Chương 15 (Hết) : Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế

p225

Chương 15: Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế

“Trong tất cả những kiểm soát về dân chủ, sự thành lập liên bang đã từng
là hiệu quả cao nhất và thích hợp nhất… Hệ thống liên bang giới hạn và
kiềm chế quyền lực tối cao bằng cách phân chia nó ra và bằng cách giao
cho Chính phủ chỉ là những quyền hạn được quy định nào đó. Chính là
một phương pháp duy nhất về việc kiềm giữ không phải chỉ là đa số mà
là sức mạnh của toàn dân.”

Lord Acton

Trong thế giới không có lãnh vực nào khác đã còn phải trả một cái giá quá đắt cho việc từ bỏ chủ nghĩa tự do thuộc thế kỷ mười chín như trong lãnh vực nơi mà việc rút lui bắt đầu: trong những quan hệ quốc tế. Tuy chỉ là một phần nhỏ của bài học mà kinh nghiệm đã phải dạy cho chúng ta, đã được học hỏi. Có lẽ thậm chí nhiều hơn nơi khác, những khái niệm hiện tại về cái gì đó là điều đáng mong muốn và thực tiển, đang vẫn ở đây thuộc về một loại vốn cũng có thể sản sinh ra sự trái ngược với điều gì mà họ hứa hẹn.
Một phần của bài học về quá khứ gần đây vốn chậm rãi và dần dần đang được nhận thức, đó là nhiều loại hoạch định kinh tế, được thực hiện một cách độc lập trên quy mô quốc gia, bị ràng buộc trong ảnh hưởng tổng hợp của chúng là điều có hại thậm chí từ một quan điểm thuần túy về kinh tế, và trong việc thêm vào ảnh hưởng đó để sản sinh ra sự va chạm nghiêm trọng trên quốc tế.

p226

Mà qua đó có ít hy vọng về một trật tự quốc tế hoặc nền hòa bình lâu dài miễn là mỗi quốc gia được tự do sử dụng bất kỳ những biện pháp gì mà nó nghĩ là điều đáng mong muốn trong lợi ích trực tiếp của riêng mình, tuy nhiên việc gây tổn hại mà chúng có thể gây nên cho những nước khác, cần một ít nhấn mạnh hiện nay. Nhiều loại hoạch định kinh tế quả thật rất thực tiển chỉ khi người có thẩm quyền lên kế hoạch có thể đóng lại tất cả những ảnh hưởng có nguồn gốc bên ngoài một cách hiệu nghiệm; kết quả của việc hoạch định như thế vì vậy không thể tránh khỏi việc sự chồng đống những hạn chế trên những biến động về con người và hàng hóa.
Ít rõ ràng hơn nhưng không có nghĩa là ít thật hơn là những mối nguy hiểm cho nền hòa bình phát sinh từ sự liên kết kinh tế được bồi dưỡng một cách giả tạo của tất cả những dân cư thuộc bất cứ một quốc gia nào, và từ những khối mới thuộc những lợi ích đối nghịch được tạo ra bởi việc hoạch định trên quy mô quốc gia. Điều đó không phải là cần thiết cũng không phải là mong muốn rằng những biên giới quốc gia sẽ đánh dấu những sự khác biệt rõ rệt trong những tiêu chuẩn sinh sống, rằng việc trở thành thành viên của một nhóm quốc gia sẽ cho quyền nhận phần chia trong một chiếc bánh chung khác biệt với chiếc bánh mà trong đó các những thành viên thuộc những nhóm khác chia sẻ. Nếu các nguồn tài lực của những quốc gia khác nhau được xem như là những tài sản riêng biệt của những quốc gia nầy như là một khối, nếu những quan hệ kinh tế trên quốc tế, thay vào đó là những mối quan hệ giữa những cá nhân, ngày càng trở nên những mối quan hệ giữa toàn thể các quốc gia được tổ chức như là những cơ chế trao đổi, chúng không tránh khỏi trở thành những nguồn lực va chạm và ghen tị giữa toàn thể các quốc gia. Điều đó là một trong những ảo tưởng chết người nhất mà bằng cách thay thế những cuộc đàm phán giữa các nước nhỏ hoặc các nhóm có tổ chức cho sự cạnh tranh vì những thị trường hoặc vì những nguyên liệu, sự xích mích quốc tế sẽ được giảm đi. Điều nầy chỉ đơn thuần là đặt một cuộc thi đấu vũ lực vào vị trí của cái gì đó chỉ có thể ẩn dụ được gọi là “cuộc vật lộn” cạnh tranh, và chuyển sang những trạng thái mạnh mẽ và được trang bị vũ khí, không lệ thuộc vào một luật lệ cao hơn nào, những sự ganh đua vốn xảy ra giữa các cá nhân quốc gia, phải được quyết định mà không nhờ đến vũ lực nào.

p227

Những giao dịch kinh tế giữa những cơ chế quốc gia vốn là những người đồng thời là những vị thẩm phán tối cao về hành vi của riêng họ, vốn là những người không cúi đầu trước bất cứ pháp luật cao hơn nào, và những người đại diện của họ không thể bị ràng buộc bởi bất kỳ những suy xét nào ngoại trừ lợi ích trước mắt của riêng mỗi quốc gia của họ, phải kết thúc trong những cuộc đụng độ về quyền lực.1
Nếu chúng ta không muốn tạo nên cách sử dụng chiến thắng tốt hơn là sự đồng tình ủng hộ những khuynh hướng đang tồn tại theo chiều hướng nầy, chỉ quá hiển hiện trước năm 1939, quả thật chúng ta có thể tìm thấy rằng chúng ta đã đánh bại Chủ nghĩa Quốc xã chỉ đơn thuần là tạo ra một thế giới của nhiều chủ nghĩa quốc xã, khác biệt trong chi tiết, nhưng tất cả đều chuyên chế, mang tính chất dân tộc chủ nghĩa như nhau, và trong cuộc xung đột với nhau thường tái diễn. Những người Đức sẽ xuất hiện như là những người phá rối nền hòa bình, như họ làm rồi đối với một số người,2 chỉ đơn thuần là vì họ là những người đầu tiên chọn lấy con đường đi theo mà tất cả những người khác cuối cùng phải theo sau.

* * * * *

Những người vốn ít nhất là một phần nhận ra những mối nguy hiểm nầy, thường rút ra kết luận rằng việc hoạch định kinh tế phải được thực hiện một cách “quốc tế”, tức là bởi một thẩm quyền siêu quốc gia nào đó. Nhưng mặc dù điều nầy sẽ ngăn chận một số trong những mối nguy hiểm rành rành được sinh ra bởi việc hoạch định trên quy mô quốc gia, điều đó dường như là những người vốn ủng hộ những mưu tính đầy tham vọng như thế, có ít nhận thức về những khó khăn và nguy hiểm thậm chí lớn hơn mà những dự kiến của họ tạo ra. Những nan đề được sinh ra bởi chiều hướng có ý thức về các vấn đề kinh tế trên quy mô quốc gia không thể tránh khỏi gánh lấy những kích thước thậm chí lớn hơn khi cùng những nan đề được cố gắng thử trên bình diện quốc tế. Sự xung đột giữa việc hoạch định và quyền tự do không thể nào những trở nên nghiêm trọng hơn khi sự giống nhau về những tiêu chuẩn và giá trị trong số những nước thừa nhận một kế hoạch đồng bộ giảm bớt đi. Ở đó cần đến là một ít khó khăn trong việc hoạch định đời sống kinh tế của một gia đình, tương đối ít ỏi trong một cộng đồng nhỏ.
=============
1 Trên tất cả những điều nầy và trên những điểm sau đây, vốn có thể được đề cập đến chỉ rất ngắn gọn, xem thêm tác phẩm “Economic Planning and International Order” (“Việc hoạch định Kinh tế và Trật tự Quốc tế”) của Giáo sư Lionel Robbins, năm 1937, ở đây đó.

