ II. “Biến cố Greer” vẫn được tranh luận về việc có phải là con tàu
Greer đã hành động một cách hung hăng trước khi những phát đạn được trao đổi)

Cơn ác mộng của Việt Nam không phải là cách mà Mỹ bước vào cuộc chiến tranh, nhưng tại sao nó làm như thế mà không có một sự đánh giá cẩn thận hơn về những hao tổn rất có thể có và những kết quả tiềm ẩn. Một quốc gia không nên gởi nửa triệu thanh niên của nó đến một lục địa xa xôi hoặc cắm cọc tuyên bố vị thế quốc tế và sự gắn bó trong nước của nó trừ khi những nhà lãnh đạo của nó có thể mô tả những mục đích chính trị của họ và đưa ra một chiến lược thực tế cho việc đạt được chúng –như Tổng thống Bush đã làm sau nầy trong Chiến tranh vùng Vịnh. Nên Washington đáng lý ra nên tự hỏi chính mình hai câu hỏi cơ bản: Có phải đó là điều có thể có để thành lập một nền dân chủ và đạt được chiến thắng quân sự ít nhiều cùng một lúc không ? Và thậm chí quan trọng hơn, những lợi ích sẽ biện minh cho những tổn phí không ? Những vị Tổng thống hoặc những vị cố vấn cho Tổng thống vốn là những người đưa nước Mỹ vào cuộc chiến đấu trên bộ ở Việt Nam, cho đó là một câu trả lời khẳng định.
Việc tiến hành thành công của một cuộc chiến tranh du kích đòi hỏi sự pha trộn tinh tế của chiến lược quân sự và chính trị. Những nhà lãnh đạo quân sự của Mỹ, tuy nhiên, chưa bao giờ cảm thấy yên tâm với việc điều chỉnh những mục tiêu quân sự đến chính trị. Trong suốt cuộc Chiến tranh Việt Nam, những phương tiện thì chưa là đủ cho các mục tiêu được nói đến, và những mục tiêu chỉ có thể đạt được –nếu được cái nào đó– bằng những rủi ro mà Washington chưa chuẩn bị gặp phải.
Một trong những bài học chính của Chiến tranh Triều Tiên nên biết đó là những cuộc chiến tranh kéo dài, không thể kết thúc sẽ phá vỡ sự đồng thuận bên trong nước Mỹ. Tuy nhiên, Washington dường như đã thu nhặt một bài học trái ngược hoàn toàn: đó là nguồn thất vọng ở Hàn Quốc đã là bước tiến quân của MacArthur đến dòng sông Yalu và sự tìm kiếm của ông ta cho một chiến thắng bằng tất cả toàn lực. Trong sự soi sáng nầy, kết quả của cuộc Chiến tranh Triều Tiên được làm sáng tỏ trở lại qua sự thành công của việc đã ngăn ngừa được một chiến thắng của Trung Quốc.

p660

Sự tham gia của Mỹ ở Việt Nam càng lúc có ý thức hạn chế trong một mục đích tương tự; không có chuyện khích động sự can thiệp của Trung Quốc, để chứng tỏ cho Bắc Việt hiểu rằng nó sẽ không được phép chiếm lấy miền Nam Việt Nam và rằng, vì thế, sự lựa chọn duy nhất của nó là cuộc đàm phán. Nhưng cuộc đàm phán cho điều gì kết thúc –đặc biệt là theo quan niệm của kẻ thù vốn đánh đồng sự thỏa hiệp với bại trận ? Các nhà lãnh đạo Mỹ chắc chắn đã quên rằng hai năm cuối của cuộc Chiến tranh Triều Tiên và giai đoạn McCarthy đã gần như xé toạc một xã hội Mỹ mất kiên nhẫn với sự bế tắc kéo dài.

(Dòng sông Yalu thuộc Bắc Hàn, cũng là con sông phân ranh giữa nó
và Trung cộng, vốn chạy dài qua nhiều vùng đất, cũng là nơi uống
máu của hàng vạn người trong những cuộc chiến khốc liệt như Chiến
tranh Trung–Nhật, Chiến tranh Nga–Nhật, và Chiến tranh Triều Tiên)

Về mặt lý thuyết, chỉ hai chiến lược duy nhất có cơ hội nào đó chiếm ưu thế trong một cuộc chiến tranh du kích. Một là về cơ bản phải phòng thủ và tìm cách tước đoạt đối phương quyền kiểm soát dân cư. Chiến lược nầy đòi hỏi việc thành lập an ninh gần như toàn diện đủ bao phủ dân cư để cho những thu hoạch của du kích quân trong số những người còn lại không tương xứng cho một căn cứ dính liền chính trị. Tướng Maxwell Taylor dường như đã có một chiến lược như thế trong tâm trí khi ông ta đề nghị việc thành lập một loạt những trung thổ được bảo vệ bởi những lực lượng Mỹ trong khi quân đội Việt Nam tìm cách cản trở việc củng cố vùng cộng sản được xác định rõ ràng mà không cố gắng bám giữ ngày đêm mỗi huyện cuối cùng. Chiến lược khả thi thứ hai là tấn công các mục tiêu mà những du kích quân đó phải bảo vệ, chẳng hạn như là những khu mật trú, kho cung cấp, và những căn cứ trung ương –thí dụ, bằng cách bắn phá Đường mòn Hồ Chí Minh bởi các lực lượng trên bộ và phong tỏa những quân đồn của cả miền Bắc Việt Nam và Cam-pu-chia dùng làm những khu mật trú. Chiến lược –ít nhất là về mặt khái niệm– có thể đã tạo ra một cuộc chiến tranh gây tiêu hao đối phương tương đối khá nhanh mà quân đội Mỹ tìm kiếm nó rất tuyệt vọng, và buộc phải chấp nhận một kết quả được thương lượng.
Điều mà không thể tạo kết quả, là chiến lược mà Mỹ trên thực tế đã thực hiện: ảo vọng của việc thiết lập an ninh 100 phần trăm trong 100 phần trăm đất nước, và việc tìm cách làm hao mòn những du kích quân qua những chiến dịch tìm-kiếm-và-tiêu-diệt. Không cần biết lực lượng viễn chinh lớn như thế nào, nó không bao giờ có thể chứng minh đủ thích hợp chống lại một kẻ thù mà những tuyến cung cấp của đối phương nằm bên ngoài Việt Nam và vốn là kẻ có những khu mật trú rộng lớn và một ý chí mãnh liệt. Vào cuối năm 1966, Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng nói với Harrison Salisbury của tờ báo New York Times rằng, mặc dù Hoa Kỳ thì mạnh mẽ hơn nhiều về mặt quân sự, nó sẽ thua vào lúc cuối bởi vì nhiều người Việt Nam hơn những người Mỹ được chuẩn bị để chết cho Việt Nam, và để chiến đấu lâu dài như nó có thể tồn tại lâu hơn những người Mỹ. Sự đánh giá của ông ta chứng minh là đúng.
Ông Johnson kiên quyết bác bỏ bất cứ việc “mở rộng” nào của cuộc chiến tranh. Washington đã tự thuyết phục chính mình rằng bốn nước ở Đông Dương là những thực thể riêng biệt, ngay cả mặc dù những người cộng sản đã từng xem chúng như là chiến trường duy nhất trong hai thập kỷ và đang tiến hành một chiến lược phối hợp liên quan đến tất cả ba nước.

p661

Hơn nữa, sự đánh giá của Washington về tổng thể bối cảnh quốc tế đã làm cho nó quá bận rộn với sự can thiệp của Trung Quốc, bỏ qua lời phát biểu của Lin Piao rằng quân đội Trung Quốc sẽ không đi ra nước ngoài, và qua đó được nhắc lại bởi Mao với Edgar Snow, một nhà báo Mỹ có cảm thông với những người cộng sản Trung Quốc: Mao đã nói với nhà báo Snow rằng Trung Quốc không có những cán binh nào ở ngoài những vùng biên giới của riêng nó và không có ý định nào về việc chiến đấu chống lại bất kỳ ai trừ khi lãnh thổ của riêng nó bị tấn công. Như thế, điều đó chính là, trong hai cuộc chiến tranh cách biệt một thập kỷ rưỡi, Mỹ phải trả giá cho việc không tiếp nhận những lời phát biểu của Trung Quốc một cách nghiêm túc; ở Hàn Quốc, nó đã bỏ qua những lời cảnh cáo của Trung Quốc và tiến quân đến dòng sông Yalu, khởi động sự can thiệp của Trung Quốc; ở Việt Nam, nó đã xem thường những lời cam đoan của những người Trung Quốc rằng họ sẽ không can thiệp, làm cho Mỹ từ bỏ chiến lược duy nhất vốn có thể đã mang lại chiến thắng.
Lo ngại về sự can thiệp của Trung Quốc, quyết tâm giữ lấy sự lựa chọn của việc nới lỏng những căng thẳng với Liên Xô, và nóng lòng duy trì sự đồng thuận phía sau chương trình Đại Xã hội trong nước của mình, ông Johnson thích chọn biện pháp nửa chừng vốn cắm cọc tuyên bố vị thế quốc tế của Mỹ mà không đạt được những mục đích được tuyên bố của nó. Việc cố gắng dung hòa mục đích của việc đánh bại một âm mưu toàn cầu với mong muốn nhằm tránh một cuộc xung đột toàn cầu, chính sách của Mỹ chỉ tự làm cho nó trở nên lố bịch, mâu thuẩn với chính mình.
Việc gây tiêu hao đối phương không thể tạo kết quả khi mà những du kích quân có thể chọn lựa khi nào và nơi nào họ sẽ chiến đấu. Những hoạt động trên không chống lại miền Bắc Việt Nam được trù hoạch để gây ra nỗi đớn đau gia tăng một cách đều đặn đã chứng minh là kém hiệu quả bởi vì hệ thống vận chuyển của miền Bắc Việt Nam thì quá thô sơ không thể nào bị tê liệt và quá thứ yếu không thể xem như là một mục tiêu đầu não. Tình trạng bế tắc phục vụ cho mục đích của Hà Nội –đặc biệt là một sự bế tắc vốn có thể được hạn chế trong phạm vi lãnh thổ của miền Nam Việt Nam và gây ra những thương vong nặng nề cho Mỹ. Tất cả những nỗi thất vọng nầy đưa đến sự vươn lên cho sự phản đối chiến tranh tăng trưởng ở Mỹ –sự phản đối mà điểm tập hợp ban đầu của nó trở thành tiếng hò hét nhằm chận ngưng chiến dịch dội bom thực sự vốn được cho là làm cho Hà Nội hiểu rõ rằng nó không thể chiến thắng.
Washington đang cố gắng chứng minh rằng cuộc xâm lược không phải trả giá và rằng cuộc chiến tranh du kích sẽ không là làn sóng trong tương lai. Điều mà nó thất bại hiểu được là làm cách nào đối phương của nó tính toán được những tổn phí và lợi ích. Ông Johnson nghĩ đến cách thoát ra là chứng tỏ sự chừng mực, để trấn an Hà Nội, và để đưa ra sự thỏa hiệp. Tuy nhiên, tất cả những điều nầy là những nét đặc biệt phần nhiều giống như là khuyến khích Hà Nội cố chấp, và trong quá trình, để dạy cho Mỹ rằng không có những phần thưởng nào cho việc đánh mất sự chừng mực. Ông Johnson giải thích về những mục đích của Mỹ theo cách nầy :

