Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định

p45

Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định

“Chúng ta là những người đầu tiên khẳng định rằng những hình thức của nền
văn minh càng phức tạp, quyền tự do cá nhân phải trở nên càng bị hạn chế.”

B. Mussolini

Chính là một sự kiện thực tế mà một số ít những nhà hoạch định sẵn lòng cho biết rằng việc hoạch định tập trung là điều mong muốn. Hầu hết trong số họ khẳng định rằng chúng ta không có thể chọn lựa lâu hơn nữa ngoại trừ bị bắt buộc bởi những hoàn cảnh ngoài tầm kiểm soát của chúng ta để thay thế việc hoạch định cho sự cạnh tranh. Một chuyện hoang tưởng được cố tình vun trồng mà chúng ta đang bắt tay vào một quá trình diễn biến mới không phải từ ý muốn tự chọn nhưng bởi vì sự cạnh tranh bị loại bỏ một cách tự nhiên bởi những thay đổi về kỹ thuật mà chúng ta hoặc không thể đảo ngược hoặc cũng không mong muốn sẽ ngăn chận. Lập luận nầy hiếm khi được phát triển ở bất kỳ mức độ dài nào –chính là một trong những khẳng định được chiếm lấy bởi một nhà văn từ một ngăn kéo khác, bởi sự lặp lại mà thôi, điều đó cuối cùng đã được chấp nhận như là một sự kiện thực tế được thành lập. Tuy nhiên, nó không có nền tảng.

p46

Khuynh hướng đối với sự độc quyền thương trường và việc hoạch định không phải là kết quả của bất kỳ “những sự kiện khách quan” nào ngoài tầm kiểm soát của chúng ta, ngoại trừ sản phẩm của những ý kiến được nuôi dưỡng và tuyên truyền trong nửa thế kỷ cho đến khi cuối cùng chúng đã thống trị tất cả chính sách của chúng ta.
Trong số những lập luận khác nhau được dùng đến để chứng tỏ điều tất yếu của việc hoạch định, người ta gần như thường hay nghe nói rằng những thay đổi về kỹ thuật đã khiến cho sự cạnh tranh không thể xảy ra trong một số lượng không ngừng gia tăng của những lãnh vực, và rằng sự lựa chọn duy nhất được để lại cho chúng ta là giữa sự kiểm soát về sản xuất bởi những công ty độc quyền tư nhân và sự điều hành của chính phủ. Niềm tin nầy xuất phát chủ yếu từ học thuyết Mác-xít về “sự tập trung kỹ nghệ”, mặc dù, giống như rất nhiều ý tưởng Mác-xít, hiện thời nó được tìm thấy trong nhiều giới vốn là những người đã từng nhận lấy nó ở bàn tay thứ ba hoặc thứ tư và không biết nó xuất phát từ đâu.
Sự kiện lịch sử về sự tăng trưởng tiến triển của sự độc quyền thương trường trong suốt năm mươi năm qua và sự hạn chế ngày càng gia tăng của lãnh vực mà trong đó những quy tắc cạnh tranh, dĩ nhiên, không được tranh cãi mặc dù mức độ của hiện tượng nầy thường được phóng đại rất nhiều.1 Câu hỏi quan trọng là liệu sự phát triển nầy là một hệ quả cần thiết của bước tiến kỹ nghệ, hoặc nó chỉ đơn giản là kết quả của những chính sách được theo đuổi trong hầu hết các quốc gia. Hiện tại, chúng ta chắc chắn nhìn thấy rằng lịch sử thực sự của sự phát triển nầy cho thấy một cách mạnh mẽ sự kiện sau cùng. Nhưng trước tiên chúng ta phải suy xét là những phát triển về kỹ thuật hiện đại tiến xa như thế nào về một loại chẳng hạn như tạo nên sự tăng trưởng sự độc quyền thương trường trong các lãnh vực rộng lớn tất yếu.
Nguyên nhân tăng trưởng bị cáo buộc về kỹ thuật của sự độc quyền thương trường là sự vượt trội của công ty lớn trên hãng nhỏ, do hiệu quả lớn hơn của các phương pháp hiện đại về sự sản xuất hàng loạt. Những phương pháp hiện đại, nó được xác nhận là, đã từng tạo ra những điều kiện trong phần lớn những kỹ nghệ nơi mà việc sản xuất của một công ty lớn có thể được gia tăng nhờ những chi phí giảm xuống trên một đơn vị món hàng, với kết quả là những công ty lớn đang bỏ thầu giá thấp ở mọi nơi và tống khứ những hãng nhỏ ra; quá trình tiến triển nầy phải tiếp tục cho đến khi trong mỗi kỹ nghệ chỉ có một hoặc nhiều nhất là một số ít công ty khổng lồ còn sót lại.
=============
1 Dành cho một cuộc thảo luận đầy đủ hơn về những nan đề, xin xem bài tiểu luận của Giáo sư L. Robbins về “The Inevitability of Monopoly” (“Điều tất yếu của sự Độc quyền thương trường”) trong tác phẩm “The Economic Basic of Class Conflict” (“Cơ bản Kinh tế về cuộc Xung đột Tầng lớp”), năm 1939, pp. 45–80.
=============

