Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng

p207

Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng

“Có phải chăng điều đó là chính đáng và hợp lý, mà hầu hết những tiếng
nói chống lại mục đích chính của chính phủ sẽ chịu nô lệ hóa một số
lượng ít hơn số lượng sẽ được tự do ? Điều chính đáng hơn, không nghi
ngờ gì, nếu điều đó còn hiệu lực, mà một số lượng ít hơn thúc ép một
số lượng lớn hơn để duy trì, mà qua đó có thể là không sai lầm đối với
họ, sự tự do của họ, so với điều mà một số lượng lớn hơn, vì ý thích
đê tiện của họ, thúc ép một số lượng ít hơn một cách vu khống nhất là
những người nô lệ đồng bào của mình. Họ vốn là những người không
tìm kiếm gì cả ngoại trừ sự tự do chính đáng của riêng họ, luôn luôn có
chính nghĩa để giành được điều đó, bất cứ khi nào họ có sức mạnh, là
những tiếng nói không bao giờ rất nhiều đến nổi đối nghịch nó.”

John Milton

Thế hệ của chúng ta thích tự tâng bốc chính mình mà nó xem nhẹ những suy xét về kinh tế so với cha mẹ hoặc ông bà của mình đã nghĩ. Cuốn sách “Sự chấm dứt của nhà Kinh tế” (“The End of Economic Man”) có triển vọng trở thành một trong những chuyện hoang đường chủ đạo của thời đại chúng ta. Trước khi chúng ta chấp nhận lời tuyên bố nầy, hoặc xem sự thay đổi như là điều đáng ca ngợi, chúng ta phải tìm hiểu xa hơn một chút để xem điều đó là xác thực đến như thế nào.

p208

Khi chúng ta xem xét những tuyên bố cho việc xây dựng lại xã hội vốn được nhấn mạnh nhiều nhất, dường như là tất cả chúng gần như mang nét kinh tế: chúng ta đã nhìn thấy qua rằng “việc giải bày lại trong những phần kinh tế” về những lý tưởng chính trị của thời đã qua, về sự tự do, bình đẳng, và an ninh, là một trong những nhu cầu chính của những người vốn đồng thời công bố mục đích cuối cùng nhà kinh tế. Cũng không có thể là có nhiều nghi ngờ rằng trong những niềm tin và khát vọng của họ, những người ngày hôm nay hơn bao giờ hết trước đây bị chi phối bởi các học thuyết kinh tế, bởi niềm tin được nuôi dưỡng cẩn thận trong sự phi lý của một hệ thống kinh tế của chúng ta, bởi những khẳng định sai lầm về “nhiều tiềm năng”, những lý thuyết giả tạo về một khuynh hướng tất yếu hướng đến việc độc quyền thương mại, và một ấn tượng được tạo ra bởi những việc xảy ra được quảng cáo nhiều nào đó chẳng hạn như sự phá hoại những cổ phiếu nguyên liệu hoặc sự đàn áp những sáng chế, mà cạnh tranh bị gán cho là nguyên nhân, mặc dù chính xác chúng là một loại gì đó vốn không thể xảy ra dưới sự cạnh tranh và vốn được tạo nên có thể có chỉ bởi sự độc quyền thương mại và thường thường bởi sự độc quyền thương mại được chính phủ trợ giúp.1
Trong một ý nghĩa khác, tuy nhiên, không có một sự thật đáng ngờ nào rằng thế hệ của chúng ta ít sẵn sàng lắng nghe những suy xét về kinh tế hơn là sự thật của những người đi trước của nó. Nó dứt khoát là không có ý muốn hy sinh bất kỳ nhu cầu nào trong số những nhu cầu của nó cho cái gì đó được gọi là những lập luận kinh tế, đó là điều thiếu kiên nhẫn và khoan dung của tất cả những kiềm chế trên những tham vọng trước mắt của họ, và không có ý muốn cúi đầu trước những điều cần thết về kinh tế. Điều đó không phải là bất kỳ sự khinh miệt nào đối với phúc lợi vật chất, hoặc thậm chí bất kỳ sự ham muốn giảm bớt nào cho nó, nhưng, ngược lại, sự từ chối nhìn nhận bất kỳ trở ngại nào, bất kỳ sự xung đột nào với mục đích khác vốn có thể cản trở việc hoàn tất những mong muốn của riêng họ, vốn phân biệt ra thế hệ của chúng ta.
=============
1 Việc sử dụng thường xuyên vốn được tạo nên bằng sự tàn phá thỉnh thoảng lúa mì, cà phê, v.v., như là một lập luận chống lại sự cạnh tranh là một minh họa rõ ràng về sự thiếu thành thật của giới trí thức trong phần nhiều lập luận nầy, vì sự phản ảnh nhỏ nhoi sẽ cho thấy rằng trong một thị trường cạnh tranh không có một người chủ nào của những cổ phiếu như thế có thể thu lợi bằng sự phá hoại của họ. Trường hợp của sự đàn áp bị cáo buộc về những bằng sáng chế hữu ích thì phức tạp hơn và không thể được thảo luận đầy đủ trong phần ghi chú; nhưng những điều kiện mà trong đó nó có thể là có lợi khi để vào trong kho lạnh cái bằng sáng chế mà vì lợi ích xã hội phải nên được sử dụng, thì quá ngoại lệ đến nổi đó là điều nghi ngờ nhiều hơn về việc liệu điều nầy đã từng xảy ra trong bất kỳ trường hợp quan trọng nào không.
=============

