Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng

p24

Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng

“Điều mà đã luôn luôn làm cho nhà nước trở thành một địa
ngục trần gian, đã từng chính xác là con người đã cố gắng
làm cho nó trở thành thiên đường của mình.”

F. Hoelderlin

Chủ nghĩa xã hội đã chiếm chỗ chủ nghĩa tự do khi học thuyết được bám lấy bởi đại đa số những người cấp tiến, không chỉ đơn giản có nghĩa là người dân đã quên những lời cảnh cáo của các nhà tư tưởng tự do vĩ đại trong quá khứ về những hậu quả của chủ nghĩa tập thể. Điều đó đã xảy ra bởi vì họ bị thuyết phục về chính điều đối nghịch của cái gì đó mà những người nầy đã từng tiên đoán. Điều khác thường là cùng một chủ nghĩa xã hội vốn không chỉ được nhìn nhận trước đây như là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với quyền tự do, nhưng khá công khai bắt đầu như là một phản ứng chống lại chủ nghĩa tự do của cuộc Cách mạng Pháp, chiếm được sự chấp nhận chung dưới lá cờ tự do. Điều đó bây giờ hiếm khi được nhớ là chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ khởi đầu của nó, là một thể chế độc tài hiển nhiên. Những nhà văn Pháp vốn là những người đặt những nền tảng cho chủ nghĩa xã hội hiện đại, đã không có chút nghi ngờ nào rằng những ý tưởng của họ lại có thể được đưa vào thực hiện chỉ bởi một chính phủ độc tài mạnh mẽ. Đối với họ chủ nghĩa xã hội có nghĩa là một sự cố gắng nhằm “chấm dứt cuộc cách mạng” bởi việc cố tình tổ chức lại xã hội theo những dòng cấp bậc, và việc lừa bịp về một “sức mạnh cưỡng bức tinh thần”.

p25

Nơi mà quyền tự do được quan tâm, những người sáng lập chủ nghĩa xã hội đã không giấu diếm về những ý định của họ. Quyền tự do tư tưởng mà họ xem như là cọi rể cái ác của xã hội vào thế kỷ mười chín, và người đầu tiên trong số những nhà hoạch định hiện đại, là Bá tước người Pháp, Saint-Simon, thậm chí tiên đoán rằng những người vốn không tuân theo Hội đồng Kế hoạch được đưa ra của ông ta sẽ bị “đối xử như là gia súc.”
Chỉ dưới ảnh hưởng của những dòng dân chủ mạnh mẽ xảy ra trước cuộc cách mạng vào năm 1848, chủ nghĩa xã hội bắt đầu liên minh chính nó với các lực lượng tự do. Nhưng “chủ nghĩa xã hội dân chủ” mới phải mất đi một thời gian dài để xóa nhòa những ngờ vực được gợi lên bởi lai lịch của nó. Không ai nhìn thấy rõ ràng hơn de Tocqueville rằng nền dân chủ như là một thể chế thiết yếu của bản chủ nghĩa cá nhân tiêu biểu cho cuộc xung đột không thể hòa giải với chủ nghĩa xã hội :

Nền dân chủ mở rộng khoảng không gian của quyền tự do cá nhân [ông ta đã nói vào năm 1848], chủ nghĩa xã hội hạn chế điều đó. Nền dân chủ kèm theo tất cả các giá trị có thể có cho mỗi người; chủ nghĩa xã hội làm cho mỗi người trở thành chỉ là một tay mật vụ, chỉ là một con số. Nền dân chủ và chủ nghĩa xã hội không có điểm gì giống nhau ngoại trừ một từ ngữ: bình đẳng. Nhưng hãy chú ý sự khác biệt: trong khi nền dân chủ tìm kiếm sự bình đẳng trong tự do, chủ nghĩa xã hội tìm kiếm bình đẳng trong sự kiềm chế và nô lệ.1

Nhằm giảm bớt những ngờ vực nầy và để thắng cương cho chiếc xe kéo của nó, một đông thái mạnh mẽ nhất trong số tất cả những động thái chính trị, là sự khao khát cho quyền tự do, chủ nghĩa xã hội ngày càng bắt đầu tận dụng lời hứa về một “quyền tự do mới.” Điều sắp đến của chủ nghĩa xã hội phải là bước nhảy vọt từ lãnh vực cần thiết đến lãnh vực tự do. Nó phải mang lại “quyền tự do kinh tế”, mà không có quyền tự do chính trị vốn đã có được rồi, thì “không đáng có.” Chỉ chủ nghĩa xã hội có khả năng về việc thực thi sự hoàn thành cuộc đấu tranh lâu đời cho sự tự do mà trong đó sự đạt được về quyền tự do chính trị chỉ là một bước đầu.

