Chương 01: Con đường Bỏ hoang

p10

Chương 01: Con đường Bỏ hoang

“Một chương trình mà luận điểm cơ bản của nó thì, không phải là
một hệ thống kinh doanh tự do vì lợi nhuận đã thất bại trong thế
hệ nầy, nhưng là nó chưa được thử nghiệm.”

F.D. Roosevelt

Khi chiều hướng của nền văn minh quẹo sang hướng không ai nghĩ đến, khi thay vì sự tiến hành liên tục mà chúng ta đã đi đến như mong đợi, chúng ta tìm thấy chính mình bị đe dọa bởi những cái ác được liên đới bởi chúng ta với những thời kỳ đã qua của tính chất man rợ, chúng ta đương nhiên đổ lỗi cho bất cứ điều gì ngoại trừ chính mình. Có phải chăng tất cả chúng ta đã không cố gắng hết sức mình theo nguồn ánh sáng tốt nhất của chúng ta, và phần nhiều những tâm trí tinh tế nhất của chúng ta đã không làm việc liên tục để tạo ra một thế giới tốt hơn ? Có phải chăng tất cả những nỗ lực và hy vọng của chúng ta đã được điều hành trực tiếp hướng đến sự tự do, công bằng và thịnh vượng mỹ mãn hơn ? Nếu kết quả thì rất khác so với những mục đích của chúng ta, nếu, thay vì sự tự do và thịnh vượng, sự câu thúc và khốn khổ nhìn chằm chằm vào mặt chúng ta, có phải chăng điều không rõ ràng là những lực lượng đầy sát khí ắt hẳn đã đánh bại những ý định của chúng ta, chúng ta là những nạn nhân của một quyền lực độc ác nào đó vốn phải được chinh phục trước khi chúng ta có thể tiếp tục con đường đi đến những điều tốt hơn ?

p11

Tuy nhiên, phần lớn chúng ta có thể khác nhau khi chúng ta đặt tên cho thủ phạm, cho dù đó là những người tư bản đồi tinh quái hoặc thần linh xấu xa của một dân tộc riêng biệt, sự ngu ngốc của những người lớn tuổi của chúng ta, hoặc một hệ thống xã hội chưa có, mặc dù chúng ta đã đấu tranh chống lại điều đó trong nửa thế kỷ, đã lật đổ hoàn toàn –tất cả chúng ta, hoặc ít ra là cho đến gần đây, chắc chắn một điều: rằng những ý tưởng hàng đầu mà trong suốt thế hệ vừa qua đã trở thành phổ biến đối với hầu hết mọi người có thiện chí và đã định đoạt những thay đổi lớn trong đời sống xã hội của chúng ta, không thể nào đã là sai lầm. Chúng ta sẵn sàng chấp nhận hầu như bất kỳ lời giải thích nào về cuộc khủng hoảng hiện thời của nền văn minh của chúng ta, ngoại trừ một điều: đó là tình trạng hiện tại của thế giới có thể là kết quả của lỗi lầm đích thực về phần của riêng chúng ta, và việc theo đuổi một số trong những lý tưởng ấp ủ nhất của chúng ta đã hiển nhiên tạo ra những kết quả hoàn toàn khác biệt so với những kết quả mà chúng ta mong đợi.
Trong khi tất cả những năng lực của chúng ta được điều hành trực tiếp cho việc đưa cuộc chiến nầy đi đến một kết thúc vẻ vang, đôi khi đó là điều khó khăn khi nhớ rằng ngay cả trước khi chiến tranh những giá trị mà chúng ta hiện thời đang chiến đấu, đã bị đe dọa ở nơi nầy và bị phá hủy ở nơi khác. Mặc dù trong thời gian hiện tại, những lý tưởng khác biệt được tiêu biểu bởi các quốc gia thù nghịch đang đấu tranh cho sự tồn tại của mình, chúng ta không được quên rằng cuộc xung đột nầy đã phát triển ra khỏi cuộc đấu tranh của những ý tưởng trong phạm vi cái gì đó, cách đây không quá lâu, là một nền văn minh Âu châu chung; và những khuynh hướng vốn đã lên đến đỉnh điểm trong việc tạo ra những hệ thống độc tài toàn trị, không bị giới hạn ở các quốc gia vốn đã không chống nổi chúng. Mặc dù công việc trước tiên hiện thời phải là chiến thắng cuộc chiến, chiến thắng nó sẽ chỉ đạt được một cơ hội khác cho chúng ta để đối mặt với những nan đề cơ bản và tìm cách ngăn ngừa số phận vốn đã bắt kịp những nền văn minh cùng nguồn gốc.
Bây giờ, đó là điều hơi khó khăn khi nghĩ về nước Đức và Ý, hay về Nga, không như những thế giới khác biệt, nhưng như là những sản phẩm của sự phát triển về tư tưởng mà trong đó chúng ta đã chia sẻ; đó là điều, ít nhất là cho đến nay những kẻ thù của chúng ta cảm thấy quan tâm đến, dễ dàng hơn và an ủi hơn khi nghĩ rằng họ hoàn toàn khác với chúng ta và điều gì đã xảy ra ở đó, không thể xảy ra ở đây. Tuy thế, lịch sử của các nước nầy trong những năm trước khi việc nổi lên của hệ thống toàn trị đã cho thấy một ít nét nổi bật mà chúng ta không quen thuộc lắm.

