Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể

p33

Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể

“Những người theo chủ nghĩa xã hội tin vào hai điều vốn hoàn toàn
khác nhau và có lẽ thậm chí là mâu thuẫn: sự tự do và tổ chức.”

Elie Halevy

Trước khi chúng ta có thể tiến đến vấn đề chính của chúng ta, còn một trở ngại phải được khắc phục. Một sự lầm lẫn mà phần lớn chịu trách nhiệm về cách thức mà chúng ta đang trôi dạt vào trong những điều mà không ai muốn, phải được dọn sạch.
Sự lầm lẫn nầy liên quan đến không điều gì ít hơn khái niệm về chính chủ nghĩa xã hội. Điều đó có thể mang ý nghĩa, và thường được sử dụng để mô tả, chỉ đơn thuần là những lý tưởng về sự công bằng xã hội, sự bình đẳng nhiều hơn và sự an ninh vốn là những mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội. Nhưng nó cũng có nghĩa là một phương pháp cụ thể mà qua đó hầu hết những người theo chủ nghĩa xã hội hy vọng sẽ đạt được những mục đích cuối cùng nầy và nhiều người có đủ trình độ xem như là những phương pháp duy nhất mà qua đó họ có thể hoàn toàn và nhanh chóng đạt được.

p34

Trong ý nghĩa nầy, chủ nghĩa xã hội có nghĩa là sự bãi bỏ về kinh doanh tư nhân, về vai trò người chủ tư nhân của các phương tiện sản xuất, và sự sáng tạo một hệ thống “kinh tế có kế hoạch”, mà trong đó người kinh doanh làm việc vì lợi nhuận được thay thế bằng một cơ thể tập trung theo kế hoạch.
Có nhiều người tự vốn tự gọi là những người theo chủ nghĩa xã hội mặc dù họ chỉ quan tâm về điều đầu tiên, vốn là những người nhiệt thành tin tưởng vào những mục đích cuối cùng đó của chủ nghĩa xã hội nhưng không quan tâm cũng không hiểu làm cách nào chúng có thể đạt được, và vốn là những người chỉ đơn thuần chắc chắn rằng chúng ắt phải đạt được, bất cứ là giá nào. Nhưng đối với gần như tất cả những người mà chủ nghĩa xã hội đối với họ không chỉ đơn thuần là niềm hy vọng mà là một mục đích của chính trị thực tiển, những phương pháp đặc trưng của chủ nghĩa xã hội hiện đại thì thiết yếu như chính những mục đích cuối cùng. Nhiều người, mặt khác, vốn là những người đánh giá những mục đích cuối cùng của chủ nghĩa xã hội không kém hơn những người theo chủ nghĩa xã hội, từ chối hỗ trợ chủ nghĩa xã hội bởi vì những nguy hiểm cho những giá trị khác mà họ nhìn thấy trong những phương pháp được đưa ra bởi những người theo chủ nghĩa xã hội. Cuộc tranh cãi về chủ nghĩa xã hội vì thế đã trở thành phần lớn là cuộc tranh cãi về phương cách và không phải về những mục đích sau cùng –mặc dù câu hỏi là liệu những mục đích khác biệt sau cùng của chủ nghĩa xã hội có thể cùng một lúc đạt được, cũng bị lôi cuốn vào.
Điều nầy có thể đủ để tạo ra sự lầm lẫn. Và sự lầm lẫn đã được gia tăng thêm nữa bởi lệ thường của việc phủ nhận rằng những người vốn bác bỏ các phương cách, coi trọng những mục đích sau cùng. Nhưng điều nầy không phải là tất cả. Tình hình vẫn phức tạp hơn bởi sự kiện thực tế là phương cách tương tự, “việc hoạch định kinh tế” vốn là công cụ chính của việc cải cách xã hội chủ nghĩa, có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác. Chúng ta phải tập trung điều hành hoạt động về kinh tế, nếu chúng ta muốn thực hiện sự phân phối thu nhập phù hợp với những ý tưởng hiện thời về sự công bằng xã hội. “Việc hoạch định”, vì thế, được muốn có bởi tất cả những người vốn yêu cầu rằng “sự sản xuất vì sử dụng” được thay thế cho sự sản xuất vì lợi nhuận. Nhưng việc hoạch định như thế thì không kém là điều không thể thiếu được nếu sự phân phối những thu nhập buộc phải được quy định theo một cách mà đối với chúng ta dường như là điều trái ngược của công bằng. Cho dù chúng ta sẽ mong ước rằng thêm nhiều những điều tốt đẹp của thế giới nầy sẽ đi đến một giới chủng tộc ưu tú nào đó, những người Bắc Âu, hoặc những thành viên của một đảng phái hoặc một giới quý tộc, những phương pháp mà chúng ta sẽ phải dùng đến, thì giống như những phương pháp vốn có thể bảo đảm sự phân phối theo chủ nghĩa bình đẳng.

