Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ

p59

Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ

“Một chính khách vốn là người sẽ thử cố gắng hướng dẫn trực tiếp riêng
những người dân theo cách gì đó mà họ phải dùng đến vốn liếng của họ,
sẽ không chỉ tự chất vào mình với một sự chú ý không cần thiết nhất,
nhưng gánh lấy một thẩm quyền vốn có thể được tin cậy một cách an
toàn đối với không một Hội đồng và Thượng viện nào cả, và sẽ là không
đến nổi rất nguy hiểm như trong tay của một người vốn có đủ sự điên
rồ và tự phụ để ảo tường chính mình phù hợp để thực hiện điều đó.”

Adam Smith

Những nét đặc trưng chung của tất cả những hệ thống tập thể có thể được mô tả, trong một nhóm chữ thân thiết hơn bao giờ hết đối với những người theo chủ nghĩa xã hội của tất cả các phái, như là một tổ chức có chủ ý của những người lao động trong xã hội cho một mục đích xã hội nhất định. Mà qua đo xã hội hiện nay của chúng ta thiếu sự hướng dẫn “có ý thức” như thế hướng đến một mục đích duy nhất, mà qua đó những hoạt động của nó được hướng dẫn bởi những ý tưởng bất chợt và những ảo tượng của những cá nhân thiếu trách nhiệm, đã luôn luôn là một trong những than phiền chính của các nhà phê bình xã hội chủ nghĩa của nó.
Trong nhiều cách, điều nầy đặt ra một vấn đề cơ bản rất rõ ràng. Và nó tức thời hướng dẫn chúng ta đến điểm nơi mà sự xung đột phát sinh giữa quyền tự do cá nhân và chủ nghĩa tập thể.

p60

Những loại khác nhau của chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa phát-xít, v.v., tạo sự khác biệt giữa chúng tự trong bản chất của mục đích hướng đến điều mà họ muốn chỉ đạo những nỗ lực của xã hội. Nhưng tất cả chúng đều khác biệt đối với chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cá nhân trong việc mong muốn tổ chức toàn bộ xã hội và tất cả các nguồn tài lực của nó cho mục đích đồng nhất cuối cùng nầy, và trong sự từ chối nhìn nhận những lãnh vực tự trị mà trong đó những mục đích cuối cùng của những cá nhân là tối cao. Tóm lại, họ độc tài theo đúng nghĩa của từ ngữ mới nầy mà chúng ta đã từng ứng dụng để mô tả những biểu hiện bất ngờ nhưng vẫn không thể tách rời của những gì trong lý thuyết mà chúng ta gọi là chủ nghĩa tập thể.
“Mục đích xã hội”, hoặc “mục đích chung”, cho điều mà xã hội phải được tổ chức, thường thường được mô tả một cách mơ hồ như là “điều tốt chung”, hoặc “phúc lợi chung”, hay “lợi ích chung.” Nó không cần nhiều sự phản ảnh để thấy rằng những thuật ngữ nầy không có ý nghĩa nào đủ xác định để định rõ một quá trình hành động riêng biệt. Phúc lợi và hạnh phúc của hàng triệu không thể được đo lường trên một mức thang điểm duy nhất không hơn không kém. Phúc lợi của một người dân, giống như hạnh phúc của một người, phụ thuộc vào rất nhiều thứ vốn có thể được cung cấp trong sự đa dạng bất tận của những kết hợp. Nó không thể được thể hiện một cách đầy đủ như là một mục đích cuối cùng duy nhất, nhưng chỉ như là một hệ thống thứ bậc các mục đích nầy, một hệ thống mức độ toàn diện của các giá trị mà trong đó mọi nhu cầu của mọi người được cho một chổ của nó. Nhằm chỉ đạo tất cả những hoạt động của chúng ta theo một kế hoạch duy nhất giả định trước rằng mỗi một trong số những nhu cầu của chúng ta được cho cấp hạng của nó theo một trật tự của những giá trị vốn phải được hoàn chỉnh đủ làm cho nó có thể quyết định giữa tất cả những quá trình khác nhau, giữa những điều mà nhà hoạch định phải chọn. Nó giả định trước, tóm lại, sự tồn tại của điều lệ hoàn chỉnh về đạo đức mà trong đó tất cả những giá trị nhân bản khác nhau được định chổ thích ứng của chúng.
Quan niệm về điều lệ hoàn toàn hợp với nguyên tắc thì không quen thuộc và nó đòi hỏi một nỗ lực nào đó của trí tưởng tượng để nhìn thấy nó liên quan đến những gì. Chúng ta không có thói quen nghĩ đến những điều lệ hợp với nguyên tắc như là hoàn chỉnh hơn hay ít hơn.

p61

Sự kiện thực tế mà qua đó chúng ta không ngừng chọn lựa giữa những giá trị khác nhau mà không có một điều lệ xã hội quy định là chúng ta phải lựa chọn như thế nào, không làm cho chúng ta ngạc nhiên, và không đề nghị với chúng ta rằng điều lệ đạo đức của chúng ta thì không hoàn chỉnh. Trong xã hội của chúng ta, không có hoặc là duyên cớ cũng không là lý do tại sao những người dân nên phát triển quan điểm chung về cái gì đó nên được thực hiện trong những tình huống như vậy. Nhưng nơi mà tất cả các phương tiện được sử dụng là tài sản của xã hội, và nhân danh của xã hội phải được sử dụng theo một kế hoạch đồng bộ, một quan điểm “xã hội” về điều gì cần được thực hiện, phải hướng dẫn tất cả những quyết định. Trong một thế giới như thế, chẳng bao lâu chúng ta sẽ tìm thấy rằng điều lệ đạo đức của chúng ta đầy những kẽ hở.
Ở đây, chúng ta không quan tâm với câu hỏi là liệu điều đó sẽ là điều đáng mong muốn để có một điều lệ hoàn toàn hợp với nguyên tắc như thế không. Điều đó có thể chỉ đơn thuần được chỉ ra rằng cho đến nay, sự tăng trưởng của nền văn minh đã được đi kèm với sự thu nhỏ đều đặn của khoảng không gian mà trong đó những hành động cá nhân đang bị ràng buộc bởi các quy tắc cố định. Những quy tắc mà điều lệ đạo đức chung của chung ta bao gồm, đã dần dần trở nên ít hơn và tổng quát hơn trong đặc tính. Từ một người nguyên thủy vốn là người đã bị ràng buộc bởi một nghi lễ phức tạp nơi hầu hết mọi người trong các hoạt động hàng ngày của mình, vốn là người đã bị giới hạn bởi vô số những điều cấm kỵ, và vốn là người hiếm khi có thể nhận ra là đang làm những việc theo một cách khác biệt với những người đồng bào của mình, những đức tính đạo đức càng lúc càng có khuynh hướng trở thành chỉ đơn thuần là những giới hạn bao quanh khoảng không gian trong phạm vi mà một cá nhân có thể hành xử như anh ta thích. Việc ứng dụng một điều lệ hợp với nguyên tắc chung đủ bao hàm khái niệm để định rõ một kế hoạch kinh tế đồng bộ sẽ có nghĩa là một sự đảo ngược hoàn toàn khuynh hướng nầy.
Điểm thiết yếu đối với chúng ta là không có một điều lệ hoàn toàn hợp với nguyên tắc như thế tồn tại. Sự cố gắng chỉ đạo tất cả hoạt động kinh tế theo một kế hoạch duy nhất sẽ nêu lên vô số câu hỏi cho điều mà câu trả lời có thể được cung cấp chỉ bởi một quy tắc đạo đức, nhưng cho điều mà những đức tính đang tồn tại không có một câu trả lời nào và nơi mà không có sự tồn tại của một điểm tán thành nào trên điều gì cần được thực hiện. Những người dân sẽ có một trong hai điều hoặc là không có những quan điểm rõ ràng nào hoặc là những quan điểm mâu thuẫn nhau trên những câu hỏi như thế, bởi vì trong một xã hội tự do mà trong đó chúng ta đã sống, đã không từng có một dịp nào để suy nghĩ về chúng và vẫn có ít cơ hội để hình thành những ý kiến chung về chúng.