p12

Cuộc xung đột bên ngoài là một kết quả của sự chuyển biến tư tưởng Âu châu mà những nước khác đã di chuyển nhanh hơn rất nhiều như khi mang chúng vào trong cuộc xung đột không thể hòa giải với những lý tưởng của chúng ta, nhưng qua đó đã không rời khỏi chúng ta mà không bị ảnh hưởng.
Mà qua đó một sự thay đổi những ý tưởng, và sức mạnh của ý chí con người, đã tạo ra một thế giới như là cái thế giới hiện thời, mặc dù con người đã không nhìn thấy trước những kết quả, và qua đó không có một sự thay đổi tự phát trong những sự kiện thực tế buộc chúng ta vì thế thích ứng với tư tưởng của mình, có lẽ là một điều khó khăn riêng biệt cho người Anh hiểu được, chỉ vì trong sự phát triển nầy người Anh, may mắn thay cho họ, đã tụt lại phía sau hầu hết các dân tộc Âu châu. Chúng ta vẫn nghĩ về những lý tưởng vốn hướng dẫn chúng ta và đã từng hướng dẫn chúng ta đã trong thế hệ qua như những lý tưởng chỉ được nhận ra trong tương lai, và không được nhận biết là trong hai mươi lăm năm qua chúng đã thực sự chuyển đổi bao xa, không chỉ là trên thế giới, mà còn trên đất nước nầy. Chúng ta vẫn tin rằng cho đến lúc khá gần đây chúng ta đã bị chi phối bởi điều gì đó được gọi một cách mơ hồ là những ý tưởng của thế kỷ mười chín hoặc nguyên tắc laissez-faire (i.e. không can thiệp).(pc 02) Nếu so với một số quốc gia khác, và từ quan điểm của những người thiếu kiên nhẫn nhằm gia tăng tốc độ thay đổi, có thể có một sự biện minh nào đó cho niềm tin như thế. Nhưng dù thế cho đến năm 1931, đất nước nầy đã theo chỉ là một cách chậm chạp trên con đường mà những nước khác đã dẫn dắt, thậm chí đến lúc chúng ta đã di chuyển cho đến nay mà chỉ những người với ký ức của họ quay trở lại những năm trước cuộc chiến tranh cuối cùng, biết được một thế giới tự do đã từng giống như cái gì.1
Một điểm quan trọng về những người dân nào ở đây vẫn còn rất ít nhận thức được là, tuy nhiên, không chỉ đơn thuần là mức độ to lớn của những thay đổi vốn đã diễn ra trong suốt thế hệ vừa qua, nhưng sự kiện thực tế là chúng mang ý nghĩa cho một sự thay đổi hoàn toàn theo chiều hướng của sự tiến triển những ý tưởng và trật tự xã hội của chúng ta.
=============
1 Ngay cả trong năm đó, Báo cáo Macmillan (i.e. Báo cáo của Ủy ban Tài chánh và Kỷ nghệ, còn được gọi tắt là Ủy ban Macmillan, bao gồm hầu hết những nhà kinh tế, được thành lập bởi chính phủ Anh Quốc sau vụ sụp đổ thị trường chứng khoán vào năm 1929) có thể đã nói rồi về “sự thay đổi cách nhìn của chính phủ đất nước nầy trong những lần gần đây, sự bận tâm ngày càng tăng của nó, bất chấp đảng phái nào, với việc quản lý đời sống của người dân” và thêm rằng “Nghị viện tìm thấy chính mình ngày càng tham gia vào việc ban hành pháp luật mà qua đó vì mục đích có ý thức của mình có quy định về những công việc hằng ngày của cộng đồng và bây giờ can thiệp vào những vấn đề trước đó được cho là hoàn toàn nằm ngoài phạm vi của nó”. Điều nầy có thể nói đến trước khi, sau nầy trong cùng một năm, đất nước cuối cùng là đã liều lĩnh đâm đầu vào, và trong khoảng không gian ngắn của những năm chẳng vẻ vang gì từ năm 1931đến 1939, đã chuyển đổi hệ thống kinh tế của nó đến không còn nhận ra được.
=============

p13

Trong ít nhất là hai mươi lăm năm trước, bóng ma của chủ nghĩa toàn trị đã trở thành một mối đe dọa thực sự, chúng ta đã và đang dần dần di chuyển xa khỏi những ý tưởng cơ bản mà trên đó nền văn minh Âu châu đã được xây dựng nên. Mà qua đó sự chuyển động nầy trên điều mà chúng ta đã bước vào với những hy vọng và tham vọng cao xa như thế, đáng lẽ ra đã mang chúng ta ra mặt đối mặt với nỗi kinh hoàng của sự độc tài toàn trị, đã xuất hiện như là một sự sửng sốt hoàn toàn đối với thế hệ nầy, vốn vẫn từ chối kết nối hai sự kiện thực tế. Tuy nhiên, sự phát triển nầy chỉ xác nhận những lời cảnh cáo của những cha đẻ triết lý tự do mà chúng ta vẫn tuyên nhận. Chúng ta đã dần dần bỏ rơi quyền tự do trong những vấn đề kinh tế mà không có quyền tự do cá nhân và chính trị nào vốn chưa bao giờ tồn tại trong quá khứ. Mặc dù chúng ta đã được cảnh cáo bởi một số trong những nhà tư tưởng chính trị vĩ đại nhất của thế kỷ mười chín, bởi de Tocqueville và Lord Acton, rằng chủ nghĩa xã hội có nghĩa là sự nô lệ, chúng ta đã đều đặn di chuyển theo chiều hướng của chủ nghĩa xã hội. Và bây giờ qua đó chúng ta đã nhìn thấy một hình thức mới của cảnh nô lệ trỗi sinh trước mắt của chúng ta, chúng ta đã hoàn toàn thật sự quên đi lời cảnh cáo, mà việc đó hiếm khi khiến cho chúng ta nghĩ rằng hai điều có thể được nối kết lại.1