Chúng ta không đang cố gắng xóa sạch miền Bắc Việt Nam. Chúng ta không cố gắng thay đổi chính phủ của họ. Chúng ta không đang cố gắng thiết lập những căn cứ vĩnh viễn ở miền Nam Việt Nam…

p662

… chúng ta ở đó bởi vì chúng ta đang cố gắng làm cho những người Cộng sản Bắc Việt dừng lại việc nả súng vào những người láng giềng của họ… để chứng tỏ rằng cuộc chiến tranh du kích, được cảm hứng bởi một quốc gia chống lại một quốc gia khác, không bao giờ có thể thành công… Chúng ta phải tiếp tục cho đến khi nào những người Cộng sản ở miền Bắc Việt Nam nhận ra cái giá của sự xâm lược là quá cao –và hoặc là đồng ý một sự dàn xếp hòa bình hoặc là ngừng việc chiến đấu của họ…

Ông ta muốn các nhà lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội hiểu rằng :

… ngay giấy phút mà bạn nhận ra rằng một chiến thắng quân sự là điều không có thế có và bạn từ bỏ việc sử dụng vũ lực, bạn sẽ tìm thấy chúng tôi đang sẵn sàng và vui lòng đáp lại… Chúng tôi muốn một nền hòa bình danh dự ở Việt Nam. Trong tay bạn là chìa khóa cho nền hòa bình đó. Bạn chỉ cần vặn nó.

Ông Johnson không đáng với lòng thù ghét và sự chế giễu mà qua đó những lời kêu gọi như thế đã khơi lên. Ông ta, sau hết là, đang trình bày lại những tính chất chân thực truyền thống của người Mỹ. Nhưng không phải là ông ta cũng không phải là xã hội của ông ta có bất kỳ những khái niệm nào về việc hiểu được đối phương vốn là người tìm thấy những lời cam đoan như thế là việc nhạo báng; một đối phương, hơn nữa, người mà đối với hắn ta, cách định nghĩa của người Mỹ về sự thỏa hiệp nghe có vẻ giống như một lời kêu gọi đầu hàng trong cuộc đấu tranh cả một đời người.
Đối với những nhà lãnh đạo ương ngạnh và cống hiến ở Hà Nội, khái niệm về sự ổn định không có ý nghĩa hoạt động. Họ đã trải qua những cuộc sống trưởng thành của họ thấp sáng cho chiến thắng, lần đầu tiên chống lại Pháp, bây giờ chống lại một siêu cường. Nhân danh chủ nghĩa cộng sản, họ đã mang lại sự đau khổ khó thể tin được cho người dân của họ. “Để yên người hàng xóm của họ” là một điều mà các nhà lãnh đạo Hà Nội với bản chất cố hữu không thể làm được. Ông Bismarck đã có lần nói rằng sự thống nhất của nước Đức sẽ không bao giờ xảy ra qua cuộc đàm phán nhưng bằng “máu và sắt thép,”(10) mà qua đó chính xác là quan điểm của Hà Nội về sự thống nhất Việt Nam.
Những người Mỹ trong số tất cả những phe nhóm tiếp tục kêu gọi Hà Nội tham gia vào kết quả dân chủ nào đó, và suy nghĩ nát óc để đưa ra phương án tuyển cử khả thi. Tuy nhiên, không có một phương án nào trong số những sản phẩm chính của tư tưởng Mỹ về các vấn đề quốc tế có chút hấp dẫn tí ti nào đối với Hà Nội, ngoại trừ như là những công cụ mà qua đó làm bối rối những người Mỹ. Sau khi đã thành lập một trong những chế độ độc tài của nghiêm khắc nhất trên thế giới, Bộ Chính trị Hà Nội sẽ không bao giờ chấp nhận trở thành chỉ đơn giản là một trong số nhiều đảng phái chính trị ở miền Nam. Hà Nội không có một khuyến khích nào có thể tưởng tượng đến để ngưng việc sử dụng vũ lực; sau hết là, nó buộc phải chiến thắng miễn là nó thua, và nó chắc chắn là không thua –quả thật, chiến lược của Mỹ, rõ ràng là nhắm vào tình trạng bế tắc, công khai rút bỏ ý kiến về việc thua trận của Hà Nội. Đề nghị của ông Johnson về một chương trình tái thiết khổng lồ mở ra cho tất cả các nước, bao gồm cả miền Bắc Việt Nam, rơi vào những lỗ tai điếc. Hà Nội muốn chiến thắng, không phải là việc viện trợ phát triển, và, với sự kiêu ngạo đặc tính, hành động như thể không có nhu cầu nào để chọn lựa giữa hai điều đó.

p663

Một khi làn sóng dư luận của Mỹ quay ra chống chiến tranh, các nhà phê bình về Johnson bằng một cách to tiếng hơn từng có đổ lỗi cho ông ta về sự bế tắc trong ngoại giao. Đến một mức độ mà những cáo buộc nầy ngụ ý rằng ông Johnson do dự thương lượng, họ đã bỏ qua một điểm. Sự hăm hở của ông Johnson để bắt đầu những cuộc đàm phán là điều chắc chắn đối với quan điểm tự đánh bại mình. Và điều đó thuyết phục Hà Nội rằng sự trì hoãn đó giống như là moi thêm những thứ đưa ra thậm chí rộng rãi hơn. Ông Johnson đã ra lệnh cho việc tạm ngưng hết cuộc dội bom nầy đến cuộc dội bom khác (ông ta ghi nhận 16 lần trong cuốn hồi ký của mình), không để lại một nghi ngờ nào rằng Hoa Kỳ sẽ trả một cái giá qua cửa không tương xứng để có được những cuộc đàm phán bắt đầu; Hà Nội có mọi hành động khuyến khích để làm cho cái giá đó lên cao như có thể.
Tôi bị lôi cuốn vào một trong những sáng kiến vốn làm rõ sự háo hức đàm phán của Chính quyền Johnson và lẫn kỹ năng của Hà Nội trong việc sử dụng sự háo hức đó để phục vụ cho những mục đích riêng của nó. Sự can dự của riêng tôi vào Việt Nam phát triển khá dần dần. Trong suốt thập niên 1950s, sự suy nghĩ của tôi về chính sách đối ngoại đã được tập trung trên châu Âu và trên chiến lược hạt nhân. Chính quyền Kennedy bao gồm nhiều cá nhân vốn là những người mà tôi ngưỡng mộ, và tôi đồng tình có khuynh hướng về nỗ lực của nó ở Đông Dương mà không suy nghĩ nhiều về vấn đề. Lần đầu tiên tôi bắt đầu nghiêm túc nghĩ về Việt Nam sau ba chuyến viếng thăm quốc gia đó, vào năm 1965 và 1966, như là một nhà cố vấn về vấn đề bình định cho vị Đại sứ Lodge. Những dịp nầy đã cho tôi một cơ hội để đi đến nhiều nơi trong số những tỉnh của miền Nam Việt Nam và để tổ chức những cuộc thảo luận với những người nào đó được gọi như là phóng viên tỉnh thuộc tòa đại sứ Mỹ –một nhóm nhân viên trẻ phục vụ nước ngoài, có khả năng khác thường và tận tâm ở các phân khu khác nhau khắp đất nước. Những chuyến thăm viếng nầy đã thuyết phục tôi rằng cuộc chiến tranh không thể thắng được bằng chiến lược hiện hành, và rằng Mỹ sẽ cần phải tự thoát thân bằng cách đàm phán với Hà Nội, mặc dù tôi không có những ý tưởng chính xác nào về nội dung của một cuộc đàm phán như thế.
Vào mùa hè năm 1967, tôi tham dự một trong những cái gọi là Hội nghị Pugwash của những nhà khoa học quan tâm đến việc giải giới vũ khí hạt nhân. Hai người tham dự vốn là những người đã từng nghe nói về những chuyến thăm viếng Đông Dương của tôi, đã tiếp cận tôi với cái gì đó có vẻ giống như một đề xuất gợi sự tò mò, thích thú. Raymond Aubrac, một viên chức của Tổ chức Y tế Thế giới, đã dần dần quen biết với Hồ Chí Minh vào năm 1946, khi nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã ở lại tại nhà của ông ta ở Paris trong suốt những cuộc đàm phán với Pháp. Ông Aubrac tỏ ý muốn đến thăm Hà Nội, được tháp tùng bởi một người bạn khoa học gia từ Phong trào Hòa bình, Herbert Marcovich, nhằm đích thân kêu nài Hồ Chí Minh trên chủ đề của những cuộc đàm phán. Tôi thông báo cho ông Bundy, vốn là người đã trở thành Phụ tá cho Bộ trưởng Ngoại giao, và Bộ trưởng Quốc phòng McNamara. Họ khuyến khích chuyến viếng thăm, quy định rằng hai nhà khoa học đi trong khả năng riêng và không có ý nghĩa là đại diện cho quan điểm chính thức của Mỹ.
Ông Aubrac và ông Marcovich đi đến Hà Nội, nơi mà họ được tiếp nhận bởi Hồ Chí Minh.