p62

* * * * *

Không chỉ là chúng ta không có một hệ thống mức độ bao gồm tất cả những giá trị như thế: đó sẽ điều không thể đối với bất kỳ tâm trí nào hiểu được tính chất đa dạng vô hạn của những nhu cầu khác biệt của những người khác nhau vốn tranh đua vì các nguồn tài lực sẵn có và đối với bất kỳ tâm trí nào kèm theo một sức nặng nhất định cho mỗi nhu cầu. Đối với nan đề của chúng ta, nó có tầm quan trọng không đáng kể là liệu những mục đích cuồi cùng mà bất kỳ người nào quan tâm đến, chỉ bao gồm những nhu cầu cá nhân của riêng mình không, hoặc liệu chúng bao gồm những nhu cầu của những người bạn gần gũi hơn của anh ta hoặc ngay cả những nhưng cầu của những người bạn xa hơn của mình không –điều đó là, liệu anh ta có phải là người ích kỷ hay vị tha trong những ý nghĩa thông thường của những từ ngữ nầy. Một điểm mà nó rất quan trọng là một sự kiện thực tế cơ bản mà đó là điều không thể đối với bất kỳ người nào muốn khảo sát nhiều hơn một lãnh vực bị hạn chế, có nhận thức về sự cấp bách nhiều hơn của một số lượng hạn chế của những nhu cầu. Liệu những lợi ích của anh ta có xoáy quanh những nhu cầu vật chất của mình, hoặc liệu anh ta có sự quan tâm nồng ấm về phúc lợi của mỗi con người mà anh ta biết khong, những mục đích cuối cùng mà anh ta có thể cảm thấy quan tâm đến, sẽ luôn luôn chỉ là một phần nhỏ li ti những nhu cầu của tất cả người dân.
Đây là một sự kiện thực tế cơ bản mà trên đó toàn bộ triết lý về chủ nghĩa cá nhân dựa vào. Nó không giả định, như thường hay được khẳng định, rằng con người thì vị kỷ hoặc ích kỷ, hoặc phải là thế. Nó chỉ đơn thuần bắt đầu từ sự kiện thực tế không thể chối cãi mà những giới hạn sức mạnh của chúng ta về sự tưởng tượng khiến cho nó không thể nào bao gồm trong hệ thống mức độ của chúng ta về những giá trị nhiều hơn một phần những nhu cầu của toàn thể xã hội, và rằng, từ đó, nói một cách nghiêm túc, những hệ thống mức độ về giá trị chỉ có thể tồn tại trong tâm trí cá nhân, không là gì cả ngoại trừ một phần những hệ thống mức độ về những giá trị tồn tại, những hệ thống mức độ vốn không thể tránh khỏi khác biệt và thường không đồng nhất với nhau. Từ điều nầy, người theo chủ nghĩa cá nhân kết luận rằng những cá nhân nên được cho phép, trong phạm vi những giới hạn được xác định, tin theo những giá trị và những gì ưu thích hơn của riêng họ hơn là của một người nào khác, rằng trong phạm vi những khoảng không gian nầy, một hệ thống của cá nhân về những mục đích cuối cùng sẽ là tối cao và không phải chịu bất kỳ sự sai khiến nào bởi những người khác.

p63

Chính là sự nhìn nhận nầy về cá nhân như là vị thẩm phán cuối cùng của những mục đích của anh ta, một niềm tin mà qua đó những quan điểm của riêng anh ta phải chi phối những hành động của mình xa như có thể, vốn hình thành cái thực chất của vị thế chủ nghĩa cá nhân.
Quan điểm nầy, dĩ nhiên, không loại trừ việc nhìn nhận những mục đích cuối cùng của xã hội, hoặc đúng hơn là sự trùng hợp ngẫu nhiên của những mục đích cuối cùng của cá nhân mà qua đó làm cho nó đáng cho người ta kết hợp cho việc theo đuổi của họ. Nhưng nó giới hạn hành động chung như thế đối với những trường hợp nơi mà những quan điểm cá nhân trùng hợp; điều mà được gọi là “những mục đích cuối cùng của xã hội”, đối với nó chỉ đơn thuần là những mục đích giống nhau của nhiều cá nhân –hoặc những mục đích đối với thành tích của những cá nhân vốn sẵn sàng đóng góp để đổi lấy sự trợ giúp mà họ nhận được trong sự thỏa mãn những ham muốn của riêng mình. Hành động chung vì thế bị giới hạn trong những lãnh vực nơi mà những người dân đồng ý trên những mục đích chung. Rất thường khi những mục đích chung nầy sẽ không là những mục đích tối hậu đối với những cá nhân, nhưng có nghĩa là những người khác biệt nào có thể sử dụng cho những mục đích khác nhau. Thật ra, những người dân có nhiều khả năng đồng ý trên hoạt động chung nơi mà mục đích chung không phải là một mục đích tối hậu đối với họ, nhưng là một phương tiện có khả năng phục vụ tính chất đa dạng to lới của những mục đích.
Khi những cá nhân kết hợp trong một nỗ lực chung để làm cho những mục đích cuối cùng mà họ có điểm chung trở thành hiện thực, những tổ chức, giống như nhà nước, mà chúng hình thành vì mục đích nầy, được giao một hệ thống của riêng họ về những mục đích và những biện pháp của riêng họ. Nhưng bất kỳ tổ chức nào vì thế được hình thành vẫn còn một “người” trong số những người khác, trong trường hợp nhà nước mạnh hơn nhiều hơn bất kỳ tổ chức nào trong số những tổ chức khác, đúng là thế, tuy vẫn với khoảng không gian riêng biệt và hạn chế của nó mà trong đó chỉ riêng mục đích cuối cùng của nó là tối hậu. Những giới hạn của khoảng không gian nầy được xác định bởi mức độ mà những cá nhân đồng ý trên những mục đích cụ thể; và xác suất mà họ sẽ đồng ý trên một quá trình cụ thể về hoạt động, nhất thiết phải giảm đi khi phạm vi hoạt động như thế mở rộng. Có những chức năng nhất định của nhà nước về việc thực thi điều mà sẽ có sự đồng bộ thực tiển trong số những công dân của nó; sẽ có những thứ đồng nhất khác về điều mà sẽ có sự thỏa thuận của một số đông đáng kể, và cứ thế, cho đến khi chúng ta đến với những lãnh vực nơi mà, mặc dù mỗi cá nhân có thể ước muốn nhà nước hành động theo một cách nào đó, gần như sẽ có nhiều quan điểm về điều gì mà chính phủ nên làm như có nhiều người khác nhau.

