Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp

p75

Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp

“Những nghiên cứu gần đây trong môn xã hội học về luật pháp, thêm
một lần nữa xác nhận rằng nguyên tắc cơ bản của luật pháp chính
thức mà theo đó mọi trường hợp phải được xét đoán theo giới luật
hợp lý chung chung, mà qua đó có một số ít ngoại lệ như có thể có
và được đặt nền tảng trên những giả định hợp lý, chỉ có được cho
giai đoạn cạnh tranh tự do của chủ nghĩa tư bản.”

K. Mannheim

Không có gì phân biệt hoàn cảnh một cách rõ ràng hơn trong một đất nước tự do từ hoàn cảnh trong một đất nước dưới chính quyền độc đoán so với việc tuân theo những nguyên tắc vĩ đại trong một đất nước tự do được biết đến như là Quy định Luật pháp.

p76

Bị tước bỏ tất cả những tính chất chuyên môn, điều nầy có nghĩa là chính phủ trong tất cả những hành động của nó bị ràng buộc bởi các quy tắc cố định và được công bố trước đó –những quy tắc vốn làm cho nó có thể thấy trước với sự khá chắc chắn việc chính quyền sẽ sử dụng những quyền lực cưỡng bức của nó như thế nào trong những hoàn cảnh được đưa ra, và có thể lên kế hoạch cho những vấn đề cá nhân của một người trên cơ bản của sự hiểu biết nầy.1 Mặc dù lý tưởng nầy không bao giờ có thể đạt được một cách hoàn hảo, vì các nhà lập pháp cũng như những người mà sự quản lý luật pháp được giao phó cho, là những người có thể sai lầm, một điểm thiết yếu, mà sự tùy ý được để lại cho những cơ quan điều hành đang nắm giữ quyền lực cưỡng bức sẽ được giảm đi nhiều như có thể, thì đủ rõ ràng. Trong khi mỗi luật pháp hạn chế quyền tự do cá nhân đến một mức độ nào đó bằng cách thay đổi những phương cách mà những người dân có thể sử dụng trong việc theo đuổi những mục đích của họ, theo Quy định Luật pháp, chính phủ bị ngăn cản từ những nỗ lực cá nhân làm cho mất hiệu lực bởi hoạt động dành cho mục đích đó. Trong phạm vi những quy luật được biết đến của trò chơi, cá nhân được tự do theo đuổi những mục đích và khao khát riêng của mình, chắc chắn là những quyền lực của chính phủ sẽ không được sử dụng một cách cố ý làm vô hiệu quả những nỗ lực của anh ta.
Sự phân biệt mà chúng ta đã rút ra trước đây giữa việc tạo ra một khuôn khổ vĩnh viễn của những luật pháp trong phạm vi mà hoạt động sản xuất được hướng dẫn bởi những quyết định cá nhân, và sự điều hành hoạt động kinh tế bởi một thẩm quyền tập trung, vì thế thực sự là một trường hợp riêng biệt của sự phân biệt chung chung hơn giữa Quy định Luật pháp và chính phủ chuyên quyền. Dưới phần thứ nhứt, chính phủ tự hạn chế trong việc sửa đổi những quy luật xác định những điều kiện theo đó các nguồn lực sẵn có có thể được sử dụng, để lại cho những cá nhân sự quyết định cho những mục đích gì đó mà chúng được sử dụng. Dưới phần thứ hai, chính phủ chỉ đạo việc sử dụng các phương tiện sản xuất cho những mục đích riêng biệt.
=============
1 Theo cách trình bày cỗ điển của A.V. Dicey trong tác phẩm “The Law of the Constitution” (“Luật Hiến pháp”) (ấn bản lần thứ 8, p. 198) quy định luật pháp “có nghĩa, trước nhất, là uy quyền tuyệt đối hoặc sự khống chế trước của luật pháp thường lệ như trái ngược với ảnh hưởng của quyền lực độc đoán, và loại trừ sự tồn tại của tính chất độc đoán, của đặc quyền, hoặc thậm chí của thẩm quyền rộng rãi, tùy tiện hành động trên phần của chính phủ”. Phần lớn như là kết quả của công việc của Dicey, thuật ngữ, tuy nhiên, ở Anh Quốc đã chiếm được một ý nghĩa chuyên biệt hạn hẹp hơn mà không liên quan đến chúng ta ở đây. Ý nghĩa rộng lớn hơn và xa xưa hơn của khái niệm về luật lệ hoặc sự ngự trị của luật pháp, mà ở Anh Quốc đã trở thành một truyền thống được thành lập mà nó được xem là thế hơn là được đưa ra thảo luận, đã từng được soạn thảo công phu một cách đầy đủ nhất, chỉ bởi vì nó nêu lên điều gì đó ở nơi đó là những nan đề mới, trong các cuộc thảo luận đầu thế kỷ mười chín ở Đức về bản chất của Học thuyết Nhà nước Luật pháp (tiếng Đức là Rechtsstaat).
=============

p77

Loại trước tiên của những quy định có thể được tạo nên trước, trong hình dạng của những luật lệ chính thức mà không nhắm vào những cái muốn và nhu cầu của nhóm người dân riêng biệt. Chúng được nhắm tới chỉ là công cụ đơn thuần trong việc theo đuổi những mục đích cá nhân khác nhau của người dân. Và chúng được, hoặc phải được, nhắm tới trong một giai đoạn dài như thế mà điều không thể nào biết được là liệu chúng sẽ trợ giúp nhóm người dân riêng biệt hơn những người khác không. Chúng gần như có thể được mô tả như là một loại công cụ sản xuất, giúp đỡ người ta tiên đoán hành vi của những người mà họ phải hợp tác, hơn là như những nỗ lực hướng đến sự hài lòng của nhu cầu riêng biệt.
Việc hoạch định kinh tế của các loại theo chủ nghĩa tập thể nhất thiết phải liên quan đến chính sự trái ngược của điều nầy. Thẩm quyền hoạch định không thể tự giới hạn trong việc cung cấp những cơ hội cho những người chưa được biết đến để tận dụng bất cứ điều gì của chúng như họ muốn. Nó không thể tự ràng buộc trước vào những quy định chung chung và chính thức vốn ngăn chận tính chất độc đoán. Nó phải cung cấp những nhu cầu thực tế của người dân khi họ nêu lên và sau đó cố ý chọn lựa giữa chúng. Nó phải liên tục quyết định những câu hỏi mà không thể được đáp lại bởi các nguyên tắc chính thức duy nhất, và trong việc đưa ra những quyết định nầy nó phải thiết lập những sự phân biệt về lẽ phải trái giữa những nhu cầu của những người khác nhau. Khi chính phủ phải quyết định bao nhiêu con heo sẽ được nuôi hoặc bao nhiêu chiếc xe buýt sẽ được chạy, những mỏ than đá nào phải hoạt động, hoặc những cái giá nào cho những đôi giầy cao ống sẽ được bán ra, những quyết định nầy không thể được rút ra từ những nguyên tắc chính thức, hoặc được dàn sếp trước cho những giai đoạn dài. Chúng không tránh khỏi phụ thuộc vào những hoàn cảnh của thời điểm nầy, và trong việc đưa ra những quyết định như thế, điều đó sẽ luôn luôn cần thiết để cân bằng một quy định chống lại những quy định khác, những lợi ích của những người và nhóm khác nhau. Cuối cùng là, những quan điểm của một người nào đó sẽ phải quyết định về việc những lợi ích của ai thì quan trọng hơn; và những quan điểm nầy phải trở thành một phần của luật pháp của đất nước, một sự phân biệt mới về địa vị xã hội mà bộ máy cưỡng bức của chính phủ áp đặt lên người dân.