p664

Sau khi đưa ra lời lên án theo nghi thức về sự “xâm lược” của Mỹ, Hồ Chí Minh gợi ý rằng Hà Nội sẽ vui lòng đàm phán với quy định là Mỹ ngưng việc dội bom miền Bắc Việt Nam. Mai Văn Bộ, người đại diện ngoại giao của Hà Nội ở Paris, được chỉ định như là người liên lạc chính thức.
Một số cuộc trao đổi theo sau bởi phương cách thủ tục phức tạp và rõ ràng là không đúng phép ngoại giao. Kể từ khi Hà Nội sẽ không liên lạc trực tiếp với Washington trước khi việc ngưng lại cuộc dội bom, tôi, cá nhân là một công dân, phục vụ như là người trung gian. Ngay cả như thế, Hà Nội, dành dụm mỗi thẻ đặt cược đàm phán cuối cùng của nó, sẽ không cho phép người đại diện của nó làm việc với ngay cả một người không chính thức là dân Mỹ. Như thế, những tin tức được chuyến đến tôi từ Washington, thường thường là do Bộ trưởng McNamara, và sau đó từ tôi tiệp tục đến hai người Pháp, vốn là những người sẽ chuyển chúng đến Mai Văn Bộ với bất cứ những lời giải thích nào mà tôi đã được cho phép cung cấp. Ông McNamara thì nóng lòng muốn chấm dứt cuộc chiến tranh, và liên tiếp xin tôi rút ra từ những người đối thoại vô hình của tôi bất kỳ sự gợi ý nào, tuy là quanh co, mà qua đó sẽ cho phép ông ta thúc đẩy nguyên nhân của kết quả được đàm phán.
Tôi tham dự một phần của cuộc họp giữa Tổng thống Johnson và các vị cố vấn của ông ta vào lúc mà phần đưa ra cuối cùng của Mỹ được chuẩn bị. Chính là một kinh nghiệm buồn thảm. Rõ ràng là, mỗi bản năng của ông Johnson nổi dậy chống lại sự việc cho ngưng cuộc dội bom. Không chắc chắn là khi ông ta trở nên thành thạo trong việc ứng dụng chính sách đối ngoại của mình, ông Johnson đã có đủ kinh nghiệm trong chính trị để ngờ vực lợi ích của việc mở ra một cuộc đàm phán với sự nhượng bộ đơn phương. Tuy ông ta rất muốn chấm dứt chiến tranh, bị dập tơi tả như ông ta từng bởi những nhà phê bình trong nước, và không có ý khống chế những vị cố vấn vốn là những người nhiệt tình muốn cố gắng thử nghiệm thủ thuật ngoại giao. Cuối cùng là, ông Johnson đã nhượng bộ. Kết quả cuối cùng là cái gọi là Thể thức San Antonio, được nghĩ ra sau khi tôi đã rời khỏi phòng họp, mà qua đó ông Johnson đã trình bày trong một bài phát biểu tại thành phố đó vào ngày 29 tháng Chín năm 1967 :

Hoa Kỳ vui lòng ngưng tất cả cuộc đánh phá không phận và hải phận của miền Bắc Việt Nam khi điều nầy sẽ sớm dẫn đến những cuộc thảo luận hiệu quả. Chúng ta, dĩ nhiên, giả định rằng trong khi các cuộc thảo luận tiến hành, miền Bắc Việt Nam sẽ lợi dụng lợi sự việc chấm dứt hoặc hạn chế cuộc dội bom.

Thể thức San Antonio là một trong những bước ngoặt quyết định của cuộc chiến. Mỹ đưa ra thương nghị ngưng lại hành động quân sự chống lại miền Bắc Việt Nam –một sự bắt buộc nghiêm ngặt– để đổi lấy những cuộc đàm phán “hiệu quả,” miễn là Hà Nội không lợi dụng việc ngưng lại cuộc dội bom. Không một tiêu chuẩn nào được đưa ra cho việc xác định hoặc là “hiệu quả” hay “lợi dụng.” Tuy thế, sau khi đã chứng tỏ khả năng của mình vận dụng cuộc tranh luận nội bộ của Mỹ, Hà Nội có thể đã có một ít nghi ngờ rằng bất kỳ nỗ lực nào của Mỹ bãi bỏ việc ngưng lại cuộc dội bom, sẽ là chuyện gây ra tranh cãi và lẫn việc làm mất thời gian.

p665

Chắc chắn là chuyện “không lợi dụng” việc ngưng lại không có vẻ bắt buộc Hà Nội ngưng cuộc chiến tranh du kích hoặc, trong vấn đề đó, từ bỏ bất cứ điều gì nó thực sự đang làm; nhất là, việc cung cấp lương thực và vũ khí có nghĩa là Hà Nội không buộc phải leo thang chiến lược giành lấy chiến thắng.
Đó là đặc điểm của chiến thuật đàm phán của Hà Nội mà ngay cả điều đưa ra trong thương nghị chỉ có một bên như thế nên đã bị từ chối. Thật vậy, Hà Nội sử dụng thương nghị như là một cái lưới an toàn để bảo vệ nỗ lực dồn hết vào quân sự mà nó sắp sửa tuôn ra. Trong vài ngày, tầng sóng liên lạc của tôi đến Hà Nội bị cắt đứt. Bắc Việt, sau khi đã hiểu được rằng cái giá của việc của việc ngưng cuộc dội bom của Mỹ thì khiêm tốn như nó là điều thâm túy, khó hiểu, đã tìm cách gia tăng những áp lực lên ông Johnson trước khi ngồi xuống để nói chuyện và chấp nhận đề nghị đưa ra. Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân chỉ cách một ít tháng.
Hà Nội đã chính xác cảm nhận được rằng sự bất bình đang tăng trưởng của những người dân Mỹ sẽ không còn tha thứ nữa cho ván cờ bế tắc ở Việt Nam so với ván cờ mà nó đã có ở Hàn Quốc. Tuy là có sự khác biệt về chất lượng trong bản chất của những cuộc tranh cãi trong nước xay ra sau đó. Sự khôn ngoan của việc tham gia của Mỹ ở Hàn Quốc đã chưa bao giờ được thử thách; sự bất đồng đã liên quan đến những phương thức được đòi hỏi để khiến cho nó thành công. Đối với vấn đề Việt Nam, sự đồng thuận lúc ban đầu được lan rộng phía sau chính sách Hoa Kỳ đột nhiên tan biến. Ở Hàn Quốc, các nhà phê bình Chính quyền muốn Hoa Kỳ phải làm nhiều hơn; sự lựa chọn khác của họ thay thế chính sách Truman đã là chiến lược leo thang của ông MacArthur. Ở Việt Nam, phần lớn đông nghẹt những nhà phê bình Mỹ thúc giục việc rút giảm nỗ lực của Mỹ –và, đồng thời, từ bỏ nó hoàn toàn; quan điểm của họ bao gồm từ việc cải thiện chiến lược của Mỹ đến việc rút đi vô điều kiện. Ở Hàn Quốc, những đối phương của Mỹ đã sẽ phải đối mặt với một sự lựa chọn khác tồi tệ hơn nhiều nếu phe đối lập chiếm ưu thế. Ở Việt Nam, một khi mức độ của những rạn nứt trong nước đã trở nên rõ ràng, Hà Nội mau chóng học được rằng thủ thuật ngoại giao bị bế tắc được kết hợp với những áp lực quân sự sẽ gây tác động có lợi cho nó. Những vấn đề bế tắc sẽ bị đổ lỗi cho việc thiếu những sáng kiến ngoại giao của Chính quyền Johnson, và những thương vong tiếp tục của Mỹ sẽ dẫn đến những lời kêu gọi cho việc xuống thang chiến tranh, nếu không hủy bỏ.
Những lời chỉ trích chính sách về Việt Nam của Mỹ bắt đầu bùng nỗ khá thông thường, với những câu hỏi hợp lý được nêu ra về việc liệu cuộc chiến tranh có thể giành được chiến thắng và về mối quan hệ của những phương cách để kết thúc cuộc chiến. Vào ngày 11 tháng Ba năm 1968, Walter Lippmann đã ứng dụng cách phê bình được thiết lập kỹ lưởng, hoàn tất của mình về việc ngăn cản cuộc chiến ở Việt Nam. Nước Mỹ, ông ta lập luận, đã tự căng ra quá mức, và chính sách ngăn chận đang phá hủy bất kỳ sự cân bằng hợp lý nào giữa những mục đích quốc gia và những nguồn tài lực mà họ có thể đạt được :

Sự kiện thực tế là những mục đích chiến tranh của ông ta [Tổng thống L.B.J.] thì vô giới hạn; họ hứa hẹn sự ổn định trong số tất cả các nước của châu Á. Đối với những kết thúc vô giới hạn như thế, đó là điều không thể chiến thắng cuộc chiến tranh với những phương tiện hạn chế.

p666

Bởi vì những mục đích của chúng ta là vô hạn, chúng ta chắc chắn sẽ “bị đánh bại.”