p64

Chúng ta chỉ có thể dựa vào sự thỏa thuận tự nguyện để hướng dẫn hành động của nhà nước miễn là nó bị hạn chế trong những khoảng không gian nơi mà sự thỏa thuận tồn tại. Nhưng không chỉ khi nhà nước đảm nhận sự kiểm soát trực tiếp trong những lãnh vực nơi mà không có một sự thỏa thuận nào như thế, nó buộc phải đàn áp quyền tự do cá nhân. Tiếc là chúng ta không thể mở rộng một cách vô hạn khoảng không gian của hoạt động chung và vẫn để cho cá nhân tự do trong khoảng không gian của mình. Một khi bộ phận công xã, mà trong đó nhà nước kiểm soát tất cả các phương tiện, vượt quá một tỷ lệ nhất định của toàn bộ, những tác động của những hoạt động của nó khống trị toàn bộ hệ thống. Mặc dù nhà nước kiểm soát trực tiếp việc sử dụng chỉ một phần lớn các nguồn lực sẵn có, những ảnh hưởng của những quyết định của nó trên phần còn lại của hệ thống kinh tế trở nên quá lớn đến nổi nó gián tiếp kiểm soát gần như mọi thứ. Nơi mà, thí dụ, như thực sự là ở Đức vào khoảng đầu năm 1928, chính quyền trung ương và địa phương trực tiếp kiểm soát việc sử dụng của hơn một nửa thu nhập quốc gia (theo ước tính chính thức của Đức sau đó, là 53 phần trăm). Họ gián tiếp kiểm soát gần như toàn bộ đời sống kinh tế toàn của dân tộc. Sau đó, hiếm khi có một mục đích cá nhân mà không phụ thuộc vào hành động của nhà nước vì thành tích của nó, và “hệ thống mức độ xã hội về những giá trị” vốn hướng dẫn hành động của nhà nước, phải thực tiển ôm chặt tất cả những mục đích cá nhân.

* * * * *

Không khó để nhìn thấy cái gì phải là những hậu quả khi nền dân chủ bắt tay vào quá trình của việc hoạch định mà trong việc thực hiện của nó đòi hỏi sự thỏa thuận nhiều hơn so với cái trong thực tế hiện có. Những người dân có thể đã đồng ý trên việc ứng dụng một hệ thống kinh tế được chỉ đạo bởi vì họ đã được thuyết phục rằng nó sẽ tạo ra sự thịnh vượng to lớn. Trong các cuộc thảo luận dẫn đến một quyết định, mục đích của việc hoạch định chắc sẽ được mô tả bằng thuật ngữ nào đó chẳng hạn như là “phúc lợi chung” vốn chỉ che giấu sự vắng mặt của sự thỏa thuận thực sự trên những mục đích của việc hoạch định.

p65

Sự thỏa thuận thật ra sẽ chỉ tồn tại trên cơ chế được sử dụng. Nhưng nó là một cơ chế vốn có thể được sử dụng chỉ cho một mục đích chung; và vấn đề về mục đích chính xác hướng đến điều mà tất cả hoạt động phải được chỉ đạo, sẽ xuất hiện ngay sau khi quyền lực điều hành phải biến nhu cầu cho một kế hoạch duy nhất trở thành một kế hoạch cụ thể. Sau đó, nó sẽ có vẻ là sự thỏa thuận trên sự mong muốn việc hoạch định không được hỗ trợ bởi sự thỏa thuận trên những mục đích mà kế hoạch định phục vụ. Tác động của việc đồng thuận của những người dân mà qua đó phải có kế hoạch tập trung, không có sự đồng thuận trên những mục đích, sẽ đúng hơn như thể là một nhóm người định dấn thân làm cuộc hành trình với nhau mà không có sự đồng thuận về nơi nào họ muốn đi: với kết quả là tất cả họ có thể phải làm cuộc hành trình mà hầu hết trong số họ không muốn chút nào. Mà qua đó việc hoạch định tạo ra một tình huống mà trong đó điều cần thiết cho chúng ta là đồng thuận trên một số lượng chủ đề lớn nhiều hơn so với thứ mà chúng ta đã từng quen thuộc, và qua đó trong một hệ thống có kế hoạch, chúng ta không thể giới hạn hành động tập thể đối với những công việc mà trên đó chúng ta có thể đồng ý, nhưng buộc phải sản sinh ra sự thỏa thuận trên mọi thứ nhằm mục đích là bất kỳ hành động nào có thể được dùng đến dù là nhỏ nhoi, là một trong những nét nổi bật vốn đóng góp nhiều hơn hầu hết những hành động khác cho việc xác định đặc tính của một hệ thống có kế hoạch.
Điều đó có thể đã từng là một ý chí được bày tỏ một cách đồng thuận của những người dân mà nghị viện nên chuẩn bị một kế hoạch kinh tế toàn diện, tuy không phải là những người dân cũng không phải là những người đại diện của nó vì vậy cần có khả năng đồng ý trên bất kỳ kế hoạch cụ thể nào. Sự bất lực của hội đồng dân chủ nhằm thực hiện điều gì có vẻ là một khoán ước chính thức rõ ràng của những người dân, sẽ không tránh khỏi gây ra sự bất mãn đối với thể chế dân chủ. Nghị viện cuối cùng được xem như là “những hội tán dốc” vô hiệu quả, không có khả năng hoặc thiếu trình độ để thực hiện những công việc mà họ đã được chọn lựa. Niềm tin chắc chắn tăng lên là nếu muốn việc hoạch định hiệu quả được thực hiện, việc điều hành phải được “đưa ra khỏi chính trị” và đặt vào trong tay của các chuyên gia, những quan chức chính thức hoặc thể chế độc lập tự trị.