2 Riêng biệt là xem thêm cuốn sách đáng kể của James Burnham, “The Managerial Revolution” (“Cuộc cách mạng Quản trị”), năm 1941.
=============

p228

Nhưng khi mức quy mô gia tăng, số lượng thỏa thuận về một trật tự của những mục đích cuối cùng giảm đi và sự cần thiết phải dựa vào vũ lực và sự cưỡng bách tăng lên. Trong một cộng đồng nhỏ, những quan điểm chung về tầm quan trọng tương đối của những công việc chính yếu, những tiêu chuẩn được thỏa thuận về giá trị, sẽ tồn tại trên rất nhiều chủ đề. Nhưng số lượng của chúng sẽ trở nên càng lúc càng ít hơn khi chúng ta ném lưới càng rộng lớn hơn: và khi có ít quan điểm cộng đồng, sự cần thiết dựa vào vũ lực và sự cưỡng bức gia tăng.
Những người dân của bất cứ một quốc gia nào có thể dễ dàng bị thuyết phục để chịu hy sinh nhằm mục đích hỗ trợ cái gì đó mà họ xem như là ngành kỹ nghệ sắt “của họ” hoặc nông nghiệp “của họ”, hoặc nhằm mục đích mà trong đất nước của họ không ai sẽ chìm xuống dưới một mức nhất định. Miễn là điều đó là một câu hỏi về việc giúp đỡ những người mà những thói quen của họ về đời sống và những cách suy nghĩ thì quen thuộc đối với chúng ta, về việc điều chỉnh sự phân phối những phần thu nhập trong số, hoặc những điều kiện làm việc của, những người mà chúng ta cũng có thể mường tượng được và những quan điểm mà về tình trạng thích hợp của họ, trên cơ bản tương tự như những quan điểm của chúng ta, chúng ta thường sẵn sàng chịu một vài hy sinh. Nhưng người ta chỉ phải hình dung ra những nan đề được sinh ra bởi việc hoạch định kinh tế của ngay cả một khu vực chẳng hạn như là Tây Âu để nhìn thấy rằng những nền tảng đạo đức cho một sự đảm nhận gánh vác như thế thì hoàn toàn thiếu thốn. Ai tưởng tượng được rằng nơi đó tồn tại bất kỳ những lý tưởng chung nào về sự công bằng phân phối như thế sẽ làm cho ngư dân Na Uy đồng tình từ bỏ viễn ảnh cải thiện kinh tế nhằm mục đích giúp người bạn Bồ Đào Nha của mình, hoặc người lao động Hòa Lan trả thêm tiền cho chiếc xe đạp của anh ta để giúp đỡ ngành cơ khí của thành phố Coventry ở trung tâm Anh Quốc (i.e. là thành phố bị thiệt hại nặng nề trong những cuộc không kích của Thế Chiến thứ II), hoặc người nông dân Pháp trả thêm thuế để hỗ trợ công cuộc kỹ nghệ hóa của Ý không ?
Nếu hầu hết mọi người không vui lòng nhìn thấy sự khó khăn, điều nầy chủ yếu là bởi vì, một cách có ý thức hay vô thức, họ cho rằng sẽ là chính họ vốn là những người sẽ giải quyết những câu hỏi nầy cho những người khác, và bởi vì họ tin tưởng vào khả năng của riêng mình để làm điều nầy một cách công bằng và bằng đẳng. Những người Anh, có lẽ thậm chí hơn những dân tộc khác, bắt đầu nhận ra những mưu toan như thế gì chỉ có nghĩa là gì khi nó được phơi bày cho họ thấy rằng họ có thể là một thiểu số trong những người có thẩm quyền lên kế hoạch, và rằng những đường lối chính của sự phát triển kinh tế trong tương lai của Vương quốc Anh có thể được quyết định bởi một đa số không phải là người Anh.

p229

Có bao nhiêu người trong đất nước nầy sẽ được chuẩn bị để thừa nhận sự quyết định của một thẩm quyền quốc tế, tuy nhiên được thành lập một cách dân chủ, vốn có quyền lực để ra sắc lệnh rằng sự phát triển của ngành kỹ nghệ sắt của Tây Ban Nha phải có ưu tiên trên sự phát triển tương tự ở vùng miền Nam Wales, rằng ngành kỹ nghệ quang học tốt hơn là nên được tập trung ở Đức loại trừ khỏi Vương quốc Anh, hoặc rằng chỉ xăng dầu được tinh chế hoàn toàn sẽ được nhập cảng vào Đại Anh Quốc và tất cả những ngành kỹ nghệ được kết nối với việc tinh chế dành riêng cho các nước là những nước sản xuất ?

(Vùng Wales vốn là một quốc gia thuộc về Vương quốc Anh, có tiếng
nói riêng được gọi là Welsh mặc dù hiện nay phần lớn dùng tiếng Anh)

Tưởng tượng rằng đời sống kinh tế của một khu vực rộng lớn bao gồm nhiều dân tộc khác nhau có thể được điều hành hoặc được lên kế hoạch bằng phương thức dân chủ phản bội lại sự thiếu thốn nhận thức hoàn toàn về những nan đề mà việc hoạch định như thế có thể nâng cao. Việc hoạch định trên một quy mô quốc tế, thậm chí hơn là xác thực trên quy mô quốc gia, không thể là bất cứ điều gì ngoại trừ một quy tắc hiển nhiên về vũ lực, một sự áp đặt bởi một nhóm nhỏ trên tất cả những nhóm còn lại thuộc loại tiêu chuẩn và công việc đó mà những nhà hoạch định nghĩ là phù hợp với những nhóm còn lại. Nếu bất cứ điều gì là chắc chắn, điều đó là vùng kinh tế lục địa (Großraumwirtschaft) thuộc loại mà những người Đức đã và đang nhắm vào, có thể được thực hiện một cách thành công chỉ bởi giống dân tinh thông, một giống dân da trắng siêu đẳng (Herrenvolk), áp đặt một cách tàn nhẫn những mục tiêu và ý tưởng của nó trên những dân tộc còn lại. Đó là một sai lầm khi xem sự tàn bạo và sự coi thường tất cả những mong ước và lý tưởng của những dân tộc nhỏ hơn được thể hiện bởi những người Đức chỉ đơn giản như là một dấu hiệu của sự gian ác đặc biệt của họ; đó là bản chất của công việc mà họ đã từng đảm trách vốn tạo ra những điều nầy không thể tránh được. Đảm nhận việc điều hành đời sống kinh tế của người dân với những lý tưởng và những giá trị đa dạng rộng lớn phải đảm nhận những trách nhiệm mà người ta nhúng tay vào việc sử dụng vũ lực; điều đó phải nắm lấy vị trí nơi mà những ý định tốt nhất không thể ngăn chận người ta khỏi bị ép buộc phải hành động theo cách mà đối với một số trong những người bị ảnh hưởng đó phải biểu lộ rất trái đạo đức.1
=============
1 kinh nghiệm trong lãnh vực thuộc địa, của đất nước nầy nhiều như của bất kỳ quốc gia nào khác, đã cho thấy rất nhiều rằng thậm chí những hình thức ôn hòa của việc hoạch định mà chúng ta biết đến như là sự phát triển thuộc địa, có dính dáng đến, cho dù chúng ta muốn điều đó hay không, việc áp đặt những giá trị và những lý tưởng nhất định trên những người mà chúng ta cố gắng trợ giúp. Quả thật, chính là kinh nghiệm nầy vốn đã tạo nên ngay cả những người có đầu óc về quốc tế nhất trong số những chuyên gia về thuộc địa rất đổi hoài nghi về tính cách thực tiễn của việc quản trị những thuộc địa mang tính chất “quốc tế”.
=============

p230

Điều nầy là xác thực ngay cả khi chúng ta giả định quyền lực thống trị là lý tưởng và không ích kỷ như chúng ta có thể có thể nhận thức. Nhưng khả năng mà nó sẽ không phải là điều vị kỷ thì nhỏ nhoi đến thế nào ấy, và những cám dỗ thì to lớn đến thế nào ấy ! Tôi tin tưởng rằng những tiêu chuẩn đúng đắn và công bằng, riêng biệt là liên quan đến những vấn đề quốc tế, thì cao như, nếu không cao hơn, trong đất nước nầy so với trong bất cứ quốc gia nào khác. Tuy là ngay cả bây giờ chúng ta có thể nghe người ta tranh cãi rằng chiến thắng phải được sử dụng để tạo ra những điều kiện mà trong đó kỹ nghệ Anh Quốc sẽ có khả năng dùng đến toàn bộ dụng cụ riêng biệt mà nó đã từng xây dựng trong suốt cuộc chiến tranh, rằng việc tái thiết châu Âu phải được điều hành rất trực tiếp như để phù hợp với những đòi hỏi đặc biệt của các ngành kỹ nghệ thuộc đất nước nầy, và để bảo đảm cho mọi người trong đất nước nầy một loại công việc mà anh ta nghĩ rằng chính mình phù hợp nhất. Điều đáng báo động về những đề nghị nầy không phải là chúng được tạo nên, nhưng là chúng được tạo nên trong tất cả sự ngây ngô và được xem như là một vấn đề tất yếu bởi những người thanh lịch vốn là những người hoàn toàn không nhận thức được về tầm cỡ đạo đức mà qua đó việc sử dụng vũ lực cho những mục đích như thế có dính dáng đến.1
=============
1 Nếu bất kỳ ai sẽ vẫn còn thất bại nhìn thấy những khó khăn, hoặc ấp ủ niềm tin rằng với một ít ý chí tốt đẹp tất cả chúng có thể được vượt qua, điều đó sẽ giúp ích nếu anh ta cố gắng làm theo những ẩn ý của sự chỉ đạo tập trung về hoạt động kinh tế được áp dụng trên một quy mô thế giới. Có phải chăng có thể có nhiều nghi ngờ rằng điều nầy sẽ có nghĩa là một sự cố gắng có ít nhiều ý thức để bảo đảm sự thống trị của người da trắng, và sẽ chính đáng được xem là như thế bởi tất cả những chủng tộc khác ? Cho đến khi tôi tìm thấy một người lành mạnh vốn là người nghiêm túc tin tưởng rằng những giống dân châu Âu sẽ tự nguyện thừa nhận tiêu chuẩn cuộc sống của mình và tốc độ của sự tiến triển được quyết định bởi một Nghị viện Thế giới, tôi không thể xem những kế hoạch như thế như là bất cứ điều gì ngoại trừ sự lố bịch. Nhưng điều nầy không may là không loại trừ rằng những biện pháp riêng biệt, vốn có thể được biện minh chỉ khi nguyên tắc của sự chỉ đạo thế giới là một lý tưởng khả thi, được bênh vực một cách nghiêm túc.
=============