(Louis de Rouvroy (1675–1755) còn được biết đến như là Saint-Simon,
là vị Bá tước Pháp, cũng là chính khách và là cây viết về những hồi ký
–sau khi qua đời, bị nhà nước Pháp tịch thu và phần lớn bị thất lạc.
Chính là người sáng lập chủ nghĩa xã hội)

=============
1 “Discours prononcé à l’assemblée constituante le 12 Septembre 1848 sur la question du droit au travail” (“Bài phát biểu trước Hội đồng Lập hiến vào ngày 12 tháng Chín năm 1848 về vấn đề quyền làm việc”). Toàn bộ tác phẩm của Alexis de Tocqueville, vol. IX, 1866, p. 546.
=============

p26

Sự thay đổi tinh tế trong ý nghĩa mà chữ tự do được đưa ra nhằm mục đích sao cho cách lập luận nầy sẽ nghe hợp lý, là điều quan trọng. Đối với những tông đồ vĩ đại của sự tự do chính trị, từ ngữ đã có nghĩa là sự tự do khỏi sự cưỡng bức, sự tự do khỏi quyền lực độc đoán của người khác, thoát khỏi những sự ràng buộc vốn khiến cho cá nhân không còn một sự lựa chọn nào ngoài sự vâng lời theo những mệnh lệnh của một cấp trên đối với người mà anh ta bị trói buộc vào. Quyền tự do mới được hứa hẹn, tuy nhiên, phải là sự tự do khỏi điều cần thiết, thoát khỏi sự cưỡng bách của những hoàn cảnh vốn chắc chắn giới hạn phạm vi chọn lựa của tất cả chúng ta, mặc dù đối với một quyền tự do bị giới hạn rất nhiều hơn so với những thứ khác. Trước khi con người đã có thể thực sự tự do, “chế độ chuyên quyền về nhu cầu vật chất” phải bị phá vỡ, “những kiềm chế của hệ thống kinh tế” phải được buông thả.
Quyền tự do trong ý nghĩa nầy, dĩ nhiên, chỉ đơn thuần là một cái tên khác cho quyền lực1 hay sự giàu có. Tuy thế, mặc dù những lời hứa hẹn về sự tự do mới nầy thường đi đôi với những lời hứa vô trách nhiệm về sự gia tăng to lớn về của cải vật chất trong một xã hội thuộc xã hội chủ nghĩa, điều đó không phải là từ sự chinh phục hoàn toàn tính chất nhỏ nhặt của trạng thái tự nhiên như thế đến nổi sự tự do kinh tế phải mong đợi. Điều mà lời hứa rốt cuộc thực sự là sự chênh lệch to lớn hiện có trong phạm vi của sự lựa chọn của những người khác nhau, sắp phải biến mất. Nhu cầu về sự tự do mới vì thế chỉ là có một cái tên khác cho nhu cầu xa xưa về sự phân phối của cải bình đẳng.
=============
1 Sự lầm lẫn đặc trưng về sự tự do với quyền lực, mà chúng ta sẽ gặp lại lần nầy và lần khác qua suốt cuộc thảo luận nầy, thật quá lớn là một chủ đề không thể được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng ở đây. Xưa củ như chính chủ nghĩa xã hội, nó được liên kết rất chặt chẽ với nó mà qua đó gần như cách đây bảy mươi năm, một học giả người Pháp, thảo luận về những nguồn gốc thuộc chủ thuyết Saint-Simon của nó, được dẫn đến để nói rằng lý thuyết nầy về sự tự do “est à elle seule tout le socialisme” (i.e. “là tất cả riêng về chủ nghĩa xã hội”) (tác giả P. Janet, tác phẩm “Saint-Simon et le Saint-Simonisme” (“Saint-Simon và Chủ thuyết Saint-Simon”), 1878, p. 26, ghi chú). Người bảo vệ rõ ràng nhất về sự lầm lẫn nầy, thật đáng kể, là nhà triết học hàng đầu thuộc chủ thuyết cánh tả của Mỹ, John Dewey, theo đó “tự do là sức mạnh hiệu quả để làm những việc cụ thể” để cho “nhu cầu về tự do là nhu cầu về sức mạnh” (“Liberty and Social Control” (“Tự do và sự Kiểm soát Xã hội”), trên tạp chí The Social Frontier (Mặt trận Xã hội), tháng Mười Một năm 1935, p. 41).
=============