p66

Điều khó khăn được biết rõ đối với những người theo chủ nghĩa xã hội. Chẳng bao lâu sẽ là nửa thế kỷ kể từ khi vợ chồng họ Webbs bắt đầu than phiền về “sự thiếu khả năng ngày càng tăng của Hạ viện đối phó với công việc của nó”.1 Gần đây hơn, Giáo sư Laski đã diễn giải thêm một lập luận :

Đó là nền tảng chung mà guồng máy Nghị viện hiện nay không thích hợp lắm để nhanh chóng vượt qua một thể chế to lớn của pháp chế phức tạp. Chính phủ Quốc gia, quả thật, trên cơ bản đã thừa nhận điều nầy bằng bổ sung những biện pháp kinh tế và thuế xuất nhập của nó, không phải do những cuộc tranh luận chi tiết trong Hạ viện nhưng bởi một hệ thống đại lý của pháp chế được ủy thác. Một Chính phủ Lao động, tôi cho là, sẽ xây dựng trên tầm hoạt động rộng lớn của chính phủ tiền nhiệm nầy. Nó sẽ hạn chế Hạ viện trong phạm vi hai chức năng mà nó có thể làm việc một cách đúng đắn: sự giải tỏa những bất bình và cuộc thảo luận về những nguyên tắc chung của các biện pháp của nó. Những Đạo luật của nó sẽ mang hình thức của những công thức chung ban cho những quyền lực rộng rãi trên những cơ quan chính phủ thích hợp; và những quyền lực đó sẽ được thực thi theo Lệnh Hội đồng vốn có thể, nếu muốn, bị tấn công trong Hạ Viện qua biện pháp của một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm. Điều cần thiết và giá trị của pháp chế được ủy thác gần đây đã được tái khẳng định một cách mạnh mẽ bởi Ủy ban Donoughmore; và sự mở rộng của nó là điều tất yếu nếu quá trình tiến triển của việc xã hội hóa không phải bị đắm chìm bởi những phương pháp ngăn chận thông thường mà quy trình hiện có của nghị viện thừa nhận.

(Martha Beatrice (Potter) Webb, Baroness Passfield (1858–1943),
là nhà xã hội học, kinh tế học, nhà xã hội cải cách, và là nhà xã
hội chủ nghĩa người Anh)

(Sidney James Webb, Baron Passfield thứ nhất (1859–1947), Chủ
tịch Hội đồng Thương vụ, người chồng của Martha Beatrice Potter,
cũng là nhà xã hội chủ nghĩa, nhà kinh tế, và nhà cải cách người Anh)

Và để làm cho điều đó hoàn toàn rõ ràng là một chính phủ xã hội chủ nghĩa không được cho phép mình bị kiềm chế quá nhiều bởi quy trình dân chủ, Giáo sư Laski nơi phần cuối của cùng một bài viết nêu lên câu hỏi là “liệu trong giai đoạn chuyển đổi thành Chủ nghĩa Xã hội, một Chính phủ Lao động có thể liều lĩnh việc đạp đổ những biện pháp của nó như là một kết quả của cuộc tổng tuyển cử tiếp theo” –và để lại cho không lời giải đáp gợi ý.2

============
1 S. và B. Webb, tác phẩm “Industrial Democracy” (“Nền Dân chủ Kỹ nghệ”), năm 1897, p. 800, chú thích dưới trang.

2 H.J. Laski, bài viết “Labour and the Constitution” (“Lao động và Hiến pháp”), tạp chí The New Statesman and Nation (Chính khách mới và Quốc gia), No. 81 (Tập mới), ngày 10 tháng Chín năm 1932, p. 277. Trong cuốn sách (“Democracy in Crisis” (“Nền Dân chủ trong cuộc Khủng hoảng”), năm 1933, riêng biệt là ở trang 87), trong đó giáo sư Laski sau nầy đã diễn giải thâm những ý tưởng nầy, sự cả quyết của ông ta mà qua đó nền dân chủ nghị viện không được phép hình thành một trở ngại cho việc mang vào hiện thực chủ nghĩa xã hội, thậm chí được bày tỏ một cách thẳng thắn hơn: không chỉ là một chính phủ xã hội chủ nghĩa sẽ “nắm lấy những quyền lực rộng lớn và lập ra pháp luật theo họ bởi pháp lệnh và nghị định” và “đình chỉ những công thức cỗ điển của phe đối lập bình thường”, nhưng “sự tiếp tục tồn tại của chính phủ nghị viện sẽ phụ thuộc vào [tức là của Chính phủ Lao động] sự có được những bảo đảm của nó từ Đảng Bảo thủ mà công việc chuyển đổi của nó sẽ không bị gián đoạn bởi sự hủy bỏ trong trường hợp thất bại của nó tại các cuộc thăm dò !”
Khi Giáo sư Laski kêu gọi thẩm quyền của Ủy ban Donoughmore, điều có thể đáng gợi nhớ lại rằng Giáo sư Laski là một thành viên của ủy ban đó và có thể giả định là một trong những tác giả của bản báo cáo của nó.
=============

p67

* * * * *

Rõ ràng, đó là điều quan trọng để nhìn thấy những nguyên nhân của sự thiếu hiệu quả được thừa nhận nầy của những nghị viện (i.e. Hạ viện và Thượng viện) khi điều đó nói đến việc quản trị đầy chi tiết về những vấn đề kinh tế của một quốc gia. Phần lỗi không phải là với các đại diện cá nhân hoặc cũng không phải với các tổ chức nghị viện như là thế, nhưng với những mâu thuẫn vốn có trong công việc mà họ chịu trách nhiệm. Họ không buộc yêu cầu phải hành động theo phần mà họ có thể đồng ý, nhưng tạo ra sự thỏa thuận trên mọi thứ –sự điều hành toàn bộ những nguồn tài nguyên của quốc gia. Đối với một công việc như thế, một hệ thống theo sự quyết định đa số, tuy nhiên, thì không phù hợp. Những cái đa số sẽ được tìm thấy ở nơi mà nó là một sự lựa chọn giữa những sự lựa chọn khác thay thế có giới hạn; nhưng nó là một điều mê tín khi tin rằng phải có một quan điểm theo đa số trên mọi thứ. Không có một lý do nào về việc tại sao cần phải có một đa số trong sự ủng hộ của bất cứ ai về những quá trình có thể khác biệt của hành động tích cực nếu số lượng của chúng nhiều vô số kể. Mỗi thành viên của hội đồng lập pháp có thể ưu thích một kế hoạch riêng biệt nào đó cho việc điều hành hoạt động kinh tế hơn là không có một kế hoạch nào, nhưng không một kế hoạch nào dường như có thể đáng ưu thích đối với đa số hơn là không có kế hoạch nào cả.
Cũng không phải là một kế hoạch chặt chẽ có thể đạt được bằng cách phá vỡ nó ra thành những phần nhỏ và bỏ phiếu biểu quyết trên các vấn đề riêng biệt. Việc biểu quyết kiểu dân chủ trong cuộc họp và việc sửa đổi kế hoạch kinh tế toàn diện theo từng điều khoản, khi nó trao đổi kỹ lưỡng trên một dự luật bình thường, khiến cho vô nghĩa.