p35

Có lẽ, điều đó có thể là dường như không công bằng khi sử dụng thuật ngữ chủ nghĩa xã hội để mô tả những phương pháp của nó hơn là những mục đích của nó, khi sử dụng cho một phương pháp riêng biệt, một thuật ngữ mà đối với nhiều người có nghĩa là một lý tưởng tột cùng. Đó là điều có lẽ được ưa thích hơn khi mô tả những phương pháp vốn có thể được sử dụng cho một hàng loạt những mục đích cuối cùng như là chủ nghĩa tập thể và khi xem chủ nghĩa xã hội như là một thứ của loại đó. Tuy thế, mặc dù đối với hầu hết những người theo chủ nghĩa xã hội chỉ có một thứ của chủ nghĩa tập thể sẽ tiêu biểu cho chủ nghĩa xã hội thực sự, phải luôn luôn nhớ rằng chủ nghĩa xã hội là một thứ của chủ nghĩa tập thể và vì vậy mọi thứ vốn là xác thực về chủ nghĩa tập thể như vậy cũng phải áp dụng cho chủ nghĩa xã hội. Gần như tất cả những điểm vốn được tranh cãi giữa những người theo chủ nghĩa xã hội và những người theo chủ nghĩa tự do liên quan đến các phương pháp chung cho tất cả những hình thức của chủ nghĩa tập thể, không phải là những mục đích cuối cùng riêng biệt mà những người theo chủ nghĩa xã hội muốn sử dụng chúng; và tất cả những hậu quả mà chúng ta sẽ được biết đến trong cuốn sách nầy, theo sau từ những phương pháp của chủ nghĩa tập thể bất chấp những mục đích cuối cùng mà chúng được sử dụng. Cũng phải không được quên rằng chủ nghĩa xã hội cho đến nay không chỉ là thứ quan trọng nhất của chủ nghĩa tập thể hoặc “việc hoạch định”; nhưng điều đó chính là chủ nghĩa xã hội vốn đã thuyết phục những người có đầu óc tự do quy phục một lần nữa sự tổ chức thành từng đoàn của đời sống kinh tế mà họ đã từng lật đổ bởi vì, theo những lời của Adam Smith, nó đặt những chính phủ ở một vị trí nơi mà “để tự hỗ trợ chính mình họ buộc phải là áp bức và bạo ngược.”1

* * * * *

Những khó khăn bị gây ra bởi những mơ hồ của các thuật ngữ chính trị chung chung thì chưa kết thúc nếu chúng ta đồng ý sử dụng thuật ngữ chủ nghĩa tập thể để bao gồm tất cả các loại của “nền kinh tế có kế hoạch”, bất chấp mục đích của việc hoạch định là gì.
=============
1 Được trích dẫn trong tác phẩm “Memoir of Adam Smith” (“Hồi ký của Adam Smith”) của Dugald Stewart từ một tập ghi nhớ được viết bởi Smith vào năm 1755.
=============