p47

Lập luận nầy chọn ra một tác động đôi khi kèm theo sự tiến bộ về kỹ thuật; nó không quan tâm đến những thứ khác vốn làm việc theo chiều hướng ngược lại; và nó nhận được ít sự hỗ trợ từ cuộc nghiên cứu nghiêm túc về những sự kiện thực tế. Ở đây, chúng ta không thể điều nghiên câu hỏi nầy một cách chi tiết và phải vui lòng chấp nhận bằng chứng tốt nhất hiện có. Cuộc nghiên cứu bao hàm nhất về các sự kiện thực tế được thực hiện trong những lần gần đây trực thuộc “Ủy ban Kinh tế Quốc gia Tạm thời” của Mỹ trên vấn đề về Sự tập trung Quyền lực Kinh tế. Bản báo cáo đúc kết của Ủy ban nầy (vốn chắc chắn là không thể bị cáo buộc về thành kiến tự do quá mức) đi đến sự kết luận rằng quan điểm theo điều mà tính chất hiệu quả lớn hơn của việc sản xuất có quy mô lớn là nguyên nhân của sự biến mất cạnh tranh, “tìm thấy sự hỗ trợ ít ỏi trong bất kỳ bằng chứng nào mà hiện thời có trong tay.”1 Và sự chuyên khảo chi tiết trên câu hỏi vốn được chuẩn bị cho Ủy ban, tổng kết phần trả lời trong câu phát biểu nầy :

Tính chất hiệu quả vượt trội của các cơ sở lớn đã không được chứng minh; những lợi thế vốn được cho là phá hủy sự cạnh tranh, đã thất bại tự thể hiện chính mình trong nhiều lãnh vực. Cũng không phải những nền kinh tế có kích thước, nơi mà chúng tồn tại, không trách khỏi cần thiết phải là độc quyền… Kích thước hoặc những kích thước của tính chất hiệu quả tối ưu có thể được đạt đến từ lâu trước khi một phần lớn của cung cầu phải chịu sự kiểm soát như thế. Những kết luận mà lợi thế của việc sản xuất có quy mô lớn chắc chắn phải dẫn đến việc bãi bỏ sự cạnh tranh, không thể được chấp nhận. Vã lại, điều nên được lưu ý là sự độc quyền thương trường thường là sản phẩm của các yếu tố khác so với những tổn phí thấp hơn của kích thước lớn hơn.

=============
1 “Final Report and Recommendations of the Temporary National Economic Committee” (“Báo cáo Đúc kết và những Kiến nghị của Ủy ban Kinh tế Quốc gia Tạm thời”), Đại hội Quốc hội lần thứ 77, Phiên họp lần thứ 1, Văn kiện Thượng viện No. 35, 1941, p. 89.
=============

p48

Nó được đạt đến qua sự thỏa thuận thông đồng và được thúc đẩy bởi những chính sách công cộng. Khi những thỏa thuận nầy bị mất hết hiệu lực và khi những chính sách nầy bị đảo ngược, những điều kiện cạnh tranh có thể được phục hồi.1

Một cuộc điều tra về những điều kiện trong đất nước nầy sẽ dẫn đến những kết quả rất giống nhau. Bất cứ ai vốn đã từng quan sát về việc những nhà độc quyền thương trường khao khát thường xuyên tìm kiếm và thường xuyên có được sự trợ giúp về quyền lực như thế nào từ nhà nước để làm cho quyền kiểm soát của họ có hiệu quả, có thể có chút ít nghi ngờ rằng không có gì chắc chắn về sự phát triển nầy.

* * * * *

Phần kết luận nầy được hỗ trợ mạnh mẽ bởi mệnh lệnh lịch sử mà trong đó sự suy giảm của cạnh tranh và sự tăng trưởng của độc quyền thương trường tự thể hiện rõ nét ở các nước khác nhau. Nếu chúng là kết quả của sự phát triển kỹ thuật hoặc là một sản phẩm cần thiết của sự tiến hóa của “chủ nghĩa tư bản”, chúng ta nên kỳ vọng chúng xuất hiện trước tiên ở các nước có hệ thống kinh tế tiên tiến nhất. Thật ra, chúng đã xuất lần đầu tiên trong suốt phần ba cuối của thế kỷ mười chín trong những cái gì đó mà sau nầy đã là các nước kỹ nghệ tương đối trẻ, Hoa Kỳ và Đức. Đặc biệt là trong quốc gia đứng sau, mà cuối cùng được xem như là một đất nước mô hình điển hình cho sự tiến hóa cần thiết của chủ nghĩa tư bản, sự tăng trưởng của những nghiệp đoàn và công đoàn kể từ năm 1878 đã được nuôi dưỡng một cách hệ thống bởi chính sách có chủ ý. Không chỉ là một công cụ bảo vệ, mà còn là những nguyên nhân xui khiến trực tiếp và sự ép buộc sau hết, đã được sử dụng bởi những chính phủ nhằm thúc đẩy xa hơn việc tạo ra sự quy định về những giá thành và giá bán của những công ty độc quyền thương trường. Chính là ở đây nơi mà, với sự giúp đỡ của nhà nước, mà cuộc thử nghiệm to lớn lần đầu tiên trong “việc hoạch định theo khoa học” và “cách tổ chức kỹ nghệ có ý thức” dẫn đến việc tạo ra những công ty độc quyền khổng lồ, vốn được tượng trưng như là những tăng trưởng tất yếu, năm mươi năm trước cùng một cuộc thử nghiệm đã được thực hiện ở Anh Quốc.
=============
1 C. Wilcox, “Competition and Monopoly in American Industry” (“sự Cạnh tranh và sự Độc quyền thương trường trong kỹ nghệ Mỹ”), Temporary National Economic Committee, (Ủy ban Kinh tế Quốc gia Tạm thời), Chuyên khảo No. 21, 1940, p. 314.
=============