p68

Một kế hoạch kinh tế, để xứng đáng với cái tên, phải có một nhận thức đồng nhất. Ngay cả khi nghị viện có thể, qua việc tiến hành từng bước, đồng ý trên một kế hoạch phối hợp nào đó, chắc chắn là cuối cùng nó sẽ không đáp ứng bất kỳ một ai. Một khối phức tạp nơi mà tất cả những phần phải được điều chỉnh với nhau một cách cẩn thận nhất, không thể đạt được qua một sự thỏa hiệp giữa những quan điểm xung đột. Việc vạch ra một kế hoạch kinh tế theo kiểu nầy thậm chí là điều ít có thể hơn, thí dụ, so với việc lên kế hoạch một cách thành công một chiến dịch quân sự bằng quy trình dân chủ. Như trong chiến lược, nó sẽ không thể tránh được là càng lúc ủy thác công việc cho những chuyên gia.
Tuy sự khác biệt là, trong khi một vị Tướng vốn là người được đặt vào vị trí chịu trách nhiệm chiến dịch, được giao cho một mục đích duy nhất mà, trong suốt thời gian của chiến dịch, tất cả phương cách dưới sự kiểm soát của ông ta phải được dành hết cho nó một cách không ngoại lệ, không thể có một mục đích duy nhất như thế được giao cho những nhà hoạch định kinh tế, và không có một sự giới hạn tương tự nào của phương cách áp đặt lên ông ta. Vị Tướng đã không phải cân bằng những mục đích độc lập khác biệt chống lại với nhau; đối với ông ta, chỉ có một mục đích tối thượng. Nhưng những mục đích cuối cùng của một kế hoạch kinh tế, hoặc của bất kỳ phần nào của nó, không thể được xác định xa khỏi một kế hoạch riêng biệt. Chính là bản chất của nan đề kinh tế mà việc làm ra một kế hoạch kinh tế liên quan đến việc lựa chọn giữa những mục đích gây xung đột hoặc tranh đua –những mục đích khác biệt của những người khác nhau. Nhưng những mục đích cuối cùng nào tạo ra sự xung đột như thế, mà qua đó sẽ phải chịu hy sinh nếu chúng ta muốn đạt được những mục đích khác nào đó, trong một thời gian ngắn hạn, mà qua đó là những lựa chọn thay thế khác giữa những mục đích nào mà chúng ta phải chọn lựa, chỉ có thể được biết đến đối với những người vốn biết tất cả những sự kiện thực tế; và chỉ có họ, những chuyên gia, đang ở trong một vị trí quyết định mục đích nào trong số những mục đích khác nhau phải được ưu tiên chọn trước. Đó là điều tất yếu mà họ sẽ áp đặt hệ thống mức độ của những chọn lựa ưu tiên trên cộng đồng mà họ lên kế hoạch cho nó.
Điều nầy luôn luôn không đưọc nhận thức một cách rõ ràng và sự ủy thác thường thường được điều chỉnh theo đặc tính của công việc.

p69

Nhưng điều nầy không có nghĩa là chỉ những chi tiết chuyên môn được ủy thác, hoặc thậm chí là việc thiếu khả năng của những nghị viện hiểu được những chi tiết chuyên môn là nguồn gốc của sự khó khăn.1 Những thay đổi trong cấu trúc của pháp luật dân sự thì không còn kém chuyên môn hơn và không còn khó khăn hơn để thấy rõ trong tất cả những quan hệ mật thiết của chúng; tuy là không ai đã từng nghiêm túc đề nghị rằng pháp chế ở đó nên được ủy thác cho một hội đồng gồm những chuyên gia. Một sự kiện thực tế là trong những lãnh vực nầy, pháp chế không đi xa hơn những quy định chung chung mà trên đó phần lớn sự thỏa thuận thực sự có thể đạt được, trong khi theo chiều hướng hoạt động kinh tế, những lợi ích được hòa giải thì rất đa dạng đến nổi không có một sự thỏa thuận thực sự nào gần như được đạt đến trong một cuộc họp dân chủ.
Điều đó sẽ được nhìn nhận, tuy nhiên, rằng điều đó không phải là sự giao phó quyền lực làm ra luật pháp như là thế, mà qua đó đáng bị phản đối. Phản đối việc giao phó như vậy là phản đối một triệu chứng thay vì một nguyên gây ra và, như vậy điều đó có thể là một kết quả cần thiết của những nguyên nhân khác, làm suy yếu trường hợp nầy.
=============
1 Đây là điều thông tin sáng tỏ trong sự kết nối nầy ngắn gọn đề cập đến tài liệu Chính phủ mà trong đó qua những năm gần đây, những nan đề nầy đã được thảo luận. Lâu như cách đây mười ba năm, đó là trước khi đất nước nầy cuối cùng bỏ rơi chủ nghĩa tự do về kinh tế, một quá trình tiến triển về việc ủy thác những quyền lực lập pháp đã thực sự được mang đến một điểm nơi mà nó được cảm thấy là cần thiết phải chỉ định một ủy ban để điều tra xem “những biện pháp an toàn đang mong muốn hoặc điều cần thiết để bảo đảm quyền tối cao của Pháp Luật là gì.”
Trong báo cáo của nó, “Ủy ban Donoughmore” (“Report of the Committee on Ministers’ Powers” (“Bản báo cáo [là của Ngài Chưởng ấn] của Ủy ban về Quyền lực của các Bộ trưởng”, Cmd.(pc 03) 4060, 1932) cho thấy rằng ngay cả ở vào ngày tháng đó, Nghị viện đã dùng đến “việc thực thi sự ủy quyền cho cả khối đảng phái và không phân biệt” nhưng xem điều nầy (đó là trước khi chúng ta đã thực sự thoáng nhìn vào trong vực thẳm độc tài !) như là một sự phát triển tất yếu và tương đối vô hại. Và có lẽ, sự thật là việc ủy thác cần thiết như là thế, không phải là một mối nguy hiểm cho sự tự do. Điểm thú vị là tại sao sự phó thác đã trở nên cần thiết trên một quy mô như thế. Nơi đầu tiên trong số những nguyên nhân được liệt kê trong bản báo cáo được phơi ra một sự kiện thực tế là “Nghị viện ngày nay thông qua rất nhiều những luật lệ hàng năm” và rằng “phần nhiều chi tiết thì quá chuyên môn như là không phù hợp cho cuộc thảo luận trong Nghị viện”. Nhưng nếu điều nầy chỉ có thế, sẽ không có lý do nào về việc tại sao phần chi tiết sẽ không được thực thi trước khi hơn là sau khi Nghị viện thông qua một luật lệ. Điều mà có lẽ trong nhiều trường hợp là một lý do quan trọng hơn nhiều về việc tại sao, “nếu Nghị viện không vui lòng ủy thác quyền lực làm ra luật pháp, Nghị viện sẽ không thể thông một loại và số lượng pháp chế mà dư luận đòi hỏi” được tiết lộ một cách ngây ngô trong câu nhỏ nhít là “phần nhiều những luật lệ ảnh hưởng đến đời sống người dân quá chặt chẽ đến nổi sự độ đàn hồi là điều cần thiết”! Điều nầy có nghĩa là gì nếu không phải là sự ban cho quyền lực độc đoán, một quyền lực không bị hạn chế bởi bất kỳ những nguyên tắc cố định nào và một quyền lực mà theo quan điểm của Nghị viện không thể bị giới hạn bởi những quy định rõ ràng và không mơ hồ ?
=============