p231

* * * * *

Có lẽ tác nhân mạnh mẽ nhất trong việc tạo ra niềm tin trong khả năng của việc chỉ đạo tập trung duy nhất bằng phương tiện dân chủ của đời sống kinh tế của nhiều người khác nhau là một ảo tưởng chết người mà nếu những quyết định được để lại cho những “người dân”, cộng đồng vì lợi ích của những tầng lớp công nhân sẽ sẵn sàng vượt qua những khác biệt vốn tồn tại giữa những giai cấp thống trị. Có mọi lý do để hy vọng rằng với việc hoạch định cho thế giới, cuộc đụng độ về những lợi ích kinh tế mà hiện nay nẩy sinh về chính sách kinh tế của bất cứ một dân tộc nào thật ra dám có thể xuất hiện trong ngay cả hình thức gay gắt hơn như là một cuộc đụng độ về những lợi ích giữa toàn bộ những dân tộc vốn có thể được quyết định chỉ bằng vũ lực. Về những câu hỏi mà một nước có thẩm quyền hoạch định cho quốc tế sẽ phải quyết định, những lợi ích và những ý kiến của các tầng lớp công nhân của những dân tộc khác nhau không tránh khỏi sẽ là phần nhiều trong cuộc xung đột, và thậm chí ít hơn nữa sẽ là một nền tảng được chấp nhận chung cho việc dàn xếp hợp tình hợp lý, hơn là có một nền tảng đối với những tầng lớp khác nhau trong bất cứ một quốc gia nào. Đối với những người lao động trong một đất nước nghèo khổ, nhu cầu của người đồng nghiệp may mắn hơn của anh ta được bảo vệ chống lại sự cạnh tranh mức lương thấp của anh ta bằng pháp chế về tiền lương tối thiểu, được cho là trong lợi ích của anh ta, thường là không hơn gì một phương tiện tước đoạt khỏi anh ta cơ hội duy nhất làm tốt hơn hoàn cảnh của mình bằng cách vượt qua những bất lợi tự nhiên do việc chịu làm việc với mức lương thấp hơn những đồng nghiệp của mình ở các nước khác. Và đối với anh ta, sự kiện thực tế là anh ta phải cho ra sản phẩm của mười giờ lao động của mình đối với sản phẩm của năm giờ lao động của người ở nơi khác vốn là người được trang bị tốt hơn với máy móc, phần nhiều là sự “bóc lột” như điều đó được thực hành bởi bất kỳ nhà tư bản nào.
Đó là điều khá chắc chắn rằng trong một hệ thống quốc tế có kế hoạch, những quốc gia giàu có hơn và do đó mạnh nhất đến một mức độ rất to lớn hơn nhiều so với một nền kinh tế tự do sẽ trở thành đối tượng của sự hận thù và ghen tị của những nước nghèo hơn: và những nước nghèo, đúng hay sai, tất cả sẽ được thuyết phục rằng vị trí của họ có thể được cải thiện nhanh chóng hơn nhiều nếu họ được tự do chỉ làm những gì mà họ muốn.

p232

Quả thật, nếu điều đó cuối cùng được xem như là nhiệm vụ của nước có thẩm quyền quốc tế để mang lại sự công bằng phân phối giữa các dân tộc khác nhau, điều đó không hơn gì là sự phát triển đều đặn và tất yếu của học thuyết xã hội chủ nghĩa mà sự xung đột tầng lớp sẽ trở thành một cuộc đấu tranh giữa những tầng lớp công nhân của các quốc gia khác nhau.
Hiện tại, có rất nhiều cuộc nói chuyện ngớ ngẩn về “việc hoạch định để cân bằng những tiêu chuẩn của cuộc sống.” Đó là điều đáng là một bài học khi xem xét chi tiết hơn một chút một trong những dự kiến nầy để nhìn thấy nó liên quan đến điều gì một cách chính xác. Khu vực mà trong khoảnh khắc hiện tại những nhà hoạch định của chúng ta riêng biệt là ưa thích phát họa lên những mưu tính như thế là Lưu vực sông Danube và Đông Nam châu Âu. Có thể là không có nghi ngờ nào về sự cần đến cấp thiết cho sự cải thiện những điều kiện kinh tế trong khu vực nầy, từ những suy xét về nhân đạo và kinh tế cũng như trong lợi ích của nền hòa bình châu Âu trong tương lai, cũng không phải là điều nầy có thể đạt được chỉ trong một khung cảnh chính trị khác biệt với khung cảnh của quá khứ. Nhưng điều nầy không phải là điều giống như ước muốn nhìn thấy đời sống kinh tế trong khu vực nầy được điều hành theo một kế hoạch tổng thể duy nhất, giống như cỗ vũ cho sự phát triển của các ngành kỹ nghệ khác nhau theo một lịch trình được đặt ra trước đó theo một cách mà làm nên sự thành công của sự phát khởi địa phương phụ thuộc vào việc được chấp nhận bởi chính quyền trung ương và được kết hợp trong kế hoạch của nó. Người ta không thể, thí dụ, tạo ra một loại “Thẩm quyền Thung lũng Tennessee” (“Tennessee Valley Authority”) cho Lưu vực sông Danube mà không có dính dáng nào đến việc quyết định trước đó trong nhiều năm để đi đến một tốc độ tiến triển tương đối của những chủng tộc khác nhau đang cư ngụ trong khu vực nầy, hoặc không có việc phụ thuộc vào tất cả những nguyện vọng và mong muốn cá nhân của họ đối với công việc nầy.

(Dòng sông Danube thuộc Trung Âu và Đông Âu, dài nhất hàng thứ hai
của Luc địa, sau dòng sông Volga, xuyên qua 8 nước là Đức, Áo,
Slovakia, Hungary, Croatia, Serbia, Bulgaria, và Romania đến Biển Đen)

Việc hoạch định của loại cần thiết nầy phải bắt đầu bằng cách sửa chữa thứ tự những ưu tiên của những yêu sách khác nhau. Lên kế hoạch cho việc cố ý cân bằng hóa những tiêu chuẩn sinh sống có nghĩa là những yêu sách khác nhau phải được xếp hạng theo giá trị, một số phải được ban cho sự ưu tiên trên những yêu sách khác, và những yêu sách phía sau phải đợi đến phiên của chúng –ngay cả mặc dù những người mà những quyền lợi của họ vì thế bị loại bỏ, có thể được thuyết phục, không chỉ là về quyền hạn tốt hơn của họ, mà còn là về khả năng của họ đạt đến mục đích của mình sớm hơn nếu họ chỉ được ban cho quyền tự do hành động trên những phương sách của riêng mình.