p36

Ý nghĩa của thuật ngữ nầy trở thành phần một cái gì đó xác định hơn nếu chúng ta làm rõ ràng rằng loại việc hoạch định vốn là điều cần thiết để làm cho bất kỳ những lý tưởng phân bố nào được đưa ra trở thành hiện thực. Nhưng khi ý tưởng về việc hoạch định tập trung kinh tế nợ phần lớn lời kêu gọi cho việc rất mơ hồ nầy về ý nghĩa của nó, điều thiết yếu là chúng ta nên đồng ý trên ý nghĩa chính xác của nó trước khi chúng ta thảo luận về những hậu quả của nó.
“Việc hoạch định” nợ phần lớn tính chất phổ biến của nó cho sự kiện thực tế mà mọi người mong muốn, dĩ nhiên, mà chúng ta nên giải quyết những nan đề chung của chúng ta một cách hợp lý như có thể, và khi làm như thế, chúng ta nên sử dụng phần lớn tầm nhìn xa như chúng ta có thể điều khiển. Trong ý nghĩa nầy, mọi người vốn không phải là người hoàn toàn theo chủ thuyết định mệnh, là người lên kế hoạch, mỗi hành động về chính trị là (hoặc nên là) một hành động của việc hoạch định, và có thể có những khác biệt chỉ giữa việc hoạch định hay và tồi, giữa khôn ngoan và thấy trước, và ngu si và thiển cận. Một nhà kinh tế, mà toàn bộ công việc của ông ta là nghiên cứu về việc con người thực ra làm như thế nào và họ có thể lên kế hoạch cho những vấn đề của họ như thế nào, là người cuối cùng vốn có thể phản đối việc hoạch định trong khả năng phán đoán chung chung nầy. Nhưng không phải là trong ý nghĩa nầy mà những người đầy nhiệt tình của chúng ta đối với một xã hội được lên kế hoạch hiện thời dụng đến thuật ngữ nầy, cũng không chỉ đơn thuần là trong ý nghĩa nầy mà chúng ta phải lên kế hoạch nếu chúng ta muốn sự phân phối thu nhập hoặc tài sản phù hợp với một tiêu chuẩn cụ thể nào đó. Theo các nhà hoạch định hiện đại, và đối với những mục đích của họ, điều đó không đủ để trù hoạch một khuôn khổ trường tồn vừa phải nhất mà trong phạm vi đó những hoạt động đa dạng sẽ được tiến hành bởi những người khác nhau theo những kế hoạch cá nhân của họ. Kế hoạch tự do nầy, theo họ, thì không phải là một kế hoạch –và nó quả thật không phải là một kế hoạch được thiết kế nhằm đáp ứng những quan điểm cá biệt về việc ai sẽ có cái gì. Điều mà các nhà hoạch định của chúng ta đòi hỏi là sự điều hành trung tâm của tất cả các hoạt động về kinh tế theo một kế hoạch duy nhất, đề ra việc những nguồn tài lực của xã hội nên được “điều hành một cách ý thức” như thế nào nhằm phục vụ những mục đích đặc thù theo một cách định rõ.
Cuộc tranh cãi giữa các nhà hoạch định hiện đại và những đối thủ của họ, vì vậy, không phải là một cuộc tranh cãi về việc liệu chúng ta có nên phải lựa chọn một cách khôn ngoan giữa các tổ chức đa dạng như có thể có của xã hội; nó không phải là một cuộc tranh cãi về việc liệu chúng ta có nên phải dụng đến tầm nhìn xa và cách suy nghĩ có hệ thống trong việc hoạch định cho những công việc chung của chúng ta.

p37

Chính là cuộc tranh cãi về cách tốt nhất để làm như thế là gì. Câu hỏi là liệu đối với mục đích nầy, điều tốt hơn là người nắm giữ quyền lực cưỡng bức nên tự hạn chế giới chung chung trong việc tạo ra những điều kiện mà theo đó kiến thức và sáng kiến của những cá nhân được ban cho một phạm vi tốt nhất để cho họ có thể lên kế hoạch môt cách thành công nhất; hoặc liệu cách sử dụng hợp lý những nguồn tài nguyên của chúng ta có đòi hỏi sự điều hành và cách tổ chức tập trung tất cả những hoạt động của chúng ta theo một “bản vẽ nền xanh duy nhất” được xây dựng có ý thức nào đó. Những người theo chủ nghĩa xã hội của tất cả các đảng phái đã từng chiếm đoạt thuật ngữ lên-kế-hoạch cho việc hoạch định của loại “bản vẽ nền xanh” và nó bây giờ được chấp nhận trong ý nghĩa nầy. Nhưng mặc dù điều nầy có ý gợi ra rằng đây là cách hợp lý duy nhất của việc giải quyết những công việc của chúng ta, nó không dĩ nhiên chứng minh điều nầy. Nó vẫn còn là quan điểm mà trên đó các nhà hoạch định và những nhà tự do không đồng ý với nhau.

* * * * *

Điều quan trọng không phải là gây lầm lẫn phe đối lập chống lại loại hoạch định nầy với một thái độ laissez-fair (i.e. không can thiệp)(pc 02) quyết đoán. Cách lập luận của phe tự do là ủng hộ cho việc tận dụng tốt nhất như có thể các lực lượng cạnh tranh như là một phương cách phối hợp những nỗ lực của con người, không phải là một lập luận cho việc để lại những thứ giống y như chúng đang tồn tại. Nó được đặt nền tảng trên niềm tin chắc chắn rằng nơi mà sự cạnh tranh có hiệu quả có thể được tạo ra, nó là một cách tốt hơn để hướng dẫn những nỗ lực cá nhân so với bất kỳ cách nào khác. Nó không phủ nhận, nhưng thậm chí nhấn mạnh, rằng, để cho sự cạnh tranh đó sẽ làm việc một cách có hữu ích, một khuôn khổ pháp lý được cẩn thận nghĩ ra cần phải có, và rằng không phải là những quy định pháp lý đang có hoặc cũng không phải là trong quá khứ thì không có khiếm khuyết nghiêm trọng. Cũng không phải là nó phủ nhận rằng nơi nào không thể tạo ra những điều kiện cần thiết để làm cho sự cạnh tranh có hiệu quả, chúng ta phải nhờ đến những phương pháp khác hướng dẫn sự hoạt động kinh tế. Chủ nghĩa tự do về kinh tế thì đối nghịch, tuy nhiên, với sự cạnh tranh đang bị hất ra bởi nhưng phương pháp nội tại của việc phối hợp những nỗ lực cá nhân. Và nó xem sự cạnh tranh như là cách khá hơn không phải chỉ vì nó trong hầu hết những trường hợp, nó là một phương pháp hiệu quả nhất được biết đến, nhưng thậm chí được biết đến nhiều hơn bởi vì nó là một phương pháp duy nhất mà qua đó những hoạt động của chúng ta có thể được điều chỉnh với nhau mà không có sự can thiệp cưỡng bức hoặc độc đoán của chính quyền.