p209

Economophobia (i.e. nổi sợ hãi về kinh tế trong một chế độ độc tài toàn trị) sẽ là một mô tả chính xác hơn về thái độ nầy so với “Sự chấm dứt của nhà Kinh tế” (“The End of Economic Man”) gây hiểu lầm gấp đôi, mà qua đó đề nghị một sự thay đổi từ một tình trạng của những công việc vốn chưa bao giờ tồn tại trong một chiều hướng mà trong đó chúng ta không đang di chuyển. Con người đã đến lúc phải thù ghét, và nổi dậy chống lại, những lực khách quan mà trong quá khứ anh ta đã phục tùng ngay cả mặc dù chúng đã thường làm chán nản những nỗ lực cá nhân của anh ta.
Cuộc nổi dậy nầy là một thí dụ của một hiện tượng chung chung nhiều hơn nữa, một sự bất mản mới phải phục tùng theo bất kỳ quy tắc nào hoặc điều cần thiết, một lý do có nền tảng mà con người không hiểu được; nó làm cho chính nó tự cảm thấy trong nhiều lãnh vực của cuộc sống, riêng biệt là trong lãnh vực về những đạo đức; và nó là thường là một thái độ đáng khen ngợi. Nhưng có những lãnh vực nơi mà sự thèm muốn nầy cho điều dễ hiểu không thể được thỏa lòng hoàn toàn và nơi mà đồng thời sự từ chối phục tùng cho bất cứ điều gì mà chúng ta không thể hiểu được, phải dẫn đến sự phá hủy nền văn minh của chúng ta. Mặc dù đó là điều tự nhiên mà, khi thế giới xung quanh chúng ta trở nên phức tạp hơn, sự đề kháng của chúng ta tăng trưởng chống lại những lực, mà không có sự hiểu của chúng ta về chúng, vốn liên tục gây trở ngại cho những hy vọng và kế hoạch cá nhân, điều đó chỉ là trong những trường hợp nầy mà qua đó nó trở nên càng lúc càng có thể hơn cho bất cứ ai hoàn toàn hiểu được những lực nầy. Một nền văn minh phức tạp giống như nền văn minh của chúng ta nhất thiết được dựa trên cá nhân tự điều chỉnh chính mình theo những thay đổi mà nguyên nhân và tính chất tự nhiên của chúng, anh ta không thể hiểu được: tại sao anh ta cần phải tự điều chỉnh mình nhiều hơn hoặc ít hơn, tại sao anh ta cần phải chuyển sang nghề khác, tại sao một số điều mà anh ta muốn sẽ trở nên khó khăn hơn để có được so với những người khác, sẽ luôn luôn được kết nối với vô số những hoàn cảnh như thế mà không riêng một tâm trí nào sẽ có thể hiểu rõ được họ; hoặc, thậm chí tồi tệ hơn, những người bị ảnh hưởng vốn sẽ đổ tất cả lỗi cho một nguyên nhân hiển nhiên trực tiếp và có thể tránh được, trong khi những mối quan hệ nội tại phức tạp hơn vốn quyết định sự thay đổi tất yếu vẫn còn bị giấu kín đối với họ. Ngay cả người điều hành của một xã hội hoàn toàn có kế hoạch, nếu ông ta muốn đưa ra một lời giải thích thích hợp cho bất cứ ai là tại sao anh ta phải được định hướng đến một công việc khác, hoặc tại sao tiền thù lao của anh ta phải bị thay đổi, đã không thể hoàn toàn làm như thế mà không giải thích và chứng minh tính chất chính đáng cho toàn bộ kế hoạch của ông ta –vốn có nghĩa là, dĩ nhiên, điều đó không thể được giải thích cho nhiều hơn một số ít người.