p49

Phần lớn, chính là do ảnh hưởng của những lý thuyết gia xã hội chủ nghĩa người Đức, riêng biệt là Sombart, phổ biến hóa từ kinh nghiệm của đất nước họ, rằng sự phát triển tất yếu của hệ thống cạnh tranh biến thành “chủ nghĩa tư bản độc quyền thương trường” đã trở nên được chấp nhận rộng rãi. Mà qua đó ở Hoa Kỳ, một chính sách có tầm cao của những người chủ trương bảo vệ nền kỹ nghệ trong nước đã làm cho sự phát triển hơi tương tự có thể xảy ra, dường như nhằm xác nhận sự phổ biến hóa nầy. Sự phát triển của Đức, tuy nhiên, nhiều hơn điều đó của Hoa Kỳ, cuối cùng được xem như là sự tiêu biểu của một khuynh hướng phổ quát; và nó đã trở thành một điều đáng ghi vào sổ tay khi nói về –hoặc khi trích dẫn một bài tiểu luận chính trị được đọc rộng rãi của ngày tháng gần đây– “Nước Đức nơi mà tất cả những lực lượng xã hội và chính trị của nền văn minh hiện đại đã đạt đến một hình thức tiên tiến nhất của chúng.”1
Có điều ít chắc chắn như thế nào trong tất cả điều nầy, và kết quả của chính sách có chủ ý là bao nhiêu, trở nên rõ ràng khi chúng ta suy xét vị thế ở đất nước nầy cho đến năm 1931 và sự phát triển kể từ năm mà trong đó Đại Anh Quốc cũng bắt tay vào một chính sách bảo vệ nền kinh tế chung chung. Chỉ một mười hai năm kể từ khi, ngoại trừ một vài ngành kỹ nghệ vốn đã có được sự bảo vệ trước đó, kỹ nghệ Anh Quốc trên toàn bộ, có lẽ, cạnh tranh như là vào bất kỳ lúc nào trong lịch sử của nó. Và, mặc dù trong suốt những năm 1920s, nó gánh chịu khốn đốn một cách nặng nề từ những chính sách không phù hợp được theo sau với việc liên quan đến lương hướng và tiền tệ, ít nhất là những năm cho đến năm 1929 so sánh với việc liên quan đến việc làm và hoạt động chung chung không có lợi cho thập niên 1930s. Chỉ là kể từ khi sự chuyển đổi sang việc bảo vệ nền kinh tế và sự thay đổi chung chung trong chính sách kinh tế Anh Quốc đi kèm với điều đó, mà qua đó sự tăng trưởng của những công ty độc quyền thương trường đã tiến triển với một tốc độ đáng kinh ngạc và đã chuyển đổi kỹ nghệ Anh Quốc đến một mức độ mà công chúng hiếm khi nào đã nhận ra. Lập luận rằng sự phát triển nầy có liên quan gì đó với sự tiến bộ về kỹ nghệ trong suốt giai đoạn nầy, rằng những điều cần thiết về kỹ nghệ mà ở Đức đã hoạt động trong những năm 1880s và 1890s, khiến cho chính họ cảm nhận nơi nầy trong thập niên 1930s, thì không kém nhiều lố bịch hơn lời tuyên bố có ngụ ý trong câu phát biểu của Mussolini (được trích dẫn ở phần đầu của chương nầy) rằng nước Ý phải bãi bỏ quyền tự do cá nhân trước khi những người Âu châu khác bởi vì nền văn minh của họ cho đến nay đã tiến xa phía trước những nước còn lại !
============
1 R. Niebuhr, tác phẩm “Moral Man and Immoral Society” (“Con người Đạo đức và Xã hội Vô đạo đức”), năm 1932.
=============

p50

Đến một mực độ mà đất nước nầy được quan tâm, một luận điểm mà cho rằng sự thay đổi trong quan điểm và chính sách chỉ đơn thuần theo sau sự thay đổi không thể lay chuyển được trong những sự kiện thực tế, có thể được ban cho một bề ngoài nào đó của sự thật chỉ bởi vì nước Anh tại một khoảng cách đã từng theo sau sự phát triển trí thức ở nơi khác. Điều đó có thể vì thế được lập luận rằng tổ chức kỹ nghệ độc quyền thương trường đã mọc lên mặc sự kiện thực tế là quan điểm công chúng vẫn ưa chuộng sự cạnh tranh, nhưng những biến cố bên ngoài đã làm hỏng những mong ước của họ. Mối quan hệ thực sự giữa lý thuyết và thực hành, tuy nhiên, sẽ trở nên rõ ràng ngay sau khi chúng ta nhìn vào nguyên mẫu của sự phát triển nầy, ở nước Đức. Mà nơi đó sự đàn áp cạnh tranh là một vấn đề của chính sách cố ý, mà qua đó nó đã được thực hiện trong việc phục vụ lý tưởng mà chúng ta hiện thời gọi là việc hoạch định, không có thể có một nghi ngờ nào. Trong bước tiến bộ hướng đến một xã hội có kế hoạch hoàn toàn, những người Đức, và tất cả những người vốn đang bắt chước theo tấm gương của họ, chỉ đơn thuần đi theo quá trình mà các nhà tư tưởng của thế kỷ mười chín, riêng biệt là những người Đức, đã từng chỉ vẻ cho họ. Lịch sử tri thức của sáu mươi hoặc tám mươi năm qua quả thật là một thí dụ minh chứng hoàn hảo về sự thật mà trong sự tiến hóa xã hội không có gì là không thể tránh được nhưng tư duy làm cho nó như thế.