* * * * *

Sự phân biệt mà chúng ta đã vừa sử dụng giữa luật pháp chính thức hoặc công lý và những quy định tồn tại độc lập, thì rất quan trọng và cũng khó khăn nhất để vẽ ra một cách chính xác trong thực tiển.

p78

Tuy là nguyên tắc chung chung có liên quan đến thì đủ đơn giản. Sự khác biệt giữa hai loại quy định là tương tự như điều mà giữa việc đặt ra một Quy định Đường xá, như trong Điều lệ Xa lộ, và việc ra lệnh cho người dân nơi nào đi; hoặc, còn hay hơn nữa là, giữa việc cung cấp những bảng chỉ đường và việc ra lệnh cho người dân phải đi con đường nào. Những quy định chính thức bảo trước với mọi người về hành động nào mà nhà nước sẽ dùng đến trong những loại tình hình nào, được xác định trong những phần chung chung, mà không cần đề cập đến thời gian và địa điểm hoặc nhóm riêng biệt nào. Chúng đề cập đến những tình huống điển hình mà bất cứ ai có thể rơi vào và trong những tình huống mà sự tồn tại của những quy định như thế sẽ hữu ích cho sự đa dạng to lớn của những mục đích cá nhân. Sự hiểu biết mà trong những tình huống như thế, nhà nước sẽ hành động theo một cách thức rõ ràng, hoặc yêu cầu người dân cư xử theo một cách nào đó, được cung cấp như là một phương tiện cho người dân sử dụng trong việc làm ra những kế hoạch của riêng họ. Những quy định chính thức vì thế chỉ đơn thuần là công cụ trong ý nghĩa mà chúng được mong là hữu dụng cho những người chưa được biết đến, vì những mục đích mà những người nầy sẽ quyết định sử dụng chúng, và trong những trường hợp vốn không thể được nhìn thấy trước một cách chi tiết. Thật ra, điều mà chúng ta không biết tác dụng cụ thể của chúng, điều mà chúng ta không biết những quy định nầy sẽ đẩy xa hơn nữa những mục đích cuối riêng biệt gì, hoặc chúng sẽ trợ giúp nhóm riêng biệt nào, điều mà chúng ta chỉ đơn thuần được ban cho một hình thức hầu hết giống nhau trên toàn bộ để tạo lợi ích cho tất cả những người chịu ảnh hưởng bởi chúng, là một tiêu chuẩn xét đoán quan trọng nhất của những quy định chính thức trong ý nghĩa mà chúng ta ở đây sử dụng thuật ngữ nầy. Chúng không liên quan đến việc chọn lựa giữa những mục đích riêng biệt hoặc nhóm riêng biệt, bởi vì chúng ta chỉ không thể biết trước việc chúng sẽ được sử dụng bởi ai và bằng cách nào.
Trong thời đại của chúng ta, với niềm đam mê của nó cho quyền kiểm soát có ý thức trên mọi thứ, nó có thể dường như nghịch lý khi tuyên bố như là một tác dụng mà qua đó dưới một hệ thống, chúng ta sẽ biết ít hơn về ảnh hưởng riêng biệt của những biện pháp mà nhà nước dùng đến so với tác dụng sẽ là đúng dưới hầu hết những hệ thống khác và qua đó một phương pháp kiểm soát xã hội sẽ được xem là tối ưu vì sự thiếu hiểu biết của chúng ta về những kết quả chính xác của nó. nhưng điều nầy xem xét là trong thực tế, lý do của nguyên tắc tự do lớn Luật pháp. Và sự nghịch lý hiển hiện tan đi mau chóng khi chúng ta theo sau một lập luận xa hơn một chút.

p79

* * * * *

Lập luận nầy là hai phần; phần thứ nhất là kinh tế và đây chỉ có thể được nói lên một cách ngắn gọn. Nhà nước nên tự hạn chế trong phạm vi thiết lập những quy định áp dụng cho những loại tình huống chung chung, và nên cho phép quyền tự do cá nhân trong mọi thứ vốn phụ thuộc vào những hoàn cảnh của thời gian và địa điểm, bởi vì chỉ những cá nhân có liên quan đến trong mỗi trường hợp có thể biết đầy đủ những trường hợp nầy và tạo những hành động của mình thích nghi với những hoàn cảnh. Nếu những cá nhân muốn có thể sử dụng sự hiểu biết của mình một cách hiệu quả trong việc tạo nên những kế hoạch, họ phải có khả năng tiên đoán những hành động của nhà nước mà qua đó có thể gây ảnh hưởng đến những kế hoạch nầy. Nhưng nếu muốn dự đoán trước những hành động của nhà nước, chúng phải được định rõ bởi những luật lệ cố định một cách độc lập về những trường hợp cụ thể mà hoặc là không thể nhìn thấy trước cũng không xét đến trước đó: và những ảnh hưởng riêng biệt của những hành động như thế sẽ là điều không thể đoán được. Nếu, mặt khác, nhà nước muốn chỉ đạo những hành động của cá nhân để đạt được những mục đích riêng biệt, những hành động của nó sẽ phải được quyết định trên cơ bản toàn bộ những trường hợp trong thời điểm và vì vậy sẽ là điều không thể đoán được. Do đó, một sự kiện thực tế quen thuộc là nhà nước “lên kế hoạch” càng nhiều, việc hoạch định trở nên càng khó khăn hơn cho cá nhân.
Lập luận thứ hai, về đạo đức hoặc chính trị, thì thậm chí liên quan trực tiếp hơn đến điểm đang được thảo luận. Nếu nhà nước muốn nhìn thấy trước một cách rõ ràng sự kiện xảy ra của những hành động của nó, điều đó có nghĩa là nó có thể để lại những hành động bị ảnh hưởng đó không có sự lựa chọn. Bất cứ nơi nào nhà nước có thể nhìn thấy trước một cách chính xác những tác động trên nhóm riêng biệt qua những chiều hướng thay đổi của hành động, cũng chính là tình trạng mà nó chọn lựa giữa những mục đích cuối cùng khác nhau. Nếu chúng ta muốn tạo ra những cơ hội mới mở ra cho tất cả mọi người, để đưa ra những cơ hội mà người dân có thể tận dụng theo cách mà họ muốn, những kết quả chính xác không thể lường trước được. Những quy định chung chung, những luật pháp đích thực như được phân biệt với những mệnh lệnh cụ thể, vì vậy phải có chủ ý hoạt động trong những trường hợp vốn không thể nhìn thấy trước một cách chi tiết, và, do đó, ảnh hưởng của chúng trên những mục đích riêng biệt hoặc nhóm riêng biệt không thể được biết trước.

