Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch (Mục Lục & Lời Giới thiệu)

Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch
(The Road to Serfdom)

(1944)
Friedrich August Hayek (1899–1992)

“Cuốn sách nầy đã trở thành một tác phẩm cỗ điển thực sự: thứ sách đọc
cần thiết dành cho mọi người vốn cảm thấy rất nhiều thú vị về chính trị
trong ý nghĩa về đảng phái rộng lớn nhất và nhỏ nhoi nhất.”

Milton Friedman

“Cuốn sách nầy nên được đọc bởi mọi người. Không cần nói rằng có
rất nhiều người vốn không quan tâm đến chính trị; vấn đề chính trị
được thảo luận bởi Tiến sĩ Hayek liên quan đến mỗi mọi thành
viên của cộng đồng.”

The Listener

Mục Lục
Lời tựa… vii
Lời Giới thiệu… 01
Chương 01: Con đường Bỏ hoang… 10
Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng… 24
Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể… 33
Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định… 45
Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ… 59
Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp… 75
Chương 07: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị… 91
Chương 08: Ai làm, ai chịu ?… 105
Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do… 123
Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao… 138
Chương 11: Phần Cuối của Sự thật… 157
Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã… 171
Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta… 186
Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng… 207
Chương 15: Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế… 225

và Kết luận… 245

===========================================

pvii

Lời tựa

Khi một học sinh chuyên nghành về những vấn đề xã hội viết một cuốn sách về chính trị, việc phải làm trước tiên của anh ta là nói rõ ràng như thế. Đây là một cuốn sách chính trị. Tôi không muốn che giấu điều nầy bằng cách mô tả về nó, như tôi lẽ ra đã có thể làm được, với một cái tên thanh lịch và đầy tham vọng hơn của một bài tiểu luận về triết học xã hội. Nhưng, bất cứ là cái tên gì, điểm quan trọng vẫn còn là tất cả những gì mà tôi nhất định phải nói, được rút ra từ những giá trị cuối cùng nào đó. Tôi hy vọng rằng tôi đã tuôn ra một cách đầy đủ trong chính cuốn sách một nhiệm vụ thứ hai và không kém quan trọng: nhằm làm sáng tỏ không còn nghi ngờ gì về những giá trị cuối cùng nầy là gì mà qua đó toàn bộ lập luận phụ thuộc vào.
Tuy nhiên, có một điều tôi muốn thêm vào cuốn sách nầy. Mặc dù đây là một cuốn sách về chính trị, như bất cứ ai có thể tôi chắc chắn rằng những niềm tin được đưa ra trong đó, không nhất định do những lợi ích cá nhân của tôi. Tôi không thể khám phá ra một lý do nào về việc tại sao một thứ xã hội mà dường như rất khao khát đối với tôi, đã nhất định đưa ra những điều lợi lớn hơn cho tôi so với đại đa số người dân của đất nước nầy. Thật ra, những người bạn đồng nghiệp theo xã hội chủ nghĩa luôn luôn nói với tôi rằng như một nhà kinh tế học tôi nên chiếm một vị trí quan trọng hơn nhiều trong thứ xã hội mà tôi chống đối –dĩ nhiên, quy định rằng tôi có thể tự quy phục để chấp nhận những quan điểm của họ.