Nhằm tượng trưng hóa tính chất không thích hợp của những đề mục truyền thống về tư tưởng khi được ứng dụng vào Việt Nam, ông Lippmann đã đặt từ ngữ “bị đánh bại” trong những dấu ngoặc kép, báo hiệu cho biết rằng Việt Nam là không thích đáng đối với sự an ninh của Mỹ. Việc rút lui, theo quan điểm đó, sẽ củng cố vị trí toàn thể của Mỹ.
Cùng một quan điểm đã thực sự được thực hiện vào năm 1966, khi Thượng nghị sĩ Fulbright chỉ trích Hoa Kỳ về việc không chống nỗi “sự ngạo mạn của quyền lực” qua việc lầm lẫn “quyền lực của nó với đức tính và những trách nhiệm chính với một sứ mệnh phổ quát.” Chưa đầy hai năm trước đó, ông Fulbright đã quở trách ông de Gaulle vì “việc lầm lẫn tình hình” qua việc cho rằng Việt Nam được trung lập hóa. Vào thời điểm đó, ông Fulbright đã cảnh báo rằng một chiều hướng như thế có thể “làm bùng nỗ một chuỗi những sự kiện không lường trước được [vì] nước Pháp không phải là một lực lượng quân sự chính hoặc cũng không phải là lực lượng kinh tế chủ yếu trong vùng Viễn Đông, và vì vậy, dường như không có khả năng kiểm soát hoặc gây ảnh hưởng to lớn lên những sự kiện mà sự khởi đầu của nước Pháp có thể khiến cho chúng xảy ra quá sớm.” Vào năm 1964, ông Fulbright đã phân biệt chỉ hai lựa chọn “thực tế”; “sự mở rộng của cuộc xung đột theo cách nầy hoặc cách khác, hay sự cố gắng lần nữa để giúp đỡ khả năng của miền Nam Việt Nam hầu tiến hành cuộc chiến một cách thành công trên quy mô hiện thời của nó.”
Điều đã xảy ra trong chưa đầy hai năm để thuyết phục vị Thượng nghị sĩ hạ cấp tình trạng Việt Nam từ tối quan trọng đến nhỏ nhặt ? Và tại sao điều đó phản ảnh sự ngạo mạn mà Chính quyền Johnson, trong lúc đó, đã tiến hành cả hai khuyến nghị của ông Fulbright ? Những nhà lãnh đạo Mỹ, chân thực theo truyền thống dân tộc của họ, đã không hài lòng với việc bỏ qua trường hợp về sự trợ giúp của Mỹ cho Việt Nam trên cơ bản vấn đề an ninh mà qua đó có thể, sớm hay muộn, cho phép một cuộc tranh luận về những tổn phí và lợi ích. Việc trù tính một vấn đề trong phần mang lại nền dân chủ cho Đông Nam Á, họ bỏ qua bất kỳ điểm dừng hợp lý nào trên đường đi vào và –như điều đó đã xảy ra– cũng như trên con đường đi ra.
Các nhà phê bình về chiến tranh đi theo cùng một con đường như các nhà lãnh đạo vốn là những người đang tiến hành theo nó, chỉ là theo hướng ngược lại. Họ bắt đầu bằng những kết luận có căn cứ trên một nền tảng thực dụng cao độ; cuộc chiến tranh thì không thể thắng được, những tổn phí vượt qua những lợi ích, và nước Mỹ đang tự căng ra quá mức. Nhưng các nhà phê bình, vốn là những sản phẩm của cùng chủ nghĩa lý tưởng của Mỹ, nhanh chóng mở rộng cách phê phán của họ đối với mặt đạo đức trong hai giai đoạn: trước tiên là, trên nền tảng, về mặt đạo đức, có sự khác biệt thật là rất ít giữa Hà Nội và Sài Gòn, mà qua đó rõ ràng là không cần đến lý do tư tưởng hệ cho cuộc chiến tranh; thứ hai là, sự kiên trì của Mỹ trong cuộc chiến tranh đã phản ảnh không phải là một sự xét đoán khiếm khuyết thực dụng nhưng là một sự thối rữa về đạo đức tại cốt lõi của hệ thống Mỹ.

p667

Kết quả là, một chính sách vốn đã có được sự ủng hộ gần như phổ quát, trong quá trình hai năm, bị biến đổi trở thành một bản cáo trạng về đạo đức của toàn bộ chính sách đối ngoại của Mỹ và, trong một thời gian ngắn sau đó, trở thành sự phê phán của chính xã hội Mỹ.
Trong giai đoạn hậu Thế Chiến thứ II, Mỹ đã có được may mắn là không bao giờ phải chọn lựa giữa những niềm tin đạo đức và sự phân tích chiến lược của nó. Tất cả trong số những quyết định quan trọng của nó đã được sẵn sàng biện minh như là việc thúc đẩy nền dân chủ và lẫn việc chống lại sự xâm lược. Miền nam Việt Nam, tuy nhiên, không suy ra từ sự tưởng tượng, có thể được mô tả như là dân chủ. Tất cả trong số những chế độ kế tiếp ông Diệm cảm thấy bị bao vây; các tướng lãnh của miền Nam Việt Nam, vốn là những người đến thời điểm nầy đã không được biết đến đối với công chúng, thì ít ước ao muốn thử nghiệm tính chất phổ biến của họ trong các cuộc thăm dò. Một lập luận để gây thuyết phục có thể đã được tạo ra cho một dự kiến đề ra là những nhà lãnh đạo mới của Sài Gòn thì rất ít đàn áp hơn những người của Hà Nội. Lập luận đó, thật ra, thường được tạo ra nhưng không bao giờ tiếp nhận một cách nghiêm túc. Thuyết tương đối về mặt đạo đức thì không thể chấp nhận đối với một quốc gia được trưởng thành trên niềm tin trong sự phân biệt tuyệt đối giữa điều thiện và điều ác.
Những nhà phê bình càng lúc lập luận rằng, nếu Sài Gòn thất bại đáp ứng những tiêu chuẩn dân chủ đầy đủ –mà họ biết tận trong tim là điều không thể nào– nó đáng được vứt bỏ toàn bộ. Khi thời gian tiếp tục trôi qua, Lý thuyết Domino, một tiền đề chính về an ninh mà qua đó việc bảo vệ Việt Nam đã được dựa vào trong gần hai thập kỷ, lần đầu tiên bị bỏ rơi và sau đó bị chế giễu. Qua một trong những bài viết bao hàm nhất, mà Giáo sư Richard Renfield thuộc Đại học Yale kết hợp những lời phê bình của ông Lippman trên sự mở rộng quá mức về chiến lược với lời buộc tội rằng hai bên trong cuộc xung đột ở Việt Nam thì tương đồng về mặt đạo đức; vì vậy cuộc chiến tranh là vô nghĩa. Ở Việt Nam, ông ta đã lập luận, Mỹ không chống đối cuộc xâm lược nhiều như nó đang hỗ trợ các lực lượng thuộc chủ nghĩa bảo thủ chống lại sự thay đổi về mặt xã hội.
Các nhà phê bình chỉ ra nhiều điều không thích đáng của Sài Gòn để chứng minh sự không thể chấp nhận trên mặt đạo đức về nỗ lực của Mỹ. Vào năm 1968, James Reston (i.e. một nhà báo Mỹ) nêu ra câu hỏi vốn đã từng hành hạ rất nhiều người Mỹ: “Sự kết thúc vốn biện minh cho việc tàn sát nầy là gì ? Chúng ta sẽ cứu lấy Việt Nam như thế nào nếu chúng ta tiêu diệt nó trong trận chiến ?” Đến năm 1972, ông Fulbright tuyên bố rằng ông Johnson đã không bao giờ hiểu là “vấn đề không phải giữa một ‘người tự do’ và một ‘chế độ độc tài toàn trị’ nhưng giữa những chế độ toàn trị kình địch; một sự kiện thực tế là cuộc chiến tranh không phải là một cuộc chiến của sự xâm lược quốc tế, ‘trực tiếp’ hay một cách khác hơn, nhưng là một cuộc chiến tranh chống thực dân và sau đó là một cuộc nội chiến.”
Truyền hình sau đó vừa mới đang bước vào trong vai trò của riêng mình. Những chương trình tin tức thường xuyên vào buổi chiều tối đang thu hút những khán giả trong hàng chục triệu người, rất nhiều người hơn ngay cả một tờ báo phổ biến nhất mà những nhà báo có thể hy vọng đạt đến trong một đời người. Và chúng có lợi thế của những hình ảnh thấy được để cung cấp một bài bình luận trôi chảy thuộc chủ biên tập.