(Alexis-Charles-Henri Clérel de Tocqueville hay còn được gọi là Alexis de
Tocqueville (1805–1859), là một nhà tư tưởng vĩ đại của Pháp, cũng là một
nhà sử gia, đã từng cảnh cảo rằng chủ nghĩa xã hội có nghĩa là sự nô lệ)

(John Emerich Edward Dalberg-Acton, 1st Baron Acton hoặc đơn giản
là Lord Acton (1834–1902), cũng là một nhà tư tưởng vĩ đại vào thế
kỷ 19 của Anh Quốc, còn là một sử gia, nhà văn, và chính khách, và
đã cũng từng lên tiếng cảnh cáo như Alexis de Tocqueville đã nói)

Sự phá vỡ sắc bén đến như thế nào không chỉ với quá khứ gần đây nhưng với toàn bộ sự tiến triển của nền văn minh Tây phương, một khuynh hướng hiện đại hướng đến phương cách của chủ nghĩa xã hội, càng lúc trở nên rõ ràng nếu chúng ta suy xét nó không chỉ đơn thuần là đối với bối cảnh của thế kỷ mười chín, nhưng ở một góc độ lịch sử dài hơn. Chúng ta đang nhanh chóng từ bỏ không phải là những quan điểm đơn thuần của Cobden và Bright, của Adam Smith và Hume, hoặc ngay cả của Locke và Milton, ngoại trừ một trong những đặc điểm nổi bật của nền văn minh Tây phương khi nó đã phát triển khỏi những nền tảng được lót bởi những người Cơ Đốc giáo và những người Hy Lạp, La Mã.
=============
1 Ngay cả những lời cảnh cáo rất gần đây hơn vốn đã chứng minh đúng vô cùng, hầu như đã bị lãng quên hoàn toàn. Chưa được ba mươi năm kể từ khi Ngài Hilaire Belloc, trong một cuốn sách vốn giải thích nhiều hơn về chuyện gì đã xảy ra kể từ lúc ở nước Đức hơn hầu hết những tác phẩm được viết ra sau sự kiện, đã giải thích rằng “ảnh hưởng của học thuyết Xã hội Chủ nghĩa trên xã hội Tư bản Chủ nghĩa là nhằm tạo ra một điều thứ ba khác biệt so với một trong hai điều sinh ra của nó –nghĩa là, một Tình trạng Nô dịch” (tác phẩm “The Servile State” (“Tình trạng Nô dịch”), năm 1913, in lần thứ 3 vào năm 1927, p. xiv).
=============

p14

Không chỉ đơn thuần là chủ nghĩa tự do của thế kỷ mười chín và mười tám, nhưng chủ nghĩa cá nhân cơ bản được kế thừa bởi chúng ta từ Erasmus và Montaigne, từ Cicero và Tacitus, Pericles và Thucydides, được dần dần từ bỏ.

(Desiderius Erasmus Roterodamus hoặc được gọi tắt là Erasmus
(1466–1536), là nhà nhân loại học, thần học, một nhà phê bình về
xã hội, nhà giáo, và là thầy dòng Thiên Chúa giáo gốc Hòa Lan
trong thời kỳ Phục hưng)

(Michel Eyquem de Montaigne hoặc Michel de Montaigne
(1533–1592) là một trong những nhà văn có ảnh hưởng nhất
trong thời kỳ Phục hưng của Pháp)

(Marcus Tullius Cicero (106 BC–43 BC), là một luật sư, nhà triết
học, nhà hùng biện, nhà chính trị, nhà thần học về chính trị, nhà
tham vấn, và là nhà lập hiến gốc La Mã)

Nhà lãnh đạo Đức Quốc xã vốn là người đã mô tả cuộc cách mạng Quốc xã như là một thời kỳ phản Phục hưng, nói thành thật hơn so với ông ta có lẽ biết. Chính là bước quyết định trong việc phá vỡ nền văn minh đó mà con người hiện đại đã từng xây dựng từ thời kỳ Phục hưng và trên hết là một nền văn minh của những người theo chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân có một cái tên xấu ngày hôm nay và thuật ngữ cuối cùng đã được kết nối với chủ nghĩa tự cao và tính chất ích kỷ. Nhưng chủ nghĩa cá nhân mà chúng ta nói đến, trái ngược với chủ nghĩa xã hội và tất cả những hình thức khác của chủ nghĩa tập thể, không có một sự kết nối cần thiết nào với những chủ nghĩa nầy. Chỉ dần dần trong chiều hướng của cuốn sách nầy, chúng ta sẽ có thể làm rõ sự tương phản giữa hai nguyên tắc đối lập. Nhưng những nét nổi bật thiết yếu của chủ nghĩa cá nhân đó, từ những yếu tố được cung cấp bởi Cơ đốc giáo và triết học của thời cỗ đại, lần đầu tiên được phát triển đầy đủ trong suốt thời kỳ Phục hưng và đã tăng trưởng kể từ đó và lan ra vào trong cái gì mà chúng ta biết đến như là nền văn minh Tây Âu –một sự tôn trọng dành cho một cá nhân, một người trong vai trò của một người, đó là sự nhìn nhận những quan điểm và thị hiếu của riêng mình như là sự tối cao trong khoảng không gian của riêng mình, tuy nhiên thu hẹp lại điều đó có thể được kẻ vòng hạn chế, và niềm tin vốn chính là điều ước muốn mà con người sẽ phát triển tài năng và năng khiếu cá nhân của riêng mình. “Quyền Tự do” và “sự tự do” bây giờ là những từ ngữ rất sáo mòn với việc sử dụng và lạm dụng mà người ta phải ngần ngại dùng đến chúng để bày tỏ những lý tưởng mà họ giữ vững quan điểm trong suốt giai đoạn đó. Sự khoan dung, có lẽ, là từ ngữ duy nhất vốn vẫn còn bảo tồn ý nghĩa đầy đủ của nguyên tắc mà trong suốt toàn bộ thời kỳ nầy đang ở trong tình trạng dâng cao và chỉ trong những lần gần đây đã rơi vào tình trạng đi xuống một lần nữa, biến mất hoàn toàn với sự trỗi dậy của nhà nước độc tài toàn trị.