* * * * *

Sự khẳng định rằng sự tiến bộ về kỹ thuật hiện đại khiến cho việc hoạch định không thể tránh được, cũng có thể được giải bày theo một cách khác nhau. Điều đó có thể có nghĩa là sự phức tạp của nền văn minh kỹ nghệ hiện đại của chúng ta tạo ra những nan đề mới mà chúng ta không thể hy vọng giải quyết một cách hiệu quả ngoại trừ bằng việc hoạch định tập trung. Trong cảm nhận, điều nầy là đúng –tuy thế, không phải trong một cảm nhận rộng lớn mà trong đó nó được tuyên bố. Chính là, thí dụ, một điều đáng ghi lại mà phần nhiều trong số những nan đề được tạo ra bởi một thị trấn hiện đại, giống như nhiều vấn đề khác được gây ra bởi tiếp giáp gần kề trong khoảng không gian, không được giải quyết một cách thỏa đáng bởi sự cạnh tranh.

p51

Nhưng không phải là những nan đề nầy, giống như những vấn đề về “những tiện nghi công cộng”, v.v., vốn là trên hết trong tâm trí của những người vốn khơi lên sự phức tạp của nền văn minh hiện đại như là lập luận cho việc hoạch định tập trung. Điều mà họ thường đề nghị là sự khó khăn đang gia tăng của việc có được một bức tranh mạch lạc của toàn bộ quá trình tiến triển về kinh tế khiến cho nó không thể thiếu được mà qua đó mọi thứ nên được phối hợp bởi một trung tâm cơ sở nào đó nếu đời sống xã hội không muốn hòa tan trong sự hỗn loạn.
Lập luận nầy được đặt nền tảng trên một sự ngộ nhận hoàn toàn cách làm việc của sự cạnh tranh. Rất không thích hợp chỉ đối với những điều kiện tương đối đơn giản, chính là điều thực phức tạp của sự phân chia lao động dưới những điều kiện hiện đại vốn làm cho sự cạnh tranh trở thành phương pháp duy nhất mà qua đó sự phối hợp như thế có thể được đưa đến một cách thích đáng. Có thể sẽ không có sự khó khăn nào về quyền kiểm soát hiệu quả hoặc việc hoạch định là những điều kiện quá đơn giản đến nổi một người riêng lẻ hoặc hội đồng quản trị có thể khảo sát một cách hiệu quả tất cả những sự kiện có liên quan. Điều đó chỉ như là những yếu tố vốn phải tính đến, trở nên quá nhiều đến nổi không thể nào có được một cái nhìn khái quát về chúng, đến nổi việc phi tập trung quyền lực trở nên cấp thiết. Nhưng một khi việc phi tập trung là cần thiết, nan đề về sự phối hợp phát sinh, một sự phối hợp vốn để cho các cơ sở tách biệt tự do điều chỉnh những hoạt động của mình theo những sự kiện thực tế mà chỉ có họ mới có thể biết được, và hơn nữa, mang lại một sự điều chỉnh hỗ tương của những kế hoạch tương ứng riêng của họ. Khi việc phi tập trung đã trở nên cần thiết bởi vì không ai có thể cân bằng một cách có ý thức tất cả những suy xét mang trên những quyết định của quá nhiều cá nhân, sự phối hợp có thể không bị ảnh hưởng một cách rõ ràng bởi “sự kiểm soát có ý thức”, nhưng chỉ bởi những sắp xếp vốn truyền đạt đến mỗi tác nhân thông tin mà ông ta phải có nhằm mục đích điều chỉnh một cách hiệu quả những quyết định của mình đối với những quyết định của những người khác. Và bởi vì tất cả những chi tiết của những thay đổi liên tục tác động đến những điều kiện của cung và cầu của các mặt hàng khác nhau không bao giờ có thể được biết một cách đầy đủ, hoặc đủ mau chóng để được thu thập và phổ biến, bởi bất cứ ai là trung tâm, điều mà được đòi hỏi là dụng cụ ghi vào sổ sách nào đó vốn tự động ghi lại tất cả những ảnh hưởng có liên quan của những hành động cá nhân, và những dấu hiệu của người đó cùng một lúc là kết quả của, và là sự hướng dẫn cho, tất cả những quyết định cá nhân.