pviii

Tôi cũng cảm thấy chắc chắn rằng sự chống đối của tôi hướng đến những quan điểm nầy thì không phải là do sự khác biệt của họ đối với những điều mà tôi đã từng trưởng thành với chúng, vì chúng là những quan điểm chân thực mà tôi bám giữ khi còn là một thanh niên và đã dẫn dắt tôi để đi đến việc quyết định học về ngành kinh tế như là một chuyên nghiệp của mình. Đối với những người, theo kiểu cách đương thời, vốn tìm kiếm điều thú vị nơi những động lực thúc đẩy trong mọi ngành nghề có quan điểm về chính trị, có lẽ tôi xin phép được phép thêm rằng tôi có mọi lý do như có thể có cho việc không viết hoặc xuất bản cuốn sách nầy. Điều chắc chắn là xúc phạm đến nhiều người mà tôi ao ước muốn sống trong sự giao hảo tình bạn với họ; nó đã buộc tôi phải bỏ qua một bên công việc mà tôi cảm thấy có đủ khả năng thích hợp hơn và tôi chú trọng nhiều hơn về lâu về dài; và, trên hết, điều chắc chắn là gây thiệt hại cho việc tiếp nhận những kết quả của công việc mang tính chất học thuật nghiêm chỉnh hơn mà tất cả những khuynh hướng của tôi dẫn tôi đến.
Mặc dù là vậy nếu cuối cùng tôi đã quan tâm đến việc viết ra cuốn sách nầy như là một nhiệm vụ mà tôi không được trốn tránh, điều nầy chủ yếu là do nét nổi bật riêng biệt và nghiêm túc của các cuộc thảo luận về những nan đề của chính sách trong tương lai về kinh tế tại thời điểm hiện tại, mà qua đó công chúng mấy khi nhận biết một cách đầy đủ. Đây là một sự kiện thực tế mà phần đông các nhà kinh tế hiện nay đã bị hấp thụ trong một vài năm bởi guồng máy chiến tranh, và buộc phải im hơi lặng tiếng bởi những vị trí chính thức của họ, và trong quan điểm công chúng theo sau những nan đề nầy thì đến một mức độ báo động nào đó được hướng dẫn bởi những tay ngang nghiệp dư và những người lập dị, bởi những người vốn có quan điểm mạnh mẽ ảnh hưởng đến hành động hoặc một giải pháp giải quyết được mọi vấn đề khó khăn. Trong những hoàn cảnh nầy, người mà vẫn có thú vui cho công việc văn học, thì khó lòng cho phép giữ lấy cho chính mình những hiểu biết mà những khuynh hướng hiện tại ắt hẳn tạo ra trong tâm trí của nhiều người vốn không thể công khai bày tỏ về chúng –mặc dù trong những hoàn cảnh khác, đáng lẽ ra tôi nên vui lòng để lại cuộc thảo luận về các vấn đề chính sách quốc gia cho những người vốn có thẩm quyền cao hơn cũng như có đủ khả năng thích hợp hơn cho công việc.
Cách lập luận chính yếu của cuốn sách nầy lần đầu tiên được phác thảo trong một bài báo có tựa đề “Quyền tự do và Hệ thống kinh tế”, vốn xuất hiện trong phần Duyệt xét Đương thời cho tháng Tư, năm 1938, và sau đó được in lại trong một hình thức phóng lớn hơn như là một trong những “Cuốn sách tay về Chính sách Công chúng”, được chỉnh sửa bởi Giáo sư H.D. Gideonse cho Báo Đại học Chicago (1939).

pix

Tôi phải cảm ơn những biên tập viên và những nhà xuất bản của cả hai ấn phẩm nầy cho phép tái bản những đoạn nào đó từ chúng.

Trường Kinh tế Học, London,
Cambridge, tháng Mười Hai, 1943

===========================================

p01

Lời Giới thiệu

“Một số ít những khám phá thì gây nhiều khó chịu hơn
những gì vốn phơi bày nguồn gốc của những ý tưởng.”

Lord Acton

Những sự kiện đương thời khác biệt đối với lịch sử trong điều mà chúng ta không biết về những kết quả chúng sẽ tạo ra. Nhìn lại, chúng ta có thể đánh giá mức độ quan trọng của những việc xảy ra trong quá khứ và theo dấu vết của những sự kiện theo sau mà chúng đã mang vào trong chuyến xe lửa của chúng. Nhưng, trong khi lịch sử chạy theo hành trình của mình, nó không phải là lịch sử đối với chúng ta. Nó dẫn dắt chúng ta vào trong một vùng đất không ai biết đến và ngoại trừ hiếm khi chúng ta có thể thoáng nhìn thấy được chuyện gì ở phía trước. Điều đó sẽ khác biệt nếu chúng ta được sống lần thứ hai qua cùng những sự kiện với tất cả sự hiểu biết về chuyện gì mà chúng ta đã từng nhìn thấy trước đây. Những thứ sẽ xuất hiện trước mắt chúng ta khác biệt đến thế nào ấy, những thay đổi mà hiện thời chúng ta hiếm khi chú ý sẽ có vẻ quan trọng và thường hay báo động đến như thế nào ấy ! Có lẽ điều may mắn là người ta không bao giờ có thể có kinh nghiệm nầy và không biết về những luật lệ nào mà lịch sử phải tuân theo.
Tuy nhiên, mặc dù lịch sử không bao giờ hoàn toàn lặp lại chính mình, và chỉ vì không một sự phát triển nào thì tất yếu xảy ra, chúng ta có thể trong một mức độ nào đó học hỏi được từ quá khứ để tránh sự lặp lại của cùng một tiến trình.