(Publius (hoặc Gaius) Cornelius Tacitus (56 AD–117 AD), là
một nghị sĩ của Đế quốc La Mã, và cũng là một nhà sử học)

(Pericles (495 BC– 429 BC) là một chính khách Hy Lạp nổi bất
và có ảnh hưởng nhất, cũng là nhà hùng biện và là vị Tướng của
thành Nhã Điển trong suốt thời kỳ Kim hoàng)

(Thucydides (460 BC–395 BC) là nhà sử học
Hy Lạp và là vị Tướng của thành Nhã Điển)

p15

Sự chuyển đổi dần dần của một hệ thống được tổ chức theo thứ bậc một cách cứng ngắt trở thành một hệ thống nơi mà người ta ít ra có thể cố gắng định hướng cuộc sống của riêng mình, nơi mà con người có được cơ hội để biết và chọn lựa giữa những hình thức khác biệt của cuộc sống, được kết hợp gần gũi với sự tăng trưởng của thương mại. Từ những thành phố thương mại của vùng phía bắc nước Ý, một quang cảnh mới của cuộc sống trải ra với thương mại đến phía tây và bắc, xuyên qua Pháp và vùng phía tây nam của nước Đức đến những Quốc gia Đất thấp và quần đảo Anh Quốc, bám rễ vững chắc ở bất cứ nơi nào không có quyền lực chính trị chuyên chế bóp chết nó. Ở những Quốc gia Đất thấp và Anh Quốc, trong một thời gian dài nó hưởng được sự phát triển đầy đủ nhất của nó và trong lần đầu tiên có một cơ hội để tăng trưởng một cách tự do và trở thành nền tảng của đời sống xã hội và chính trị của những đất nước nầy. Và nó đã từ nơi đó mà trong những thế kỷ mười bảy và mười tám nó đã bắt đầu một lần nữa lan ra trong một hình thức được phát triển đầy đủ hơn đến Tây Âu và Đông Âu, đến Thế giới Mới và trung tâm lục địa Âu châu, nơi mà những cuộc chiến tranh tàn phá và sự đàn áp chính trị đã nhận chìm phần lớn những khởi đầu trước đó của sự tăng trưởng tương tự.1
Trong suốt toàn bộ giai đoạn hiện đại nầy của lịch sử Âu châu, chiều hướng chung của sự phát triển về xã hội là một phát triển về việc giải thoát những cá nhân khỏi những ràng buộc vốn đã từng trối buộc anh ta vào những cách tập quán hoặc quy định trong việc theo đuổi các hoạt động bình thường của mình. Việc nhận biết có ý thức mà những nỗ lực tự phát và không kiểm soát được của những cá nhân có khả năng sản sinh một trật tự phức tạp của những hoạt động về kinh tế, có thể chỉ đến sau khi sự phát triển nầy đã tạo nên một vài tiến triển nào đó. Việc chuẩn bị công phu tiếp theo của một lý lẽ kiên định trong sự ủng hộ quyền tự do về kinh tế là một kết quả của một sự tăng trưởng tự do của hoạt động kinh tế vốn đã từng là một sản phẩm phụ không định trước và không lường trước của quyền tự do về chính trị.
============
1 Một định mệnh khắc khe nhất của những phát triển nầy, cưu mang với những sự việc theo sau chưa dặp tắt, là sự khuất phục và sự phá hủy một phần giai cấp tư sản Đức bởi các vị hoàng tử lãnh địa trong thế kỷ mười lăm và mười sáu.
=============