p210

Đó là sự quy phục của con người đối với những lực khách quan của thị trường mà trong quá khứ đã tạo nên điều có thể có cho sự tăng trưởng của một nền văn minh mà không có điều nầy đã không thể phát triển; vì thế chính là bởi sự quy phục mà chúng ta hàng ngày đang giúp đỡ xây dựng một cái gì đó vốn to lớn hơn bất cứ người nào trong số chúng ta có thể hoàn toàn hiểu rõ được. Không quan trọng là cho dù con người trong quá khứ đã thực sự quy phục từ những niềm tin mà một số người hiện thời xem như là điều mê tín dị đoan: từ một tinh thần khiêm nhường theo tôn giáo, hoặc sự tôn trọng thái quá đối với những lời dạy thô thiển của những nhà kinh tế trước đó. Điểm rất quan trọng là đó là điều vô cùng khó khăn hơn để hiểu rõ một cách hợp lý sự cần thiết của việc quy phục những lực mà sự hoạt động của chúng, chúng ta không thể kịp hiểu từng chi tiết, hơn là làm như thế vì nổi sợ hãi hèn mọn mà tôn giáo, hoặc thậm chí là sự tôn trọng đối với những học thuyết kinh tế, đã thực sự xui khiến. Điều đó quả thực có thể là một trường hợp mà sự vô cùng khôn ngoan về phần của mọi người sẽ được cần đến hơn bất cứ ai hiện thời có, nếu chúng ta thậm chí chỉ đơn thuần là duy trì nền văn minh phức tạp hiện nay của chúng ta mà không có bất cứ ai phải làm những điều mà anh ta không hiểu rõ sự cần thiết. Sự khước từ chịu thua những lực mà chúng ta hoặc là không hiểu cũng không thể nhận ra như là những quyết định có ý thức của một con người thông minh là sản phẩm của một chủ nghĩa duy lý chưa hoàn tất và vì vậy sai lầm. Chính là điều chưa hoàn tất bởi vì nó thất bại không hiểu rõ được rằng sự phối hợp vô số những nỗ lực cá nhân trong một xã hội phức tạp phải tính đến những sự kiện thực tế mà không một cá nhân nào có thể hoàn toàn khảo sát. Và nó thất bại không thấy rằng, trừ khi cái xã hội phức tạp nầy phải bị phá hủy, một sự thay thế duy nhất khác cho sự quy phục những lực khách quan và dường như không hợp lý của thị trường là sự quy phục đối với một quyền lực không thể kiểm soát được như nhau và vì vậy tùy tiện độc đoán của những người khác. Trong sự lo lắng của anh ta để thoát khỏi những gò bó chán ngấy mà bây giờ anh ta cảm thấy, người ta không nhận ra rằng những kiềm chế của chủ nghĩa độc tài toàn trị mới vốn sẽ phải được cố tình áp đặt, trong trường hợp của họ thậm chí sẽ còn đau đớn hơn nhiều.

p211

Những người vốn tranh luận rằng đến một mức độ đáng kinh ngạc chúng ta đã từng học hỏi khống chế những lực thiên nhiên nhưng đáng buồn là còn tuột hậu trong việc thực hiện cách sử dụng thành công những điều khả dĩ về hợp tác xã, thì hoàn toàn đúng cho đến nay như lởi phát biểu nầy đưa ra. Nhưng họ lầm khi họ mang sự so sánh đi xa hơn nữa và lập luận rằng chúng ta phải học hỏi khống chế những lực xã hội theo cùng một cách mà chúng ta đã từng học hỏi khống chế những lực thiên nhiên. Điều nầy không phải chỉ là con đường dẫn đến chủ nghĩa độ độc tài toàn trị, nhưng là con đường dẫn tới sự hủy diệt nền văn minh của chúng ta và là một cách chắc chắn để ngăn chận sự tiến bộ trong tương lai. Những người vốn đòi hỏi điều đó, cho thấy qua những nhu cầu thực sự của họ rằng họ chưa thấu hiểu mức độ mà việc bảo tồn đơn thuần những gì mà chúng ta đã đạt được cho đến nay, phụ thuộc vào sự phối hợp của những nỗ lực cá nhân qua những lực khách quan.