p80

Chính là chỉ trong ý nghĩa nầy mà đối với nhà lập pháp đó là điều có thể là công bằng nếu có. Công bằng có nghĩa là không có một câu trả lời nào cho những câu hỏi nhất định –đối với loại những câu hỏi mà, nếu chúng ta phải quyết định cho chúng, chúng ta quyết định bằng cách tung đồng tiền lên. Trong một thế giới nơi mà mọi thứ được đoán trước một cách chính xác, nhà nước khó mà có thể làm bất cứ điều gì và vẫn là công bằng. Nhưng nơi mà những tác động rõ ràng của chính sách nhà nước trên nhóm riêng biệt được biết đến, nơi mà chính phủ nhắm mục đích một cách trực tiếp vào những tác động riêng biệt như thế, nó không thể không biết những ảnh hưởng nầy, và vì vậy nó không thể là không thiên vị. Nó phải, vì cần thiết, chọn lấy một bên, phải áp đặt những đánh giá của nó trên người dân và, thay vì trợ giúp họ trong sự tiến triển những mục đích của riêng họ, chọn lấy những mục đích cuối cùng cho họ. Ngay sau khi những tác động riêng biệt được dự kiến trước vào thời điểm luật pháp được tạo ra, nó không còn chỉ là một công cụ đơn thuần được sử dụng bởi người dân và thay vào đó, trở thành một công cụ được sử dụng bởi người ban ra luật pháp trên người dân, vì những mục đích cuối cùng của mình. Nhà nước không còn là một phần của guồng máy thực dụng có chủ ý giúp đỡ những cá nhân trong sự phát triển hoàn toàn nhất về nhân cách cá nhân của họ và trở thành một tổ chức “đạo đức” –nơi mà “đạo đức” không được sử dụng trái ngược với vô đạo đức, nhưng mô tả một tổ chức vốn áp đặt trên những thành viên của nó những quan điểm của mình về tất cả những vấn đề về đạo đức, cho dù những quan điểm nầy là đạo đức hoặc hết sức vô đạo đức. Trong ý nghĩa nầy, Đức Quốc xã hoặc bất kỳ nhà nước theo chủ nghĩa tập thể nào khác là “đạo đức”, trong khi nhà nước tự do thì không.
Có lẽ, người ta sẽ nghe nói rằng tất cả điều nầy không nêu lên một nan đề nghiêm trọng nào bởi vì trong loại những câu hỏi mà nhà hoạch định kinh tế sẽ phải quyết định, ông ta không cần và không nên được hướng dẫn bởi những thành kiến cá nhân của mình, nhưng có thể dựa vào niềm tin chung chung của cái gì là công bằng và hợp lý. Luận điệu nầy thường nhận được sự ủng hộ từ những người vốn có kinh nghiệm về việc hoạch định trong một ngành kỹ nghệ nói riêng và vốn là người tìm thấy rằng không có một khó khăn nào không thể vượt qua về việc đi đến một quyết định mà tất cả những người có quan tâm trực tiếp sẽ chấp nhận là công bằng. Lý do tại sao kinh nghiệm nầy không chứng minh được gì cả, dĩ nhiên, là sự lựa chọn những “lợi ích” có liên quan đến khi việc hoạch định bị hạn chế trong phạm vi một ngành kỹ nghệ nói riêng.

p81

Những người có quan tâm trực tiếp nhất trong một vấn đề riêng biệt không nhất thiết phải là những người phán đoán giỏi nhất về những lợi ích của xã hội như là một khối. Hãy lấy chỉ một trường hợp đặc trưng nhất: khi tiền vốn và sức lao động trong một ngành kỹ nghệ phù hợp trên một chính sách hạn chế nào đó và như thế khai thác những người tiêu dùng, thường thường là không có một khó khăn nào về việc phân chia những lợi lộc theo tỷ lệ đối với sự thu nhập trước đây hoặc trên một nguyên tắc tương tự nào đó. Sự mất mát vốn được chia ra giữa hàng ngàn hoặc hàng triệu người tiêu dùng thì thường thường hoặc chỉ đơn giản là bị bỏ qua hoặc được suy xét đến một cách hoàn toàn không thích đáng. Nếu chúng ta muốn kiểm tra tính chất hữu ích của nguyên tắc “công bằng” trong việc quyết định loại của những vấn đề vốn phát sinh trong việc hoạch định kinh tế, chúng ta phải áp dụng nó cho một câu hỏi nào đó nơi mà những phần thu được và những phần mất mát được nhìn thấy bằng nhau một cách rõ ràng. Trong những trường hợp như thế, người ta dễ dàng nhận ra rằng không có nguyên tắc chung chung nào chẳng hạn như là sự công bằng có thể cung cấp một câu trả lời. Khi chúng ta phải chọn lựa giữa những mức lương cao hơn cho những y tá hoặc bác sĩ và những dịch vụ bao quát hơn cho những bệnh nhân, thêm sữa cho những trẻ em và những mức lương tốt hơn cho những người lao động nông nghiệp, hoặc giữa việc làm cho những người thất nghiệp hoặc những mức lương tốt hơn cho những người đã có việc làm rồi, không có gì thiếu hụt của một hệ thống hoàn chỉnh về giá trị mà trong đó mỗi mong muốn của mọi người hoặc nhóm có một nơi nhất định, là điều cần thiết để cung cấp một câu trả lời.
Thật ra, khi việc hoạch định trở nên càng lúc càng mở rộng hơn, nó trở nên thường xuyên cần thiết để ngày càng làm giảm nhẹ bớt những điều khoản pháp lý qua việc đề cập đến cái gì đó là “công bằng” hoặc “hợp lý”; điều nầy có nghĩa là nó trở nên cần thiết để lại sự quyết định của trường hợp cụ thể càng lúc càng nhiều hơn cho sự tùy ý của vị thẩm phán hoặc người có thẩm quyền đang được nói đến. Người ta có thể viết một lịch sử về sự xuống dốc của Quy định Luật pháp, sự biến mất của Học thuyết Nhà nước Luật pháp, trong những phần của lời giới thiệu tăng dần lên về những công thức mơ hồ nầy trở thành pháp chế và quyền pháp lý, và về tính chất chuyên quyền đang gia tăng và tính chất không xác thực của luật pháp và bộ máy tư pháp, và sự thiếu tôn trọng theo sau đó đối với hai điều đó, mà trong những trường hợp nầy không còn cách nào khác hơn là trở thành một công cụ của chính sách.