p27

Nhưng cái tên mới cho một từ ngữ khác về những người theo chủ nghĩa xã hội có một điểm chung với những người theo chủ nghĩa tự do và họ khai thác nó đến mức cao nhất. Và mặc dù từ ngữ được sử dụng trong một ý nghĩa khác nhau bởi hai nhóm, một số ít người chú ý điều nầy và vẫn còn một ít người hơn tự hỏi chính mình liệu hai loại tự do được hứa hẹn thực sự là có thể được kết hợp không.
Có thể là không có còn một nghi ngờ nào rằng lời hứa về quyền tự do to lớn hơn đã trở thành một trong những vũ khí hiệu quả nhất của việc tuyên truyền chủ nghĩa xã hội và rằng niềm tin mà chủ nghĩa xã hội sẽ mang lại sự tự do, là điều đích thật và chân thành. Nhưng điều nầy sẽ chỉ nâng cao bi kịch nếu nó phải chứng minh rằng điều gì đó được hứa hẹn với chúng ta như là Con đường dẫn đến Tự do thật ra là Con đường Bảo đảm nhất dẫn đến Nô lệ. Không nghi ngờ gì nữa, lời hứa hẹn về sự tự do hơn chịu trách nhiệm cho việc quyến rủ càng lúc càng nhiều hơn những người theo chủ nghĩa tự do đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, vì che mắt họ không nhìn thấy cuộc xung đột vốn tồn tại giữa những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tự do, và vì thường hay cho phép những người theo chủ nghĩa xã hội chiếm đoạt ngay cái tên của đảng phái tự do xa xưa. Chủ nghĩa xã hội được đón nhận bởi phần lớn giới trí thức hơn như là người thừa kế hiển nhiên của truyền thống tự do: vì thế không có gì phải ngạc nhiên là đối với họ, ý tưởng như có vẻ không thể hiểu được về chủ nghĩa xã hội dẫn đến điều đối nghịch của tự do.

* * * * *

Trong những năm gần đây, tuy nhiên, những hiểu biết xưa xưa về những hậu quả không lường trước được của chủ nghĩa xã hội một lần nữa đã được kêu gọi mạnh mẽ từ các khu vực không ngờ nhất. Hết nhà quan sát nầy đến nhà quan sát khác, mặc sự kỳ vọng trái ngược với điều mà ông ta giải quyết chủ đề của mình, đã được gây ấn tượng bởi sự giống nhau khác thường trong nhiều khía cạnh của các điều kiện dưới “chủ nghĩa phát-xít” và “chủ nghĩa cộng sản.” Trong khi “những người cấp tiến” ở đất nước nầy và nơi nào khác vẫn còn đang lừa dối chính mình rằng chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát-xít tượng trưng cho những đối cực, càng lúc càng nhiều người bắt đầu tự hỏi chính mình liệu những chính thể chuyên chế mới nầy không phải là kết quả của những khuynh hướng tương tự không.