p02

Người ta không cần phải là một tiên tri mới nhận biết được những nguy hiểm sắp xảy ra. Một sự kết hợp ngẫu nhiên của kinh nghiệm và sự quan tâm thường hay sẽ tiết lộ những sự kiện cho một người nào đó dưới những khía cạnh mà một số ít người dù sao cũng còn hiểu biết.
Những trang theo sau là sản phẩm của một kinh nghiệm gần như có thể là gấp hai lần sự sống qua cùng một giai đoạn –hoặc ít nhất là gấp hai lần việc quan sát sự tiến hóa rất giống nhau của những ý tưởng. Trong khi đây là một kinh nghiệm mà người ta dường như không có được trong một quốc gia, điều đó có thể trong những trường hợp nào đó được thu hoạch bởi việc đến lúc phải sinh sống trong những giai đoạn lâu dài ở các nước khác nhau. Mặc dù những ảnh hưởng mà khuynh hướng của tư tưởng lệ thuộc vào trong hầu hết những quốc gia văn minh, lan ra đến một mức độ rộng lớn tương tự, chúng không nhất thiết phải hoạt động cùng một lúc hoặc cùng một tốc độ. Như thế, bằng cách di chuyển từ một nước nầy đến nước khác, người ta đôi khi có thể quan sát gấp hai lần những giai đoạn tương tự của sự phát triển về trí tuệ. Những giác quan sau đó đã trở nên bén nhạy khác thường. Khi người ta nghe trong lần thứ hai những quan điểm được bày tỏ hay những phương thức được biện minh mà lần đầu tiên người ta đã từng bắt gặp cách đây hai mươi hoặc hai mươi lăm năm về trước, họ xem một ý nghĩa mới như là những triệu chứng của một khuynh hướng được xác định. Họ đề nghị rằng, nếu không phải là điều cần thiết, ít nhất là điều có thể xảy ra, những sự phát triển sẽ theo một chiều hướng tương tự.
Việc cần thiết hiện thời là nói lên một sự thật khó thể chấp nhận rằng chính là nước Đức có số phận mà chúng ta đang ở trong một tình trạng nguy hiểm nào đó của việc lặp đi lặp lại. Sự nguy hiểm không phải là tức thời, đó là sự thật, và những điều kiện ở đất nước nầy vẫn còn rất xa khỏi những điều kiện được chứng kiến trong những năm gần đây ở nước Đức khi khó mà tin rằng chúng ta đang di chuyển theo cùng một chiều hướng. Tuy nhiên, mặc dù con đường trải dài, chính là một con đường mà càng lúc trở nên khó khăn hơn để quay trở lại khi con đường tiến về phía trước. Nếu về lâu về dài, chúng ta là những người quyết định số phận của riêng mình, trong ngắn hạn, chúng ta là những tù nhân của những ý tưởng mà chúng ta đã tạo ra. Chỉ khi chúng ta nhận ra sự nguy hiểm kịp thời, chúng ta có thể hy vọng ngăn chận được điều đó.
Không phải là đối với một nước Đức của Hitler, một nước Đức của cuộc chiến tranh hiện nay, mà qua đó đất nước nầy chưa mang bất kỳ nét giống nhau nào. Ngoại trừ những sinh viên của những dòng ý tưởng khó mà có thể không thấy rằng có một sự tương đồng hời hợt nhiều hơn giữa các khuynh hướng tư tưởng ở nước Đức trong suốt và sau cuộc chiến tranh vừa qua và dòng ý tưởng hiện thời trong đất nước nầy.

p03

Hiện nay chắc chắn là tồn tại trong đất nước nầy một sự kiên định như nhau là cách tổ chức của quốc gia mà chúng ta đã đạt được cho những mục đích bảo vệ, được giữ lại cho những mục đích sáng tạo. Có cùng một sự khinh miệt đối với chủ nghĩa tự do vào thế kỷ 19, cùng một “chủ nghĩa hiện thực” giả mạo và cùng một sự chấp nhận theo định mệnh “những khuynh hướng quen thuộc.” Và ít nhất là chín trong số mỗi mười bài học mà những nhà cải cách ồn ào nhất của chúng ta cảm thấy áy náy là chúng ta có nên học hỏi từ cuộc chiến nầy, chính xác là những bài học mà những người Đức đã thực sự học được từ cuộc chiến vừa qua và đã làm phần lớn để sản xuất ra một hệ thống Đức Quốc xã. Chúng ta sẽ có cơ hội trong chiều hướng của cuốn sách nầy để cho thấy rằng có một số lượng lớn những điểm khác nơi mà, vào khoảng thời gian mười lăm đến hai mươi lăm năm, chúng ta dường như theo gương của nước Đức. Mặc dù người ta không thích được nhắc nhớ lại, điều đó không phải là rất nhiều năm kể từ khi chính sách xã hội chủ nghĩa của đất nước đó nói chung được bám giữ bởi những người cấp tiến như là một tấm gương để được noi theo, chỉ giống như trong những năm gần đây hơn, Thụy Điển đã từng là một quốc gia mô hình mà những đôi mắt tiến bộ được hướng trực tiếp vào. Tất cả những người mà ký ức của họ đi xa hơn trở lại, biết được, ít nhất là trong một thế hệ trước khi cuộc chiến vừa qua, tư tưởng của người Đức và cách thực hành của người Đức tạo ảnh hưởng sâu sắc đến như thế nào đến những ý tưởng và chính sách trong đất nước nầy.