p82

Đó lả điều quan trọng khi chỉ ra một lần nữa trong sự nối kết nầy mà qua đó quá trình diễn tiến sự suy sụp nầy của Quy định Luật pháp đã và đang tiếp diễn một cách đều đặn ở nước Đức trong một thời gian nào đó trước khi Hitler lên nắm quyền, và qua đó một chính sách tiến triển tốt đẹp hướng đến việc hoạch định theo chủ nghĩa độc tài, đã thực sụ làm rất nhiều việc mà Hitler đã hoàn tất.
Có thể là không có một nghi ngờ nào rằng việc hoạch định nhất thiết phải liên quan đến việc nhận rõ điều khác biệt có suy xét giữa những nhu cầu riêng biệt của những người khác nhau, và cho phép một người làm điều gì mà một người khác ắt hẳn bị ngăn trở không được làm. Nó phải được đặt ra bởi một quy định pháp lý về việc nhóm riêng biệt sẽ sung túc như thế nào và những người khác sẽ được cho phép có và làm gì. Điều đó thực tế có nghĩa là sự trả lại cho quy định về danh nghĩa, một sự đảo ngược của “sự chuyển động của những xã hội tiến bộ” mà, trong một dòng chữ nổi tiếng của Sir Henry Maine, “cho đến nay đã là một sự chuyển động từ danh nghĩa đến giao ước.” Quả thật, Quy định Luật pháp, hơn quy định của giao ước, có lẽ nên được xem như là sự đối nghịch thực sự của quy định về danh nghĩa. Chính là Quy định Luật pháp, trong ý nghĩa của quy định về luật pháp chính thức, sự vắng mặt của những đặc quyền pháp lý của nhóm riêng biệt được chỉ định bởi chính quyền, vốn gìn giữ bảo vệ sự đồng đều đó trước pháp luật mà nó đối nghịch với chính phủ chuyên quyền.

* * * * *

Một kết quả cần thiết, và chỉ là một kết quả nghịch lý hiển hiện của điều nầy là sự đồng đều chính thức đó trước pháp luật đang trong tình trạng xung đột, và thật ra là không thích hợp, với bất kỳ hoạt động nào của chính phủ cố tình nhắm vào sự đồng đều về vật chất hoặc quyền hạn cụ thể của những người khác nhau, và qua đó bất kỳ chính sách nào nhắm vào một lý tưởng cụ thể về sự công bằng phân bố phải dẫn đến sự hủy diệt của Quy định Luật pháp. Nhằm tạo ra cùng một kết quả cho những người khác nhau, điều cần thiết là đối xử với họ một cách khác nhau. Cho những người khác nhau những cơ hội khách quan giống nhau thì không phải là cho họ cùng một cơ hội chủ quan. Điều không thể bị phủ nhận là Quy định Luật pháp tạo ra sự không đồng điều về kinh tế –tất cả điều mà có thể được tuyên bố, chính là sự không đồng điều nầy không được trù hoạch để gây ảnh hưởng đến nhóm riêng biệt theo một cách riêng biệt.

p83

Đó là điều rất quan trọng và đặc trưng mà qua đó những người theo chủ nghĩa xã hội (và những người theo Chủ nghĩa Quốc xã) đã luôn luôn phản đối chống lại sự công bằng “chỉ đơn thuần là” chính thức, mà qua đó họ đã luôn luôn chống đối luật pháp vốn không có những quan điểm nào về việc nhóm riêng biệt nên được sung túc như thế nào,1 và qua đó họ đã luôn luôn đòi hỏi việc “xã hội hóa pháp luật”, tấn công tính chất độc lập của những vị thẩm phán, và đồng thời đưa ra sự hỗ trợ của họ cho tất cả những phong trào chẳng hạn như là Freirechtsschule(pc 04) vốn ngầm phá hoại Quy định Luật pháp.
Điều đó thậm chí có thể nói rằng vì Quy định Luật pháp đang có hiệu lực, điều quan trọng hơn là nên có một quy định luôn luôn được áp dụng mà không có những ngoại lệ, so với cái gì là quy định nầy. Thường là phần nội dung của quy định quả thật có tầm quan trọng nhỏ nhoi, được cung cấp cùng một quy định vốn được thực thi một cách phổ quát. Trở lại thí dụ trước đó: không thành vấn đề cho dù tất cả chúng ta lái xe bên trái –hoặc bên phải lòng đường, miễn là tất cả chúng ta làm giống nhau. Điều quan trọng là sự quy định cho phép chúng ta dự đoán hành vi của người khác một cách chính xác, và điều nầy đòi hỏi là nó nên áp dụng cho tất cả những trường hợp –ngay cả khi trong một trường hợp riêng biệt, chúng ta cảm thấy là không công bằng.
Sự xung đột giữa công lý chính thức và sự bình đẳng chính thức trước pháp luật chính thức trên một mặt, và những cố gắng làm cho những lý tưởng đa dạng về công lý và sự bình đẳng tồn tại độc lập trở thành hiện thực trên mặt khác, cũng giải thích cho sự lầm lẫn lan rộng về khái niệm “đặc quyền” và sự lạm dụng theo sau của nó. Chỉ đề cập đến một thí dụ chứng minh quan trọng nhất về sự lạm dụng nầy –việc áp dụng của thuật ngữ đặc quyền cho tài sản chẳng hạn. Nó quả thật sẽ là đặc quyền nếu, thí dụ, như đôi khi đã từng là một trường hợp trong quá khứ, tài sản chiếm được được dành cho những thành viên của giới quý tộc. Và chính là đặc quyền nếu, như vẫn đúng trong thời đại của chúng ta, quyền sản xuất hoặc bán những thứ riêng biệt được dành cho những người riêng biệt được chỉ định bởi chính quyền. Nhưng gọi là tài sản tư nhân, mà tất cả mọi người có thể thu được dưới cùng những quy định, như là một đặc ân như thế, bởi vì chỉ có một số người thành công trong việc thu được nó, là rút ra từ ý nghĩa của chữ đặc quyền.
=============
1 Do đó, không phải là hoàn toàn sai khi nhà lý luận về pháp lý của Chủ nghĩa Quốc xã, Carl Schmitt, phản đối với Học thuyết Nhà nước Luật pháp tự do (tức là Quy định Luật pháp), một lý tưởng chủ nghĩa quốc xã của gerechte Staat (chỉ riêng nhà nước) –mà chỉ là loại công lý vốn trái ngược với công lý chính thức, nhất thiết hàm ý sự phân biệt đối xử giữa những người.
=============