p233

Không có một nền tảng nào tồn tại vốn cho phép chúng ta quyết định liệu những yêu sách của người nông dân Rumani nghèo khó thì nhiều hay ít khẩn cấp hơn những yêu sách của người Albania vẫn còn nghèo hơn, hoặc những nhu cầu của người chăn cừu miền núi Slovakia lớn hơn những nhu cầu người đồng nghiệp Slovenia của anh ta. Nhưng nếu việc nâng cao những tiêu chuẩn cuộc sống của họ phải bị ảnh hưởng theo một kế hoạch đồng nhất, một người nào đó phải cân bằng một cách thận trọng những giá trị của tất cả những yêu sách nầy và ra quyết định giữa chúng. Và một khi một kế hoạch như thế được đưa vào thực hiện, tất cả các nguồn lực của khu vực được hoạch định phải phục vụ cho kế hoạch đó — không có thể có sự miễn trừ cho những người vốn cảm thấy rằng họ có thể làm tốt hơn cho chính mình. Một khi yêu sách của họ đã được ban cho thứ bậc thấp hơn, họ sẽ phải làm việc vì sự thoả mãn những nhu cầu trước của những người vốn đã được ban cho sự ưu đãi. Trong một tình trạng của những vấn đề như thế, mọi người sẽ cảm thấy một cách đúng đắn rằng anh ta đang lâm vào hoàn cảnh tồi tệ hơn hoàn cảnh mà anh ta có thể có nếu một kế hoạch khác nào đó đã được thực hiện, và rằng đó là sự quyết định và sức mạnh của những quyền lực thống trị vốn đã ép buộc anh ta đến một nơi ít thuận lợi hơn mà anh ta nghĩ là do anh ta. Cố gắng thử một điều như thế trong một vùng được cư trú bởi các quốc gia nhỏ, mỗi quốc gia trong số đó đều tin tưởng một cách nhiệt thành vào tính chất ưu việt của riêng mình trên những nước khác, phải đảm nhận một công việc vốn có thể được thực hiện chỉ bằng cách sử dụng vũ lực. Điều mà nó sẽ chẳng khác gì trong thực hành là những quyết định của Anh Quốc và sức mạnh Anh Quốc sẽ phải giải quyết việc liệu những tiêu chuẩn của nông dân Macedonia hoặc Bungary nên được nâng lên nhanh hơn, liệu người thợ mỏ Czech hoặc Hungary sẽ tiến đến những tiêu chuẩn phương Tây mau lẹ hơn. Điều đó không cần đến nhiều kiến thức về bản chất con người, và chắc chắn là chỉ một ít kiến thức của người dân Trung Âu, để nhìn thấy rằng bất cứ sự quyết định gì được áp đặt, sẽ có rất nhiều, có lẽ là phần lớn, vào người mà một trật tự riêng biệt được lựa chọn sẽ xuất hiện sự bất công cực kỳ, và rằng sự hận thù chung của họ sẽ sớm quay ra chống lại quyền lực mà, tuy tước bỏ quyền lợi, trên thực tế quyết định số phận của họ.

(Cộng hòa Macedonia nhỏ bé trong vùng châu Âu, có ngôn ngữ
Macedonian riêng của nó, là một trong những tiểu bang thừa tự của
nước Yugoslavia trước đó và được độc lập vào năm 1991)

p234

Mặc dù không có một nghi ngờ nào, nhiều người vốn thành thật tin rằng nếu họ đã được cho phép để giải quyết công việc mà họ sẽ có thể dàn xếp tất cả những nan đề nầy một cách công bằng và không thiên vị, và vốn là những người có thể cảm thấy thực sự ngạc nhiên khi tìm thấy sự nghi ngờ và thù hận quay ra chống lại họ, họ có thể sẽ là những người đầu tiên áp dụng vũ lực khi những người mà họ có ý định lợi dụng, chứng minh là ngoan cố, và cho thấy chính mình khá tàn nhẫn trong việc cưỡng bức người ta trong cái gì đó được cho là những lợi ích của riêng họ. Điều mà những nhà lý tưởng nguy hiểm nầy không thấy là nơi mà việc gánh lấy trách nhiệm đạo đức liên quan đến những quan điểm đạo đức của người đó sẽ được tạo nên bằng vũ lực để chiếm ưu thế hơn những người khống chế trong những cộng đồng khác, việc gánh lấy trách nhiệm như thế có thể đặt người ta vào trong một vị trí mà qua đó nó trở nên không thể hành động một cách đạo đức. Áp đặt một công việc đạo đức không thể nào xảy ra như thế trên những quốc gia chiến thắng về mặt đạo đức là một cách chắc chắn làm họ thối nát và mất uy tín.
Bằng mọi cách, chúng ta hãy trợ giúp những người nghèo hơn nhiều như chúng ta có thể trong những nỗ lực của riêng mình để xây dựng những cuộc sống của họ và nâng cao những tiêu chuẩn sinh sống của họ. Một chính quyền quốc tế có thể là rất công bằng và đóng góp to lớn vào sự thịnh vượng kinh tế nếu nó chỉ đơn thuần gìn giữ trật tự và tạo ra những điều kiện mà trong đó người dân có thể phát triển cuộc sống của riêng mình; nhưng đó là điều không thể nào là công bằng hoặc để cho người dân sống cuộc sống riêng của họ nếu chính quyền trung ương phát nhỏ giọt những nguyên liệu và phân định những thị trường, nếu mọi nổ lực tự phát phải được “chấp thuận” và không có gì có thể được thực hiện mà không có sự phê chuẩn của chính quyền trung ương.

* * * * *

Sau những cuộc thảo luận trong những chương trước đó, hầu như không cần thiết để nhấn mạnh rằng những khó khăn nầy không thể được đáp ứng bằng việc trao cho những nhà thẩm quyền quốc tế khác nhau “chỉ đơn thuần là” những quyền lực kinh tế đặc trưng. Niềm tin mà qua đó đây là một giải pháp thực tiển, dựa trên sự ngụy biện rằng việc hoạch định kinh tế chỉ đơn thuần là một công việc kỹ thuật, vốn có thể được giải quyết theo tính cách khách quan nghiêm ngặt bởi những chuyên gia, và rằng những điều rất quan trọng thực sự sẽ vẫn bị bỏ lại trong tay của những người có thẩm quyền về chính trị. Bất kỳ người nào có thẩm quyền kinh tế trên quốc tế, không lệ thuộc vào một quyền lực chính trị vượt trội, thậm chí nếu bị giới hạn một cách nghiêm khắc trong phạm vi một lãnh vực riêng biệt, có thể dễ dàng sử dụng quyền lực chuyên chế và vô trách nhiệm nhất có thể tưởng tượng được.

p235

Việc kiểm soát độc quyền về mặt hàng thiết yếu hoặc dịch vụ (như là, thí dụ, việc vận chuyển bằng hàng không) trong hiệu quả là một trong những quyền lực có ảnh hưởng sâu rộng nhất vốn có thể được trao cho bất kỳ chính quyền nào. Và như là hiếm khi có bất cứ điều gì vốn không thể được biện minh bằng “những điều cần thiết về kỹ thuật” mà không một người ngoài nào có thể đặt câu hỏi một cách hiệu nghiệm –hoặc thậm chí bằng những lập luận nhân đạo và có thể là hoàn toàn chân thành về những nhu cầu của một nhóm đặc biệt không được ủng hộ nhiều nào đó vốn không thể được giúp đỡ trong bất kỳ cách nào khác –có ít khả năng về sự kiểm soát quyền lực đó. Loại tổ chức của các nguồn lực của thế giới dưới những cơ chế tự trị nhiều hay ít hơn, mà qua đo hiện thời rất thường tìm thấy sự ủng hộ ở những phía đáng ngạc nhiên nhất, một hệ thống của những nhà độc quyền thương mại bao hàm nhiều mặt được nhìn nhận bởi tất cả chính phủ trong số những chính phủ quốc gia, nhưng không lệ thuộc vào chính phủ nào, sẽ không tránh khỏi trở nên một hệ thống tồi tệ nhất trong số tất cả những mánh lới có thể nhận thức được –ngay cả khi những người được tin cẩn với sự quản trị của họ sẽ chứng minh là những người bảo vệ trung thành nhất những lợi ích riêng biệt được đặt vào sự quan tâm của họ.
Người ta chỉ cần nghiêm túc suy xét toàn diện những ẩn ý của những dự kiến dường như vô thưởng vô phạt như thế, được nhiều người xem như là nền tảng thiết yếu của trật tự kinh tế trong tương lai, chẳng hạn như là quyền kiểm soát có ý thức và sự phân phối nguồn cung cấp những nguyên liệu cần thiết, nhằm mục đích nhìn thấy điều gì làm kinh sợ những khó khăn chính trị và những mối nguy hiểm về đạo đức mà họ tạo ra. Người điều khiển việc cung cấp bất kỳ nguyên liệu nào như thể là xăng hoặc gỗ, cao su hay kim loại, sẽ là chủ nhân của số phận của toàn bộ ngành kỹ nghệ và những quốc gia. Trong việc quyết định liệu có cho phép việc cung cấp gia tăng và giá cả hoặc phần thu nhập của các nhà sản xuất sụp đổ, anh ta sẽ quyết định việc liệu một quốc gia nào đó có phải được cho phép để bắt đầu ngành kỹ nghệ mới nào đó hoặc liệu điều đó có bị cản trở làm như thế không. Trong khi anh ta “bảo vệ” những tiêu chuẩn cuộc sống của những người mà anh ta xem như là đặc biệt được tin cẩn đối với sự quan tâm của mình, anh ta sẽ rút đi nhiều người vốn đang ở trong một vị thế tồi tệ hơn nhiều của cơ hội tốt nhất và có lẽ là duy nhất của họ để cải thiện nó.