p52

Điều nầy chính xác là cái gì mà hệ thống giá cả làm dưới sự cạnh tranh, và điều mà thậm chí không có hệ thống nào khác hứa hẹn sẽ hoàn tất. Nó cho phép các nhà doanh nghiệp, bằng cách quan sát sự chuyển động của một số ít giá cả tương đối, như một kỹ sư quan sát những cây kim của một vài mặt đồng hồ, để điều chỉnh những hoạt động của họ theo những hoạt động của người bạn của họ. Điểm quan trọng ở đây là hệ thống giá cả sẽ hoàn thành chức năng nầy chỉ khi nào sự cạnh tranh chiếm ưu thế, đó là, nếu một nhà sản xuất cá nhân phải tự thích nghi với những thay đổi giá cả và không thể kiểm soát chúng. Càng phức tạp hơn cả khối, càng các phụ thuộc hơn chúng ta trở nên trên sự phân chia đó về kiến thức giữa những cá nhân mà những nỗ lực riêng biệt của họ được phối hợp bởi một cơ chế khách quan cho việc truyền đi những thông tin có liên quan được biết đến bởi chúng ta như là một hệ thống giá cả.
Không một sự cường điệu nào khi nói rằng nếu chúng ta đã phải dựa vào việc hoạch định tập trung có ý thức cho sự tăng trưởng của hệ thống kỹ nghệ của chúng ta, điều đó sẽ không bao giờ đạt đến mức độ của sự khác biệt, phức tạp, và linh hoạt mà nó đã từng đạt được. So với phương pháp nầy của việc giải quyết nan đề kinh tế bằng biện pháp phi tập trung cộng với sự phối hợp tự động, một phương pháp rõ ràng hơn về sự điều hành tập trung nằm trong một phạm vi vụng về, thô sơ, và bị giới hạn đến khó tin. Sự phân chia về lao động đã đạt đến một mức độ mà nó làm cho nền văn minh hiện đại có thể xảy ra, mà qua đó chúng ta nợ một sự kiện thực tế là nó không phải được tạo ra một cách có ý thức, nhưng là người đàn ông đã tình cờ tìm ra một phương pháp bằng cách mà sự phân công lao động có thể được mở rộng vượt xa những giới hạn bên trong phạm vi mà nó đáng lý ra đã được lên kế hoạch. Bất kỳ sự tăng trưởng nào thêm nữa về sự phức tạp của nó, vì vậy, xa khỏi việc thực hiện điều hành tập trung cần thiết hơn, làm cho nó quan trọng hơn bao giờ hết so với điều mà chúng ta sẽ sử dụng một kỹ thuật vốn không không phụ thuộc vào sự kiểm soát có ý thức.

p53

* * * * *

Còn có một lý thuyết khác vốn kết nối sự tăng trưởng của những công ty độc quyền thương trường với sự tiến bộ về kỹ nghệ, và sử dụng những lập luận gần như tương phản với những lập luận mà chúng ta vừa xem xét; mặc dù không thường xuyên được nêu rõ, nó cũng đã tạo nên ảnh hưởng đáng kể. Nó dám chắc rằng, không phải là kỹ thuật hiện đại phá hủy sự cạnh tranh, nhưng là, ngược lại, nó sẽ không thể nào dùng đến phần nhiều những điều có khả năng có về kỹ thuật mới, trừ khi sự bảo vệ chống lại sự cạnh tranh được cho phép, có nghĩa là, sự độc quyền thương trường được ban cấp. Loại lập luận nầy không nhất thiết phải là sự gian lận, như một đọc giả khó tính có lẽ sẽ nghi ngờ: câu trả lời rõ ràng, rằng nếu một kỹ thuật mới nhằm đáp ứng những cái muốn của chúng ta thì thực sự tốt hơn, nó phải có khả năng đứng lên chống lại tất cả sự cạnh tranh, không vứt bỏ tất cả các trường hợp mà lập luận nầy đề cập đến. Không một nghi ngờ nào trong nhiều trường hợp, nó được sử dụng chỉ đơn thuần như là một hình thức cầu xin đặc biệt bởi các phe nhóm có ý quan tâm. Thậm chí thường xuyên hơn, có thể nó được đặt nền tảng trên sự lầm lẫn giữa điểm nổi bật về kỹ thuật từ quan điểm hẹp hòi nghĩ ra và điều đáng khao khát từ quan điểm của xã hội như là một khối.
Vẫn còn có, tuy nhiên, một nhóm các trường hợp nơi mà cách lập luận có sức mạnh nào đó. Đó là điều, thí dụ, ít ra có thể hiểu được rằng ngành kỹ nghệ xe hơi của Anh Quốc có thể có khả năng cung cấp một chiếc xe rẻ hơn và tốt hơn so với những chiếc xe quen được sử dụng ở Hoa Kỳ nếu mọi người trong đất nước nầy được thúc đẩy để sử dụng cùng một loại xe; hoặc rằng việc sử dụng điện cho tất cả các mục đích có thể được thực hiện rẻ hơn so với than đá hay xăng nếu mọi người có thể được thúc đẩy để chỉ sử dụng điện. Trong những trường hợp giống như những điều nầy, đó là điều ít nhất ra có thể là tất cả chúng ta có thể là khá hơn, và sẽ ưa thích tình hình mới hơn nếu chúng ta có sự lựa chọn –nhưng không một cá nhân nào từng được lựa chọn, bởi vì một cách khác là hoặc tất cả chúng ta nên sử dụng cùng một loại xe giá rẻ (hoặc tất cả chỉ nên sử dụng điện), hoặc là chúng ta nên có sự lựa chọn giữa những điều nầy với mỗi chiếc xe trong số đó ở một mức giá cao hơn nhiều. Tôi không biết liệu điều nầy là đúng ở một trong những trường hợp được đưa ra. Nhưng ắt hẳn được thừa nhận rằng có thể là bởi sự tiêu chuẩn hóa bắt buộc hoặc sự ngăn cấm đa dạng vượt xa hơn mức độ nhất định, sự phong phú có thể được gia tăng trong một số lãnh vực nhiều hơn là vừa đủ nhằm bù đắp cho sự hạn chế về lựa chọn của người tiêu dùng.