* * * * *

Bây giờ chúng ta phải quay trở lại trong chốt lát một điểm rất quan trọng, mà qua đó quyền tự do cá nhân không thể được hòa hợp quyền tối cao của một mục đích duy nhất mà toàn thể xã hội hoàn toàn và vĩnh viễn phải chịu đặt dưới. Một ngoại lệ duy nhất đối với quy tắc mà qua đó một xã hội tự do không được bắt phải chịu một mục đích duy nhất, là cuộc chiến tranh và những thảm họa tạm thời khác khi sự lệ thuộc của hầu hết mọi thứ vào nhu cầu trước mắt và cấp bách là cái giá mà chúng ta bảo tồn quyền tự do của chúng ta trong thời gian dài. Điều nầy cũng giải thích tại sao rất nhiều trong số những câu nói hợp thời về việc làm vì những mục đích hòa bình điều mà chúng ta đã từng học hỏi để làm vì những mục đích chiến tranh, thì rất sai lầm: điều cảm nhận tạm thời là hy sinh quyền tự do nhằm mục đích làm cho nó chắc chắn hơn trong tương lai; nhưng cùng những câu nói không thể được nói về một hệ thống được đề ra như là một sự sắp xếp vĩnh viễn.
Mà qua đó không một mục đích duy nhất nào ắt hẳn được phép để yên để có sự ưa thích tuyệt đối trên tất cả những người khác, áp dụng ngay cả với một mục đích mà mọi người lúc bấy giờ đồng ý, bước vào trong hàng ngũ phía trước: cuộc chinh phục tình trạng thất nghiệp. Có thể là không có chút nghi ngờ rằng điều nầy phải là mục đích của sự cố gắng to lớn nhất của chúng ta; ngay cả là thế, điều đó không có nghĩa là một mục đích như thế sẽ được cho phép không chế chúng ta cho đến việc loại trừ mọi thứ khác, mà qua đó, như một câu nói lém lỉnh tuôn ra, nó phải được hoàn thành “với bất cứ giá nào.”

p212

Thật ra, chính là trong lãnh vực nầy mà qua đó niềm đam mê về những câu nói mơ hồ nhưng phổ biến giống như “công việc toàn thời gian” cũng có thể dẫn đến các biện pháp vô cùng thiển cận, và nơi mà câu nói khẳng định và vô trách nhiệm “điều đó phải được hoàn tất với bất cứ giá nào” của một nhà lý tưởng có đầu óc một chiều có khả năng làm tổn hại lớn nhất.
Điều đó có tầm quan trọng rất lớn mà qua đó chúng ta với đôi mắt mở to sẽ tiếp cận công việc mà trong lãnh vực nầy, chúng ta sẽ phải đối mặt sau cuộc chiến tranh, và qua đó chúng ta nên nhận ra rõ ràng điều gì chúng ta có thể hy vọng đạt được. Một trong những điểm nổi bật của tình hình trước mắt sau chiến tranh sẽ là điều mà những nhu cầu đặc biệt của chiến tranh đã thu hút hàng trăm ngàn người đàn ông và phụ nữ vào trong những công việc chuyên môn nơi mà trong suốt cuộc chiến tranh họ đã có thể kiếm được mức lương tương đối cao. Trong nhiều trường hợp, sẽ không có thể có chuyện mướn cùng những số lượng người làm việc trong các chuyên nghề riêng biệt nầy. Sẽ có một nhu cầu cấp thiết cho việc chuyển đi những số lượng lớn cho những công việc khác, và nhiều người trong số họ sẽ thấy rằng công việc mà họ có thể có sau nầy, được trả công kém ưu ái hơn là đúng với công việc thời chiến của họ. Ngay cả việc huấn nghệ lại, mà chắc chắn là phải được cung cấp trên một hệ thống mức độ tự do, không thể hoàn toàn vượt qua nan đề nầy. Vẫn sẽ còn có nhiều người, nếu họ được trả lương theo việc những phục vụ của họ sau nầy sẽ xứng đáng như thế nào cho xã hội, theo bất kỳ hệ thống nào sẽ phải vui lòng với việc hạ thấp vị thế đời sống vật chất của họ so với vị thế của những người khác.
Nếu, sau đó, công đoàn lao động chống lại một cách thành công bất kỳ việc hạ thấp những mức lương của những nhóm riêng biệt đang được nói đến, sẽ có chỉ hai sự lựa chọn thay thế khác mở ra: hoặc là ép buộc sẽ phải được sử dụng, tức là những cá nhân nào đó sẽ phải được tuyển chọn cho việc chuyển đi bắt buộc đến những vị trí khác và có lương tương đối kém tốt hơn, hoặc những người vốn không còn có thể được mướn làm việc ở những mức lương tương đối cao mà họ đã kiếm được trong suốt cuộc chiến tranh, phải được phép còn là thất nghiệp cho đến khi họ sẵn sàng chấp nhận làm việc với mức lương tương đối thấp hơn.