p16

Có lẽ, kết quả to lớn nhất của tháo xích những năng lực cá nhân là sự tăng trưởng tuyệt diệu của khoa học vốn theo sau bước tiến của sự tự do cá nhân từ Ý đến Anh Quốc và xa hơn nữa. Mà qua đó tài năng sáng tạo của con người đã không kém hơn trong những giai đoạn trước đó, được thể hiện bằng nhiều món đồ chơi tự động rất khéo léo và những bộ phận máy móc sách chế khác được xây dựng trong khi kỹ thuật về kỹ nghệ vẫn còn cố định, và bằng sự phát triển trong một số kỹ nghệ, như khai thác khoáng sản hoặc sản xuất đồng hồ, vốn không phãi chịu những sự kiểm soát chặt chẽ. Nhưng một số ít cố gắng hướng tới việc sử dụng kỹ nghệ được mở rộng hơn cho những phát minh về máy móc, một số sáng chế cực kỳ tiên tiến, đã bị dập tắt mau chóng, và sự khao khát kiến thức đã bị bóp chết, miễn là những quan điểm khống chế đã được bám giữ nhằm ràng buộc tất cả: những niềm tin của đại đa số về điều gì là đúng và thích hợp, được cho phép ngăn chận cách thức của người sáng tạo đổi mới riêng lẽ. Chỉ từ khi quyền tự do về kỹ nghệ mở ra con đường dẫn đến việc sử dụng tự do kiến thức mới, vì mọi thứ có thể được thử nghiệm –nếu một người nào đó có hứng thú muốn thử, là chuyện tự gánh lấy sự rủi ro của riêng mình– và, kiến thức sẽ được bổ sung, thường xuyên như không phải từ bên ngoài những người có thẩm quyền được chính thức giao phó việc mở mang học hỏi, chỉ có khoa học đã tạo nên những bước tiến vĩ đại mà trong một trăm năm mươi năm qua đã thay đổi bộ mặt của thế giới.
Như vẫn thường là sự thật, bản chất của nền văn minh của chúng ta đã được nhìn thấy rõ bởi những kẻ thù của nó hơn hầu hết những người bạn của nó: “một căn bệnh lâu năm của Tây phương, một cuộc nổi dậy của những cá thể chống lại loài người”, như một nhà độc tài toàn trị của thế kỷ mười chín, Auguste Comte, đã mô tả điều đó, quả thật là một sức mạnh vốn xây dựng nền văn minh của chúng ta. Điều mà thế kỷ mười chín thêm vào chủ nghĩa cá nhân của giai đoạn trước đó chỉ đơn thuần là làm cho tất cả tầng lớp có ý thức về quyền tự do, phát triển một cách có hệ thống và liên tục cái gì đó vốn đã tăng trưởng theo một cách ngẫu nhiên và chắp vá và để lan rộng nó ra từ Anh Quốc và Hòa Lan trên hầu hết Lục địa Âu châu.
Kết quả của sự tăng trưởng nầy đã vượt qua tất cả những mong đợi. Bất cứ nơi nào những hàng rào cản chống lại việc thực hành tự do về tính chất khéo léo của nhân loại đã được loại bỏ, con người nhanh chóng càng lúc có thể thỏa mản cả một phạm vi mở rộng từng có của sự ước muốn khao khát.

p17

Và trong khi tiêu chuẩn đang nâng lên chẳng bao lâu đã dẫn đến việc phát hiện ra những vết rất đen trong xã hội, những vết mà nhân loại không còn sẵn sàng chịu đựng, có lẽ không có một tầng lớp nào vốn đã không hưởng lợi một cách đáng kể từ bước tiến triển chung chung. Chúng ta không thể làm công việc phán xét đối với sự tăng trưởng đáng kinh ngạc nầy nếu chúng ta đo lường nó bằng những tiêu chuẩn hiện tại của chúng ta, mà chính những tiêu chuẩn tạo kết quả từ sự tăng trưởng nầy và bây giờ tạo ra nhiều khiếm khuyết rõ ràng. Đánh giá cao điều gì mà nó có ý nghĩa đối với những người vốn tham gia vào nó, chúng ta phải đo lường nó bằng những hy vọng và mong muốn mà con người đã bám lấy khi nó bắt đầu: và có thể không có một nghi ngờ nào rằng sự thành công của nó đã vượt qua những giấc mơ ngông cuồng nhất của con người, rằng vào đầu thế kỷ hai mươi, một người làm việc trong thế giới Tây phương đã đạt đến một mức độ tiện nghi về vật chất, sự an ninh, và quyền độc lập cá nhân mà một trăm năm trước đã dường như hiếm khi có thể có.
Điều mà trong tương lai có thể sẽ xuất hiện một ảnh hưởng quan trọng và sâu rộng nhất của sự thành công nầy, là cảm giác mới của quyền lực trên số phận của riêng họ, niềm tin trong những điều có thể xảy ra không giới hạn của việc cải thiện số mệnh của riêng họ, mà sự thành công đã thực sự đạt được rồi, đã tạo ra giữa nhân loại. Với sự thành công làm tăng trưởng sự tham vọng –và con người đã có mọi quyền để được tham vọng. Cái gì đó đã từng là một lời hứa gây cảm hứng dường như không còn đủ cảm hứng, tốc độ tiến triển rất quá chậm; và những nguyên tắc vốn đã làm cho sự tiến triển nầy có thể có trong quá khứ, cuối cùng được xem như là những trở ngại nhiều hơn đối với sự tiến triển gia tăng nhanh hơn, bị tống đi khỏi một cách nôn nóng, so với những điều kiện cho việc bảo tồn và phát triển cái gì đã đạt được rồi.

* * * * *

Không có gì trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa tự do để làm cho nó trở thành một tín điều cố định, không có những quy tắc nào bó buộc cứng ngắt được chọn dứt khoát một lần cho xong. Nguyên tắc cơ bản mà trong việc sắp xếp trật tự những các vấn đề của chúng ta, chúng ta nên tận dụng phần lớn như có thể những lực lượng tự phát của xã hội, và dùng đến phương sách ít như có thể đối với sự ép buộc, có khả năng về sự đa dạng vô tận của những ứng dụng.