(Adolf Hitler (1889–1945), là một người Đức gốc Áo, thủ lĩnh của đảng
Quốc xã, đã từng triệt hạ những người theo chủ nghĩa xã hội ở Đức,
cũng là một đối thủ cay đắng nhất của đảng Cộng sản Liên Xô)

(Joseph Stalin hoặc Iosif Vissarionovich Stalin (1878–1953), người
cầm đầu đảng Cộng sản Liên Xô, nổi tiếng là tay bạo chúa Gấu trắng,
vừa là một kẻ thông đồng và một địch thủ cay cú nhất của Hitler)

Tác giả đã từng trải qua khoảng một nửa cuộc đời trưởng thành của mình ở nước Áo sinh quán của mình, trong sự tiếp xúc gần gũi với đời sống trí thức Đức, và một nửa khác ở Hoa Kỳ và Anh Quốc. Trong mười năm hai năm ở nơi mà đất nước nầy hiện thời đã trở thành quê nhà của mình, ông ta càng lúc đã trở nên tin rằng ít nhất là một số trong những lực lượng nào đó vốn đã phá hủy sự tự do ở nước Đức, cũng đang hoạt động ở đây, và rằng đặc tính và nguồn gốc của sự nguy hiểm nầy, nếu có thể có, thậm chí ít được hiểu biết hơn so với chúng được biết đến ở nước Đức. Một thảm kịch vô cùng nầy vẫn không được thấy rằng ở nước Đức phần lớn là những người có thiện chí, những người đàn ông vốn được ngưỡng mộ và được nâng cao như là những kiểu mẫu ở đất nước nầy, vốn là những người chuẩn bị sẵn con đường, nếu họ thực sự không tạo ra, cho các lực lượng mà hiện nay mang danh cho mọi thứ mà họ ghét cay ghét đắng.

p04

Tuy nhiên, cơ hội của chúng ta ngăn ngừa một số phận tương tự phụ thuộc vào việc đối mặt của chúng ta với sự nguy hiểm và vào việc chuẩn bị của chúng ta nhằm xét lại ngay cả những hy vọng và tham vọng ấp ủ nhất của chúng ta nếu chúng sẽ chứng minh là nguồn gốc của sự nguy hiểm. Chưa có một số ít dấu hiệu nào là chúng ta có sự can đảm về trí tuệ để thừa nhận với chính mình rằng chúng ta có thể đã sai. Một số ít người sẵn sàng nhìn nhận rằng việc nổi dậy của Chủ nghĩa Phát-xít và Chủ nghĩa Đức Quốc xã không phải là một phản ứng chống lại những khuynh hướng xã hội chủ nghĩa của giai đoạn trước kia, ngoại trừ một kết quả cần thiết của những khuynh hướng đó. Đây là một sự thật mà hầu hết mọi người đều không vui lòng muốn nhìn thấy ngay cả khi những sự tương đồng của rất nhiều nét nổi bật khước từ những chế độ nội bộ trong một nước Nga cộng sản và một nước Đức quốc-xã được nhìn nhận một cách rộng rãi. Kết quả là, nhiều người vốn nghĩ mình có quyền năng vô hạn đối với những sự lầm lạc của Chủ nghĩa Đức Quốc xã và chân thành thù ghét tất cả những biểu thị của nó, làm việc cùng một lúc cho những lý tưởng mà sự nhận thức của họ sẽ dẫn dắt thẳng đến hành động bạo ngược đáng ghê tởm.
Tất cả những việc song song giữa những phát triển ở các quốc gia khác nhau, dĩ nhiên, là điều dối trá; nhưng tôi không đặt lập luận của mình chủ yếu trên những việc song song như thế. Cũng như tôi không lập luận rằng những phát triển nầy là tất yếu. Nếu chúng là thế, sẽ không có một quan điểm nào trong việc viết ra điều nầy. Chúng có thể được ngăn ngừa nếu người ta nhận ra đúng lúc nơi mà những nỗ lực của họ có thể dẫn đến. Nhưng cho đến thời gian gần đây, có ít hy vọng là bất kỳ sự cố gắng nào làm cho họ nhìn thấy sự nguy hiểm sẽ thành công. Tuy nhiên, có vẻ như thể là thời gian hiện thời đã chín muồi cho cuộc thảo luận đầy đủ hơn về toàn bộ vấn đề. Không chỉ là nan đề hiện thời được nhìn nhận một cách rộng rãi hơn, cũng có những lý do đặc biệt mà vào lúc nầy khiến phải bắt buộc là chúng ta sẽ đối mặt với những vấn đề một cách thẳng thắn.
Điều đó sẽ, có lẽ, sẽ được nói rằng đây không phải là lúc đưa ra một vấn đề mà qua đó những ý kiến xung đột một cách táo tợn. Ngoại trừ chủ nghĩa xã hội mà chúng ta nói về, không phải là một vấn đề về đảng phái, và những câu hỏi mà chúng ta đang thảo luận, không có liên quan gì nhiều đến những câu hỏi trong cuộc tranh cãi giữa các đảng phái chính trị. Nó không ảnh hưởng gì đến nan đề của chúng ta là một vài nhóm có thể ít muốn chủ nghĩa xã hội hơn những nhóm khác, là một số người muốn chủ nghĩa xã hội chủ yếu là vì lợi ích của một nhóm và những người khác vì lợi ích đó của một nhóm khác.