p84

Điều không thể tiên đoán về những tác động riêng biệt, vốn là đặc tính phân biệt của những pháp luật chính thức của một hệ thống tự do, cũng là điều quan trọng vì nó giúp chúng ta làm sáng tỏ sự lầm lẫn khác về bản chất của hệ thống nầy: một niềm tin mà thái độ đặc trưng của nó là sự ù lì của nhà nước. Câu hỏi về việc liệu nhà nước nên hay không nên “hành động” hoặc “can thiệp” đặt ra một sự chọn lựa thay thế khác hoàn toàn sai trái, và thuật ngữ laissez-faire (i.e. không can thiệp)(pc 02) là một sự mô tả rất ư mơ hồ và lầm lạc về những nguyên tắc mà chính sách tự do được đặt nền tảng vào. Dĩ nhiên, mỗi nhà nước phải hành động và mọi hành động của nhà nước can thiệp vào một cái gì đó hoặc thứ khác. Nhưng điều nầy không phải là vấn đề. Câu hỏi quan trọng là liệu một cá nhân có thể nhìn thấy trước hành động của nhà nước và tận dụng sự hiểu biết nầy như là một dữ kiện trong việc hình thành những kế hoạch của riêng mình, với kết quả mà qua đó nhà nước không thể kiểm soát việc sử dụng được làm bằng máy móc của nó, và qua đó cá nhân biết một cách chính xác là anh ta sẽ được bảo vệ chống lại sự can thiệp từ những người khác đến mức nào, hoặc liệu nhà nước có đang ở một tư thế làm hỏng những nỗ lực cá nhân. Nhà nước đang kiểm soát việc quy định về trọng lượng và kích thước (hoặc ngăn chận sự gian lận và lừa đảo trong bất kỳ cách nào khác) chắc chắn là đang hành động, trong khi nhà nước cho phép việc sử dụng bạo lực, thí dụ, bằng những người canh gác cổng trong cuộc đình công, thì ù lì. Tuy trong trường hợp thứ nhất là nhà nước quan sát những nguyên tắc tự do và trong trường hợp thứ hai là nó không quan sát. Một cách tương tự đối với hầu hết những quy định chung chung và vĩnh viễn mà nhà nước có thể thành lập với sự liên quan đến việc sản xuất, chẳng hạn như là những quy định về việc xây dựng hoặc những luật lệ về hảng xưởng: những điều nầy có thể là khôn ngoan hoặc dại dột trong một thí dụ riêng biệt, nhưng chúng không mâu thuẫn với những nguyên tắc tự do miễn là chúng nhằm mục đích là lâu dài và không được sử dụng để ủng hộ hoặc gây hại cho nhóm riêng biệt. Thật sự là trong những trường hợp nầy, ngoài những ảnh hưởng dài hạn vốn không thể được dự đoán, sẽ cũng có những ảnh hưởng ngắn hạn trên nhóm riêng biệt vốn có thể được biết đến một cách rõ ràng. Nhưng với loại nầy của những luật pháp, những ảnh hưởng ngắn hạn nói chung không đúng là (hoặc ít nhất không phải là) sự cân nhắc suy xét để hướng dẫn.

p85

Như những ảnh hưởng tức thời và có thể đoán được nầy trở nên quan trọng hơn so với những tác động dài hạn, chúng ta tiến đến đường biên giới nơi mà sự phân biệt, tuy nhiên, rõ ràng trong nguyên tắc, trở nên lu mờ trong thực tiển.

* * * * *

Quy định Luật pháp được phát triển một cách có ý thức chỉ trong suốt thời kỳ tự do và là một trong những thành tựu lớn nhất của nó, không chỉ như là một sự gìn giữ bảo vệ mà là một sự biểu hiện pháp lý về quyền tự do. Như Immanuel Kant đã viết ra điều đó (và Voltaire đã bày điều đó trước ông ta trong những phần rất giống y nhau), “Con người có tự do nếu anh ta không cần phải tuân theo người nào ngoại trừ pháp luật mà thôi”. Như là một lý tưởng mơ hồ mà nó, tuy nhiên, đã tồn tại ít nhất là từ thời La Mã, và trong suốt vài thế kỷ qua, nó đã chưa bao giờ bị đe dọa một cách nghiêm trọng như nó bị ngày hôm nay. Ý tưởng rằng không có một giới hạn nào cho những quyền lực của các nhà lập pháp, một phần là kết quả của quyền lực tối cao phổ biến và một chính phủ dân chủ. Nó đã được củng cố bởi niềm tin rằng miễn là tất cả những hành động của nhà nước được cho phép một cách chính đáng bởi pháp chế, Quy định Luật pháp sẽ được bảo tồn. Nhưng điều nầy hoàn toàn buộc phải nhận thức sai ý nghĩa của Quy định Luật pháp. Quy định nầy ít có liên quan gì đến câu hỏi là liệu tất cả những hành động của chính phủ là hợp pháp theo nghĩa pháp lý không. Chúng cũng có thể là và tuy không phù hợp với Quy định Luật pháp. Sự kiện thực tế là một người đó có đầy đủ thẩm quyền pháp lý để hành động theo cách anh ta không đưa ra một câu trả lời nào cho câu hỏi là liệu pháp luật có cho anh ta quyền lực để hành động một cách tùy tiện hoặc là liệu pháp luật có quy định rõ ràng là anh ta phải hành động như thế nào không. Cũng có thể là Hitler đã thu được những quyền lực vô giới hạn của mình theo một phương thức hiến pháp nghiêm chỉnh và bất cứ điều gì ông ta làm, vì vậy hợp pháp theo ý nghĩa pháp lý. Nhưng ai sẽ đề nghị cho lý do mà Quy định Luật pháp vẫn chiếm ưu thế ở nước Đức ?
Nói rằng trong một xã hội có kế hoạch, vì vậy Quy định Luật pháp không thể giữ được, là không nói rằng những hành động của chính phủ sẽ không hợp pháp hoặc rằng một xã hội như thế sẽ nhất thiết phải là vô luật lệ. Điều đó chỉ có nghĩa là việc sử dụng những quyền lực cưỡng bức của chính phủ sẽ không còn bị giới hạn và được định rõ bởi những quy định được thiết lập trước.