p668

Những chưng trình tin tức phản ảnh một sự thèm muốn cho sự kiện gây cảm giác mạnh mẽ như kịch tính và khả năng trình bày như trên sân khấu mà qua đó, ngay cả với những ý tưởng hay nhất, không thể luôn luôn được quân bình, nếu chỉ vì, theo đúng cách đó là điều không thể nào tường trình những hành động tàn bạo mà Việt Cộng đang nhúng tay vào trong những khu vực dưới quyền kiểm soát của họ. Người trình bày tin tức biến thành một nhân vật chính trị, trong ý nghĩa là chỉ có vị chủ tịch mới có thể vói đến nhiều người –và chắc chắn là không theo một quy củ như thế.
Trong suốt thời kỳ hậu chiến, những người Mỹ đã đáp lại những lời kêu gọi các nhà lãnh đạo của cho sự hy sinh nhằm mục đích trợ giúp những xã hội cách xa. Trong lò thử thách của Việt Nam, chủ nghĩa biệt lệ của Mỹ –một niềm tin vào việc có thể áp dụng phổ quát những giá trị của Mỹ– vốn đã ban cho một động lực như thế trên việc tái thiết sau chiến tranh, bắt đầu tự khởi động và làm theo một loại chính sách đạo đức trên vùng đất bị cháy xém. Khi những thương vong tăng lên, sự phê phán về chính sách đối ngoại của Mỹ chuyển từ việc thử thách sự hiệu quả của chính sách đến việc đặt câu hỏi về sự cần thiết cho nó –từ một cuộc tấn công vào vai trò xứng đáng của đồng minh Việt Nam của Mỹ đến việc thách thức vai trò xứng đáng của Mỹ, không chỉ ở Việt Nam mà cũng là trên toàn cầu.
Điều mà cho những cuộc tấn công vào tình trạng sung sức của Mỹ mượn trạng thái đau xót đặc biệt để tiến hành một chính sách toàn cầu, đó là những cuộc tấn công bắt đầu hình thành đến một mức độ to lớn trong các trường đại học và cộng đồng trí thức, mà qua đó đến thời điểm nầy đã kiềm chân những người tận tâm bảo vệ chủ nghĩa lý tưởng quốc tế của Mỹ. Bị lôi cuốn vào việc ra quyết định bởi ông Kennedy, nhiều nhà lãnh đạo trí thức bị vỡ mộng khi vụ ám sát ông ta đột ngột kết thúc chương trình Tiền phương Mới và bị rúng động xa hơn bởi những cuộc biểu tình chống chiến tranh của những sinh viên của họ. Phương thức của việc triệt thoái khỏi Việt Nam không còn giữ được bất kỳ lợi ích nào cho họ; dưới áp lực từ những sinh viên của riêng họ, nhiều vị giáo sư nhích đến gần hơn chưa từng có về khuynh hướng rút quân đơn phương, vô điều kiện.
Việc thách thức những giả định về thời gian hai mươi năm của chính sách đối ngoại của cả hai đảng, cánh cấp tiến thuộc nhóm chống đối vấn đề Việt Nam chế nhạo chủ nghĩa chống cộng như là cổ xưa: “Chúng tôi từ chối là những người chống Cộng,” hai người hành hương đến Hà Nội, là Staughton Lynd và Tom Hayden, đã nói. “Chúng tôi nhấn mạnh rằng thuật ngữ nầy đã mất tất cả các nội dung cụ thể mà có lần nó đã có. Thay vào đó, nó phục vụ như là phạm trù quan trọng của tư duy trừu tượng mà những người Mỹ sử dụng để biện minh cho chính sách đối ngoại vốn thường thường không còn giả mạo hơn là cưỡng đoạt.” Ngay cả Hans Morgenthau, vị lão thành trong số những triết gia Mỹ về lợi ích quốc gia, gợi lòng xúc động với lời công bố về việc vô đạo đức của Mỹ. “Khi chúng ta nói về sự vi phạm các quy tắc chiến tranh, chúng ta phải ghi nhớ rằng sự vi phạm cơ bản, mà từ đó từ tất cả những sự vi phạm cụ thể khác theo sau, là chính sự xúc tiến cuộc của loại chiến tranh nầy.”

(Staughton Lynd, từng là Giáo sư sử học tại Đại học Luật Yale, cũng
đã từng hành hương đến Hà Nội cùng với Herbert Aptheker và Tom
Hayden mà qua đó làm mất công việc của ông ta tại trường Đại học đó)

(Nữ tài tử Jane Fonda và Tom Hayden, người chồng thứ 2 trong 4 ông
chồng, vào năm 1979. Họ từng hành hương đến Hà Nội vào năm 1973,
là những thành phần phản chiến, không chống cộng)

Đối với các nhà lãnh đạo của một thế hệ vốn đã được trưởng thành trên những tính chất chân thực cơ bản không phản bác được của Chiến tranh Lạnh, những sự bùng nỗ nầy thực sự gây sửng sốt. Lyndon Johnson, chính ông ta là người trình bày mạch lạc, chính yếu về sự đồng thuận sau chiến tranh, đã cảm thấy lúng túng như về việc làm cách nào để đối phó với một cuộc tấn công được tiến hành bởi những người đàn ông và phụ nữ từ các trường đại học hàng đầu mà sự đồng thuận của họ là cái gi ông ta khao khát muốn có trong sự cân xứng trực tiếp đối với sự thiếu khả năng của ông ta để tìm ra một ngôn ngữ chung với họ.

p669

David Halberstam, đến năm 1966 vốn là người một nhà phê bình gay gắt về chiến tranh, chính mình đã tự lập luận trước đó “rằng Việt Nam là một phần hợp pháp của sự cam kết toàn cầu đó (của Hoa Kỳ)… có lẽ chính là một trong năm hoặc sáu quốc gia trên thế giới vốn thật sự là rất quan trọng đối với những lợi ích của Mỹ. Nếu điều nầy chính là điều quan trọng, nó có thể đáng là một cam kết lớn hơn về phần của chúng.”
Ông Johnson đã phản ứng bằng cách kêu gọi đến những tính chất chính thống của những người tiền nhiệm của mình, từ ông Truman đến ông Kennedy. Nhưng những người nầy đã thực sự bắt đầu có vẻ lỗi thời, thậm chí không còn thích đáng, đối với các nhà phê bình. Những đề nghị đưa ra cho những thương lượng vô điều kiện đã bị từ chối bởi các nhà lãnh đạo của Hà Nội, vốn là những người rất quá tinh xão với mánh khoé của họ không thể cung cấp một khóa đóng mở an toàn cho biến động trong nước của Mỹ. Để ngăn chận làn sóng, ông Johnson dần dần sửa đổi lập trường đàm phán của mình, di chuyển từ việc yêu cầu cuộc rút quân của Bắc Việt Nam trước khi Mỹ sẽ chấm dứt những hành động thù nghịch đến Thể thức San Antonio cho việc đình chỉ cuộc dội bom trước khi có những đàm phán; và từ việc chối nói chuyện với mặt trận của Hà Nội ở miền Nam, là Mặt trận Giải phóng Dân tộc (hoặc MtGpDt) đến việc đồng ý nói chuyện với những đại diện riêng của nó, và, cuối cùng là, đến việc thừa nhận sự tham gia của MtGpDt như là một thực thể chính trị trong các cuộc đàm phán.(11) Ông ta cũng đã cố gắng cám dỗ Hà Nội với chương trình viện trợ kinh tế cho tất cả các nước ở Đông Dương. Mỗi trong số những động thái nầy bị gạt bỏ bởi Hà Nội như là không thích hợp, và bởi phần lớn các nhà phê bình trong nước của Mỹ như là thiếu chân thành. Các cuộc thảo luận quốc gia càng lúc phân cực giữa vấn đề chiến thắng, mà qua đó không có một chiến lược nào cho nó, và vấn đề rút lui, mà qua đó không có một chính sách nào.
Những nhà phê bình ôn hòa hơn của Chính quyền –là nhóm mà tôi dự vào– thúc giục sự thỏa hiệp được thương lượng. Trở ngại thực sự đối với điều đó, tuy nhiên, không phải là Washington mà là Hà Nội. Những người cộng sản miền Bắc Việt Nam đã không từng trải qua cả cuộc đời trong cuộc đấu tranh sinh tử để kết thúc nó bằng cách chia sẻ quyền lực hoặc bằng cách xuống thang chiến tranh du kích, một phương tiện gây áp lực hiệu quả nhất của họ. Những người cộng Sản Việt Nam không có khả năng hơn Stalin đã từng có trong một thế hệ trước đó về việc cuối cùng đi đến sự hiểu biết bằng niềm hy vọng thiếu thực tế như nhau cho một cuộc thương lượng không dính dáng gi đến cán cân lực lượng ẩn kín nào đó, hoặc chỉ đơn giản là bỏ lại cho chính tiến trình đàm phán. Những cam đoan thường có của ông Johnson mà qua đó ông ta sẽ linh hoạt và cởi mở, dường như đối với Hà Nội là ngây ngô và lẫn không thích đáng.
Trớ trêu là, Mỹ sẽ phải trả cùng một cái giá cho sự thỏa hiệp như nó sẽ cho một chiến thắng. Hà Nội sẽ chấp nhận sự thỏa hiệp chỉ khi nào nó cảm thấy quá yếu không thể chiến thắng –đó là, sau khi nó đã bị đánh bại. Mỹ sẽ chỉ có thể cho thấy sự ôn hòa sau cuộc chiến, không phải là trong suốt cuộc chiến. Tất cả các “giải pháp” tiêu chuẩn –của cả Chính quyền và những nhà phê bình ôn hòa– được nêu ra là không thích hợp bởi sự quyết tâm khó nguôi của Hà Nội.