p54

Thậm chí có thể hiểu rằng một phát minh mới có thể được tạo ra một ngày nào đó mà sự ứng dụng của nó sẽ có vẻ là lợi ích một cách chắc chắn, nhưng phát minh nào chỉ có thể được sử dụng nếu tất cả mọi người đã được thúc đẩy để dùng nó có lợi cùng một lúc.
Cho dù những trường hợp như thế có là bất kỳ tầm quan trọng to lớn hoặc lâu dài nào, chúng chắc chắn không phải là những trường hợp nơi mà nó có thể được tuyên bố một cách hợp pháp rằng sự tiến bộ về kỹ thuật khiên cho việc điều hành tập trung không thể tránh khỏi. Chúng chỉ đơn thuần là sẽ làm cho điều đó cần thiết để chọn lựa giữa việc đạt được một lợi thế riêng biệt bởi sự ép buộc và việc không có được nó –hoặc, trong hầu hết các trường hợp, có được nó một chút sau đó, khi bước tiến về kỹ thuật xa hơn đã vượt qua những khó khăn riêng biệt. Đúng thật là trong những tình huống như thế, chúng ta có thể phải hy sinh cái lợi trước mắt có thể có như là một cái giá của quyền tự do của chúng ta –nhưng chúng ta tránh né, về mặt khác, sự cần thiết của việc thực hiện những phát triển tương lai phụ thuộc vào kiến thức mà những người dân riêng biệt hiện thời có được. Bằng cách hy sinh những lợi thế hiện thời có thể có như thế, chúng ta bảo tồn sự kích thích quan trọng cho sự tiến bộ xa hơn nữa. Mặc dù trong trường hợp ngắn hạn, cái giá mà chúng ta phải trả cho sự đa dạng của lựa chọn và quyền tự do chọn lựa có thể là đôi khi quá cao, trong trường hợp lâu dài thậm chí sự tiến bộ về vật chất sẽ phụ thuộc vào chính sự đa dạng nầy, bởi vì chúng ta không bao giờ có thể tiên đoán từ một hình thức nào trong số những hình thức mà trong đó sự cung và cầu qua hàng hóa và dịch vụ có thể được cung cấp một cái gì đó tốt hơn, có thể phát triển được. Điều đó không thể, dĩ nhiên, được khẳng định rằng việc bảo tồn quyền tự do bằng chi phí thêm vào sự tiện nghi vật chất hiện thời nào đó của chúng ta vì thế sẽ được tưởng thưởng trong tất cả các trường hợp. Nhưng lập luận cho quyền tự do chính xác là chúng ta nên dành chổ cho sự tăng tưởng tự do không thể nhìn thấy trước. Nó áp dụng, vì vậy, không kém hơn khi, trên cơ bản của kiến thức hiện thời của chúng ta, sự ép buộc dường như chỉ mang lại những lợi thế, và mặc dù trong một trường hợp riêng biệt, nó thực sự có thể là không làm gì tai hại.
Trong phần lớn cuộc thảo luận hiện nay về những tác động của sự tiến bộ về kỹ nghệ, sự tiến bộ nầy được trình bày cho chúng ta như thể nó là một cái gì đó bên ngoài chúng ta mà qua đó có thể buộc chúng ta sử dụng kiến thức mới theo cách riêng biệt.

p55

Trong khi sự thật, dĩ nhiên, là những phát minh đã ban cho chúng ta sức mạnh khủng khiếp, điều vô lý khi đề nghị rằng chúng ta phải sử dụng sức mạnh nầy để tiêu diệt phần kế thừa quý giá nhất của chúng ta: tự do. Điều đó thực sự có nghĩa là, tuy nhiên, nếu chúng ta muốn bảo tồn nó, chúng ta phải canh chừng nó một cách chặt chẽ hơn bao giờ hết và chúng ta phải sẵn sàng thực hiện những hy sinh cho nó. Trong khi không có gì trong những phát triển hiện đại về kỹ thuật vốn thúc đẩy chúng ta hướng đến việc hoạch định toàn diện về kinh tế, có rất nhiều phát triển mà trong số đó gây ra vô cùng nguy hiểm hơn quyền lực mà một người có thẩm quyền hoạch định có thể có.