p70

Miễn là quyền lực vốn được ủy thác, chỉ đơn thuần là quyền lực làm ra những quy định chung chung, có thể có những lý do rất đúng về việc tại sao những quy định như thế cần được đặt ra bởi địa phương hơn là bởi thẩm quyền trung ương. Nét nổi bật đáng bị phản đối là việc ủy thác rất thường dùng đến bởi vì vấn đề trong tay không thể được điều chỉnh bởi những quy định chung chung nhưng chỉ bởi việc thực thi sự suy xét khôn ngoan trong việc quyết định những trường hợp riêng biệt. Trong những trường hợp nầy, việc ủy thác có nghĩa là một thẩm quyền nào đó được ban cho quyền lực để tạo nên bằng sức mạnh của pháp luật cái gì đó mà trong mỗi ý nghĩa thực tiển thật ra là những quyết định độc đoán (thường được mô tả như là “việc xét đoán trường hợp trên những lý lẽ phải trái của nó”).
Việc ủy thác về những công việc chuyên môn riêng biệt nhằm tách biệt những thể chế, trong khi một điểm nổi bật thường khi, chỉ là bước đầu tiên trong quá trình tiến triển nhờ vào một nền dân chủ vốn bắt tay vào việc hoạch định, dần dần từ bỏ những quyền lực của nó. Thủ đoạn của việc ủy thác thực sự không thể loại bỏ những nguyên nhân vốn làm cho tất cả những người bênh vực việc hoạch định toàn diện rất nản lòng với sự bất lực của nền dân chủ. Việc ủy thác những quyền lực riêng biệt cho các cơ quan tách biệt tạo ra một trở ngại mới cho việc đạt được một kế hoạch phối hợp duy nhất. Ngay cả khi, do thủ đoạn nầy, một nền dân chủ sẽ thành công trong việc hoạch định mọi lãnh vực của hoạt động kinh tế, nó sẽ vẫn phải đối mặt với nan đề về việc hợp nhất những kế hoạch tách biệt nầy trở thành một khối đồng nhất. Nhiều kế hoạch tách riêng không tạo nên một khối có kế hoạch –thật ra, như các nhà hoạch định phải là những người đầu tiên thừa nhận– chúng có thể tồi tệ hơn so với việc không có một kế hoạch nào. Nhưng cơ quan lập pháp dân chủ sẽ còn rất ngần ngại từ bỏ những quyết định trên các vấn đề thực sự quan trọng, và miễn là nó làm như thế, nó làm cho không thể nào quy định một kế hoạch toàn diện đối với bất kỳ người nào khác. Tuy sự thỏa thuận mà qua đó việc hoạch định là cần thiết, cùng với sự thiếu khả năng của những cuộc họp dân chủ nhằm tạo ra một kế hoạch, sẽ khơi lên những nhu cầu càng lúc càng mạnh mẽ hơn mà chính phủ hoặc một cá nhân duy nhất nào đó sẽ được ban cho những quyền lực để hành động trên trách nhiệm của riêng mình. Niềm tin đang trở nên càng lúc càng lan rộng hơn mà qua đó, nếu mọi việc phải được hoàn tất, nhà cầm quyền có trách nhiệm ắt hẳn được thoát khỏi những sự kiềm chế của quy trình dân chủ.

p71

Tiếng kêu đến một nhà độc tài kinh tế là một giai đoạn đặc trưng trong sự chuyển động hướng đến việc hoạch định, không xa lạ ở đất nước nầy. Hiện thời cách nhiều năm kể từ khi một trong những người có đầu óc sắc sảo nhất trong số những sinh viên nước ngoài của Anh Quốc, Elie Halévy quá cố, đưa ra ý kiến rằng “nếu bạn chụp một bức ảnh ghép tổng hợp của Lord Eustace Percy, Sir Oswald Mosley, và Sir Stafford Cripps, tôi nghĩ rằng bạn sẽ tìm thấy nét nổi bật chung nầy –bạn sẽ tìm thấy tất cả họ đồng ý nói rằng: ‘Chúng ta đang sống trong sự hỗn loạn về kinh tế và chúng ta không thể thoát ra khỏi nó ngoại trừ dưới một loại lãnh đạo độc tài nào đó.’”1 Số lượng những người có ảnh hưởng công chúng mà sự bao gồm của họ sẽ không làm thay đổi một cách cụ thể những điểm nổi bật của “bức ảnh ghép tổng hợp”, đã tăng trưởng kể từ đó một cách đáng kể.
Ở nước Đức, ngay cả trước khi Hitler lên nắm quyền lực, sự chuyển động đã thực sự tiến triển xa hơn nhiều. Điều quan trọng để nhớ rằng trong một khoảng thời gian nào đó trước năm 1933, nước Đức đã đạt đến một giai đoạn mà nó, trong thực chất, đã từng phải chịu cai trị một cách độc tài. Không ai sau đó đã dám nghi ngờ rằng trong thời gian lúc ấy, nền dân chủ đã bị phá vỡ, và rằng những nhà dân chủ chân thành giống như Brüning thì không còn khả năng nào hơn nữa để cai trị một cách dân chủ so với Schleicher hoặc von Papen. Hitler đã không cần phải phá hủy nền dân chủ; ông ta chỉ đơn thuần là lợi dụng sự phân hủy của nền dân chủ và vào khoảnh khắc rất quan trọng chiếm được sự hỗ trợ của nhiều người, mặc dù họ ghét cay ghét đắng Hitler, mà ông ta tuy dường như là một người duy nhất đủ mạnh để hoàn thành mọi việc.