p18

Tất cả, trong riêng biệt, có sự khác biệt giữa việc cố tình tạo ra một hệ thống trong một phạm vi mà qua đó sự cạnh tranh sẽ tác động có lợi như có thể, và thụ động chấp nhận những tổ chức như chúng là thế. Có lẽ, không có gì đã làm rất nhiều tác hại cho nguyên nhân của sự tự do như sự khăng khăng như gỗ của một số tự do trên những quy tắc qua kinh nghiệm, không đúng hẳn nào đó, trên hết là nguyên tắc laissez-faire (i.e. không can thiệp).(pc 02) Tuy nhiên, trong một ý nghĩa, điều nầy là cần thiết và tất yếu. Chống lại những lợi ích vô số ai đã có thể cho thấy rằng những biện pháp cụ thể sẽ đem lại những lợi ích tức thời và hiển nhiên trên một số người, trong khi sự thiệt hại mà họ gây ra thì không trực tiếp và khó nhìn thấy nhiều hơn, không thiếu gì một quy tắc bó buộc cứng ngắt nào đó đã có thể có hiệu quả. Và kể từ khi một giả định mạnh mẽ ủng hộ sự tự do về kỹ nghệ đã chắc chắn được thiết lập, sự cám dỗ khi trình bày nó như là một quy luật vốn không biết những ngoại lệ nào, thì luôn luôn quá mạnh không thể bị chống đối.
Nhưng với thái độ nầy được chọn lấy bởi nhiều người truyền bá về học thuyết tự do, đó là điều gần như tất yếu mà, một khi vị trí của họ đã bị xuyên thủng ở một vài điểm nào đó, nó chẳng bao lâu sẽ sụp đổ như là một khối. Vị trí bị suy yếu hơn nữa bởi sự tiến triển chậm rãi quen thuộc của một chính sách vốn nhắm vào việc cải tiến dần dần khuôn khổ thể chế của một xã hội tự do. Sự tiến triển nầy phụ thuộc vào việc tăng trưởng sự hiểu biết của chúng ta về các lực lượng xã hội và điều kiện thuận lợi nhất đối với lối làm việc của họ theo cách như muốn. Vì công việc là phải trợ giúp, và nơi nào cần thiết bổ sung, sự hoạt động của họ, điều kiện tiên quyết là phải hiểu về chúng. Thái độ của sự tự do hướng đến xã hội thì giống như thế đó của người làm vườn vốn chăm sóc cây trồng và nhằm mục đích tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất nhất cho sự tăng trưởng của nó, phải biết nhiều như có thể về cấu trúc của nó và cách nó sinh động.
Không một người biết lý lẽ nào đã dám nghi ngờ rằng những quy tắc thô thiển mà trong đó các nguyên tắc về chính sách kinh tế của thế kỷ mười chín được thể hiện, chỉ là một sự khởi đầu, mà chúng ta phải còn học hỏi nhiều, và qua đó vẫn có rất nhiều những điều có thể có của sự tiến xa trên những đường kẻ mà trên đó chúng ta đã từng di chuyển. Nhưng bước tiến nầy chỉ có thể đến khi chúng ta càng lúc thắng thế về tri thức hơn những lực lượng mà chúng ta buộc phải sử dụng.

p19

Có nhiều công việc hiển nhiên, chẳng hạn như việc giải quyết của chúng ta về hệ thống tiền tệ, và việc ngăn ngừa hoặc kiểm soát sự độc quyền, và một số lượng thậm chí to lớn hơn của những công việc ít rõ ràng nhưng khó mà kém quan trọng hơn được gánh vác trong các lãnh vực khác, nơi mà có thể không có chút nghi ngờ nào rằng những chính phủ nắm giữ những quyền lực to lớn đối với điều thiện và điều ác; và có mọi lý do để kỳ vọng rằng với một sự hiểu biết tốt hơn về những nan đề, một ngày nào đó chúng ta sẽ có thể sử dụng những quyền lực nầy một cách thành công.
Nhưng trong khi sự tiến triển hướng đến cái gì thường được gọi là hành động “tích cực”, thì hẳn là chậm chạp, và trong khi đối với sự cải tiến trước mắt, chủ nghĩa tự do đã phải dựa vào phần lớn sự gia tăng dần dần của sự sung túc mà quyền tự do đã mang lại, nó đã phải liên tục chiến đấu chống lại những điều đưa ra vốn đe dọa sự tiến triển nầy. Điều đó cuối cùng được xem như là một tín điều “tiêu cực” vì nó có thể ban cho những cá nhân riêng biệt thêm một ít nhiều hơn phần chia sẻ trong sự tiến triển chung –sự tiến triển mà cuối cùng càng lúc càng cho là thế và không còn được nhìn nhận như là một kết quả của chính sách về quyền tự do. Điều đó thậm chí có thể được nói rằng sự thành công thực sự của chủ nghĩa tự do đã trở thành nguyên nhân của sự suy giảm của nó. Bởi vì sự thành công thực sự đạt được, con người ngày càng trở nên không muốn chịu đựng những điều xấu xa vẫn còn với anh ta mà qua đó hiện thời dường như không thể chịu nổi cũng như không cần thiết.

* * * * *

Bởi vì sự thiếu kiên nhẫn ngày càng tăng thêm với bước tiến chậm chạp của chính sách tự do, sự bực tức đích đáng với những người vốn sử dụng cách diễn đạt tự do trong việc bảo vệ những đặc quyền chống-xã-hội, và sự tham vọng vô tận dường như được chứng minh là đúng bởi những cải tiến về vật chất đã đạt được, nó đã xảy ra là vào khoảng khúc quanh của thế kỷ, sự tin tưởng vào những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa tự do càng lúc càng bị từ bỏ nhiều hơn. Điều mà đã đạt được cuối cùng được xem như là một sự bảo đảm và là vật sở hữu vĩnh viễn, thu được dứt khoát một lần.