p05

Điểm quan trọng là, nếu chúng ta tiếp nhận những người mà quan điểm của họ gây ảnh hưởng đến những phát triển, hiện thời họ đang ở trong đất nước nầy ở một mức độ nào mà tất cả họ là những người theo chủ nghĩa xã hội. Nếu không còn là kiểu cách để nhấn mạnh rằng “tất cả chúng ta bây giờ là những người theo chủ nghĩa xã hội”, điều nầy rất đơn thuần bởi vì sự kiện thực tế quá rõ ràng. Hiếm khi có bất cứ ai nghi ngờ rằng chúng ta phải tiếp tục di chuyển theo hướng chủ nghĩa xã hội, và hầu hết mọi người chỉ đơn thuần là cố gắng làm lệch hướng di chuyển nầy vì lợi ích của một tầng lớp hoặc nhóm cụ thể riêng biệt.
Chính là bởi vì gần như mọi người đều muốn rằng chúng ta đang di chuyển theo chiều hướng nầy. Không có những sự kiện khách quan nào vốn khiến cho tất yếu xảy ra. Chúng ta sẽ phải nói một điều gì đó về tình trạng tất yếu bị cáo buộc cho việc “lên kế hoạch” sau nầy. Câu hỏi chính là sự di chuyển nầy sẽ dẫn dắt chúng ta đến đâu. Có phải đó là điều không thể là nếu những người mà những niềm tin chắc chắn của họ hiện thời cung cấp cho nó một động lực không thể cưỡng lại được, bắt đầu nhìn thấy điều gì đó mà chỉ có một ít người dù sao cũng còn hiểu rõ, họ sẽ giật mình trong sự kinh hoàng và từ bỏ việc tìm kiếm mà trong một nửa thế kỷ đã từng thu hút rất nhiều người có thiện chí ? Nơi mà những niềm tin chung nầy của thế hệ chúng ta sẽ dẫn dắt chúng ta đến, là một nan đề không chỉ đối với một đảng phái mà còn đối với mỗi người trong số chúng ta, một nan đề có tầm quan trọng chủ yếu nhất. Phải chăng có một bi kịch to lớn hơn có thể tưởng tượng được so với bi kịch trong sự cố gắng hết sức mình của chúng ta theo một cách có ý thức nhằm uốn nắn tương lai của chúng ta phù hợp theo những lý tưởng cao cả, mặc dù chúng ta thật ra không có chủ tâm sẽ tạo ra điều rất trái ngược với điều gì mà chúng ta đã và đang cố gắng đạt được ?
Có một lý do thậm chí cấp bách hơn là tại sao vào lúc nầy chúng ta nên nghiêm túc cố gắng để hiểu được những lực lượng vốn đã tạo ra Chủ nghĩa Quốc xã: mà điều nầy sẽ cho phép chúng ta hiểu được kẻ thù của mình và vấn đề sẵn sàng thắng hay thua giữa chúng ta. Điều đó không thể phủ nhận rằng dù sao cũng có một ít nhìn nhận về những lý tưởng xác thực mà chúng ta đang chiến đấu cho chúng. Chúng ta biết rằng chúng ta đang đấu tranh cho quyền tự do nhằm định hướng cuộc sống của mình theo những ý tưởng của riêng chúng ta. Đó là một việc rất tốt, nhưng chưa đủ. Nó không đủ để cho chúng ta những niềm tin vững chắc mà chúng ta cần đến để chống lại một kẻ thù vốn sử dụng việc tuyên truyền như là một trong những vũ khí chính của mình không chỉ trong những hình thức trắng trợn nhất mà còn tinh vi nhất.