p670

Một lệnh ngưng bắn, mà đối với những người Mỹ dường như là cách mong muốn kết thúc việc giết hại, sẽ, theo quan điểm của Hà Nội, loại bỏ động cơ rút lui của Mỹ. Một chính phủ liên minh vốn hơn là một chiếc lá sung trên đường đi đến sự chiếm lấy của cộng sản, dường như đối với các nhà lãnh đạo Hà Nội để bảo đảm sự sống còn của Sài Gòn.
Một sự lựa chọn thực tế trước khi Mỹ không phải ở giữa chiến thắng và sự thỏa hiệp, nhưng ở giữa chiến thắng và bại trận. Sự khác biệt giữa những người miền Bắc Việt Nam và những người Mỹ là Hà Nội nắm lấy điều thực tế đó đó trong khi không phải là ông Johnson cũng không phải là các nhà phê bình ôn hòa của ông ta sẽ tự làm cho chính họ thừa nhận điều đó. Những người thực hành Chính sách Thực dụng ở Hà Nội đều tin rằng số phận của Việt Nam sẽ được giải quyết bằng cán cân lực lượng trên bộ –không phải tại bàn hội nghị.
Hồi tưởng lại, có thể có chút nghi ngờ là Mỹ không cần phải trả bất cứ giá nào cho việc mở ra những cuộc đàm phán. Hà Nội đã quyết định đàm phán trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào năm 1968, nếu chỉ là cam kết với cả hai đảng phái chính trị về một kết quả đàm phán. Nhưng những nhà lãnh đạo Hà Nội sẽ không bước vào những cuộc đàm phán mà trước tiên không làm một nỗ lực lớn để nghiêng cán cân quân sự theo chiều hướng của riêng họ. Một công cụ để cải thiện lập trường đàm phán của họ trở thành cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, vốn xảy ra trong suốt dịp Tết Nguyên đán, hay Tết. Trong mỗi năm, bao gồm cả năm 1968, một thỏa thuận ngưng bắn đã được tán đồng cho khoảng thời gian đó. Tuy nhiên, vào ngày 30 tháng Giêng, những lực lượng cộng sản tung ra một cuộc tấn công lớn chống lại 30 thủ phủ của miền Nam Việt Nam. Đạt được sự bất ngờ hoàn toàn, họ chiếm giữ những mục tiêu chủ yếu ở Sài Gòn, thậm chí chạm đến vùng đất của tòa đại sứ Hoa Kỳ và trụ sở chính của Tướng Westmoreland. Thành phố cổ của Huế rơi vào tay những người cộng sản và bị giữ lấy bởi họ trong 25 ngày.
Về mặt quân sự, cuộc tấn công ngày Tết đó bây giờ được nhìn nhận như là một chiến bại to lớn của cộng sản. Chính là lần đầu tiên mà những du kích quân trồi lên và tham gia trong cuộc chiến đấu công khai. Sự quyết định để khởi động một cuộc đột kích trên toàn quốc đã buộc họ phải chiến đấu trên những chiến trường mà họ bình thường có thể đã không chọn lấy. Sức mạnh hỏa lực siêu hạng của Mỹ gần như xóa sạch toàn bộ hạ tầng cơ sở của quân du kích, chỉ giống y như những sách giáo khoa của Quân đội Hoa Kỳ đã từng dự đoán. Khắp phần còn lại của cuộc chiến tranh, những quân du kích Việt Cộng không còn là một lực lượng hiệu quả; gần như tất cả việc chiến đấu được thực hiện bởi các đơn vị chính quy của quân đội Bắc Việt.
Trong một số khía cạnh, cuộc tấn công ngày Tết đã chứng minh sự đáng giá của học thuyết quân sự của Mỹ. Bằng cách đặt cược mọi thứ vào một cú ném của con xúc xắc, những người cộng sản chấp nhận một trận chiến tiêu hao mà chiến lược của Mỹ đã từng khao khát điều đó. Có lẽ, họ đã gánh chịu những thương vong lớn hơn so với những báo cáo chính thức đưa ra; hoặc có lẽ, họ tin tưởng vào sự háo hức của Mỹ muốn đàm phán để cung cấp cho họ một cái lưới an toàn.
Tuy thế, cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân hóa ra là một chiến thắng to lớn về tâm lý cho Hà Nội. Người ta có thể phản ảnh bằng nỗi sầu thảm nào đó trên chiều hướng của những sự kiện nếu những nhà lãnh đạo Mỹ gia tăng thêm áp lực trên các đơn vị chủ lực của Bắc Việt, vốn hiện thời bị tước đi lá chắn du kích quân của họ.

p671

Nếu Mỹ đã thực sự bị phá sản, rất có thể là sẽ ông Johnson đã sẽ đạt được những cuộc đàm phán vô điều kiện mà ông ta đang đề ra, và có thể, thậm chí là một cuộc ngưng bắn vô điều kiện. Điều nầy được chứng minh bởi sự mau chóng –chưa đầy 72 tiếng– mà Hà Nội chấp nhận điều đưa ra được đổi mới của ông Johnson để đàm phán, vốn được kết hợp với việc ngưng dội bom một phần được dựa trên Thể thức San Antonio.
Những nhà lãnh đạo Mỹ, tuy nhiên, đã cảm thấy đủ và không phải bởi vì dư luận đã ruồng bỏ họ. Các cuộc thăm dò cho thấy là 61 % những người dân Mỹ tự xem mình là những con diều hâu (i.e. hiếu chiến), 25 % là những con bồ câu (i.e. hiếu hòa), trong khi 70 % ủng hộ việc tiếp tục cuộc dội bom. Nhóm vốn bị mất dây thần kinh của nó, đại diện cho chính những nhân vật thuộc Nhóm cầm Quyền vốn là những người đã ủng hộ việc can thiệp từ trước đến nay. Ông Johnson tập hợp một nhóm gồm các nhà lãnh đạo từ những chính quyền trước, hầu hết trong số họ là những con diều hâu, bao gồm cả những đảng viên tích cực chẳng hạn như là Dean Acheson, John McCloy, McGeorge Bundy, và Douglas Dillon, trong số những người khác. Nhờ vào đại đa số, họ đưa ý kiến là việc leo thang chiến tranh nên được kết thúc và việc làm tan biến cuộc chiến tranh bắt đầu. Qua việc đưa ra những thái độ của Hà Nội, nói chung vốn chưa được hiểu rõ, thì sự quyết định nầy phải là việc khởi đầu của một chiến bại. Công bằng mà nói, tôi thường đồng tình với “Những người Đàn ông Khôn ngoan” nầy, mà qua đó chứng minh rằng những điểm bước ngoặt thì dễ dàng nhận biết hơn trong sự hồi tưởng so với khi chúng đang diễn ra.
Vào ngày 27 tháng Hai năm 1968, người điều khiển chương trình tin tức trên truyền hình, Walter Cronkite, sau nầy ở mức độ cao ảnh hưởng của ông ta, đã gởi đi những làn sóng địa chấn xuyên qua Nhà Trắng bằng sự tiên đoán sự thất bại :

Dường như hiện thời chắc chắn hơn bao giờ hết là cái kinh nghiệm đẫm máu về Việt Nam sắp sửa kết thúc trong sự bế tắc. Việc thủ hòa gần như chắc chắn trong mùa hè nầy sẽ là hoặc kết thúc trong các cuộc đàm phán cho-và-nhận thực sự hoặc là một cuộc leo thang khủng khiếp; và vì mỗi phương cách mà chúng ta phải leo thang, kẻ thù có thể bắt kịp chúng ta…

Một đề nghị cuối cùng mở ra cho sự nghi vấn đáng xét đến; đơn giản là điều đó không thể đã là đúng rằng miền Bắc Việt Nam là một đất nước duy nhất trong lịch sử chứng minh là không bị ảnh hưởng đối với mọi tính toán có thể tưởng tượng được về sự rủi ro và lợi ích. Đúng, nó có một mức độ chịu đựng cao hơn cho sự gánh lấy khốn khổ so với hầu hết bất kỳ quốc gia nào khác, nhưng tuy thế có một mức độ chịu đựng. Và điều cuối cùng mà Hà Nội quan tâm đến là những cuộc đàm phán cho-và-nhận. Tuy nhiên, lời nói cường điệu của ông Cronkite chứa một yếu tố chính của sự thật: điểm phá vỡ của Hà Nội rõ ràng vượt qua điểm đó của Mỹ.
Tờ báo Wall Street Journal, mà đến thời điểm nầy đã là một thành phần ủng hộ Chính quyền, cũng đã nhảy tàu, qua việc đặt câu hỏi một cách hùng hồn về việc liệu những phát triển có “đang làm hỏng bét những mục tiêu ban đầu, đáng khen ngợi của chúng ta không ? … Nếu thực tiển là không có gì còn lại của chính phủ hay quốc gia, có cái gì cần được cứu lấy vì cái gì không ?”