(Heinrich Brüning (1885–1970), vị Chưởng ấn Đức (1930–1932), là
một nhà dân chủ chân chính nhưng không còn khả năng hơn nữa để
chống lại đảng Cộng sản và đảng Quốc xã khi Adolf Hitler trở thành
Chưởng ấn vào ngày 30 tháng Giêng năm 1933. Ông ta phải trốn sang
Hoa Kỳ sau khi hay tin Hitler truy nả mình)

(Kurt von Schleicher (1882–1934), là một vị Tướng Đức, cũng là vị
Chưởng ấn cuối cùng thứ hai (1932–1933) trong suốt kỷ nguyên Cộng
hòa Weimar, bị Hitler cho người ám sát mặc dù sau khi ông ta đã từ chức)

(Franz Joseph Hermann Michael Maria von Papen zu Köningen hoặc
Franz von Papen (1879–1969), là vị sĩ quan trong Ban tham mưu, và
là nhà chính trị. Ông ta cũng từng là vị Chưởng ấn Đức vào năm 1932
và Phó Chưởng ấn trong khoảng 1933–1934 dưới thời Hitler)

* * * * *

Lập luận mà những nhà hoạch định thường cố gắng làm cho chúng ta đồng thuận với sự phát triển nầy, đó là trong suốt thời gian dài, nền dân chủ vẫn nắm quyền kiểm soát tối hậu, những yếu tố cần thiết của nền dân chủ không bị ảnh hưởng.
============
1 Bài viết “Socialism and the Problems of Democratic Parliamentarism” (“Chủ nghĩa Xã hội và những nan đề của Chế độ Nghị viện Dân chủ”), Bộ sách International Affairs (Những vấn đề Quốc tế), vol. XIII, p. 501.
=============

p72

Do đó, Karl Mannheim viết :

Cách duy nhất [theo nguyên văn] mà trong đó một xã hội có kế hoạch khác biệt với xã hội thuộc thế kỷ mười chín là càng lúc những khoảng không gian của đời sống xã hội càng rộng mở thêm ra, và cuối cùng là mỗi và tất cả chúng, phải chịu dưới quyền kiểm soát của nhà nước. Nhưng nếu một số ít quyền kiểm soát có thể được nắm giữ dưới sự điều khiển bởi quyền tối cao của nghị viện, nhiều quyền khác cũng có thể được nắm giữ… trong một nhà nước dân chủ, quyền tối cao có thể được gia tăng mạnh mẽ hơn một cách vô giới hạn bởi những quyền lực tuyệt đối mà không từ bỏ quyền kiểm soát dân chủ.1

Niềm tin nầy nhìn sơ qua một sự khác biệt rất quan trọng. Nghị viện có thể, dĩ nhiên, kiểm soát việc thực hiện những công việc nơi mà nó có thể đưa ra chỉ thị rõ ràng, nơi mà nó đã lần đầu tiên đồng ý trên mục đích và chỉ đơn thuần là giao phó cách làm việc từ chi tiết. Tình hình thì hoàn toàn khác biệt khi lý do cho việc ủy quyền đoàn là không có một sự thoả thuận thực sự nào trên những mục đích cuối cùng, khi thể chế bị buộc tội với việc hoạch định phải chọn lựa giữa những mục đích mà sự xung đột của nó, nghị viện không hề biết đến, và khi hầu hết mục đích vốn có thể được thực hiện, phải trình bày cho nó một kế hoạch mà kế hoạch đó phải được chấp nhận hoặc bị bác bỏ như là toàn bộ. Có thể và có lẽ sẽ có những lời chỉ trích; nhưng khi không có một đa số nào có thể đồng ý trên một kế hoạch thay thế khác, và những phần bị chống đối hầu như luôn luôn có thể được tiêu biểu như là những phần thiết yếu của cả khối, nó sẽ vẫn hoàn toàn vô hiệu quả. Thảo luận của nghị viện có thể được giữ lại như một khóa thoát hơi an toàn, hữu ích, và thậm chí hơn nữa như là một môi trường trung gian tiện lợi mà qua đó những câu trả lời chính thức cho những lời than phiền được phổ biến. Nó có thể thậm chí ngăn chận một số lạm dụng trắng trợn và thành công nhấn mạnh vào những thiếu sót cụ thể được sửa đổi. Nhưng nó không thể chỉ đạo. Nó sẽ bằng cách hay nhất buộc phải chọn lựa những người vốn sắp có quyền lực tuyệt đối thực tiển. Toàn bộ hệ thống sẽ xoay hướng đến chế độ độc tài đó theo trưng cầu dân ý mà trong đó người đứng đầu chính phủ theo thời gian được khẳng định trong vị trí của mình bằng cuộc đầu phiếu phổ thông, nhưng nơi mà ông ta có tất cả những quyền lực chịu mệnh lệnh của mình để chắc chắn rằng cuộc đầu phiếu sẽ xảy ra theo chiều hướng mà ông ta mong muốn.
=============
1 K. Mannheim, tác phẩm “Man and Society in an Age of Reconstruction” (“Con người và Xã hội trong một Kỷ nguyên Tái thiết”), 1940, p. 340.
=============