p06

Điều đó là vẫn chưa đủ thích hợp hơn khi chúng ta phải phản ngược việc tuyên truyền nầy trong số người dân ở các nước dưới quyền kiểm soát của kẻ thù và ở nơi nào khác, nơi mà ảnh hưởng của việc tuyên truyền nầy sẽ không biến mất với sự bại trận của những sức mạnh phe Trục. Điều đó không đủ nếu chúng ta phải phơi bày cho những người khác thấy rằng điều mà chúng ta đang đấu tranh cho nó, thật đáng được sự hỗ trợ của họ, và không đủ để hướng dẫn chúng ta được an toàn trong một tòa nhà cao tầng của một châu Âu mới chống lại những mối nguy hiểm mà một châu Âu cũ đã không chống nổi.
Chính là một sự kiện thực tế thảm thương mà những người Anh trong sự thông đồng của mình với các nhà độc tài trước chiến tranh, không kém hơn trong những cố gắng của họ về việc tuyên truyền và trong cuộc thảo luận về những mục đích chiến tranh của họ, đã cho thấy tình trạng bấp bênh và không chắc chắn bên trong của mục đích vốn chỉ có thể được giải thích bởi sự lầm lẫn về những lý tưởng của mình và bản chất của những sự khác biệt vốn tách biệt họ ra khỏi kẻ thù. Chúng ta đã bị làm cho mê muội lạc lối bởi vì chúng ta đã từ khước tin rằng kẻ thù thì chân thành trong bản chất chuyên nghiệp về một số niềm tin mà chúng ta chia sẻ, như phần nhiều bởi vì chúng ta tin vào sự chân thành của một số những lời tuyên bố khác của kẻ thù. Có phải chăng những đảng phái cánh Tả cũng như những những đảng phái cánh Hữu đã từng bị lừa dối bởi tin rằng Đảng Quốc xã(pc 01) đang phục vụ cho những người theo chủ nghĩa tư bản và đối nghịch với tất cả những hình thức của chủ nghĩa xã hội ? Có bao nhiêu nét nổi bật của hệ thống Hitler đã không được đề nghị cho chúng ta bắt chước từ những nơi không ngờ nhất, không nhận biết rằng chúng là một phần tổng thể của hệ thống đó và không thể phù hợp với xã hội tự do mà chúng ta hy vọng bảo tồn ? Số lượng của những sai lầm nguy hiểm mà chúng ta đã tạo ra trước khi và kể từ lúc sự bùng nổ của chiến tranh bởi vì chúng ta không hiểu được đối thủ mà chúng ta đang phải đối mặt, thật là kinh khủng. Có vẻ hầu hết như thể là chúng ta không muốn hiểu sự phát triển vốn đã sản sinh ra chủ nghĩa toàn trị bởi vì một sự hiểu biết như thế có thể phá hủy một số trong những ảo tưởng đáng yêu nhất mà chúng ta quyết tâm bám lấy.
Chúng ta sẽ không bao giờ thành công trong việc giao dịch của mình với những người Đức cho đến khi chúng ta hiểu được đặc tính và sự tăng trưởng của những ý tưởng mà hiện nay chi phối họ. Cái lý thuyết vốn được đưa ra thêm một lần nữa, rằng những người Đức như thế thật xấu xa cố hữu, khó mà biện hộ được và rất không đáng tin đối với những người vốn nắm giữ nó.

p07

Điều đó làm sỉ nhục hàng chuỗi dài những người Anh vốn là những người trong suốt hàng trăm năm qua đã hân hoan chiếm lấy cái gì là giỏi nhất, và không chỉ cái gì là hay nhất, trong tư tưởng của người Đức. Nhìn sơ qua sự kiện thực tế khi mà cách đây tám mươi năm, John Stuart Mill đang viết bài tiểu luận tuyệt vời của mình “Về vấn đề Tự do” mà ông ta lấy cảm hứng của mình, nhiều hơn từ bất kỳ người đàn ông nào khác, từ hai người Đức, Goethe và Wilhelm von Humboldt,1 và quên đi sự kiện thực tế là hai người trong số những bậc tiền bối trí thức có ảnh hưởng nhất của Chủ nghĩa Quốc xã, Thomas Carlyle và Houston Stewart Chamberlain, là một người Scotland (i.e. Tô Cách Lan) và một người Anh. Trong những hình thức thô thiển hơn của nó, quan điểm nầy là điều sỉ nhục đối với những người vốn ứng dụng những nét nổi bật tồi tệ nhất của những lý thuyết chủng tộc của Đức bằng cách duy trì nó. Nan đề không phải là lý do tại sao những người Đức như thế lại thật xấu xa, mà qua đó phù hợp là có thể họ không khác gì nhiều hơn những dân tộc khác, tuy nhiên để xác định những trường hợp mà trong suốt bảy mươi năm qua đã tạo nên sự tăng trưởng tiến bộ và chiến thắng cuối cùng như có thể của một tập hợp riêng biệt gồm những ý tưởng, và lý do tại sao cuối cùng là sự chiến thắng nầy đã mang lại những phần tử xấu xa nhất trong số họ lên hàng đầu. Chỉ là sự hận thù mọi thứ của Đức, thay vì những ý tưởng riêng biệt mà lúc bấy giờ có ảnh hưởng lớn trên những người Đức, hơn nữa thì rất nguy hiểm, bởi vì nó che khuất những người vốn đam mê vào nó chống lại mối đe dọa thực sự. Điều đáng lo ngại là thái độ nầy là thường xuyên chỉ là một loại khuynh hướng thoát ly thực tế, được gây ra bởi sự không mong muốn nhận ra những khuynh hướng vốn không bị kiềm chế bên trong nước Đức, và bởi sự miễn cưỡng xem xét lại, và nếu cần thiết phải loại bỏ, những niềm tin mà chúng ta đã chiếm lấy từ những người Đức và bởi điều mà phần lớn chúng ta vẫn bị đánh lừa như những người Đức. Đó là điều nguy hiểm gấp đôi bởi vì một luận điểm cho rằng chỉ có sự gian ác riêng biệt của những người Đức đã sản sinh hệ thống Đức Quốc xã, thì giống như trở thành một cái cớ cho việc cưỡng bức chúng ta ngay những cơ sở vốn đã sản xuất cái ác đó.
=============
1 Như một số người có thể nghĩ rằng lời phát biểu nầy được phóng đại, lời trần trình của Lord Morley có thể là đáng trích dẫn, vốn là người trong cuốn Hồi ký của mình nói về “một quan điểm được thừa nhận” rằng lập luận chính về bài tiểu luận “On Liberty” (“Về vấn đề Tự do”) “không phải là nguyên tác nhưng đến từ nước Đức.”
=============