p672

Tờ báo Journal nghĩ rằng “những người dân Mỹ nên sẵn sàng để chấp nhận, nếu họ thực sự chưa, một viễn ảnh mà qua đó toàn bộ nỗ lực của Việt Nam có thể bị tan tành.” Vào ngày 10 tháng Ba, đài tin tức NBC kết thúc một chương trình đặc biệt về Việt Nam bằng cái gì đó đã nhanh chóng trở thành một điệp khúc phổ biến: “Bỏ qua một bên tất cả những lời tranh luận khác, đã đến lúc chúng ta phải quyết định là liệu đó là điều vô ích để tiêu diệt nước Việt Nam nhằm mục đích để cứu lấy nó không.” Tạp chí Time đã tham gia dàn hợp xướng vào ngày 15 tháng Ba: “Năm 1968 đã mang về quê nhà sự nhận thức rằng chiến thắng ở Việt Nam –hoặc thậm chí là một cuộc dàn xếp thuận lợi– có thể chỉ đơn giản là vượt ra ngoài tầm với của một quyền lực lớn nhất thế giới.”
Những vị Thượng nghị sĩ hàng đầu nhập cuộc ấu đả. Ông Mansfield tuyên bố: “Chúng ta có mặt lầm chỗ và chúng ta đang chiến đấu một loại chiến tranh sai lầm.” Ông Fulbright nêu lên câu hỏi về “thẩm quyền của chính quyền để mở rộng cuộc chiến tranh mà không có sự đồng ý của Quốc hội và không có bất kỳ cuộc thảo luận hoặc sự suy xét nào bởi Quốc hội.”
Dưới tác động của các cuộc tấn công như thế, ông Johnson đành chịu thua. Vào ngày 5 tháng Giêng năm 1968, ông ta công bố việc ngưng đơn phương một phần cuộc dội bom cho khu vực phía Bắc Vĩ tuyến 20, được theo sau bởi việc ngưng hoàn toàn cuộc dội bom ngay khi những cuộc đàm phán thực tiển bắt đầu. Ông ta cho thấy rằng không thêm nữa những viện quân đáng kể sẽ được gởi đến Việt Nam, và một lần nữa lặp lại sự cam đoan thường được khơi lên là “mục tiêu của chúng ta ở miền Nam Việt Nam đã chưa từng bao giờ là sự hủy diệt của kẻ thù.” Sáu tuần sau khi Hà Nội đã vi phạm lệnh ngưng bắn chính thức qua việc tung ra một cuộc đột kích tàn khốc trên những cơ sở Mỹ và giết chết hàng ngàn thường dân chỉ riêng ở Huế, ông Johnson đã mời các nhà lãnh đạo Hà Nội tham gia trong việc phát triển kinh tế vùng Đông Nam Á, một sự gợi ý rõ rệt về triển vọng viện trợ kinh tế. Ông ta cũng thông báo rằng ông ta sẽ không đứng ra tái tranh cử. Vị Tổng thống vốn là người đã gởi 500.000 binh lính đến Đông Nam Á, sẽ để lại việc triệt thoát của họ cho người kế nhiệm của ông ta.
Chính là một trong những quyết định tổng thống đầy định mệnh nhất trong giai đoạn hậu chiến. Nếu ông Johnson không thực hiện sự từ bỏ gây xúc động nầy, ông ta có thể đã tranh luận trong cuộc bầu cử về vấn đề Việt Nam và bảo đảm sự ủy nhiệm của công chúng bằng cách nầy hay cách khác. Nếu sức khỏe của ông ta không cho phép ông ta mạo hiểm nhiệm kỳ thứ hai, ông Johnson lẽ ra tiếp tục gây áp lực lên Hà Nội trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ của mình nhằm mục đích để lại cho người kế nhiệm của mình những phần tự chọn tốt nhất có thể có cho bất cứ sự lựa chọn nào mà ông ta và Quốc hội có thể đã đồng ý sau cuộc bầu cử. Qua việc đưa ra điểm yếu của Hà Nội trong cuộc nỗi dậy trong ngày Tết, một chính sách gây áp lực vào năm 1968 sẽ gần như chắc chắn đã tạo ra một khuôn khổ đàm phán tốt hơn nhiều so với cái chính sách cuối cùng đã xuất hiện.
Bắng cách cùng một lúc xuống thang chiến tranh, từ bỏ cuộc tranh cử của mình, và đưa ra những cuộc đàm phán, ông Johnson đã kết hợp mọi điểm bất lợi.

p673

Những người kế nhiệm mai sau của ông ta ganh đua quyết liệt với nhau trong việc đưa ra những lời hứa hẹn về hòa bình, nhưng không có chuyện định nghĩa thuật ngữ đó. Như thế, những điều kiện được tạo ra cho ảo tưởng công chúng một khi những cuộc đàm phán thực sự bắt đầu. Hà Nội đã thu hoạch được việc ngưng cuộc dội bom trong sự trao đổi cho những cuộc nói chuyện trên cơ bản thủ tục, và được cho cơ hội để khôi phục hạ tầng cơ sở ở miền Nam, mặc dù với những cán bộ Bắc Việt. Nó không có động cơ thúc đẩy nào để dàn xếp với ông Johnson, và mọi cám dỗ để lặp lại cùng một cuộc thử nghiệm sức mạnh với người kế nhiệm của ông ta.

[25] [26] [27] [31]

===========================================

Phụ Chú :
01_ NSC : (National Security Council) Hội đồng An ninh Quốc gia.
02_ SEATO : (Southeast Asian Treaty Organization) Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á.
03_ NATO : (North Atlantic Treaty Organization) Tổ chức Hiệp ước Bắc đại Tây dương.

04_ Catch-22 : là một quy tắc quân sự nhằm ngăn chận một cách hiệu nghiệm bất kỳ ai muốn tránh né những sứ mệnh chiến đấu. Nó cũng là tựa đề của cuốn tiểu thuyết châm biếm trứ danh của Joseph Heller vào năm 1961. Và từ đó, từ ngữ Catch-22 mang ý nghĩa của nội dung cuốn tiểu thuyết đó: một hoàn cảnh mâu thuẩn không lối thoát.

05_ “Họ đã từng chiến đấu và gánh chịu khốn khổ suốt cuộc đời của mình để thiết lập một nước Việt Nam cộng sản thống nhất và tống khứ ảnh hưởng ngoại quốc” : đây là một nhận định xem qua rất sai lầm khiến người ta phải ngạc nhiên khi một nhà ngoại giao có tiếng như ông Kissinger lại có thể nghĩ như thế.
Đáng lý ra, ông ta cũng thừa biết rằng những nước cộng sản thì không bao giờ có chuyện độc lập vì chủ trương quốc tế hóa trong khối cộng sản mà một nước cộng sản lớn mạnh nhất mới có quyền độc lập. Bằng chứng cụ thể là tình hình hiện nay của nước Việt Nam cộng sản đang dần dần tiến đến sự nô dịch hóa của Trung cộng. Như thế, việc “tống khứ ảnh hưởng ngoại quốc” chưa phải là đúng, mà chỉ là tính cách tuyên truyền của cộng sản, ngay cả khi trong thời chiến, ảnh hưởng Liên Xô và Trung cộng luôn đè nặng lên những quyết định lớn nhỏ của cộng sản Hà Nội. Ông Kissinger có thể muốn nói rằng “… tống khứ ảnh hưởng Tây phương” trong ý nghĩa của chữ “ngoại quốc.”
Đa số những người theo cộng sản không hiểu cộng sản là thế nào vì nó quá mơ hồ trừu tượng, thiếu một hình ảnh thực tế của cái gọi là xã hội chủ nghĩa, thì làm sao những người dân bình thường lao lực kiếm sống qua ngày, thiếu kiến thức cơ bản, thậm chí đọc viết không thông, có thể hiểu được cộng sản là cái gì. Ngoại trừ, chính họ là những nạn nhân bị dẫn dụ, tuyên truyền để mường tượng ra một nước cộng sản ấm no, thịnh vượng, công bằng, tự do, v.v. vốn được những cán bộ cộng sản đánh bóng, phóng đại hơn, sau khi chính những cán bộ đó được nhồi sọ từ những cán bộ cao cấp khác. Đó là chưa nói đến hiện tình ở miền Bắc qua những chính sách cưỡng bức quân dịch bằng những cái gông tem phiếu thức ăn, tem phiếu vật dụng được cấp phát từ nhà nước cộng sản mà những thân nhân của người bị bắt quân dịch sẽ bị cắt giảm, thậm chí bị truất luôn tem phiếu nếu anh ta bỏ trốn. Và hiện tình ở miền Nam là mạng đổi mạng, nếu bỏ trốn thì thân nhân phải bỏ mạng hoặc bị khủng bố dồn dập.
Đối với người ngoại quốc, thậm chí là ông Kissinger, chắc gì hiểu được những hoàn cảnh thực tế khi họ chỉ nhìn qua bề ngoài của những cuộc chiến liều mạng của Việt cộng. Vì khi tiếng súng nổ, họ không tiến cũng chết mà tiến cũng chết, không chỉ bằng những hỏa lực của đối phương mà bằng họng súng của chính những cán bộ chỉ huy của họ.

06_ “Bị kẹt giữa những người bào chữa cuồng tín cho tư tưởng hệ ở Hà Nội và những người theo đuổi lý tưởng thiếu kinh nghiệm ở Washington, chính phủ của ông Diệm đông cứng trở thành khắc khe và cuối cùng bị sụm xuống” : đây cũng là một nhận xét rất sai lầm của ông Kissinger vì ông ta dường như chưa đọc tiểu sử về ông Diệm. Với một người có quá nhiều kinh nghiệm với cộng sản qua sự đau thương của chính gia đình mình, ông Diệm không bao giờ có thể bị lung lạc bởi những lời tuyên truyền, bào chữa, biên minh nào cho tư tưởng hệ điên cuồng của cộng sản. Sự khắc khe nếu có của chính quyền ông Diệm không ngoài mục đích đẩy mạnh công cuộc cải cách về chính trị theo cái nhìn của người lãnh đạo miền Nam Việt Nam hơn là theo ý tưởng của những cố vấn Mỹ. Vì ông Diệm biết chắc rằng nếu không dùng bạo lực đối đầu với những Việt cộng vốn đang trà trộn, ẩn kín trong quần chúng, thì khó mà tiêu diệt tận gốc những kẻ cứng đầu, điên cuồng đó
Tuy nhiên, những chính sách của ông Diệm luôn luôn bị kiểm soát và kiềm chế bởi Hoa Kỳ bởi vì những nhận xét quá sai lầm trong tầm nhìn của người ngoại quốc. Vì thế sinh ra sự mâu thuẩn càng ngày trầm trọng hơn giữa chính quyền ông Diệm và những cố vấn Hoa Kỳ. Và sự khác biệt và thiếu am tường về văn hóa Việt Nam cũng là một yếu tố chính gây ra sự hiểu lầm đưa đến sự mâu thuẩn trên. Đáng lý ra, Hoa Kỳ chỉ nên đóng vai cố vấn và hỗ trợ hơn là xen vào nội bộ chính quyền ông Diệm dù là gián tiếp vì người Mỹ sẽ khó lòng có được cách hiểu và suy nghĩ của người Việt Nam.