p236

Nếu tất cả những nguyên liệu thiết yếu vì thế đã được kiểm soát, quả thật sẽ không có ngành kỹ nghệ mới nào, không có việc mạo hiểm mới nào mà những người dân của một quốc gia có thể bắt tay vào mà không có sự cho phép của những người điều khiển, không một kế hoạch nào dành cho sự phát triển hoặc cải tiến mà không thể bị thất vọng bởi quyền phủ quyết của họ. Điều nầy cũng đúng về cách dàn xếp quốc tế cho việc “chia sẻ” những thị trường và thậm chí nhiều hơn thế về sự kiểm soát việc đầu tư và phát triển những nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Điều hiếu kỳ khi quan sát làm cách nào những người vốn tự cho mình là những nhà hiện thực cứng rắn nhất, và vốn là những người không bỏ lỡ một cơ hội nào ném sự nhạo báng vào “chủ nghĩa đại đồng vô tưởng” của những người vốn tin vào tính khả thi của một trật tự chính trị quốc tế, thực tiển hơn tuy xem như là sự can thiệp mật thiết và vô trách nhiệm hơn nhiều đối với những cuộc sống của các dân tộc khác nhau mà việc hoạch định kinh tế có liên quan đến, và tin tưởng rằng, cho đến nay một khi quyền lực không dám mơ tưởng đến được ban cho một chính phủ quốc tế, vốn vừa mới được đại diện như là thậm chí không có khả năng thực thi một Quy tắc đơn giản của Luật pháp, quyền lực to lớn hơn nầy sẽ được sử dụng theo cách rất ích kỷ và rất rõ ràng chỉ là một cách như để chỉ huy sự đồng tình chung. Nếu bất cứ điều gì là hiển nhiên, nó sẽ là điều mà, trong khi các quốc gia có thể giữ theo những quy tắc chính thức mà qua đó họ đã đồng ý, họ sẽ không bao giờ thừa nhận sự chỉ đạo mà việc hoạch định kinh tế quốc tế có liên quan đến –qua đó trong khi họ có thể đồng ý trên những quy tắc của trò chơi, họ sẽ không bao giờ đồng ý trên thứ tự ưu tiên mà trong đó thứ bậc của những nhu cầu của riêng họ và tốc độ mà họ được phép tiến tới, thì cố định bởi số phiếu đa số. Ngay cả khi, trước tiên, những người dân, dưới một ảo tưởng nào đó về ý nghĩa của những dự kiến như thế, sẽ đồng ý chuyển giao những quyền lực như thế cho một người có thẩm quyền quốc tế, họ sẽ sớm tìm ra rằng điều mà họ đã ủy thác, không chỉ đơn thuần là một công việc kỹ thuật, nhưng là một quyền lực bao hàm nhất ngay trên những cuộc sống của họ.
Điều mà rõ ràng là ở phía sau những tâm trí của “những nhà hiện thực” không phải là hoàn toàn không thực tiển vốn là những người ủng hộ những mưu toan nầy, đó là, trong khi những Cường quốc lớn sẽ không vui lòng thừa nhận bất kỳ thẩm quyền vượt trội nào, họ sẽ có thể sử dụng những thẩm quyền “quốc tế” đó để áp đặt ý muốn của mình trên các quốc gia nhỏ hơn trong phạm vi khu vực mà trong đó họ thực thi quyền lãnh đạo.

p237

Có quá nhiều “chủ nghĩa hiện thực” trong đất nước nầy đến nổi vì thế bằng cách ngụy trang những thẩm quyền lên kế hoạch như là “quốc tế”, điều đó có thể là dễ dàng hơn đạt được điều kiện mà theo đó cụ thể là, chỉ riêng việc hoạch định quốc tế là một điều thực tiển mà trong hiệu quả, điều đó được thực hiện bởi một quyền lực duy nhất chiếm ưu thế. Sự ngụy trang nầy, tuy nhiên, sẽ không làm thay đổi sự kiện thực tế là đối với tất cả những quốc gia nhỏ hơn, điều đó sẽ có nghĩa là một sự lệ thuộc hoàn toàn hơn nhiều vào một quyền lực bên ngoài, mà qua đó không có bất kỳ sự đối kháng thực sự nào sẽ còn có thể kéo dài hơn, so với sự đối kháng sẽ bị lôi cuốn vào việc từ bỏ một phần được xác định rõ ràng về quyền chính trị tối cao.
Điều rất quan trọng là những người bênh vực nồng nhiệt nhất một Trật tự Mới cho châu Âu về nền kinh tế được điều hành tập trung sẽ cho thấy, giống như Hội Xã hội Chủ nghĩa Tiệm tiến Fabian và những mô hình trước đó của Đức, việc hoàn toàn bất chấp nhất quyền cá nhân và những quyền hạn của các quốc gia nhỏ. Những quan điểm của Giáo sư Carr, vốn là người trong lãnh vực nầy thậm chí nhiều hơn trong lãnh vực đó về chính sách nội bộ là tiêu biểu của khuynh hướng về chủ nghĩa độc tài toàn trị trong đất nước nầy, đã thực sự khiến cho một người trong những đồng nghiệp chuyên nghiệp của mình đặt ra một câu hỏi rất thích đáng: “Nếu cách Đức quốc Xã với những quốc gia nhỏ có chủ quyền quả thật muốn trở thành một hình thức chung, cuộc chiến tranh là về cái gì ?”1 Những người vốn đã từng theo dõi một số những lời phát biểu gần đây về những câu hỏi nầy trên những tờ báo khác nhau như tạp chí The TimesNew Statesman2 đã gây ra bao nhiêu sự băn khoăn và báo động trong số những Đồng minh nhỏ hơn của chúng ta, sẽ có chút nghi ngờ về thái độ nầy là bao nhiêu ngay cả bây giờ được trút bực tức giữa những người bạn gần gũi nhất của chúng ta, và điều đó sẽ dễ dàng đến như thế nào để làm tiêu tan lòng tin vào thiện chí vốn đã được trữ dành trong suốt cuộc chiến tranh nếu những cố vấn viên nầy được theo sau.

* * * * *

Những người vốn rất sẵn sàng chà đạp những quyền hạn của các quốc gia nhỏ, dĩ nhiên, đúng trong một điều: chúng ta không thể hy vọng cho một trật tự hoặc nền hòa bình lâu dài sau cuộc chiến nầy nếu những quốc gia, lớn hay nhỏ, lấy lại được chủ quyền không bị xiềng xích trong lãnh vực kinh tế.
=============
1 Giáo sư C.A.W. Manning, trong bài duyệt xét về bài viết “Conditions of Peace” (“Những điều kiện Hòa Bình”) của Giáo sư Carr trong bộ sách “International Affairs Review Supplement” (“Bổ sung phần Duyệt xét những Vấn đề Quốc tế”), tháng 6 năm 1942.

2 Đó là điều rất quan trọng nhiều hơn một khía cạnh mà, như đã được quan sát gần đây trong một trong những tạp chí hàng tuần, “người ta đã thực sự bắt đầu mong đợi một văn phong của Giáo sư Carr phảng phất hương vị trong những trang của tạp chí New Statesman cũng như trong những trang của tạp chí The Times” (bài viết “Four Winds” (“Bốn cơn Gió”) trong tạp chí Time and Tide, ngày 20 tháng 2, 1943).
=============