p38

Thật vậy, một trong những lập luận chính ủng hộ sự cạnh tranh là nó không cần đến sự “kiểm soát xã hội có ý thức” và nó cho những cá nhân một cơ hội để quyết định việc liệu những triển vọng của sự chiếm giữ riêng biệt đủ để bù đắp cho những bất lợi và rủi ro gắn liền với nó.
Việc sử dụng thành công sự cạnh tranh như là một nguyên tắc của việc tổ chức xã hội ngăn cản những kiểu can thiệp cưỡng bức nào đó vào đời sống kinh tế, nhưng nó thừa nhận những loại khác vốn đôi khi có thể hỗ trợ rất đáng kể công việc của nó và thậm chí đòi hỏi những loại hành động nào đó của chính phủ. Nhưng có một lý do đúng là tại sao những yêu cầu tiêu cực, những quan điểm nơi mà sự cưỡng bức không được phép sử dụng, đã được nhấn mạnh một cách riêng biệt. Điều cần thiết trong trường hợp đầu tiên là những nhóm trên thị trường nên được tự do bán và mua ở bất cứ giá nào mà họ có thể tìm thấy nơi người đối tác sự quan hệ kinh doanh, và bất cứ ai nên được tự do sản xuất, bán, và mua bất cứ thứ gì vốn có thể được sản xuất hoặc bán đi theo bất kỳ cách nào. Và điều thiết yếu là cửa ngỏ vào trong những giao dịch khác nhau nên được mở ra cho tất cả trên những điều khoản bình đẳng, và luật pháp không nên nhân nhượng bất cứ những cố gắng nào của những cá nhân hoặc nhóm hạn chế ngỏ vào nầy bằng sức mạnh công khai hoặc che giấu. Bất kỳ cố gắng nào nhằm kiểm soát những giá cả hoặc định lượng các mặt hàng riêng biệt tước đi sự cạnh tranh về những quyền lực của nó trong việc mang lại sự phối hợp có hiệu quả những nỗ lực cá nhân, bởi vì những thay đổi giá cả sau đó chấm dứt ghi nhận tất cả những thay đổi thích đáng trong những trường hợp và không còn cung cấp một hướng dẫn đáng tin cậy cho những hành động cá nhân.
Điều nầy không phải nhất thiết là đúng, tuy nhiên, về những biện pháp chỉ đơn thuần là hạn chế những phương pháp sản xuất được cho phép, miễn là những hạn chế nầy gây ảnh hưởng như nhau đến tất cả những nhà sản xuất có tiềm năng và không được sử dụng như là một cách gián tiếp kiểm soát những giá cả và số lượng. Mặc dù tất cả những kiểm soát như thế về các phương pháp hoặc sự sản xuất áp đặt thêm những chi phí, tức là làm cho nó trở nên cần thiết sử dụng thêm những nguồn tài lực để sản xuất ra một sản lượng nhất định, chúng có thể rất xứng đáng với thời gian và công sức.