p86

Luật pháp có thể, và nhằm tạo nên sự chỉ đạo tập trung hoạt động kinh tế có thể phải, hợp pháp hóa điều gì đó mà đối với mỗi ý nghĩa thực tiển vẫn còn là hành động tùy ý. Nếu luật pháp cho rằng một Hội đồng hoặc Cơ quan có thể làm điều gì mà nó muốn, bất cứ điều gì mà Hội đồng hoặc Cơ quan nào làm là hợp pháp –nhưng những hành động của họ chắc chắn không phải phụ thuộc vào Quy định Luật pháp. Bằng cách cho chính phủ những quyền lực vô giới hạn, quy định độc đoán nhất có thể được làm cho hợp pháp: và theo cách nầy, một nền dân chủ có thể thiết lập một chế độ chuyên quyền hoàn toàn nhất có thể tưởng tượng đươc.1
Nếu, tuy nhiên, luật pháp định cho phép những người có thẩm quyền định hướng đời sống kinh tế, nó phải cho họ những quyền lực để đưa ra và buộc tuân theo những quyết định trong những hoàn cảnh vốn không thể lường trước và trên những nguyên tắc vốn không thể được nói rõ trong hình thức có đặc điểm chung. Hậu quả là khi việc hoạch định mở rộng, việc phó thác những quyền lực lập pháp cho Hội đồng và Cơ quan của những thợ lặn ngày càng trở nên thông thường. Khi mà trước khi cuộc chiến tranh vừa qua, trong một trường hợp mà Lord Hewart quá cố gần đây đã gây sự chú ý, Ngài Thẩm phán Darling nói rằng “Nghị viện đã ban hành chỉ năm ngoái rằng Hội đồng Nông nghiệp trong cách hành động như họ đã làm, sẽ không còn có thể bị buộc tội hơn nữa so với chính Nghị viện”, điểm nầy vẫn là một điều hiếm hoi. Nó đã trở thành một sự việc xảy ra hầu như hàng ngày kể từ đó. Liên tục, những quyền lực rộng lớn nhất được trao cho những người có thẩm quyền mới, mà không bị ràng buộc bởi những quy định không thay đổi, vốn có quyền tùy tiện gần như vô giới hạn trong việc điều chỉnh hoạt động nầy hoặc hoạt động khác của người dân.
=============
1 Sự xung đột vì thế không phải là, như nó đã thường bị hiểu sai trong các cuộc thảo luận vào thế kỷ mười chín, một cuộc xung đột giữa tự do và pháp luật. Như John Locke đã thực sự làm sáng tỏ, không thể nào có tự do mà không có pháp luật. Sự xung đột giữa các loại khác nhau của pháp luật, pháp luật quá khác nhau đến nổi nó khó mà sẽ được gọi bằng một cái tên giống nhau: một cái là pháp luật của Quy định Luật pháp, những nguyên tắc chung được đặt ra trước đó, “những luật lệ trò chơi” vốn cho phép những cá nhân nhìn thấy trước công cụ cưỡng bức của nhà nước sẽ được sử dụng như thế nào, hoặc anh ta và những đồng bào của mình sẽ được phép làm, hoặc buộc phải làm gì, trong những hoàn cảnh được nói rõ. Một loại khác của pháp luật trong thực tiển ban một quyền lực thẩm quyền để làm điều gì đó mà nó nghĩ là phù hợp để làm. Như thế, Quy định Luật pháp rõ ràng là không thể được bảo tồn trong một nền dân chủ vốn cam đoan quyết định mọi sự xung đột về những quyền lợi không theo những quy định được đặt ra trước, ngoại trừ “trên những lý lẽ phải trái của nó.”
=============

p87

Quy định Luật pháp vì thế hàm ý những giới hạn đối với phạm vi của pháp chế: nó hạn chế nó trong phạm vi một loại những quy định chung chung được biết đến như là luật pháp chính thức, và không bao gồm pháp chế hoặc là trực tiếp nhắm vào nhóm riêng biệt người, hoặc là vào việc tạo điều kiện cho bất cứ ai sử dụng quyền lực cưỡng bức của nhà nước cho mục đích của sự phân biệt đối xử như thế. Nó có nghĩa, không phải là mọi thứ được quy định bởi pháp luật, nhưng, ngược lại, là quyền lực cưỡng bức của nhà nước có thể được sử dụng chỉ trong những trường hợp được định rõ trước đây bởi pháp luật và theo một cách sao cho nó có thể được nhìn thấy trước là nó sẽ được sử dụng như thế nào. Việc ban hành một đạo luật riêng biệt vì thế có thể vi phạm Quy định Luật pháp. Bất cứ ai sẵn sàng từ chối điều nầy sẽ phải dám chắc rằng cho dù Quy định Luật pháp chiếm ưu thế ngày nay ở Đức, Ý, hoặc Nga, phụ thuộc vào việc liệu các nhà độc tài đã có được quyền lực tuyệt đối của họ bằng phương thức hiến pháp không.1

=============
1 Một minh họa khác về sự vi phạm Quy định Luật pháp bởi pháp chế là một trường hợp của đạo luật tịch biên (i.e. tước đoạt quyền công dân và tịch thu tài sản), quen thuộc trong lịch sử của đất nước nầy. Một hình thức mà Quy định Luật pháp mang vào luật hình sự, thường được thể hiện bởi câu ngạn ngữ Latin nullum crimen sine poena –không có một hình phạt nào mà không có một luật pháp quy định chỉ riêng cho nó. Thực chất của quy định nầy là pháp luật hẳn đã tồn tại như là một quy định chung chung trước khi một trường hợp cá nhân phát sinh mà qua đó nó được áp dụng vào. Không ai có thể tranh luận rằng, khi mà trong một trường hợp nổi tiếng dưới triều đại Henry VIII, Nghị viện giải quyết một vấn đế liên quan đến người đầu bếp của Giám mục Rochester “mà qua đó Richard Rose được nói đến trước đó sẽ bị đun sôi đến chết mà không có lợi thế nào của hàng giáo sĩ của mình”, hành động nầy được thực hiện dưới Quy định Luật pháp. Nhưng trong khi Quy định Luật pháp đã trở thành một phần thiết yếu của thủ tục hình sự trong tất cả các nước tự do, nó không thể được bảo tồn trong những chế độ toàn trị. Ở đó, như E.B. Ashton đã diễn giải điều đó một cách rõ ràng, câu châm ngôn tự do được thay thế bằng những nguyên tắc nullum crimen sine poena –không một “tội phạm” nào hẳn còn mà không có sự trừng phạt, cho dù luật pháp quy định một cách rõ ràng cho điều đó hay không. “Quyền của nhà nước không làm chấm dứt bằng việc trừng phạt kẻ phá luật. Cộng đồng được ban cho bất cứ điều gì có vẻ là cần thiết cho việc bảo vệ những quyền lợi của nó –về điều mà sự tuân theo pháp luật, như nó giữ vững quan điểm, chỉ là một trong những yêu cầu cơ bản hơn” (E.B. Ashton, tác phẩm “The Fascist, His State and Mind” (“Người Phát-xít, Nhà nước và Tâm trí của Anh ta”), 1937, p. 119). Cái gì là sự vi phạm “những lợi ích của cộng đồng”, dĩ nhiên, được quyết định bởi nhà chức trách.
=============