p213

Đây là một nan đề vốn sẽ phát sinh trong một xã hội theo chủ nghĩa xã hội không kém hơn trong bất kỳ xã hội nào khác; và đại đa số công nhân có thể sẽ có chỉ là chút khuynh hướng nghiêng theo để bảo đảm trong sự vĩnh viễn những phần lương hiện thời của họ đối với những người vốn được kéo vào trong những việc làm được trả lương cao đặc biệt bởi vì nhu cầu đặc biệt của chiến tranh. Một xã hội thuộc chủ nghĩa xã hội chắc chắn là sẽ sử dụng sự ép buộc trong hoàn cảnh nầy. Một điểm vốn có liên quan với chúng ta là nếu chúng ta kiên quyết không cho phép vấn đề thất nghiệp với bất cứ giá nào, và không có ý sử dụng sự ép buộc, chúng ta sẽ bị đẩy đến tất cả các loại thủ đoạn tuyệt vọng, không một mưu chước nào trong số đó có thể mang lại bất kỳ sự cứu trợ lâu dài nào và tất cả trong số đó sẽ gây trở ngại một cách nghiêm trọng đến việc sử dụng hiệu năng nhất các nguồn nhân lực của chúng ta. Điều đó nên được đặc biệt lưu ý là chính sách tiền tệ không thể cung cấp cách chữa bệnh thực sự cho điều khó khăn nầy ngoại trừ do việc lạm phát chung chung và đáng kể, đủ để nâng lên tất cả những mức lương và giá cả khác một cách tương đối cho những thứ mà không thể bị hạ thấp được nữa, và thậm chí điều nầy sẽ mang lại kết quả mong muốn chỉ bằng cách gây ảnh hưởng theo kiểu che giấu và lén lút đến việc rút giảm đó của những mức lương thực sự vốn không thể được đưa ra một cách trực tiếp. Tuy là nâng cao tất cả những mức lương và phần thu nhập khác đến một mức độ đủ để điều chỉnh vị trí của một nhóm đang được nói đến có thể lôi cuốn đến việc mở rộng nạn lạm phát trên một phạm vi quy mô đến nổi những rối loạn, khó khăn, và những bất công được gây ra sẽ lớn hơn nhiều so với những điều đó được chữa khỏi.
Nan đề nầy, vốn sẽ phát sinh trong một hình thức sâu sắc riêng biệt sau chiến tranh, là một hình thức vốn sẽ luôn luôn ở với chúng ta miễn là hệ thống kinh tế phải tự thích nghi chính nó với những thay đổi liên tục. Sẽ luôn luôn có mức tối đa công việc có thể có trong một thời gian ngắn vốn có thể đạt được bằng cách cho tất cả mọi người công việc nơi mà họ tình cờ có mặt và có thể đạt được bằng sự mở rộng tiền tệ. Nhưng mức tối đa nầy không chỉ có có thể được duy trì một cách độc nhất bởi sự mở rộng nạn lạm phát tăng dần và với ảnh hưởng của việc bám giữ những vụ phân phối lao động lại đó giữa những ngành kỹ nghệ được khiến cho là cần thiết bởi những hoàn cảnh bị thay đổi, và qua đó miễn là những công nhân được tự do chọn lựa công việc của họ, sẽ luôn luôn xảy ra chỉ với một vài chậm trễ nào đó và do đó gây ra một số thất nghiệp: nhắm mục đích luôn luôn ở mức tối đa công việc có thể đạt được bằng biện pháp tiện tiền tệ là một chính sách mà chắc chắn là vào phút cuối đánh bại những mục đích riêng của nó. Nó có xu hướng làm giảm xuống năng suất lao động và do đó liên tục làm tăng lên phần tỷ lệ tương ứng của dân số làm việc vốn có thể được duy trì làm việc với những mức lương hiện thời chỉ bằng biện pháp giả tạo.