p39

Để ngăn cấm việc sử dụng những chất độc nào đó, hoặc nhằm đòi hỏi những thận trọng đặc biệt trong việc sử dụng, để hạn chế những giờ làm việc hoặc đòi hỏi những cách sắp xếp vệ sinh nào đó, thì hoàn toàn thích ứng với việc bảo tồn sự cạnh tranh. Câu hỏi duy nhất ở đây là liệu trong một trường hợp riêng biệt, những lợi thế thu được có lớn hơn những tổn phí cho xã hội mà họ áp đặt không. Cũng không phải là việc bảo tồn sự cạnh tranh thì không thích ứng với một hệ thống mở rộng của các dịch vụ xã hội –miễn là việc tổ chức các dịch vụ nầy không được trù hoạch theo cách sao cho khiến sự cạnh tranh mất hiệu quả trên các lãnh vực rộng lớn.
Điều đáng tiếc là, mặc dù không khó để giải thích, sự chú ý rất ít hơn đối với những quan điểm tiêu cực nầy đã từng được ra trong quá khứ đã trao cho những đòi hỏi tích cực về cách làm việc thành công của hệ thống cạnh tranh. Tính chất hoạt động của sự cạnh tranh không chỉ đòi hỏi sự tổ chức thích hợp của những tổ chức nào đó giống như tiền tệ, thị trường và những tuyến thông tin –một số trong những tổ chức mà không bao giờ có thể được cung cấp thích đáng bởi cách kinh doanh tư nhân– nhưng trên hết nó phụ thuộc vào sự tồn tại của một hệ thống pháp lý thích hợp, một hệ thống pháp lý được trù hoạch nhằm bảo tồn sự cạnh tranh cũng như làm cho nó hoạt động có lợi như có thể. Không hẳn có khả năng là pháp luật sẽ thừa nhận nguyên tắc về tài sản riêng và quyền tự do về hợp đồng; phần lớn phụ thuộc vào sự định nghĩa chính xác về quyền tài sản như được áp dụng cho những thứ khác nhau. Sự nghiên cứu có hệ thống về những hình thức của các tổ chức pháp lý mà qua đó sẽ tạo nên hệ thống cạnh tranh hoạt động một cách hiệu quả, đã bị bỏ qua thật đáng buồn; và những lập luận mạnh mẽ có thể được nâng lên mà qua đó những thiếu sót nghiêm trọng ở đây, riêng biệt là liên quan đến luật lệ về những tập đoàn công ty và các bằng sáng chế với, đã không chỉ làm cho sự cạnh tranh hoạt động tồi tệ nhiều hơn là nó đáng lý ra đã làm được, mà còn thậm chí đã dẫn đến việc phá hủy sự cạnh tranh trong nhiều lãnh vực.
Cuối cùng là, có những lãnh vực gì nghi ngờ nơi mà không có những sắp xếp theo pháp lý có thể tạo ra một điều kiện chính mà qua đó tính chất hữu dụng của hệ thống cạnh tranh và tài sản tư nhân phụ thuộc vào: một cách cụ thể, là những món lợi của người chủ từ tất cả những dịch vụ hữu ích được hoàn lại bằng tài sản của ông ta và những khốn khổ cho tất cả những thiệt hại gây ra cho những dịch vụ khác bởi cách sử dụng của nó.

p40

Nơi mà, thí dụ, đó là điều thiếu thực tiển khi tạo nên sự thích thú của những dịch vụ nào đó phụ thuộc vào việc trả cho một mức giá, sự cạnh tranh sẽ không sinh ra những dịch vụ; và hệ thống giá cả trở nên vô hiệu quả một cách tương tự khi sự thiệt hại gây ra cho những dịch vụ khác bằng những cách sử dụng tài sản nào đó, không thể bị buộc tội một cách hiệu quả đối với người chủ của tài sản đó. Trong tất cả những trường hợp nầy, có sự phân ra giữa các hạng mục vốn gộp vào trong sự tính toán riêng và những hạng mục vốn gây ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội; và bất cứ khi nào sự phân ra nầy trở nên quan trọng, một phương pháp nào đó khác hơn sự cạnh tranh có thể được tìm thấy để cung cấp các dịch vụ đang được nói đến. Như thế, không phải là sự cung cấp những cột dấu hiệu trên những con đường, cũng không phải, trong hầu hết trường hợp, sự cung cấp chính những con đường, có thể được trả cho bởi mỗi cá nhân sử dụng. Cũng không phải là những tác động có hại nào đó của việc phá rừng, hoặc của một số phương pháp canh tác, hoặc của khói và tiếng ồn của nhà máy, có thể được hạn chế đối với người chủ tài sản đang được nói đến hoặc đối với những người vốn sẵn sàng cam chịu sự thiệt hại cho sự bồi thường được thỏa thuận. Trong những trường hợp như thế, chúng ta phải tìm cái thay thế nào đó cho việc quy định bằng cơ chế giá cả. Nhưng sự kiện thực tế mà chúng ta phải nhờ đến sự thay thế quy định trực tiếp bởi chính quyền nơi mà những điều kiện cho cách làm việc thích hợp của sự cạnh tranh không thể được tạo ra, không chứng minh rằng chúng ta nên ỉm đi sự cạnh tranh ở nơi mà nó có thể được tạo nên để hoạt động.
Nhằm tạo ra những điều kiện mà trong đó sự cạnh tranh sẽ hiệu quả như có thể, nhằm bổ sung cho nó nơi mà nó không thể tạo nên hiệu quả, nhằm cung cấp những dịch vụ mà, theo những lời của Adam Smith, “mặc dù có thể là ở mức độ có lợi cao nhất cho một xã hội to lớn, chúng, tuy nhiên, thuộc về một bản chất như thế, mà qua đó lợi nhuận không bao giờ có thể trả lại chi phí cho bất kỳ cá nhân nào hoặc một số lượng nhỏ gồm những cá nhân”, những công việc nầy quả thật cung cấp một lãnh vực rộng lớn và không cần nghi vấn cho hoạt động của nhà nước. Trong nhà nước, không có hệ thống nào vốn có thể được bảo vệ một cách hợp lý, sẽ chỉ là không làm gì cả. Một hệ thống cạnh tranh có hiệu quả cần một khung pháp lý được thiết kế một cách thông minh và được điều chỉnh một cách liên tục phần nhiều như bất kỳ khuôn khổ nào khác.