p28

Thậm chí người cộng sản phải ắt hẳn đã bị run động một chút bởi những lời khai đó như là của Ngài Max Eastman, một người bạn cũ của Lenin, vốn là người tìm thấy chính mình buộc phải thừa nhận rằng “thay vì tốt hơn, chủ nghĩa Stalin tồi tệ hơn chủ nghĩa phát-xít, tàn nhẫn, dã man, bất công, vô đạo đức, phản dân chủ hơn, không chuộc lại được bởi bất kỳ hy vọng hoặc sự đắn đo nào”, và rằng nó “được mô tả tốt hơn như là thứ phát-xít siêu hạng”; và khi chúng ta tìm thấy cùng một tác giả nhìn nhận rằng “chủ nghĩa Stalin là chủ nghĩa xã hội, trong ý nghĩa là điều tất yếu mặc dù phần phục thuộc không lường trước được về chính trị của sự quốc gia hóa và tập thể hóa mà ông ta đã dựa vào như là một phần kế hoạch của ông ta cho việc dựng lên một xã hội không giai cấp,”1 phần kết luận của ông rõ ràng là đạt được điều quan trọng rộng lớn hơn.
Trường hợp của Ngài Eastman có lẽ là điều đáng chú ý nhất, tuy ông ta không hẳn là người đầu tiên hoặc là nhà quan sát đồng cảm duy nhất của thí nghiệm Nga để thành hình những kết luận tương tự. Nhiều năm trước đó, Ngài W.H. Chamberlin, vốn là người trong mười hai năm ở Nga như là một phóng viên Mỹ đã từng nhìn thấy tất cả những lý tưởng của mình vỡ tan từng mảnh, đã tổng kết những kết luận về những nghiên cứu của mình ở đó và ở Đức và Ý trong câu phát biểu là “Chủ nghĩa xã hội thì chắc chắn để chứng minh là, ít nhất ra trong khởi đầu, con đường Không dẫn đến sự tự do, nhưng đến chế độ độc tài và những chế độ phản độc tài, đến cuộc nội chiến của loại ác liệt nhất. Chủ nghĩa xã hội đã đạt được và được duy trì bởi phương cách dân chủ dường như chắc chắn thuộc về một thế giới của đại đồng không tưởng.”2 Tương tự thế, một cây viết người Anh, Ngài F.A. Voigt, sau nhiều năm quan sát chặt chẽ về những phát triển ở châu Âu như là một phóng viên nước ngoài, kết luận rằng Chủ nghĩa Mác-xít đã dẫn đến Chủ nghĩa Phát-xít và Chủ nghĩa Quốc xã, bởi vì, trong tất cả những điều thiết yếu, chính là Chủ nghĩa Phát-xít và Chủ nghĩa Quốc xã.”3 Và Tiến sĩ Walter Lippmann đã đi đến sự xác tín rằng
=============
1 Max Eastman, “Stalin’s Russia and the Crisis of Socialism” (“Nước Nga của Stalin và Cuộc khủng hoảng của Chủ nghĩa Xã hội”), 1940, p. 82.

2 W.H. Chamberlin, “A Utopia False” (“Một Thế giới Đại đồng Ảo tưởng Giả mạo”), 1937, pp. 202–3.

3 F.A. Voigt, “Unto Ceasar” (“Cho đến Thời kỳ Cesar”), 1939, p. 95.
=============

p29

thế hệ mà chúng ta thuộc về bây giờ đang học hỏi từ kinh nghiệm của chuyện gì xảy ra khi người ta rút lui khỏi quyền tự do đến một tổ chức cưỡng bức những công việc của họ. Mặc dù họ tự hứa với chính mình về một cuộc sống phong phú hơn, nhưng trong thực tiển, họ phải từ bỏ nó; khi chiều hướng có tổ chức gia tăng, sự đa dạng của những chấm dứt phải nhường đường cho sự đồng nhất. Đó là sự báo ứng của một xã hội được lên kế hoạch và nguyên tắc độc tài trong những vấn đề nhân loại.1

Nhiều phát biểu tương tự hơn từ những người ở vị trí xét đoán có thể được chọn ra từ những ấn bản trong những năm gần đây, riêng biệt là từ những phát biểu của những người vốn như là những công dân của các nước độc tài toàn trị hiện nay đã từng sống qua sự chuyển đổi và đã từng được thúc đẩy bởi kinh nghiệm của họ để sửa đổi nhiều niềm tin thân yêu. Chúng ta sẽ trích dẫn như là một thí dụ nữa mà một nhà văn Đức vốn là người bày tỏ cùng một kết luận có lẽ công bằng hơn những kết luận đã được trích dẫn rồi.