* * * * *

Trong khi, có thể vì thế có chút nghi ngờ rằng sự di chuyển hướng đến việc hoạch định là kết quả của hành động có chủ ý và rằng không có những nhu cầu cần thiết nào bên ngoài vốn thúc đẩy chúng ta đến điều đó, việc đáng tìm hiểu là tại sao một phần rất lớn của các chuyên gia sẽ được tìm thấy trong đội ngũ giỏi nhất trong số những nhà hoạch định. Lời giải thích về hiện tượng nầy được chặt chẽ kết nối với sự kiện thực tế quan trọng mà những nhà phê bình về các nhà hoạch định sẽ luôn luôn ghi nhớ; mà qua đó có nghi vấn nhỏ mà hầu như mọi người thuộc những lý tưởng kỹ thuật của các chuyên gia của chúng ta có thể được nhận ra trong một thời gian tương đối ngắn nếu đạt được chúng, đã được tạo nên cho mục đích duy nhất của nhân loại. Có một số lượng vô hạn của những điều tốt đẹp, mà tất cả chúng ta đồng ý, thì rất đáng mong muốn cũng như có thể có, nhưng trong đó mà chúng ta không thể hy vọng đạt được nhiều hơn một số ít trong phạm vi cuộc đời của chúng ta, hoặc chúng ta có thể hy vọng đạt được chỉ rất là không hoàn hảo. Chính là sự thất vọng về những tham vọng của chuyên gia trong lãnh vực của riêng mình mà qua đó khiến cho ông ta nổi dậy chống lại trật tự đang có. Tất cả chúng ta cảm thấy khó khăn để phải chịu nhìn thấy những điều chưa thể hoàn thành mà mọi người phải thừa nhận, thì đáng mong muốn và lẫn có thể có. Mà qua đó tất cả những điều nầy không thể được hoàn thành cùng một lúc, mà qua đó bất cứ ai trong số họ chỉ có thể đạt được ở sự hy sinh của những người khác, có thể được nhìn thấy chỉ bằng cách tin tưởng vào những yếu tố vốn nằm ngoài bất kỳ tính chất chuyên môn nào, vốn có thể được đánh giá cao chỉ bởi nỗ lực đau đớn về trí thức –càng đau đớn hơn khi nó buộc chúng ta phải nhìn ngược vào một nền tảng rộng lớn hơn của những mục đích mà hầu hết những lao động của chúng ta được hướng đến, và thúc đẩy chúng ta cân bằng chúng ngược lại những mục đích khác vốn nằm ngoài sự quan tâm trước mắt của chúng ta và những điều mà, vì lý do đó, chúng ta ít quan tâm đến.

p56

Mỗi một trong số nhiều điều mà, được xét trong tình trạng tách riêng, sẽ là điều có thể đạt được trong một xã hội có kế hoạch, tạo ra những người đầy nhiệt tình cho việc hoạch định vốn là người cảm thấy tự tin rằng họ sẽ có thể truyền dẫn vào trong những người điều hành của một xã hội như thế cảm nhận của họ về giá trị của mục đích cụ thể; và những hy vọng của một vài người trong số họ chắc chắn sẽ được trọn vẹn, vì một xã hội có kế hoạch sẽ chắc chắn đẩy mạnh một số mục đích nhiều hơn là trường hợp lúc hiện thời. Đó sẽ là điều điên khùng khi phủ nhận rằng những trường hợp của những xã hội có kế hoạch hoặc kế hoạch một nửa mà chúng ta biết đến, thực sự cung cấp những hình minh họa theo quan điểm, là những điều tốt đẹp mà người dân của những quốc gia nầy hoàn toàn nhờ có việc hoạch định. Những con đường xe hơi tráng lệ ở Đức và Ý là một thí dụ thường được dẫn chứng –ngay cả mặc dù chúng không đại diện cho một loại việc hoạch định không có thể sánh ngang trong một xã hội tự do. Nhưng đó là điều tựa như điên khùng khi dẫn chứng những trường hợp nổi bật về kỹ thuật như thế trong các lãnh vực riêng biệt như là một bằng chứng của sự vượt trội chung chung của việc hoạch định. Đó sẽ là điều đúng hơn khi nói rằng điểm cực kỳ xuất sắc về kỹ thuật như thế không phù hợp với những điều kiện chung chung là một bằng chứng của sự hướng dẫn sai lạc của các nguồn tài liệu. Bất cứ ai vốn đã từng lái xe dọc theo những đường xe chạy nổi tiếng của nước Đức và tìm thấy một số lượng lưu thông trên chúng kém hơn trên phần lớn con đường thứ cấp ở Anh Quốc, có thể có chút nghi ngờ rằng, đến một mức độ mà những mục đích hòa bình được quan tâm, có rất ít sự biện minh cho chúng. Cho dù nó không phải là một trường hợp nơi mà những người hoạch định quyết định trong sự ủng hộ “những cây súng” thay vì “bơ”, là một vấn đề khác.1 Nhưng theo những tiêu chuẩn của chúng ta, có rất ít nền tảng cho lòng nhiệt tình.
Ảo tưởng của những chuyên gia là trong một xã hội có kế hoạch ông ta sẽ bảo đảm sự chú ý nhiều hơn đến những mục đích mà ông ta quan tâm đến nhiều nhất, là một hiện tượng chung chung so với phần của chuyên gia đưa ra ý kiến trước đó.
=============
1 Nhưng khi tôi đang sửa lại cho đúng điều nầy, tin tức đến cho biết rằng công việc duy trì trên những con đường xe chạy ở Đức đã bị đình chỉ !
=============