p20

Những đôi mắt của người dân càng lúc dán chặt lên những nhu cầu mới, sự thỏa mản nhanh chóng về điều mà dường như bị ngăn cấm bởi việc gắn bó với những nguyên tắc cũ. Điều đó đã trở thành càng lúc càng được chấp nhận rộng rãi hơn đến nổi bước tiến xa hơn không thể được kỳ vọng theo những đường hướng xưa trong phạm vi khuôn khổ chung chung vốn đã tạo nên sự tiến triển trong quá khứ có thể xảy ra, nhưng chỉ nhờ vào việc tu sửa hoàn hoàn xã hội. Điều đó không còn là một câu hỏi về việc thêm vào hoặc cải tiến máy móc hiện có, nhưng là về việc tháo bỏ hoàn toàn và thay thế nó. Và khi niềm hy vọng của thế hệ mới cuối cùng được tập trung vào một cái gì đó hoàn toàn mới mẻ, sự quan tâm và hiểu biết, cách hoạt động của xã hội đang tồn tại nhanh chóng suy tàn; và với sự suy giảm của sự hiểu biết về cách thức mà hệ thống tự do làm việc trên sự nhận thức của chúng ta về cái gì đó vốn phụ thuộc vào sự tồn tại của nó, cũng giảm đi.
Đây không phải là nơi để thảo luận về sự thay đổi nầy như thế nào trong quan điểm đã được dung dưỡng do việc chuyển đi không cần xét đoán sang những nan đề của xã hội về những thói quen suy nghĩ được sinh ra bởi mối bận tâm với những nan đề về kỹ thuật, những thói quen suy nghĩ của nhà khoa học tự nhiên và kỹ sư, về việc làm cách nào những điều nầy cùng một lúc nhắm đến việc làm mất lòng tin vào những kết quả của việc nghiên cứu trước đây về xã hội mà qua đó không phù hợp với những định kiến của họ, và việc áp đặt những lý tưởng của tổ chức trên một vòm trời mà họ cảm thấy không thích hợp với nó.1 Tất cả chúng ta ở đây quan tâm đến việc cho thấy là thái độ của chúng ta đối với xã hội đã thay đổi hoàn toàn như thế nào, mặc dù dần dần và bằng những bước gần như không thể cảm thấy được. Điều mà ở mỗi giai đoạn của quá trình thay đổi nầy đã xuất hiện chỉ là sự khác biệt về mức độ, trong tác động tích lũy của nó đã thực sự mang lại một sự khác biệt cơ bản giữa thái độ tự do xa xưa hơn đối với xã hội và cách giải quyết hiện thời những nan đề xã hội. Sự thay đổi chẳng khác gì là một sự đảo ngược hoàn toàn khuynh hướng mà chúng ta đã từng phác họa, một sự từ bỏ toàn bộ truyền thống chủ nghĩa cá nhân vốn đã tạo ra nền văn minh Tây phương.
=============
1 Tác giả đã từng thử cố gắng theo vết sự khởi đầu của sự phát triển nầy trong hai loạt bài viết về “Scientism and the Study of Society” (“Tính chất Khoa học và sự Nghiên cứu về Xã hội”)“The Counter-Revolution of Science” (Cuộc cách mạng Đối nghịch của Khoa học”) vốn xuất hiện trong Economica, trang 1941–44.
=============

p21

Theo những quan điểm hiện nay có ảnh hưởng lớn, câu hỏi là chúng ta có thể tận dụng hiệu quả nhất những lực lượng tự phát như thế nào, không còn được tìm thấy trong một xã hội tự do. Chúng ta đã thực sự cam kết không cần đến những lực lượng vốn sản sinh ra những kết quả không lường trước được và thay thế cơ chế khách quan và vô danh của thị trường bằng sự điều hành tập thể và “có ý thức” tất cả các lực lượng xã hội cho những mục đích được cố ý chọn lựa. Sự khác biệt không thể được minh họa hay hơn bằng một vị thế cực đoan được chiếm lấy trong một cuốn sách được hoan nghênh rộng rãi về chương trình của ai đó của cái gì được gọi là “việc hoạch định cho quyền tự do” mà chúng ta còn sẽ phải bình luận nhiều hơn một lần.

Chúng ta đã không bao giờ phải dựng lên và điều hành [Tiến sĩ Karl Mannheim viết] toàn bộ hệ thống của thiên nhiên như chúng ta buộc phải làm ngày hôm nay với xã hội… Nhân loại đang có khuynh hướng càng lúc càng điều chỉnh nhiều hơn toàn bộ đời sống xã hội của nó, mặc dù nó đã chưa bao giờ thử cố gắng tạo ra một thiên nhiên thứ hai.1

* * * * *

Điều quan trọng là sự thay đổi nầy trong khuynh hướng của những ý tưởng đã từng trùng hợp với sự đảo ngược chiều hướng mà trong đó những ý tưởng đã du hành vào không gian. Trong hơn hai trăm năm, những ý tưởng của Anh Quốc đã được lan rộng về phía đông. Luật tự do vốn đã đạt được ở Anh Quốc, dường như được định nhằm lan tỏa trên khắp thế giới. Đến vào khoảng năm 1870, triều đại của những ý tưởng nầy đã có thể đạt đến sự mở rộng về tận phía đông của nó. Từ đó trở đi, nó bắt đầu rút đi và một nhóm khác biệt của những ý tưởng, không thực sự là mới nhưng rất cũ, bắt đầu tiến vào từ Đông Âu. Nước Anh mất đi vai trò lãnh đạo về trí thức của mình trong lãnh vực chính trị, xã hội và trở thành một nước nhập cảng những ý tưởng. Trong sáu mươi năm kế tiếp, nước Đức trở thành trung tâm mà những ý tưởng được định phần cai trị thế giới trong thế kỷ hai mươi lan ra hướng đông và tây.
=============
1 Tác phẩm “Man and Society in an Age of Reconstruction” (“Con người và Xã hội trong một Kỷ nguyên Tái thiết”), 1940, p. 175.
=============