p08

Việc giải bày về những phát triển ở Đức và Ý sắp sửa được đưa ra trong cuốn sách nầy, thì rất khác biệt từ việc giải bày được đưa ra bởi hầu hết các nhà quan sát nước ngoài và bởi phần lớn những người lưu vong từ các nước đó. Nhưng nếu sự giải bày nầy là đúng, nó cũng sẽ giải thích lý do tại sao gần như là không thể nào đối với một người vốn, giống như hầu hết những người lưu vong và các phóng viên nước ngoài của báo chí Anh và Mỹ, bám giữ những quan điểm xã hội chủ nghĩa phổ biến lúc bấy giờ, để hiểu được những sự kiện đó trong một viễn ảnh thích hợp.1 Một quan điểm hời hợt và mê muội lạc hướng, vốn nhìn thấy được trong Chủ nghĩa Quốc xã chỉ là một phản ứng được khích động bởi những người mà những đặc quyền hoặc lợi ích bị của họ bị đe dọa bởi bước tiến của chủ nghĩa xã hội, đương nhiên được hỗ trợ bởi tất cả những người, mặc dù vào một thời điểm xáo động họ đang ở trong một sự chuyển động của những ý tưởng vốn đã dẫn đến Chủ nghĩa Quốc xã, vốn đã chận đứng sự phát triển đó tại một điểm nào đó và, được hỗ trợ bởi cuộc xung đột mà cuộc xung đột nầy mang họ đến với Đức Quốc xã, bị buộc phải rời khỏi đất nước mình. Nhưng sự kiện thực tế là theo số lượng họ là phe đối lập đáng kể duy nhất đối với Đức Quốc xã, có nghĩa là không nhiều hơn thế trong ý nghĩa rộng lớn hơn mang tính chất thực chất là tất cả những người Đức đã trở thành những người theo chủ nghĩa xã hội, và chủ nghĩa tự do trong ý nghĩa xa xưa đã bị tống ra bởi chủ nghĩa xã hội. Như chúng ta hy vọng cho thấy, cuộc xung đột trong sự tồn tại giữa cánh “Hữu” và cánh “Tả” của chủ nghĩa Quốc xã ở Đức là loại xung đột vốn sẽ luôn luôn phát sinh giữa các phe phái xã hội chủ nghĩa cạnh tranh.
=============
1 Làm cách nào những quan điểm được bám giữ một cách hoàn hảo ở tất cả mọi nơi, ngay cả phe bảo thủ nhất, của cả một quốc gia có thể được tô điểm bởi thành kiến về phe Tả chiếm ưu thế của những phóng viên nước ngoài thuộc Báo chí của nó, được minh họa kỷ lưởng bởi các quan điểm hầu như phổ quát được bám giữ ở Mỹ về những mối quan hệ giữa Đại Anh Quốc và Ấn Độ. Người Anh nào vốn muốn hiểu những sự kiện về Lục địa châu Âu trong một viễn ảnh đúng đắn, phải suy xét một cách nghiêm túc điều có thể có là những quan điểm của ông ta có thể đã bị bóp méo một cách chính xác trong cùng một cách thức, và vì những lý do tương tự. Điều nầy hoàn toàn không có nghĩa là phản ảnh sự chân thành của những quan điểm của phóng viên nước ngoài của Mỹ và Anh. Nhưng bất cứ ai vốn biết loại giới báo chí địa phương mà những phóng viên nước ngoài gần như có những tiếp xúc gần gũi, sẽ không có khó khăn nào trong việc hiểu được những nguồn gốc của thành kiến nầy.
=============