Sự sụp đổ hoàn toàn của niềm tin vào khả năng đạt được sự tự do và bình đẳng qua Chủ nghĩa Mác-xít [Ngài Peter Drucker viết 2] đã buộc Nga phải đi cùng một con đường hướng tới một chế độ độc tài, một xã hội hoàn toàn tiêu cực, phi kinh tế của phi tự do và bất bình đẳng mà Đức đã và đang đi theo. Không phải là chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát-xít trên cơ bản thì giống nhau. Chủ nghĩa phát-xít là giai đoạn đạt đến sau khi chủ nghĩa cộng sản đã chứng tỏ là một ảo tưởng, và nó đã chứng tỏ phần lớn ảo tưởng trong một nước Nga của Stalin như trong một Đức trước thời kỳ Hitler.

Không kém quan trọng là lịch sử tri thức của nhiều người trong số những nhà lãnh đạo Đức Quốc xã và Phát-xít. Mọi người vốn đã từng theo dõi sự tăng trưởng của những phong trào ở Italy3 hoặc Đức, đã từng buộc phải chú ý bởi số lượng của những người cầm đầu, từ Mussolini trở xuống (và không loại trừ Laval và Quisling), vốn là những người đã bắt đầu như là những người theo chủ nghĩa xã hội và kết thúc như là những nhà Phát-xít hoặc Đức Quốc xã.
============
1 Tập san Atlantic Monthly, tháng Mười Một, 1936, p. 552.
2 Tác phẩm “The End of Economic Man” (“Mục đích của Người nghiên cứu về Kinh tế”), 1939, p. 230.

3 Lời tường trình làm sáng tỏ lịch sử tri thức của nhiều nhà lãnh đạo phát-xít sẽ được tìm thấy trong tác phẩm của R. Michels (chính là một cựu thành viên Phát-xít Mác-xít), “Sozialismus und Faszismus”(“Chủ nghĩa Xã hội và Chủ nghĩa Phát-xít”), Munich 1925, vol. II, pp. 264–6, và pp. 31–12.
=============

(Benito Amilcare Andrea Mussolini Benito Mussolini (1883–1945),
người đứng đầu Đảng Quốc xả Ý, và là vị Thủ tướng theo phe trục
chống lại đồng minh, và bị lật đổ và cầm tù vào năm 1943. Mặc dù
được lực lượng đặc biệt của Đức giải thoát, nhưng lại bị bắt lại và bị
hành quyết tại chổ. Chấm dứt thời vàng son của kẻ độc tài trong tư
thế bị treo ngược cho công chúng Ý xem)

(Cái xát của kẻ độc tài phát-xít –hình thứ hai– tự xưng là “Il Duce”
(“Nhà Lãnh đạo”), có cái tên là Mussolin, được chưng bày tại công
trường Piazzale Loreto, thành phố Milan, Ý vào 1945)

(Pierre Laval (1883–1945), dưới thời chính phủ Pháp Vichy –một chính
phủ hợp tác với Đức Quốc xã– là Phó Chủ tịch của Hội đồng Bộ trưởng,
và sau nầy là người đứng đầu chính phủ (1942–1944) kiêm Bộ trưởng
Ngoại vụ, kiêm Bộ trưởng Nội vụ, kiêm luôn Bộ trưởng Thông tin. Bị
xử bắn như là kẻ phản quốc sau khi Thế Chiến thứ II chấm dứt. Và cái
tên của ông ta, Laval, trở thành danh từ chung dành cho kẻ phản quốc)

(Vidkun Abraham Lauritz Jonssøn Quisling hay còn được gọi là Vidkun
Quisling (1887–1945), là nhà chính trị Na Uy, đã từng lợi dụng tình thế
rối loạn khi Đức Quốc xã tấn công đất mình làm cuộc lật đổ chính phủ
và nắm lấy quyền lực hầu hợp tác với kẻ thù của dân tộc mình. Từ đó
cái tên của kẻ bị xử bắn, Quisling, trở thành một danh từ chung như
cái tên Laval, có nghĩa là kẻ phản quốc)