p41

Ngay cả điều kiện tiên quyết thiết yếu nhất của cách hoạt động chuẩn mực của nó, việc ngăn chận gian lận và lừa bịp (bao gồm việc khai thác sự thiếu hiểu biết) cung cấp một mục đích hoạt động lập pháp to lớn và chắc chắn là chưa hoàn toàn hoàn tất.

* * * * *

Công việc tạo ra một khuôn khổ thích hợp cho cách làm việc có lợi của sự cạnh tranh, tuy nhiên, chưa từng được tiến hành rất xa khi các nhà nước mọi nơi quay lưng khỏi nó sang khuôn khổ của việc thay thế sự cạnh tranh bằng một nguyên tắc khác biệt và không thể hòa hợp. Câu hỏi thì không còn một câu hỏi về việc làm cho sự cạnh tranh có hiệu quả và việc bổ sung cho nó, ngoài việc thay thế nó toàn bộ. Điều quan trọng là phải khá rõ ràng về điều nầy: sự chuyển động hiện đại cho việc hoạch định là một phong trào chống lại sự cạnh tranh chẳng hạn như là, một lá cờ mới mà dưới đó tất cả những kẻ thù cũ của sự cạnh tranh đã tụ tập. Và mặc dù tất cả các loại lợi ích hiện thời đang cố gắng thành lập lại dưới lá cờ nầy, những đặc quyền mà thời đại tự do đã cuốn trôi xa, chính là sự tuyên truyền của chủ nghĩa xã hội về việc hoạch định vốn đã khôi phục điều đáng tôn trọng trong số những người có đầu óc tự do ở vị trí đối nghịch với sự cạnh tranh, và đã ru ngủ một cách hiệu quả sự nghi ngờ lành mạnh mà bất kỳ sự cố gắng nào nhằm bóp chết sự cạnh tranh được sử dụng để khơi dậy.1
=============
1 Gần đây, đó là sự thật, một số nhà xã hội học hàn lâm, dưới sự thúc đẩy của những lời chỉ trích, và bị quấy động bởi cùng nỗi sợ hãi của sự tiêu hủy quyền tự do trong một xã hội có kế hoạch tập trung, đã sáng tạo một loại mới của “chủ nghĩa xã hội cạnh tranh” mà họ hy vọng sẽ tránh được những khó khăn và nguy hiểm của việc hoạch định tập trung và kết hợp việc bãi bỏ tài sản tư nhân với việc giữ lại toàn bộ quyền tự do cá nhân. Mặc dù một vài cuộc thảo luận nào đó về loại mới nầy của chủ nghĩa xã hội đã diễn ra trên các tạp chí học giả, đó là điều hầu như khó mà tự giới thiệu cho những nhà chính trị thực dụng. Nếu điều đó đã từng xảy ra, sẽ không khó để cho thấy (như tác giả đã cố gắng thử ở nơi khác –xem tạp chí Economica, 1940) rằng những kế hoạch nầy dựa trên một ảo tưởng và chịu khốn đốn từ sự mâu thuẫn vốn có. Đó là điều không thể nào nắm quyền kiểm soát trên tất cả những nguồn sản xuất mà cũng không có việc quyết định cho ai và bởi người nào mà họ quen thuộc. Mặc dù, dưới cái gọi là chủ nghĩa xã hội cạnh tranh nầy, việc hoạch định bởi chính quyền trung ương sẽ chọn những hình thức có phần nào quanh co hơn, những ảnh hưởng của nó sẽ không khác nhau trên cơ bản, và thành phần của sự cạnh tranh sẽ hơn là một người giả vờ một chút.
=============