07_ “Nếu những kẻ chuyên quyền ở miền Nam Việt Nam có thể bị truất phế và những nhà dân chủ tài giỏi được gài vào, cuộc xung đột tàn khốc ở Đông Dương có thể chắc chắn sẽ giảm đi” : đây cũng là một nhận định rất sai lầm của ông Kissinger. Vì cũng chính hai chữ “dân chủ” thiếu thực dụng đó ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt nên những từ ngữ đó được Việt cộng khai thác lợi dụng tối đa để gây rối loạn hậu phương bằng cách xúi giục sinh viên học sinh vốn là những người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết về chính trị, và những người dân kém kiến thức, bạo động biểu tình chống lại chế độ tương đối nhiều tự do, dân chủ hơn chế độ cộng sản Hà Nội mà họ chưa từng trải qua.
Ngay cả những người tự xưng là nhà dân chủ ở miền Nam Việt Nam lúc bầy giờ, họ cũng chưa từng phải trải qua cuộc sống khắc khe, luôn bị câu thúc, rình rập, đe dọa ở miền Bắc Việt Nam bởi những tay công an cộng sản chìm nổi, hàng bầy luôn bao trùm cuộc sống dân chúng. Đáng lý ra, điều trước mắt là đẩy lui việc xâm lược của Hà Nội, và dọn sạch Việt cộng ở miền Nam hơn là xây dựng một nền dân chủ thiếu có nền tảng thực dụng. Vì miền Nam Việt Nam không đang ở trong giai đoạn bình yên như Hoa Kỳ lúc bấy giờ để tôn vinh vấn đề dân chủ, mà ngược lại nó luôn luôn bị Việt cộng quấy nhiểu và lợi dụng những khe hở của quyền tự do và dân chủ để gây bạo loạn nhằm tạo lợi thế cho cộng sản Hà Nội dễ dàng tuyên truyền hơn.
Mục đích của cộng sản Hà Nội không phải là sự giải hòa cuộc xung đột mà là muốn chiếm lấy cho bằng được miền Nam Việt Nam với bất cứ giá nào –một điểm rất khác biệt so với cuộc Chiến tranh Triều Tiên qua những áp lực và hoàn cảnh của thế giới bên ngoài trong Chiến tranh Lạnh. Vì vậy, không thể nào có chuyện “chắc chắn sẽ giảm đi” trong cuộc xung đột mà cộng sản đã quyết tâm xây dựng vô số mật khu, và cả tuyến đường xuyên rừng, xuyên biển để tiến hành cuộc chiến. Không có lý nào chính quyền Hoa Kỳ và ngay cả nhà Ngoại trưởng tiếng tăm như Henry Kissinger lại không hiểu những điều sơ đẳng đó, nếu không là do những áp lực chính trị khác che mờ những gì mà chắc chắn là họ biết rất rõ.

08_ “Chính quyền Kennedy đã đúng trong việc đánh giá của nó rằng nó không thể thắng với ông Diệm” : đây là lời biện hộ mâu thuẩn cho sự sai lầm không thể thay đổi của chính quyền Kennedy. Trong khi đó, tác giả Kissinger, ở phần trên, ông ta đã viết rằng :

Trong sự thức tỉnh của việc lật đổ ông Diệm, điều đó đã được lập luận một cách đúng đắn rằng “những câu hỏi sẽ không phải là làm cách nào để khuyến khích chế độ ở miền Nam Việt Nam mà Mỹ có thể hỗ trợ, nhưng là về việc tìm ra một người vốn sẽ chống đỡ đất nước trong việc tiếp tục cuộc đấu tranh chống lại những người cộng sản đang mừng rỡ.”

Điều nầy là một chứng minh rõ ràng nhất về sự sai lầm của Chính quyền Kenndy khi quyết định lật đổ Chính quyền Diệm. Vì họ không lường trước được hay có một kế hoạch trước đó cho tình hình rối loạn sau cuộc đảo chính vì không có người thay thế nào có đủ khả năng hơn ông Diệm. Một sự sai lầm đến buồn cười và quá trẻ con đối với một Chính quyền Hoa Kỳ hùng mạnh nhất thế giới mà không định trước được việc đưa người kế nhiệm có đủ khả năng trước khi hành động. Hóa ra đây chỉ một hành động kiêu căng trong quyền lực như việc trãm tướng. Tuy nhiên, điều trớ trêu là nhân vật Ngô Đình Diệm nầy không phải là một vị Tướng của Hoa Kỳ, mà là một nguyên thủ quốc gia, chịu trách nhiệm không chỉ đối với dân chúng miền Nam Việt Nam, mà còn đối với sự an ninh cả Đông Dương nói riêng và tiềm năng đe dọa đáng kể của cộng sản đang đè nặng lên Hoa Kỳ trong cuộc Chiến tranh Lạnh đang ngấm ngầm diễn ra.
Những gì mà Chính quyền Kennedy đánh giá khi chúng chưa trở thành hiện thực, thì không thể đi đến một kết luận thiếu thận trọng như thế, nhất là đối với sự nhận xét của vị cựu Ngoại trưởng như ông Kissinger. Tuy nhiên, hậu quả sau cùng đã là một bằng chứng trung thực nhất cho sự đánh giá suông đó qua cách suy nghĩ quá mơ hồ, thiếu thực dụng, và rất kém hiệu quả của Chính quyền Kennedy.

09_ “… hoặc, ở mức tối thiểu, bằng cách không ngăn cản những cuộc đàm phán mà ông ta (i.e. ông Diệm) bị nghi ngờ về việc có kế hoạch với Hà Nội” : đây lại là một nhận định sai lầm khác vốn được ghi đậm trong hồ sơ của Mỹ mà không một học giả nào của Mỹ chịu khó tìm hiểu và phân tích sâu hơn vì vấn đề Việt Nam đối với họ không mấy quan trọng. Tuy nhiên, người ta cũng có thể nhìn thấy rõ rằng, người Mỹ bị Hà Nội dẫn dụ vào cạm bẫy một cách dễ dàng nhờ sự khác biệt về văn hóa –điều nầy cũng được chứng minh qua những cạm bẫy ở vùng quê khi binh lính Mỹ đến: gây lòng căm phẩn của dân chúng và những bẫy chông sập– Trong khi người Mỹ không hiểu biết mấy về gia cảnh ông Diệm và lòng nung nấu thù hận cộng sản của ông ta, thì ngón đòn ly gián rất có khả năng thành công. Và Hà Nội đã đạt được điều đó. Mặc dù Mỹ không có bất kỳ chứng cứ rõ ràng nào có thể buộc tội ông Diệm, nhưng những người Mỹ thường hay nhắc đến điều nầy như là cách biện hộ cho sự sai lầm không thể thay đổi của Chính quyền Kennedy qua việc lật đổ ông Diệm.
Nên biết rằng, nếu ông Diệm thỏa thuận với cộng sản Hà Nội, ông ta đã không bỏ trốn vào Nam. Trong khi chính Hồ Chí Minh rất muốn tiêu diệt ông ta, vì biết rằng một người có nhiều khả năng và biết quá rõ về cộng sản như ông Diệm sống còn là mối đe dọa rất lớn đối với âm mưu chiếm lấy toàn cõi Đông Dương của cộng sản, không riêng gì miền Nam Việt Nam. Nói đến vấn đề thỏa thuận thì người ta không thể quên những thỏa thuận lén lút, mờ ám của Hoa Kỳ với Hà Nội trước và sau, và ngay cả văn bản Hiệp định Paris vào năm 1973, mà tác giả lại chính là người làm những chuyến thương lượng “thỏa thuận” phía sau chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Và nếu giả như ông Diệm có bất kỳ cuộc thương lượng nào với Hà Nội, cũng chẳng qua là cuộc đàm phán ngoại giao của một nguyên thủ quốc gia độc lập có quyền ngoại giao của mình với bất kỳ lãnh tụ hay phe phía nào như chính quyền Hoa Kỳ đã từng làm trong những chuyến công du của chính vị Tổng thống của nó với Liên Xô hay Trung Cộng, hay Hà Nội. Càng không thể đương nhiên áp đặc quyền “bảo trợ” nào đó để bắt buộc người khác nghe lời mình. Điều nầy chứng minh rằng nền dân chủ của Hoa Kỳ đến thời điểm đó còn chưa vững chắc, nếu không nói là chỉ trong giai đoạn phát triển chưa bao lâu qua những biến cố nội tại lúc bấy giờ trong nước Mỹ.

10_ “máu và sắt thép” : (“blood and iron”) là tựa đề của bài nói chuyện của vị Chưởng khế Đức Otto von Bismarck được đưa ra vào năm 1862 về sự thống nhất của những lãnh thổ Đức. Nó cũng là một nhóm chữ được hoán đổi mà ông Bismarck đã thốt ra lúc gần cuối bài diễn văn má qua đó đã trở thành một trong những câu trích dẫn được biết đến rộng rãi nhất của ông ta.

11_ “… cuối cùng là, đến việc thừa nhận sự tham gia của Mặt trận Giải phóng Dân tộc như là một thực thể trong các cuộc đàm phán” : đây là một bước nhượng bộ rất đáng lên án mà chính quyền Hoa Kỳ lẽ ra không có quyền tự thỏa thuận sau lưng chính quyền miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ cũng dư biết rằng nó là cánh tay nối dài của Hà Nội, nhưng lại thừa nhận sự tồn tại của nó ngay trên miền Nam. Điều nầy cũng đồng nghĩa là chính Hoa Kỳ cưu mang kẻ thù của miền Nam ngay trên vùng đất của nó. Và đây cũng là bước nhượng bộ đầu tiên mở đường cho những nhượng bộ gây thiệt hại tồi tệ hơn nữa sau nầy cho miền Nam Việt Nam.

Advertisements

One thought on “Chương 25 & Chương 26 của Thủ thuật Ngoại giao

  1. Pingback: Chương 27 & Chương 31 của Thủ thuật Ngoại giao |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s