p09

Nếu cách giải bày nầy thì đúng, điều đó, tuy nhiên, có nghĩa là nhiều người trong số những người tị nạn đó theo xã hội chủ nghĩa, trong sự bám víu vào những niềm tin của họ, hiện thời, mặc dù bằng ý chí mạnh mẽ nhất trên thế giới, đang giúp dẫn dắt đất nước dung dưỡng của họ đến con đường mà nước Đức đã từng đi qua.
Tôi biết rằng nhiều người trong số những người bạn Anh Quốc của tôi đôi khi đã bị sửng sốt bởi những quan điểm nửa Phát-xít mà thỉnh thoảng có thể họ nghe đến, được bày tỏ bởi những người tị nạn Đức, mà những niềm tin chắc chắn của họ về xã hội chủ nghĩa đã không thể nào đáng nghi ngờ. Nhưng trong khi những nhà quan sát Anh Quốc nầy đặt điều nầy ra với những người Đức của họ, lời giải thích thật sự đó là họ là những người theo chủ nghĩa xã hội mà kinh nghiệm của họ đã mang họ qua nhiều giai đoạn xa hơn điều mà chưa được vói đến bởi những nhà xã hội chủ nghĩa ở đất nước nầy. Sự thật, dĩ nhiên, là những người Đức theo chủ nghĩa xã hội đã tìm thấy nhiều sự ủng hộ trong đất nước của mình từ những nhân vật nào đó thuộc truyền thống Phổ; và sự giống nhau về tính chất nầy giữa chủ nghĩa Phổ và chủ nghĩa xã hội, mà trong đó ở Đức cả hai phe đều hãnh diện, đưa ra sự hỗ trợ bổ sung cho luận điệu chính của chúng ta.1 Nhưng điều đó sẽ là một sai lầm khi tin rằng một người Đức đặc trưng hơn là một thành phần theo chủ nghĩa xã hội sản sinh ra chủ nghĩa độc tài toàn trị. Chính là sự phổ biến về những quan điểm xã hội chủ nghĩa và không phải là chủ nghĩa Phổ mà nước Đức có cùng quan điểm chung với Ý và Nga –và điều đó là từ những đám đông quần chúng và không phải là từ những tầng lớp bị mê mệt trong truyền thống Phổ, và được biệt đãi bởi nó, mà qua đó Chủ nghĩa Quốc xã vươn lên.
=============
1 Vốn thực sự là có sự tồn tại một quan hệ khắn khít nào đó giữa chủ nghĩa xã hội và cách tổ chức của Nhà nước Phổ, được tổ chức một cách có ý thức từ trên cao như là không có trong một quốc gia nào khác, không thể bị phủ nhận và thực sự được nhìn nhận một cách khoáng đạt bởi những nhà xã hội Pháp trước đó. Trước đó rất lâu, cái lý tưởng chiếm trọn toàn bộ nhà nước trên cùng những nguyên tắc như một nhà máy duy nhất là truyền cảm hứng cho chủ nghĩa xã hội ở thế kỷ 19. Nhà thơ người Phổ, Novalis, đã thực sự lấy làm ân hận la “không có một nhà nước nào khác đã từng được quản lý giống y như một nhà máy như ở nước Phổ kể từ cái chết của triều đại Frederick William.” (Xem thêm. Novalis [Friedrich von Hardenberg]. Tác phẩm “Glauben und Liebe, oder der König und die Königin” (“Đức tin và Tình yêu, hoặc là Vua và Hoàng hậu”), 1798).

(Chân dung của Novalis, là một tên khác của Georg Philipp Friedrich
Freiherr von Hardenberg, là nhà thơ, triết gia, và là Kỹ sư Công
chánh Phổ, được họa bởi Franz Gareis vào năm 1799)

=============

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Đảng Quốc xã : là do chữ Quốc gia và Chủ nghĩa Xã hội kết hợp (National Socialist Party). Điều nầy chứng minh rằng Chủ nghĩa Xã hội đã từng xuất hiện ở nước Đức trước Thế Chiến thứ I, trong thời kỳ Karl Heinrich Marx (1818–1883), một triết gia người Đức, cũng là cha đẻ của chủ thuyết Cộng sản mà Liên Xô là nước ứng dụng sau nầy; trong khi đó, nước Đức dưới thời Hitler đang ứng dụng chủ thuyết Quốc-Xã, một cấp bậc cao hơn, đi xa hơn chủ thuyết Cộng sản.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s