p238

Nhưng điều nầy không có nghĩa là một quốc gia siêu cường mới phải được giao cho những quyền lực mà chúng ta đã không học hỏi sử dụng một cách khôn ngoan ngay cả trên phạm vi quốc gia, không có nghĩa là một thẩm quyền quốc tế phải được giao cho quyền lực chỉ đạo những quốc gia riêng lẽ làm cách nào sử dụng nguồn lực của mình. Điều đó có nghĩa đơn thuần là phải có một quyền lực vốn có thể hạn chế những quốc gia khác nhau trong phạm vi hoạt động có hại cho các nước láng giềng của mình, một bộ những quy tắc vốn xác định một nhà nước có thể làm gì, và một thẩm quyền có khả năng thực thi những quy tắc nầy. Những quyền lực mà một chính quyền như thế sẽ cần đến, chủ yếu là về một loại tiêu cực: trên hết nó phải có khả năng nói “không” đối với tất cả các loại biện pháp hạn chế.
Điều đáng nghi ngờ mà qua đó, như hiện nay được tin tưởng rộng rãi, chúng ta cần đến một thẩm quyền kinh tế quốc tế trong khi các quốc gia đồng thời có thể giữ lại quyền tối cao không bị hạn chế về chính trị của mình, điều trái ngược gần như một cách chính xác là xác thực. Điều mà chúng ta cần đến và có thể hy vọng đạt được, không phải là thêm quyền lực trong tay của những người có thẩm quyền vô trách nhiệm về kinh tế quốc tế, nhưng, ngược lại, là một quyền lực chính trị vượt trội vốn có thể giữ những lợi ích kinh tế trong vòng kiểm soát, và trong sự xung đột giữa họ có thể thực sự cầm cân nẩy mực, bởi vì chính quyền lực đó không bị trộn lẫn trong trò chơi kinh tế. Điều cần đến là một thẩm quyền chính trị quốc tế mà qua đó, không có một quyền lực nào chỉ đạo những dân tộc khác nhau những gì họ phải làm, phải có khả năng kiềm chế họ trong phạm vi hoạt động vốn sẽ gây tổn hại cho những dân tộc khác. Những quyền lực vốn phải trao cho một thẩm quyền quốc tế, không phải là những quyền lực mới được nắm lấy bởi các nhà nước trong những thời gian gần đây, nhưng sự tối thiểu đó của những quyền lực mà không có thẩm quyền đó là điều không thể nào duy trì những mối quan hệ hòa bình, tức là về cơ bản, những quyền lực của một nhà nước cực kỳ tự do theo kiểu “laissez-faire (i.e. không can thiệp)”. Và thậm chí nhiều hơn trong lãnh vực quốc gia, điều thiết yếu là những quyền lực nầy của một thẩm quyền quốc tế sẽ được nghiêm ngặt khoan vòng bởi Quy định Luật pháp.
Điều cần đến cho một thẩm quyền siêu quốc gia như thế quả thật trở nên to lớn hơn khi các quốc gia riêng lẽ càng lúc càng trở thành những đơn vị thuộc ban quản trị kinh tế, những nước hành động chứ không phải chỉ đơn thuần là những nước giám sát khung cảnh kinh tế, và vì vậy khi bất kỳ sự va chạm nào có khả năng phát sinh không phải giữa những nước riêng lẽ nhưng chẳng hạn là giữa các quốc gia.

p239

Hình thức chính phủ quốc tế mà theo đó những quyền lực được xác định một cách nghiêm ngặt nào đó được chuyển giao cho một thẩm quyền quốc tế, trong khi ở tất cả những khía cạnh khác, những quốc gia riêng lẽ vẫn còn trách nhiệm cho những công việc nội bộ của mình, dĩ nhiên, thì điều đó thuộc về liên bang. Chúng ta không được cho phép những yêu sách thiếu cân nhắc rất nhiều và thường rất ngớ ngẩn được tạo nên nhân danh một tổ chức liên bang của toàn thế giới trong suốt tầm cao của việc tuyên truyền cho “Liên minh Liên bang” để che khuất sự kiện thực tế là nguyên tắc của liên bang là hình thức duy nhất của hiệp hội của những dân tộc khác nhau vốn sẽ tạo ra một trật tự quốc tế không có việc đặt sự căng thẳng quá mức trên sự mong muốn hợp pháp của họ cho sự độc lập.1 Chủ nghĩa liên bang, dĩ nhiên, không là gì cả ngoại trừ sự ứng dụng vào những vấn đề quốc tế của nền dân chủ, là phương pháp duy nhất của sự thay đổi ôn hòa mà con người hãy còn phát minh. Nhưng chính là một nền dân chủ với những quyền lực chắc chắn bị hạn chế. Ngoài lý tưởng thiếu thực tiển hơn của việc kết lại những quốc gia khác nhau trở thành một nhà nước được tập trung duy nhất (khả năng mong muốn về điều mà không rõ ràng), chính là cách duy nhất mà qua đó lý tưởng của luật pháp quốc tế có thể được tạo nên một thực tế. Chúng ta không được lừa dối chính mình rằng trong quá khứ việc kêu gọi đến những quy tắc của luật pháp quốc tế về thái độ quốc tế mà chúng ta đã làm nhiều hơn là thể hiện một ước muốn có thiện ý. Khi chúng ta muốn ngăn chận người ta khỏi giết hại lẫn nhau, chúng ta không vui lòng đưa ra lời tuyên bố rằng việc giết chóc là điều không mong muốn, nhưng chúng ta cho một sức mạnh có thẩm quyền để ngăn chận nó. Trong cùng một cách, có thể là không có luật pháp quốc tế nào mà không có một quyền lực để thực thi nó.
=============
1 Điều rất đáng tiếc là sự tràn ngập của những ấn phẩm của những người chủ trương thành lập liên bang mà trong những năm gần đây đã đổ xuống trên chúng ta, đã tước đoạt một số ít những tác phẩm quan trọng và sâu sắc trong số chúng có sự chú ý mà chúng xứng đáng. Riêng biệt là một tác phẩm vốn phải được tham vấn một cách cẩn thận khi thời gian đến dành cho việc dàn dựng một cấu trúc chính trị mới của châu Âu là cuốn sách nhỏ của Tiến sĩ W. Ivor Jennings về “A Federation for Western Europe” (“Một Liên bang cho Tây Âu”) (1940).
=============

p240

Trở ngại đối với việc tạo ra một quyền lực quốc tế như thế phần rất lớn là tư tưởng mà nó cần đến vai trò chỉ huy tất cả những quyền lực không bị giới hạn thiết thực mà một nhà nước hiện đại có được. Nhưng với sự phân chia quyền lực dưới một hệ thống liên bang, điều nầy không có nghĩa là cần thiết.
Sự phân chia quyền lực nầy không tránh khỏi sẽ hành động cùng một lúc cũng như sự giới hạn quyền lực của toàn bộ cũng như của một nhà nước riêng lẽ. Quả thật, nhiều loại trong số những loại hoạch định mà bây giờ đang hợp thời, có lẽ sẽ trở nên hoàn toàn không thể nào xảy ra.1 Nhưng điều đó sẽ không có nghĩa là thành lập chướng ngại cho tất cả việc hoạch định. Thật ra, điều đó là một trong những lợi thế chính yếu của liên bang mà nó có thể được nghĩ ra miễn sao làm cho hầu hết việc hoạch định gây tại hại trở nên khó khăn trong khi để lại cách tự do cho tất cả việc hoạch định như mong muốn. Nó ngăn chận, hoặc có thể được tạo nên để ngăn chận, hầu hết những hình thức của chủ nghĩa hạn chế. Và nó kiềm chế việc hoạch định quốc tế trong phạm vi những lãnh vực nơi mà sự thỏa thuận thực sự có thể được đạt đến –không chỉ giữa những “lợi ích” được quan tâm trước mắt, mà là trong số tất cả những lợi ích bị ảnh hưởng. Những hình thức mong muốn của việc hoạch định vốn có thể bị ảnh hưởng cục bộ và không có sự cần đến của những biện pháp hạn chế, được thả lỏng và nằm trong tay của những người có khả năng hay nhất để đảm nhận nó. Điều đó thậm chí được hy vọng rằng trong phạm vi một liên bang, nơi mà sẽ không còn có sự tồn tại những lý do giống nhau cho việc tạo những quốc gia riêng lẻ mạnh mẽ như có thể, quá trình của việc tập trung thuộc quá khứ có thể trong một mức độ nào đó bị đảo ngược và việc chuyển giao những quyền lực nào đó từ một nhà nước đến chính quyền địa phương trở nên là điều có thể có.
Điều đáng nhớ lại là ý tưởng của thế giới cuối cùng tìm thấy nền hòa bình qua việc tiếp thu của các quốc gia riêng lẽ trong những nhóm được liên kết to lớn và cuối cùng có lẽ là trong một liên bang duy nhất, không có gì là mới, quả thật sự là lý tưởng của hầu hết tất cả những nhà tư tưởng tự do của thế kỷ mười chín.
=============
1 Xem thêm trên bài viết nầy của tác giả về “Economic Conditions of Inter-State Federation” (“Những điều kiện Kinh tế của Liên bang Nội Quốc”), trong bộ sách “The New Commonwealth Quarterly”, vol. V, tháng 9 năm 1939.
=============

p241

Từ ông Tennyson, mà tầm nhìn được trích dẫn nhiều của ông ta về “trận chiến trên không” được theo sau bởi tầm nhìn của liên bang về những người vốn sẽ theo sau cuộc chiến đấu to lớn cuối cùng của mình, xuống ngay đến cuối thế kỷ thành tích cuối cùng của tổ chức liên bang vẫn còn là niềm hy vọng từng được tái diện của một bước tiến to lớn kế tiếp trong sự tiến triển của nền văn minh. Những người tự do thuộc thế kỷ mười chín có thể đã không có nhận thức đầy đủ về phần bổ sung của những nguyên tắc của họ thiết yếu đến như thế nào mà tổ chức liên bang của những nước khác nhau hình thành;1 nhưng có một số ít người trong số họ vốn là những người đã không bày tỏ niềm tin của mình vào nó như là một mục đích tối hậu.2 Điều đó chỉ với sự tiếp cận của thế kỷ hai mươi của chúng ta mà trước khi sự trỗi lên hân hoan của đường lối Chính trị Thực dụng, những hy vọng nầy cuối cùng được xem như là không thực tiển và vô tưởng.