p30

Và điều gì là sự thật về các nhà lãnh đạo, thậm chí là thật hơn về đội ngũ đảng viên của phong trào. Điều tương đối dễ dàng với việc mà một người cộng sản trẻ có thể được biến đổi trở thành một đảng viên Đức Quốc xã hoặc ngược lại, thông thường đều được biết đến ở nước Đức, là một cách hay nhất trong tất cả phương cách đối với những người tuyên truyền của hai đảng phái. Phần nhiều một giáo sư Đại học ở đất nước nầy trong suốt những năm 1930s đã từng nhìn thấy những sinh viên Anh và Mỹ trở lại từ Lục địa, không chắc chắn là liệu họ là những người cộng sản hoặc Đức Quốc xã và chỉ chắn chắn là họ thù ghét nền văn minh tự do Tây phương. Sự thật, dĩ nhiên, là ở Đức trước năm 1933 và ở Ý trước năm 1922, những người cộng sản và những người Đức Quốc xã hoặc Phát-xít đã đụng độ thường xuyên hơn với nhau so với những đảng phái khác. Họ cạnh tranh cho sự hỗ trợ của cùng một loại trí óc và dành riêng cho nhau sự hận thù của người theo dị giáo. Nhưng cách thực hành của họ cho thấy là họ có liên hệ gần gũi đến như thế nào. Đối với cả hai, một kẻ thù thực sự, người mà họ không có một điểm chung gì cả và người mà họ không thể hy vọng thuyết phục được, là người tự do của kiểu xa xưa. Trong khi đối với người Đức Quốc xã, người cộng sản là những người được tuyển mộ mai sau, và đối với người cộng sản, người Đức Quốc xã lại là những tân đảng viên mai nầy, và đối với cả hai, người theo xã hội chủ nghĩa là những người sẽ được tuyển chọn trong nay mai, những tân đảng viên tương lai đó vốn là những người được tạo nên bằng khả năng đúng cho công việc, mặc dù họ đã từng lắng nghe những lời tiên tri giả mạo; cả hai phe phía đều biết rằng không thể nào có một sự thỏa hiệp giữa họ và những người vốn thực sự tin tưởng vào quyền tự do cá nhân.
E rằng điều nầy bị nghi ngờ bởi những người bị dẫn dắt sai lạc bởi sự tuyên truyền chính thức từ cả hai phía, hãy để tôi trích dẫn thêm một lời phát biểu nữa từ một một người có thẩm quyền mà qua đó không phải ngờ vực. Trong một bài viết dưới một cái tựa đáng chú ý là “The Rediscovery of the Liberalism” (“Sự tái khám phá Chủ nghĩa Tự do”), của Giáo sư Eduard Heimann, một trong những nhà lãnh đạo thuộc chủ nghĩa xã hội tôn giáo Đức, viết rằng :

Chủ thuyết Hitler tự tuyên bố như là nền dân chủ thực sự và lẫn chủ nghĩa xã hội thực sự, và cái sự thật khủng khiếp là có một hạt chân lý cho những tuyên bố như thế –một hạt vi phân, thật đúng nghĩa, nhưng ở bất cứ trường hợp nào đủ để phục vụ như là một cơ bản cho những biến dạng ảo tưởng như thế.

p31

Chủ thuyết Hitler thậm chí còn đi rất xa như khi tuyên bố vai trò của người bảo vệ Cơ Đốc Giáo, và cái sự thật khủng khiếp là ngay cả sự diễn giải sai lạc trắng trợn nầy có thể tạo nên một số ấn tượng nào đó. Nhưng một sự kiện thực tế nổi bật với độ rõ nét hoàn hảo trong tất cả sương mù: Hitler đã chưa từng bao giờ tuyên bố là đại diện cho chủ nghĩa tự do thật sự. Chủ nghĩa tự do sau đó có sự phân biệt là một học thuyết bị thù ghét nhất bởi Hitler.1

Cũng nên nói thêm rằng sự thù ghét nầy có một ít cơ hội cho thấy chính nó trong cách thực hành chỉ đơn thuần bởi vì, vào thời điểm mà Hitler lên nắm quyền, chủ nghĩa tự do đối với mỗi ý nghĩa thực tiển thật ra là đã chết ở nước Đức. Và chính là chủ nghĩa xã hội vốn đã giết chết nó.