p88

* * * * *

Cho dù, như ở một số quốc gia, những áp dụng chính của Quy định Luật pháp được đặt ra trong Đạo luật Dân Quyền hoặc Điều lệ Hiến pháp, hoặc cho dù nguyên tắc chỉ đơn thuần là một truyền thống thiết lập vững chắc, tạo thành vấn đề tương đối ít ý nghĩa. Nhưng nó sẽ dễ dàng được nhìn thấy rằng bất cứ hình thức nào nó mang, bất kỳ những giới hạn đã được thừa nhận như nào về những quyền lực của pháp chế hàm ý sự thừa nhận quyền không thể chuyển nhượng của một cá nhân, những quyền bất khả xâm phạm của con người.
Đó là điều thảm thương, nhưng là đặc trưng của tình trạng lộn xộn mà qua đó nhiều người trong số những nhà trí thức của chúng ta đã được dẫn dắt bởi những lý tưởng đối lập mà họ tin vào, mà qua đó một người biện hộ hàng đầu về việc hoạch định tập trung toàn diện nhất giống như Ngài H.G. Wells vào cùng một thời điểm nên viết về sự bảo vệ nồng nhiệt Quyền Con người. Những quyền cá nhân mà Ngài Wells hy vọng bảo tồn, sẽ không tránh khỏi gây cản trở cho việc hoạch định mà ông ta rất mong muốn. Đến một mức độ nào đó, ông ta dường như nhận ra điều tiến thoái lưỡng nan, và vì vậy chúng ta tìm thấy những điều khoản của “Bản Tuyên ngôn Quyền Con người” được đề ra của ông ta quá lòng vòng với những hạn chế đến nổi chúng mất đi tất cả ý nghĩa. Trong khi, thí dụ, Bản Tuyên ngôn của ông ta tuyên bố rằng mỗi người “sẽ có quyền mua và bán mà không có bất kỳ những hạn chế phân biệt đối xử nào bất cứ thứ gì vốn có thể được mua và bán một cách hợp pháp”, vốn là điều đáng ngưỡng mộ, ông ta ngay lập tức tiến hành tạo nên toàn bộ điều khoản vô dụng bằng cách thêm rằng nó chỉ áp dụng cho việc mua và bán “trong những số lượng như thế và với những điều kiện hạn chế như thế thì phù hợp với phúc lợi chung”. Nhưng kể từ đó, dĩ nhiên, tất cả những hạn chế từng được áp đặt lên việc mua hoặc bán bất cứ thứ gì được cho là cần thiết trong lợi ích của “phúc lợi chung”, thực sự là không có một hạn chế nào mà điều khoản nầy ngăn chận một cách hiệu quả, và không có quyền nào của cá nhân vốn được bảo vệ bởi nó.
Hoặc, lấy một điều khoản cơ bản khác, Bản Tuyên ngôn phát biểu rằng mỗi người “có thể tham gia vào bất cứ nghề nghiệp hợp pháp nào” và rằng “anh ta có quyền có một công việc được trả lương và có quyền có một lựa chọn tự do bất cứ khi nào có bất kỳ nhiều thứ công việc khác nhau mở ra cho anh ta”.

p89

Nó không được nói rõ là, tuy nhiên, ai là người quyết định xem công việc riêng biệt nào thì “mở ra” cho một người riêng biệt, và điều khoản được thêm rằng “anh ta có thể đề nghị một công việc cho chính mình và lời tuyên bố của anh ta được người khác công khai suy xét, chấp nhận hoặc bác bỏ” cho thấy rằng Ngài Wells đang nghĩ đến những phần của người có thẩm quyền mà qua đó quyết định xem người nào “có quyền có” một vị trí riêng biệt –mà qua đó chắc chắn có nghĩa là điều ngược lại sự lựa chọn tự do cho nghề nghiệp. Và trong một thế giới có kế hoạch, “quyền tự do đi lại và di cư” sẽ được bảo đảm như thế nào khi mà không chỉ là phương tiện liên lạc và tiền tệ bị kiểm soát, mà còn địa điểm của những kỹ nghệ phải theo hoạch định, hoặc quyền tự do báo chí sẽ được bảo đảm như thế nào khi mà việc cung cấp giấy và tất cả những tuyến phân phối bị kiểm soát bởi người có thẩm quyền hoạch định, là những câu hỏi mà Ngài Wells cung cấp câu trả lời ít ỏi như bất kỳ nhà hoạch định nào khác.
Trong sự liên hệ nầy tính chất kiên định nhiều hơn được cho thấy bởi rất nhiều nhà cải cách hơn vốn là những người, mãi từ khi sự khởi đầu của phong trào xã hội chủ nghĩa, đã tấn công ý tưởng “trừu tượng” về những quyền cá nhân và nhấn mạnh rằng trong một thế giới trật tự hợp lý sẽ không có những quyền cá nhân nào ngoại trừ chỉ là những nhiệm vụ cá nhân. Điều nầy, quả thật, đã trở thành một thái độ chung nhiều hơn của những người được gọi là cấp tiến của chúng ta, và một số ít điều thì chắc chắn hơn nhằm đặt một người vào sự sỉ nhục vì trở thành một kẻ phản tiến triển so với nếu một người phản kháng chống lại một biện pháp với lý do mà nó là sự vi phạm những quyền cá nhân. Thậm chí một tờ báo tự do giống như The Economist cách đây một vài năm phô ra cho chúng ta thí dụ về người Pháp, về tất cả những người dân, vốn là những người đã học bài học

rằng chính phủ dân chủ không kém hơn chế độ độc tài phải luôn luôn [theo nguyên văn] có những quyền lực đầy đủ trong tiềm năng, mà không phải hy sinh đặc tính dân chủ và tiêu biểu của họ. Không có vùng tranh sáng tranh tối hạn chế nào của những quyền cá nhân vốn không bao giờ có thể được chạm đến bởi chính phủ trong các vấn đề hành chính bất cứ là những hoàn cảnh nào. Không có một giới hạn nào đối với quyền lực cai trị vốn có thể và nên được nắm lấy bởi một chính phủ được chọn lựa một cách tự do bởi những người dân và có thể bị chỉ trích một cách toàn bộ và công khai bởi phe đối lập.