* * * * *

Chúng ta sẽ không xây dựng lại nền văn minh trên quy mô lớn. Không phải là điều ngẫu nhiên mà trên toàn bộ có vẻ đẹp và nét thanh lịch hơn được tìm thấy trong cuộc sống của những dân tộc nhỏ, và trong số những dân tộc lớn có hạnh phúc và sự toại nguyện hơn theo tỷ lệ khi họ đã tránh được những tai họa chết người của việc tập trung hóa. Ít nhất là chúng ta sẽ bảo tồn nền dân chủ hoặc nuôi dưỡng sự tăng trưởng của nó nếu tất cả quyền lực và hầu hết những quyết định quan trọng tùy thuộc vào một tổ chức rất quá đổi to lớn đối với một người bình thường đến người kiểm soát thấu hiểu. Không một nơi nào có nền dân chủ từng làm việc tốt đẹp mà không có một biện pháp lớn của chính quyền tự trị địa phương, cung cấp một trường đào tạo về chính trị cho những người dân, nói chung phần nhiều dành cho những nhà lãnh đạo tương lai của họ. Đó chỉ là nơi mà trách nhiệm có thể được học hỏi và thực hành trong những vấn đề mà hầu hết những người dân quen thuộc, nơi mà chính là sự nhận thức của người làng giềng hơn là một kiến thức lý thuyết nào đó về những nhu cầu của những người khác vốn hướng dẫn hành động, mà qua đó một người bình thường có thể nhận lấy một vai trò thực sự trong những vấn đề công cộng bởi vì chúng có liên quan đến thế giới mà anh ta biết.
=============
1 Xem thêm về điều nầy qua cuốn sách đã được trích dẫn của Giáo sư Robbins, pp. 240–57.

2 Vào cuối những năm khép lại của thế kỷ mười chín, Henry Sidgwick nghĩ rằng điều đó “không vượt quá những giới hạn của dự báo đúng mức khi phỏng đoán rằng việc hội nhập nào đó trong tương lai có thể xảy ra trong những nước nhỏ Tây Âu: và nếu điều đó sẽ xảy ra, dường như có thể là tấm gương của Mỹ sẽ được theo sau, và rằng khối tổng hợp mới về chính trị sẽ được hình thành trên cơ bản của một chính thể liên bang” (tác phẩm “The Development of European Polity” (“Sự phát triển của Chính thể châu Âu”), được xuất bản vào năm 1903 sau khi ông ta qua đời, p.439).
=============

p242

Nơi mà phạm vi của những biện pháp chính trị trở nên quá lớn đến nổi kiến thức cần thiết gần như độc quyền được sở hữu bởi giới quan liêu, những xung lực sáng tạo của một người riêng tư phải trở nên nhạt nhẽo. Tôi tin rằng nơi đây kinh nghiệm của các quốc gia nhỏ giống như Hòa Lan và Thụy Sĩ có chứa phần nhiều từ kinh nghiệm mà ngay cả những quốc gia lớn hơn, may mắn nhất giống như Đại quốc Anh có thể học hỏi. Tất cả chúng ta sẽ là những người thu lợi nếu chúng ta có thể tạo ra một thế giới phù hợp cho những nước nhỏ để sống trong đó.
Nhưng những nước nhỏ có thể bảo vệ nền độc lập của mình trong môi trường quốc tế như là trong mội trường quốc gia chỉ trong phạm vi một hệ thống thực sự của pháp luật vốn bảo đảm cả hai rằng những quy tắc nhất định được thực thi một cách không thay đổi và rằng chính quyền vốn có quyền lực để thúc đẩy những quy tắc nầy, không thể sử dụng quyền lực nầy cho bất kỳ mục đích nào khác. Trong khi đối với công việc của chính quyền về việc thực thi pháp luật chung, thẩm quyền siêu quốc gia phải là rất mạnh mẽ, hiến pháp của nó đồng thời phải được trù hoạch sao cho nó ngăn chận những thẩm quyền quốc tế cũng như quốc gia khỏi trở thành chuyên chế. Chúng ta sẽ không bao giờ ngăn chận được sự lạm dụng quyền lực nếu chúng ta không chuẩn bị để hạn chế quyền lực theo cách mà đôi khi cũng có thể ngăn chận được việc sử dụng nó cho những mục đích như mong muốn. Cơ hội lớn mà chúng ta sẽ có vào cuối cuộc chiến tranh nầy là những cường to lớn quốc chiến thắng, bởi chính họ lần đầu tiên thừa nhận một hệ thống gồm những quy tắc mà họ có quyền lực để thực thi, đồng thời có thể có được điều đúng đắn đạo đức để áp đặt cùng những quy tắc trên những nước khác.
Một thẩm quyền quốc tế vốn hạn chế một cách hiệu quả những quyền lực của nhà nước trên những cá nhân sẽ là một trong những biện pháp bảo vệ nền hòa bình tốt nhất. Quy tắc quốc tế về Luật pháp phải trở thành sự bảo vệ như phần nhiều chống lại sự độc tài của nhà nước trên những cá nhân như chống lại sự chuyện chế của một siêu nhà nước mới trên những cộng đồng quốc gia. Không phải là một siêu nhà nước có quyền tuyệt đối, cũng không phải là sự liên kết lỏng lẻo của “những quốc gia tự do”, nhưng là một cộng đồng các quốc gia của những người tự do phải là mục đích của chúng ta. Chúng ta từ lâu đã biện hộ rằng điều đó đã trở nên không thể nào khi hành xử trong các vấn đề quốc tế như chúng ta nghĩ rằng đó là điều đáng mong muốn bởi vì những nước khác sẽ không chơi trò chơi đó.

p243

Việc dàn xếp sắp tới sẽ là cơ hội để cho thấy rằng chúng ta đã từng chân thành và rằng chúng ta đang chuẩn bị chấp nhận những hạn chế tương tự về quyền tự do hành động của chúng ta mà trong lợi ích chung, chúng ta nghĩ rằng đó đó là điều cần thiết để áp đặt trên những nước khác.
Được sử dụng một cách khôn ngoan, nguyên tắc liên bang của tổ chức quả thật có thể chứng minh là một giải pháp tốt nhất của một số vấn đề trong những nan đề khó khăn nhất của thế giới. Nhưng việc ứng dụng của nó là một công việc cực kỳ khó khăn và chúng ta không có khả năng thành công nếu trong một nỗ lực quá tham vọng chúng ta làm căng thẳng điều đó vượt quá khả năng của nó. Có lẽ là sẽ có một xu hướng mạnh mẽ tồn tại để tạo nên bất kỳ tổ chức quốc tế mới nào thấu hiểu hoàn toàn và trên toàn thế giới; và dĩ nhiên, sẽ có một nhu cầu cấp thiết cho một tổ chức bao hàm nào đó như thế, một Liên đoàn mới nào đó của những Quốc gia. Điều nguy hiểm to lớn là, nếu trong một nỗ lực hoàn toàn dựa vào tổ chức thế giới nầy, nó được giao cho tất cả những công việc mà nó dường như mong muốn đặt vào trong tay của một tổ chức quốc tế, thật ra chúng sẽ không được hoạt động một cách thích hợp. Điều đó luôn luôn đã từng là niềm tin chắc chắn của tôi rằng những tham vọng như thế nằm ở cội rễ của sự yếu kém của Liên đoàn các Quốc gia: mà qua đó trong sự cố gắng (không thành công) để làm cho nó được biết đến trên toàn thế giới, nó phải được làm cho yếu kém, và qua đó một Liên đoàn nhỏ hơn và đồng thời mạnh mẽ hơn có thể đã là một công cụ tốt hơn để bảo tồn nền hòa bình. Tôi tin tưởng rằng những suy xét nầy vẫn đứng vững và rằng một mức độ phối hợp có thể đạt được giữa, thí dụ như, Vương quốc Anh và các quốc gia Tây Âu và có lẽ là Hoa Kỳ mà qua đó sẽ không phải là điều có thể trên cán cân thế giới. Sự liên kết tương đối gần gũi mà Liên minh liên bang đại diện, trước tiên sẽ không phải là điều thực tiển vượt xa hơn có lẽ ngay cả một vùng nhỏ hẹp như một phần của Tây Âu, mặc dù nó có thể dần dần mở rộng nó.
Điều xác thực là với sự hình thành của những liên bang khu vực như thế, điều có thể có của cuộc chiến tranh giữa các khối khác nhau vẫn còn đó, và để giảm bớt nguy cơ nầy nhiều như có thể, chúng ta phải dựa vào một sự liên kết lớn hơn và lỏng lẻo hơn.