p57

Trong những ưu thích riêng và mối quan tâm của chúng ta, tất cả chúng ta trong một mức độ nào đó là những chuyên gia. Và tất cả chúng ta nghĩ rằng quy củ cá nhân của chúng ta về những giá trị không chỉ đơn thuần là riêng tư, nhưng trong một cuộc thảo luận tự do trong số những người hữu lý chúng ta sẽ thuyết phục những người khác rằng quy củ của chúng ta là một điều đúng. Người yêu mến thuộc phía quốc gia vốn là người, trên hết, muốn rằng bề ngoài truyền thống của nó nên được bảo tồn và rằng những vết nhơ đã được tạo ra bởi kỹ nghệ trên khuôn mặt đẹp của nó nên được loại bỏ, không kém hơn một người nhiệt tình lành mạnh vốn là người muốn tất cả những ngôi nhà thôn dã, cũ kỹ có vẽ đẹp như tranh nhưng thiếu vệ sinh phải được dọn đi khỏi, hoặc người lái xe vốn là người ước muốn đất nước được cắt xẽ bởi những con đường lớn xe chạy, người cuồng nhiệt có ảnh hưởng vốn là người mong muốn mức tối đa của tính chất chuyên môn và tính chất cơ giới hóa không kém hơn người lý tưởng hóa vốn là người vì sự phát triển của tính chất con người muốn bảo tồn nhiều thợ thủ công độc lập như có thể, tất cả họ biết rằng mục đích của họ có thể đạt được đầy đủ chỉ qua việc hoạch định –và tất cả họ đều muốn có việc hoạch định vì lý do đó. Nhưng, dĩ nhiên, sự thích ứng dụng của việc hoạch định xã hội mà họ kêu la, chỉ có thể đưa ra sự xung đột được che giấu giữa mục đích của họ.
Sự chuyển động của việc hoạch định có được phần lớn sức mạnh hiện thời của nó là nhờ sự kiện thực tế, trong khi việc hoạch định trong phần chính vẫn là một tham vọng, mà qua đó nó kết hợp gần như tất cả những người theo chủ thuyết lý tưởng có đầu óc theo đuổi một mục đích duy nhất, tất cả những người đàn ông và phụ nữ vốn là những người đã từng cống hiến cuộc đời mình cho một công việc duy nhất. Những hy vọng mà họ đặt vào việc hoạch định, tuy nhiên, không phải là kết quả của một cái nhìn toàn diện về xã hội, mà là một cái nhìn rất hạn chế, và thường là kết quả của một sự phóng đại to lớn về tầm quan trọng của những mục đích cuối cùng mà họ đặt hàng đầu. Điều nầy không phải là đánh giá thấp giá trị rất mực thực dụng của loại nầy của những người nam trong một xã hội tự do giống như chúng ta, mà qua đó khiến cho họ trở thành đối tượng của sự ngưỡng mộ thích đáng. Nhưng nó sẽ tạo ra chính những người vốn nóng lòng hoạch định xã hội, trở thành những người nguy hiểm nhất nếu họ được phép làm như thế –và là những người cố chấp nhất về việc hoạch định của những người khác. Từ những người lý tưởng hóa có tính chất thánh thiện và có tâm đầu óc đơn thuần đến những người cuồng nhiệt tín thường chỉ là một bước. Mặc dù đó là sự oán giận của giới chuyên gia chán nãn vốn đưa ra nhu cầu cho việc hoạch định động lực thúc đẩy mạnh nhất của nó, khó có thể là một thế giới không thể chịu đựng hơn nữa –và phi lý nhiều hơn– so với một thế giới mà những chuyên gia nổi tiếng nhất trong mỗi lãnh vực được phép tiến hành mà không bị cản trở với sự nhận thức về những lý tưởng của họ.

p58

Cũng không phải là “sự phối hợp” có thể, như một số nhà hoạch định dường như tưởng tượng, trở thành một tính chất chuyên ngành mới. Nhà kinh tế là người sau cùng cho rằng ông ta có kiến thức mà nhà phối hợp sẽ cần đến. Lời kêu gọi của ông ta là vì một phương pháp vốn ảnh hưởng đến sự phối hợp như thế mà không cần một nhà độc tài toàn năng toàn trí. Nhưng điều đó có nghĩa chính xác là sự giam giữ một số kiểm soát khách quan và thường khó hiểu như trên những nỗ lực cá nhân như những nỗ lực chống lại điều mà tất cả những chuyên gia bực tức.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

Advertisements

15 thoughts on “Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định

  1. Pingback: Chương 01: Con đường Bỏ hoang |

  2. Pingback: Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng |

  3. Pingback: Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể |

  4. Pingback: Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ |

  5. Pingback: Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp |

  6. Pingback: Chương 07: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị |

  7. Pingback: Chương 08: Ai làm, ai chịu ? |

  8. Pingback: Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do |

  9. Pingback: Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao |

  10. Pingback: Chương 11: Phần Cuối của Sự thật |

  11. Pingback: Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã |

  12. Pingback: Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta |

  13. Pingback: Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng |

  14. Pingback: Chương 15 (Hết) : Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế |

  15. Pingback: Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch (Mục Lục & Lời Giới thiệu) |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s