p90

Điều nầy có thể là không thể tránh được trong thời chiến khi mà, dĩ nhiên, thậm chí sự chỉ trích tự do và công khai nhất thiết phải bị hạn chế. Nhưng từ ngữ “luôn luôn” trong câu phát biểu được trích dẫn không đưa ra ý kiến là tờ báo The Economist xem điều đó như là một điều cần thiết đáng tiếc trong thời kỳ chiến tranh. Tuy như là một tổ chức thường trực, quan điểm nầy chắc chắn là không thích hợp với việc bảo tồn Quy định Luật pháp, và nó dẫn thẳng đến một nhà nước độc tài toàn trị. Tuy nhiên, chính là quan điểm mà tất cả những người vốn muốn chính phủ điều hành đời sống kinh tế, phải bám giữ.
Điều như thế nào mà ngay cả một sự công nhận chính thức những quyền cá nhân, hoặc những quyền bình đẳng của những nhóm thiểu số, mất đi tất cả ý nghĩa trong một nhà nước vốn bắt tay vào một kiểm soát hoàn toàn của đời sống kinh tế, đã được chứng minh rất nhiều bởi kinh nghiệm của các quốc gia Trung Âu khác nhau. Điều đó đã được cho thấy ở đó rằng đó là điều có thể theo đuổi một chính sách phân biệt đối xử tàn nhẫn chống lại những nhóm thiểu số quốc gia bằng cách sử dụng các công cụ được nhìn nhận của chính sách kinh tế, mà không bao giờ vi phạm chứng từ về sự bảo vệ theo luật định những quyền của nhóm người thiểu số. Sự áp bức nầy bằng phương thức của chính sách kinh tế được tạo điều kiện rất nhiều bởi sự kiện thực tế là những ngành kỹ nghệ riêng biệt hoặc các hoạt động phần lớn nằm trong tay của nhóm thiểu số quốc gia vì thế phần nhiều một biện pháp ra vẻ có mục đích chống lại một ngành kỹ nghệ hoặc một tầng lớp, thật ra là được nhắm vào nhóm thiểu số quốc gia. Nhưng những điều có thể gần như vô hạn đối với một chính sách phân biệt đối xử và áp bức được quy định bởi các nguyên tắc rõ ràng là vô thưởng vô phạt khi “quyền kiểm soát của chính phủ về sự phát triển của những ngành kỹ nghệ” đã được chứng minh rất nhiều cho tất cả những người mong muốn nhìn thấy những hậu quả chính trị của việc hoạch định hiện ra trong thực tiển như thế nào.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

===========================================

Phụ Chú :
pc 02_ Laissez-faire (không can thiệp) : là một môi trường kinh tế mà trong đó những giao dịch giữa các bên tư nhân không bị bó buộc bởi những hạn chế, những thuế quan (thuế xuất nhập), và những khoản trợ cấp của chính phủ, chỉ có những quy định đủ để bảo vệ quyền sở hữu tài sản. Nhóm chữ laissez-faire là tiếng Pháp và theo nghĩa đen có nghĩa là “hãy để cho [họ] làm”, nhưng nó ngụ ý rộng rãi là “để mặc nó”, “hãy để cho họ làm như họ muốn,” hoặc “đừng đụng chạm đến.”

pc 04_ Phong trào Freirechtsschule : là phong trào Tự do Luật pháp (Free Law) có thời kỳ cực thịnh ngắn ngủi của nó ở Đức, Áo, và ngay cả một phần nước Pháp vào một phần tư đầu tiên của thế kỷ hai mươi. Trong số những trường phái hiện đại về luật pháp, nó soi sáng nhất sự đến gần luật pháp một cách nghiêm chỉnh của những người theo chủ thuyết quyết định, tự do khỏi tất cả những gò bó ở mức độ cao hơn. Phần nghị sự theo khoa phương pháp học của nó được biện minh bởi thí dụ như là Eugen Erhlich (1862–1922), Hermann Kantorowicz (được biết đến như là Gnaeus Flavius, một cái tên khác, (1877–1940)), Ernst Fuchs (1859–1929), Johann Georg Gmelin, và Hermann Isay (1873–1938) (i.e. tất cả họ là những trí thức người Đức có tiếng tăm đương thời). Oscar Bülow, người Đức, thường được gọi tên như là người đảm nhiệm của phong trào Tự do Luật pháp.
Nó được sinh ra từ bài phê bình về những thừa thãi của chủ thuyết hình thức pháp lý (i.e. những nhà thực chứng pháp lý quan niệm rằng công lý tồn tại độc lập của luật pháp là một câu hỏi cho cơ quan lập pháp hơn là cơ quan tư pháp) vốn đã từng được can dự vào bởi Puchta (i.e. Georg Friedrich Puchta (1798–1846), cây viết về pháp lý và là vị thẩm phán khu vực) và những người Đức theo chủ thuyết khái niệm. Những người theo chủ thuyết hình thức đã từng nhìn vào hành động của quan tòa về sự tùy ý sử dụng pháp lý như là một hoạt động hoàn toàn hợp lý. Để hiểu nó một cách rõ ràng, phong trào Tự do Luật pháp bảo vệ ba luận điểm về sự phân tích pháp lý :
(a) quyền quyết định của quan tòa là một hành động tự do và sáng tạo, với một số lượng đáng kể về quyền làm ra luật pháp theo ý của mình được ban cho những vị thẩm phán;
(b) tất cả luật pháp được viết ra, không thành vấn đề cho dù nó là trong hình thức của những điều lệ, đạo luật, hoặc những tiền lệ, bởi sự cần thiết thì không hoàn chỉnh, thiếu khả năng cung cấp những câu trả lời cho tất cả những vấn đề pháp lý thích đáng; và
(c) tất cả những quy định về việc xây dựng pháp lý, bao gồm những quy định nhắm vào việc hạn chế sự tùy ý tự do của quan tòa, đưa đến những phán xét có giá trị tuyệt đối và việc áp dụng những nguyên tắc pháp lý phụ chính thức.

Khoa học luật pháp về xã hội học lần đầu tiên đã xuất hiện như là một khoa phương pháp học về sự phát triển của luật pháp bởi những vị thẩm phán. Nó được đặt nền tảng trên sự phê phán khoa luật pháp về những khái niệm và quan điểm võ đoán của nó mà một trật tự pháp lý không có những khe hở và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của những quyết định tòa án trong sự phát triển và sáng tạo luật pháp. Nó trở nên có hiệu quả trong và xuyên qua hai trường phái: một cái được gọi là Freirechtsschule (Free Law Movement) (Phong trào Tự do Luật pháp), cũng như trường phái Interessenjurisprudenz (Jurisprudence of Interests) (Khoa học luật pháp về những Lợi ích) có cơ sở ở thị trấn Tübingen, Đức, vây quanh Philipp Heck (1858–1943).

15 thoughts on “Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp

  1. Pingback: Chương 01: Con đường Bỏ hoang |

  2. Pingback: Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng |

  3. Pingback: Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể |

  4. Pingback: Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định |

  5. Pingback: Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ |

  6. Pingback: Chương 07: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị |

  7. Pingback: Chương 08: Ai làm, ai chịu ? |

  8. Pingback: Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do |

  9. Pingback: Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao |

  10. Pingback: Chương 11: Phần Cuối của Sự thật |

  11. Pingback: Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã |

  12. Pingback: Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta |

  13. Pingback: Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng |

  14. Pingback: Chương 15 (Hết) : Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế |

  15. Pingback: Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch (Mục Lục & Lời Giới thiệu) |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s