p244

Quan điểm của tôi là nhu cầu cho một tổ chức khác nào đó như thế sẽ không hình thành một trở ngại cho sự liên kết gần gũi hơn của các quốc gia đó vốn có nhiều điểm tương tự hơn trong nền văn minh, quan điểm, và những tiêu chuẩn của mình. Trong khi chúng ta phải nhằm mục đích vào việc ngăn chận những cuộc chiến tranh trong tương lai nhiều như có thể, chúng ta không phải tin tưởng rằng với một nỗ lực duy nhất chúng ta có thể tạo ra một tổ chức vĩnh viễn vốn sẽ làm cho tất cả cuộc chiến tranh trong bất kỳ phần đất nào của thế giới hoàn toàn không thể nào xảy ra. Chúng ta sẽ không chỉ là không thành công trong một cố gắng như thế, mà có thể là chúng ta sẽ bằng cách ấy có lẽ là làm hỏng những cơ hội của chúng ta đạt được thành công trong một lãnh vực hạn chế hơn. Như đó là điều xác thực đối với những điều tai hại to lớn khác, những biện pháp mà cuộc chiến tranh có thể được tạo nên nhìn chung là điều không thể nào trong tương lai, cũng có thể là tồi tệ hơn ngay cả chính cuộc chiến. Nếu chúng ta có thể làm giảm bớt nguy cơ của sự va chạm có khả năng dẫn đến cuộc chiến tranh, có lẽ đây là điều mà tất cả chúng ta có thể hy vọng đạt được một cách hợp lý.

p245

Phần kết luận

Mục đích của cuốn sách nầy đã không buộc phải phác thảo một chương trình chi tiết về một trật tự xã hội đáng mong muốn trong tương lai. Nếu với việc liên quan đến những vấn đề quốc tế, chúng ta đã đi xa hơn một chút công việc rất quan trọng thiết yếu của nó, đó là bởi vì trong lãnh vực nầy, chúng ta có thể sớm được kêu gọi để tạo ra một khuôn khổ trong phạm vi đó mà sự tăng trưởng trong tương lai có thể phải tiến hành trong một thời gian dài sắp tới. Phần lớn sẽ phụ thuộc vào việc chúng ta sử dụng cơ hội như thế nào mà chúng ta sẽ có sau đó. Nhưng bất cứ điều gì chúng ta làm, điều đó chỉ có thể là sự khởi đầu của một quá trình mới, lâu dài, và gian khổ mà trong đó tất cả chúng ta hy vọng rằng dần dần chúng ta sẽ tạo ra một thế giới rất khác biệt đối với thế giới mà chúng ta đã biết trong suốt một phần tư cuối cùng của thế kỷ. Ít ra đó là điều đáng ngờ là liệu ở giai đoạn nầy một bản thảo xanh chi tiết về một trật tự mong muốn bên trong của xã hội sẽ là nhiều hữu dụng –hoặc là liệu có bất cứ ai có đủ khả năng cung cấp điều đó. Điều quan trọng bây giờ là chúng ta sẽ đi đến sự đồng ý trên những nguyên tắc nhất định và giải thoát chính chúng ta ra khỏi một vài lỗi lầm trong những số đó vốn đã từng chi phối chúng ta trong thời gian qua.

p246

Tuy nhiên sự thừa nhận như thế có thể là điều khó chịu, chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta đã có trước khi cuộc chiến nầy một lần nữa đạt đến một giai đoạn nơi mà điều quan trọng là dọn sạch những trở ngại mà sự điên rồ của con người đã từng gây trở ngại con đường của chúng ta và giải thoát năng lực sáng tạo của những cá nhân hơn là nghĩ ra xa hơn bộ máy chính quyền cho “việc hướng dẫn” và “chỉ đạo” họ –để tạo ra những điều kiện thuận lợi để tiến triển hơn là để “lên kế hoạch tiến triển.” Điều cần đến trước tiên là giải thoát chính chúng ta khỏi hình thức tồi tệ nhất đó của chính sách ngu đần đương thời vốn cố gắng thuyết phục chúng ta rằng những gì chúng ta đã làm trong thời gian qua gần đây, tất cả hoặc là khôn ngoan hay không thể nào tránh được. Chúng ta sẽ không phát triển khôn ngoan hơn trước khi chúng ta học được rằng phần nhiều điều mà chúng ta đã làm, thì rất ngu dại.
Nếu chúng ta muốn xây dựng một thế giới tốt hơn, chúng ta phải có can đảm để tạo nên một khởi đầu mới –ngay cả khi điều đó có nghĩa là reculer pour mieux sauter nào đó (i.e. nhường bước để chiếm lấy một vị trí vững vàng hơn nào đó). Không phải là những người vốn tin tưởng vào những khuynh hướng tất yếu vốn là những người cho thấy lòng can đảm nầy, không phải là những người vốn rao giảng một “Trật tự Mới” mà qua đó không hơn là một sự hình thành cụ thể của những khuynh hướng thuộc bốn mươi năm qua, và vốn là những người có thể nghĩ rằng không có gì tốt hơn là bắt chước Hitler. Quả thật, chính là những người vốn kêu thét to nhất cho một Trật tự Mới vốn là những người hầu như hoàn toàn chịu sự thống trị của những ý tưởng vốn đã tạo ra cuộc chiến nầy và hầu hết những tai họa mà chúng ta phải chịu khốn khổ. Những người trẻ thì đúng nếu họ có một ít tự tin vào những ý tưởng vốn cai trị hầu hết những người lớn tuổi của mình. Nhưng họ lầm lẫn hoặc bị dẫn dắt sai lầm khi họ tin tưởng rằng những điều nầy vẫn là những tư tưởng tự do thuộc thế kỷ mười chín, mà thật ra một thế hệ trẻ hơn khó mà biết được. Mặc dù chúng ta không có thể ước muốn, cũng không có quyền lực, quay trở lại thực tế của thế kỷ mười chín, chúng ta có cơ hội để nhận ra những lý tưởng của nó —và chúng không phải là tầm thường. Chúng ta có ít quyền hạn để cảm thấy trong khía cạnh nầy vượt trội hơn những ông cha của chúng ta; và chúng ta không bao giờ nên quên rằng chính là chúng ta, thế kỷ hai mươi, và không phải là họ, vốn là những người đã tạo nên tình trạng xáo trộn của những sự việc. Nếu họ chưa học hỏi đầy đủ về điều gì là cần thiết để tạo ra thế giới mà họ muốn, kinh nghiệm mà kể từ khi chúng ta đã từng có được, đáng lẽ đã trang bị chúng ta tốt hơn cho công việc. Nếu trong cố gằng đầu tiên nhằm tạo ra một thế giới của những người tự do, chúng ta đã thất bại, chúng ta phải cố gắng một lần nữa. Nguyên tắc hướng dẫn, mà qua đó một chính sách về quyền tự do dành cho những cá nhân là một chính sách tiến bộ thực sự duy nhất, còn lại sự thật hôm nay như nó đã là trong thế kỷ mười chín.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

Advertisements

15 thoughts on “Chương 15 (Hết) : Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế

  1. Pingback: Chương 01: Con đường Bỏ hoang |

  2. Pingback: Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng |

  3. Pingback: Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể |

  4. Pingback: Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định |

  5. Pingback: Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ |

  6. Pingback: Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp |

  7. Pingback: Chương 07: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị |

  8. Pingback: Chương 08: Ai làm, ai chịu ? |

  9. Pingback: Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do |

  10. Pingback: Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao |

  11. Pingback: Chương 11: Phần Cuối của Sự thật |

  12. Pingback: Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã |

  13. Pingback: Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta |

  14. Pingback: Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng |

  15. Pingback: Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch (Mục Lục & Lời Giới thiệu) |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s