p22

Cho dù đó là Hegel hoặc Marx, List hoặc Schmoller, Sombart hoặc Mannheim, cho dù đó là chủ nghĩa xã hội trong hình thức cấp tiến hơn của nó hoặc chỉ đơn thuần là “sự tổ chức” hoặc “việc hoạch định” của một loại ít cấp tiến hơn, những ý tưởng của Đức ở mọi nơi được sẵn sàng nhập cảng vào và các tổ chức của Đức bắt chước theo. Mặc dù hầu hết những ý tưởng mới, và riêng biệt là chủ nghĩa xã hội, không bắt nguồn ở Đức, chính là ở nước Đức mà chúng đã được hoàn thiện và trong suốt một phần tư cuối của thế kỷ mười chín và một phần tư đầu của thế kỷ hai mươi mà qua đó chúng đã đạt đến sự phát triển đầy đủ nhất của mình. Bây giờ thường bị quên lãng về vai trò dẫn đầu thì rất đáng kể đến như thế nào mà nước Đức đã có trong suốt giai đoạn nầy trong sự phát triển về lý thuyết và thực hành của chủ nghĩa xã hội, mà qua đó một thế hệ trước khi chủ nghĩa xã hội trở thành một vấn đề nghiêm trọng ở đất nước nầy, nước Đức đã có một đảng xã hội chủ nghĩa to lớn trong nghị viện của mình, và cho đến khi cách đây không lâu lắm sự phát triển về học thuyết của chủ nghĩa xã hội thì gần như hoàn toàn được tiến hành ở nước Đức và Áo, vì thế ngay cả ngày hôm nay, cuộc thảo luận của Nga phần lớn tiến hành tiếp nơi mà những người Đức ngừng lại; hầu hết những nhà xã hội chủ nghĩa Anh Quốc vẫn không hay biết rằng phần lớn những nan đề mà họ bắt đầu khám phá, được thảo luận kỹ lưỡng bởi những nhà xã hội chủ nghĩa Đức từ lâu.
Sự ảnh hưởng về trí thức mà những nhà tư tưởng Đức đã có thể thực dụng trong suốt giai đoạn nầy trên toàn thế giới, được hỗ trợ không chỉ đơn thuần bởi sự tiến triển to lớn về vật chất của Đức nhưng thậm chí thêm nữa bởi tiếng tăm khác thường mà các nhà tư tưởng và những nhà khoa học Đức đã giành được trong suốt hàng trăm năm trước khi nước Đức một lần nữa đã trở thành một thành viên tổng thể và thậm chí dẫn dầu của nền văn minh Âu châu chung. Nhưng chẳng bao lâu nó phục vụ để trợ giúp sự lan tỏa từ nước Đức những ý tưởng được điều hành trực tiếp chống lại những nền tảng của nền văn minh đó. Chính những người Đức –hoặc ít ra là những người trong số họ vốn truyền ra những ý tưởng nầy– hoàn toàn nhận biết về cuộc xung đột: cái gì đó đã từng là di sản chung của nền văn minh Âu châu, đã trở thành là của họ, từ lâu trước Đức Quốc xã, một nền văn minh “Tây phương” –nơi mà chữ “Tây phương” đã không còn được sử dụng trong ý nghĩa xưa của Tây Âu nhưng cuối cùng có nghĩa là phía tây của sông Rhine. Chữ “Tây phương” trong ý nghĩa nầy là Chủ nghĩa Tự do và Dân chủ, Chủ nghĩa Tư bản và Chủ nghĩa Cá nhân, Tự do Giao dịch và bất kỳ hình thức nào về Chủ nghĩa Quốc tế hoặc tình yêu hòa bình.

p23

Nhưng bất chấp sự khinh miệt được che dấu không kín về một số lượng gia tăng từng có của những người Đức cho những lý tưởng Tây phương “nông cạn” đó, hoặc có lẽ bởi vì điều đó, người dân Tây Âu tiếp tục nhập cảng những ý tưởng Đức và thậm chí bị xui khiến để tin rằng những niềm tin chắc chắn trước đây của riêng họ chỉ đơn thuần đã là những lời giải thích duy lý về những lợi ích vị kỷ, rằng sự Giao dịch Tự do là một học thuyết được phát minh cho những lợi ích của Anh Quốc xa hơn nữa, và rằng những lý tưởng chính trị mà Anh Quốc đã ban cho thế giới, đã lỗi thời một cách thất vọng và là một điều đáng xấu hổ về nó.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

===========================================

Phụ Chú :
pc 02_ Laissez-faire (không can thiệp) : là một môi trường kinh tế mà trong đó những giao dịch giữa các bên tư nhân không bị bó buộc bởi những hạn chế, những thuế quan (thuế xuất nhập), và những khoản trợ cấp của chính phủ, chỉ có những quy định đủ để bảo vệ quyền sở hữu tài sản. Nhóm chữ laissez-faire là tiếng Pháp và theo nghĩa đen có nghĩa là “hãy để cho [họ] làm”, nhưng nó ngụ ý rộng rãi là “để mặc nó”, “hãy để cho họ làm như họ muốn,” hoặc “đừng đụng chạm đến.”

Advertisements

15 thoughts on “Chương 01: Con đường Bỏ hoang

  1. Pingback: Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng |

  2. Pingback: Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể |

  3. Pingback: Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định |

  4. Pingback: Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ |

  5. Pingback: Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp |

  6. Pingback: Chương 07: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị |

  7. Pingback: Chương 08: Ai làm, ai chịu ? |

  8. Pingback: Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do |

  9. Pingback: Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao |

  10. Pingback: Chương 11: Phần Cuối của Sự thật |

  11. Pingback: Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã |

  12. Pingback: Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta |

  13. Pingback: Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng |

  14. Pingback: Chương 15 (Hết) : Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế |

  15. Pingback: Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch (Mục Lục & Lời Giới thiệu) |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s