p42

Điều mà thực sự kết hợp những người theo chủ nghĩa xã hội của cánh Tả và cánh Hữu là thái độ thù nghịch chung nầy đối với sự cạnh tranh và sự khao khát chung của họ muốn thay thế nó bằng một nền kinh tế được định hướng. Mặc dù những thuật ngữ chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội vẫn thường được sử dụng để mô tả những hình thức quá khứ và tương lai của xã hội, họ che giấu hơn là làm sáng tỏ bản chất của sự chuyển đổi mà chúng ta đang đi ngang qua.
Tuy thế, mặc dù tất cả những thay đổi mà chúng ta đang quan sát, có xu hướng theo một chiều hướng của sự điều hành tập trung về hoạt động kinh tế, cuộc đấu tranh toàn diện chống lại sự cạnh tranh hứa hẹn sẽ sản xuất ra, trong trường hợp đầu tiên, một cái gì đó trong nhiều khía cạnh thậm chí tồi tệ hơn, một tình huống hiện thời vốn có thể đáp ứng không phải là những nhà hoạch định cũng không phải là những nhà tự do: loại tổ chức của những người tham gia công đoàn hoặc “liên đoàn” của ngành kỹ nghệ, mà trong đó sự cạnh tranh bị đàn áp ít nhiều nhưng việc hoạch định còn để lại trong tay của các công ty độc quyền độc lập của những kỹ nghệ tách biệt. Đây là một kết quả đầu tiên tất yếu của một tình huống mà trong đó người dân được kết hợp trong sự thù nghịch của họ đối với sự cạnh tranh nhưng đồng ý trên thứ hơi khác. Bằng cách tiêu diệt sự cạnh tranh trong ngành kỹ nghệ nầy đến kỹ nghệ khác, chính sách nầy đặt người tiêu dùng trong một tình huống hứng chịu hành động độc quyền kết hợp của những nhà tư bản và những người lao động trong những ngành kỹ nghệ có tổ chức tốt nhất. Tuy thế, mặc dù đây là một tình huống hiện thời mà trong các lãnh vực rộng lớn đã thực sự tồn tại trong một thời gian nào đó, và mặc dù phần lớn sự quấy động rối tung (và hầu hết là thú vị) vì việc hoạch định nhắm vào nó, nó không phải là một nhà nước vốn có khả năng là kiên trì hoặc có thể được biện minh một cách hợp lý. Việc hoạch định độc lập như thế bởi những công ty độc quyền về kỹ nghệ, thật ra, sẽ sản sinh ra những ảnh hưởng đối nghịch với những ảnh hưởng mà cuộc tranh luận cho việc hoạch định nhắm vào. Một khi giai đoạn nầy được đạt đến, một cách duy nhất khác cho việc quay trở lại sự cạnh tranh là quyền kiểm soát những công ty độc quyền của nhà nước, một quyền kiểm soát mà, nếu nó là được tạo nên sao cho hiệu quả, phải trở nên dần dần hoàn chỉnh hơn và chi tiết hơn. Chính là giai đoạn nầy, chúng ta đang nhanh chóng tiếp cận.