* * * * *

Trong khi đối với nhiều người vốn đã từng theo dõi sự biến chuyển từ chủ nghĩa xã hội sang chủ nghĩa phát-xít ở ngay trước mắt, sự kết nối giữa hai hệ thống càng lúc đã trở nên rõ ràng, ở đất nước nầy phần lớn người dân vẫn tin tưởng rằng chủ nghĩa xã hội và nền tự do có thể được kết hợp. Có thể là không có chút nghi ngờ nào rằng hầu hết những người theo chủ nghĩa xã hội ở đây vẫn tin tưởng một cách hoàn toàn vào lý tưởng tự do của nền tự do, và rằng họ sẽ giật nẫy người nếu họ càng lúc được thuyết phục rằng việc nhận ra chương trình của họ sẽ có nghĩa là sự phá hủy nền tự do. Càng còn quá ít cho người ta nhìn thấy vấn đề, càng rất dễ dàng cho hầu hết những lý tưởng không thể hòa giải vẫn sống chung với nhau, mà qua đó chúng ta vẫn có thể nghe thấy những mâu thuẫn như thế trong phần như là “chủ nghĩa xã hội của những người theo chủ nghĩa cá nhân” được nghiêm túc thảo luận. Nếu điều nầy là trạng thái của trí não vốn khiến cho chúng ta trôi dạt vào trong một thế giới mới, không có gì có thể cấp bách hơn là chúng ta nên nghiêm túc xem xét ý nghĩa thực sự của sự tiến hóa vốn đã xảy ra ở nơi nào khác.
=============
1 Tạp chí Social Research (Nghiên cứu về Xã hội) (New York), vol. VIII, No. 4, tháng Mười Một năm 1941. –Nó xứng đáng được nhắc lại trong sự kết nối nầy, bất cứ điều gì có thể đã là những lý do của ông ta, Hitler nghĩ rằng đó là điều thiết thực khi tuyên bố trong một bài phát biểu công khai trong số những bài khác của ông ta vào khoảng gần cuối tháng Hai năm 1941 rằng “về cơ bản, chủ nghĩa Quốc xã và chủ nghĩa Mác-xít thì như nhau” (Xem thêm “The Bulletin of International News” (“Bản tin về Tin tức Quốc tế”) được xuất bản bởi Học Viện Hoàng gia về Vấn đề Quốc tế, vol. XVIII, No. 5, p. 269).
=============

p32

Mặc dù những kết luận của chúng ta sẽ chỉ xác nhận những hiểu biết mà những người khác đã bày tỏ rồi, những lý do tại sao sự phát triển nầy không thể được xem như là ngẫu nhiên, sẽ không xuất hiện mà không có một sự giám định khá đầy đủ về những khía cạnh chính của sự chuyển đổi nầy của đời sống xã hội. Chủ nghĩa xã hội dân chủ đó, một đại đồng không tưởng của một số ít thế hệ vừa qua, không chỉ là không thể thực hiện được, tuy rằng cố gắng thực hiện vì nó, sinh sản một cái gì đó rất hoàn toàn khác biệt đến nổi một số ít trong số những người vốn hiện thời mong ước rằng nó sẽ được chuẩn bị để chấp nhận những hậu quả, nhiều người sẽ không tin tưởng cho đến khi sự kết nối đã được phơi bày trần trụi trong tất cả những khía cạnh của nó.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

Advertisements

15 thoughts on “Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng

  1. Pingback: Chương 01: Con đường Bỏ hoang |

  2. Pingback: Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể |

  3. Pingback: Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định |

  4. Pingback: Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ |

  5. Pingback: Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp |

  6. Pingback: Chương 07: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị |

  7. Pingback: Chương 08: Ai làm, ai chịu ? |

  8. Pingback: Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do |

  9. Pingback: Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao |

  10. Pingback: Chương 11: Phần Cuối của Sự thật |

  11. Pingback: Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã |

  12. Pingback: Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta |

  13. Pingback: Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng |

  14. Pingback: Chương 15 (Hết) : Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế |

  15. Pingback: Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch (Mục Lục & Lời Giới thiệu) |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s