p73

Chính là cái giá của nền dân chủ mà qua đó những điều có thể xảy ra về quyền kiểm soát có ý thức được thu hẹp trong những lãnh vực nơi mà sự thỏa thuận thực sự tồn tại, và qua đó trong một số lãnh vực, mọi việc ắt hẳn để lại một cơ hội. Nhưng trong một xã hội mà đối với sự hoạt động của nó phụ thuộc vào việc hoạch định tập trung, quyền kiểm soát nầy không thể buộc phải phụ thuộc vào một đa số có thể đồng ý; rất thường điều cần thiết sẽ là ý chí của một thiểu số nhỏ được áp đặt lên người dân, bởi vì cái thiểu số nầy sẽ là một nhóm lớn nhất có thể tự đồng ý với nhau trên câu hỏi còn đang tranh cãi. Chính phủ dân chủ đã từng làm việc một cách thành công ở nơi mà, và trong suốt thời gian dài đó, những chức năng của chính phủ, do một hệ thống tín ngưỡng được chấp nhận rộng rãi, bị hạn chế trong những lãnh vực nơi mà sự thỏa thuận giữa một đa số có thể đạt được bằng cuộc thảo luận tự do, và đó là công trạng to lớn của hệ thống tín ngưỡng tự do mà nó làm giảm đi phạm vi của những chủ đề về điều mà sự thỏa thuận là điều cần thiết đối với một chủ đề mà qua đó gần như nó phải tồn tại trong một xã hội của những người tự do. Bây giờ, người ta thường nghe nói rằng nền dân chủ sẽ không dung thứ “chủ nghĩa tư bản.” Nếu “chủ nghĩa tư bản” ở đây có nghĩa là một hệ thống cạnh tranh được đặt nền tảng trên sự chuyển nhượng tự do trên tài sản tư nhân, đó là điều rất ư quan trọng để nhận ra rằng chỉ trong phạm vi hệ thống nầy là nền dân chủ có thể có. Khi nó càng ngày bị khống chế bởi một hệ thống tín ngưỡng của người theo chủ nghĩa tập thể, nền dân chủ không sao tránh khỏi là sẽ tự tiêu diệt chính mình.

* * * * *

Chúng ta không có một ý định nào, tuy nhiên, về việc tạo nên sự tôn sùng nền dân chủ. Cũng có thể đúng là thế hệ của chúng ta nói và nghĩ quá nhiều về nền dân chủ và quá ít về những giá trị mà nó phục vụ. Người ta không thể nói về nền dân chủ, như Lord Acton thực sự nói về tự do, rằng nó “không phải là một phương tiện cho mục đích chính trị cao hơn. Tự chính nó là mục đích chính trị cao nhất. Nó không phải là vì lợi ích của việc quản trị tốt công chúng vốn được đòi hỏi, nhưng là vì sự bảo đảm trong việc theo đuổi những mục đích cao nhất của xã hội dân sự, và của đời sống riêng tư”. Nền dân chủ trên cơ bản là một phương tiện, một dụng cụ tiện dụng cho việc canh chừng bảo vệ nền hòa bình nội bộ và quyền tự do cá nhân. Như thế không tuyệt đối là không thể sai lầm hoặc chắc chắn.

p74

Chúng ta cũng không được quên rằng thường là từng có sự tự do về văn hóa và tinh thần nhiều hơn dưới sự cai trị chuyên quyền so với dưới một vài nền dân chủ –và ít ra điều đó có thể hiểu được rằng dưới chính phủ của một đa số rất đồng nhất và giáo điều, chính phủ dân chủ có thể là áp bức như chế độ độc tài tồi tệ nhất. Quan điểm của chúng ta, tuy nhiên, không phải là chế độ độc tài không thể tránh khỏi phải trừ tiệt quyền tự do, nhưng đúng hơn là việc hoạch định dẫn đến chế độ độc tài bởi vì chế độ độc tài là công cụ hiệu quả nhất cho việc ép buộc và thúc ép tuân theo những lý tưởng, và như là yếu tố cần thiết như thế nếu việc hoạch định tập trung trên một quy mô lớn sẽ là điều có thể có. Cuộc đụng độ giữa việc hoạch định và nền dân chủ chỉ đơn giản là phát sinh từ sự kiện thực tế là nền dân chủ là một trở ngại cho sự đàn áp quyền tự do mà chiều hướng hoạt động kinh tế đòi hỏi. Nhưng trong chừng mực nào đó, nền dân chủ không còn là một bảo đảm của quyền tự do cá nhân, nó cũng có thể cứ dai dẳng trong một hình thức nào đó dưới chế độ độc tài toàn trị. Một “chế độ độc tài đúng nghĩa của giai cấp vô sản”, ngay cả khi có tính chất dân chủ trong hình thức, nếu nó định điều hành hệ thống kinh tế theo một cách tập trung, có thể là nó sẽ phá hủy quyền tự do cá nhân một cách hoàn toàn như bất kỳ chế độ chuyên chế nào đã từng làm.
Sự tập trung hợp thời vào nền dân chủ khi giá trị chính bị đe dọa không phải là không nguy hiểm. Nó chịu trách nhiệm phần lớn cho niềm tin lầm lạc và vô căn cứ mà trong suốt khoảng thời gian dài, nguồn sức mạnh tối hậu là ý muốn của một đa số, sức mạnh không thể là chuyên quyền. Sự bảo đảm giả tạo mà nhiều người rút ra từ niềm tin nầy, là một nguyên nhân quan trọng của sự vô nhận thức chung chung về những nguy hiểm mà chúng ta phải đối mặt. Không có một lý lẽ bảo chữa nào cho niềm tin mà trong suốt khoảng thời gian dài, quyền lực được trao cho bởi quy trình dân chủ, nó không thể là độc đoán; sự tương phản được đưa ra bởi lời phát biểu nầy là hoàn toàn giả tạo: nó không phải là nguồn sức mạnh ngoại trừ sự giới hạn của quyền lực vốn ngăn chận nó trở thành chuyên quyền. Quyền kiểm soát dân chủ có thể ngăn chận quyền lực trở thành độc đoán, nhưng nó không làm như thế bởi vì chỉ là sự tồn tại của nó. Nếu nền dân chủ giải quyết một công việc vốn nhất thiết liên quan đến việc sử dụng quyến lực mà không thể được hướng dẫn bởi những quy tắc cố định, nó phải trở thành một quyền lực độc đoán.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

===========================================

Phụ Chú :
pc 03_ Cmd. : (Command Paper) là tài liệu được phát hành bởi của chính phủ Anh Quốc và được trình cho Nghị viện. Những tài liệu nghị viện nầy được đánh số theo giai đoạn được phát hành và những chứ viết tắc đứng trước cũng thay đổi theo. Cmd. thuộc về giai đoạn 1919–1959, từ Cmd. 1 đến Cmd. 9889. Những chữ viết tắc đứng trước đã có như C., Cd., Cmd., Cmnd., Cm.

15 thoughts on “Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ

  1. Pingback: Chương 01: Con đường Bỏ hoang |

  2. Pingback: Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng |

  3. Pingback: Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể |

  4. Pingback: Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định |

  5. Pingback: Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp |

  6. Pingback: Chương 07: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị |

  7. Pingback: Chương 08: Ai làm, ai chịu ? |

  8. Pingback: Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do |

  9. Pingback: Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao |

  10. Pingback: Chương 11: Phần Cuối của Sự thật |

  11. Pingback: Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã |

  12. Pingback: Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta |

  13. Pingback: Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng |

  14. Pingback: Chương 15 (Hết) : Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế |

  15. Pingback: Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch (Mục Lục & Lời Giới thiệu) |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s