p43

Khi, trước chiến tranh không lâu, một trong những tuần báo chỉ ra rằng “có nhiều dấu hiệu mà những nhà lãnh đạo Anh Quốc đang càng lúc quen thuộc với việc suy nghĩ trong những phần về sự phát triển quốc bằng những độc quyền được kiểm soát”,1 điều nầy có lẽ là một ước tính đúng về vị thế như nó đã tồn tại sau nầy. Kể từ đó, quá trình tiến triển nầy đã được tăng gia tốc mãnh liệt bởi chiến tranh, và những khiếm khuyết và nguy hiểm nghiêm trọng của nó sẽ ngày càng trở nên rõ ràng khi thời gian tiếp tục trôi qua.
Ý tưởng về sự tập trung hoàn toàn của việc điều hành hoạt động kinh tế vẫn làm kinh hoàng hầu hết mọi người, không chỉ vì những khó khăn vô cùng to lớn của công việc, mà còn thậm chí nhiều hơn bởi vì sự khủng khiếp lấy cảm hứng từ ý tưởng của mọi thứ đang được điều hành từ một trung tâm duy nhất. Nếu chúng ta tuy nhanh chóng di chuyển hướng đến một nhà nước như thế, điều nầy phần lớn là vì hầu hết mọi người vẫn tin rằng ắt hẳn có thể tìm thấy một Cách Trung gian giữa sự cạnh tranh “vi tử” và sự điều hành tập trung. Quả thật, không có gì có vẻ là lúc đầu hợp lý hơn, hoặc có nhiều khả năng kêu gọi những người biết lý lẽ, so với ý tưởng mà mục đích của chúng ta ắt hẳn không phải là việc phi tập trung cực độ của sự cạnh tranh tự do, cũng không phải là việc tập trung hoàn toàn một kế hoạch duy nhất, ngoại trừ sự trộn lẫn có suy xét của hai phương pháp. Tuy thế, chỉ là cảm giác chung chứng tỏ sự hướng dẫn xảo trá trong lãnh vực nầy. Mặc dù sự cạnh tranh có thể chịu sự trộn lẫn thêm vào nào đó của quy củ, nó không thể được kết hợp với việc hoạch định đến bất kỳ mức độ nào mà chúng ta muốn là không có việc ngưng hoạt động như là một hướng dẫn hiệu quả cho việc sản xuất. Cũng không phải “việc hoạch định” là một liều thuốc vốn, được cho uống với những liều lượng nhỏ, có thể sản sinh ra những ảnh hưởng mà người ta có thể hy vọng từ sự ứng dụng hoàn toàn của nó. Cả sự cạnh tranh và sự điều hành tập trung trở thành những công cụ nghèo nàn và vô hiệu quả nếu chúng chưa toàn vẹn; chúng là những nguyên tắc thay thế khác được sử dụng để giải quyết cùng một nan đề, và sự pha trộn của hai biện pháp mà không một biện pháp nào trong hai thứ sẽ thực sự hiệu nghiệm và kết quả sẽ tồi tệ hơn nếu một trong hai hệ thống đã phải luôn luôn dựa vào nó. Hoặc, để bày tỏ một cách khác hơn, việc hoạch định và sự cạnh tranh có thể được kết hợp chỉ bởi việc hoạch định vì sự cạnh tranh, nhưng không phải bởi việc hoạch định chống lại sự cạnh tranh.
============
1 Tạp chí The Spectator, ngày 3 tháng Ba năm 1939, p. 337.
=============

p44

Điều đó có tầm quan trọng cao nhất đối với cách lập luận của cuốn sách nầy cho đọc giả đọc luôn lưu ý rằng việc hoạch định mà tất cả những lời phê bình của chúng ta được hướng dẫn chống lại, chỉ là việc hoạch định chống lại sự cạnh tranh –việc hoạch định vốn sẽ được thay thế cho sự cạnh tranh. Điều nầy quan trọng hơn khi chúng ta không có thể, trong phạm vi chủ đích cuốn sách nầy, bước vào một cuộc thảo luận về việc hoạch định rất cần thiết vốn được đòi hỏi để tạo nên sự cạnh tranh có hiệu quả và có lợi nhất như có thể. Nhưng như trong cách sử dụng hiện thời, “việc hoạch định” đã trở thành gần như đồng nghĩa với các loại trước đó về việc hoạch định, đôi khi điều đó sẽ tất yếu vì lợi ích của sự ngắn gọn khi đề cập đến nó một cách đơn giản như là việc hoạch định, ngay cả mặc dù điều nầy có nghĩa là để lại cho đối thủ chúng ta một từ ngữ rất hay đáng có một số phận tốt hơn.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

===========================================

Phụ Chú :
pc 02_ Laissez-faire (không can thiệp) : là một môi trường kinh tế mà trong đó những giao dịch giữa các bên tư nhân không bị bó buộc bởi những hạn chế, những thuế quan (thuế xuất nhập), và những khoản trợ cấp của chính phủ, chỉ có những quy định đủ để bảo vệ quyền sở hữu tài sản. Nhóm chữ laissez-faire là tiếng Pháp và theo nghĩa đen có nghĩa là “hãy để cho [họ] làm”, nhưng nó ngụ ý rộng rãi là “để mặc nó”, “hãy để cho họ làm như họ muốn,” hoặc “đừng đụng chạm đến.”

Advertisements

15 thoughts on “Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể

  1. Pingback: Chương 01: Con đường Bỏ hoang |

  2. Pingback: Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng |

  3. Pingback: Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định |

  4. Pingback: Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ |

  5. Pingback: Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp |

  6. Pingback: Chương 07: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị |

  7. Pingback: Chương 08: Ai làm, ai chịu ? |

  8. Pingback: Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do |

  9. Pingback: Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao |

  10. Pingback: Chương 11: Phần Cuối của Sự thật |

  11. Pingback: Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã |

  12. Pingback: Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta |

  13. Pingback: Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng |

  14. Pingback: Chương 15 (Hết) : Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế |

  15. Pingback: Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch (Mục Lục & Lời Giới thiệu) |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s