p214

* * * * *

Có chút nghi ngờ rằng sau chiến tranh sự khôn ngoan trong việc quản lý những vấn đề kinh tế của chúng ta thậm chí sẽ là quan trọng hơn so với trước đây và rằng số phận của nền văn minh của chúng ta cuối cùng sẽ phụ thuộc vào việc làm cách nào chúng ta giải quyết những nan đề kinh tế mà chúng ta phải đối mặt sau đó. Trước tiên, chúng ta sẽ nghèo, quả thật là rất nghèo –và vấn đề phục hồi và cải thiện những tiêu chuẩn trước đây của chúng ta thật ra có thể chứng minh cho Đại Anh Quốc khó khăn hơn là cho nhiều nước khác. Nếu chúng ta hành động một cách khôn ngoan, có rất ít nghi ngờ là bằng cách làm việc chăm chỉ và bằng cách dâng hiến một phần đáng kể những nỗ lực của chúng ta cho việc trùng tu và làm mới lại bộ máy kỹ nghệ và tổ chức của chúng ta, chúng ta sẽ trong quá trình một vài năm có thể quay trở lại, và thậm chí vượt qua, mức độ mà chúng ta đã từng đạt được. Nhưng điều nầy giả định trước rằng chúng ta hiện tại sẽ được thỏa mãn tiêu thụ không nhiều hơn là điều có thể có mà không làm suy yếu công việc tái thiết, rằng không có những hy vọng được phóng đại nào tạo ra những lời tuyên bố không thể cưỡng lại được hơn là điều nầy, và rằng chúng ta xem điều đó như là điều quan trọng hơn khi sử dụng những nguồn nhân lực của chúng ta theo cách tốt nhất và cho những mục đích nơi mà chúng đóng góp nhiều nhất cho phúc lợi của chúng ta hơn là phúc lợi mà chúng ta sẽ sử dụng tất cả những nguồn nhân lực của chúng ta bằng cách nầy hay cách khác.1
=============
1 Có lẽ đây là nơi để nhấn mạnh rằng, tuy nhiên phần nhiều người ta có thể ước muốn việc quay trở lại nhanh chóng một nền kinh tế tự do, điều nầy không có nghĩa là việc loại bỏ ngay lập tức hầu hết những hạn chế trong thời chiến. Không có gì sẽ làm mất uy tín một hệ thống kinh doanh tự do nhiều hơn so với một hệ thống bệnh hoạn cấp tính, mặc dù có thể là không sống lâu, trục trặc, và bất ổn, một sự cố gắng như thế có thể sản sinh ra. Vấn đề là loại hệ thống gì mà chúng ta sẽ nhắm đến trong tiến trình giải thể về mặt quân sự, không phải là việc liệu một hệ thống trong thời chiến nên được chuyển đổi trở thành những dàn xếp vĩnh viễn hơn bởi một chính sách được cẩn thận nghĩ ra về việc nới lỏng dần dần những quyền kiểm soát, mà qua đó có thể phải kéo dài trong nhiều năm.
=============

p215

Có lẽ không kém quan trọng là chúng ta không nên, qua những cố gắng thiển cận để chữa chạy sự nghèo đói bằng việc tái phân phối thay vì bằng sự gia tăng trong phần thu nhập của chúng ta, đàn áp những tầng lớp lớn như thể là biến họ trở thành những kẻ thù kiên quyết của một trật tự chính trị hiện có. Không bao giờ được quên rằng một yếu tố quyết định trong sự trỗi dậy của chủ nghĩa độc tài toàn trị trên Lục địa, mà qua đó vẫn còn vắng mặt trong đất nước nầy, là sự tồn tại của một tầng lớp trung lưu to lớn bị trừ diệt gần đây.
Những hy vọng của chúng ta tránh khỏi được định mệnh mà những đe dọa quả thật đến một mức độ to lớn phải dựa vào viễn ảnh mà chúng ta có thể tiếp tục lại sự tiến triển kinh tế mau chóng mà, tuy nhiên chúng ta có thể phải bắt đầu từ bậc thấp, sẽ tiếp tục mang chúng ta theo hướng đi lên; và điều kiện chính cho sự tiến triển như thế là tất cả chúng ta nên sẵn sàng tự thích ứng chính mình một cách nhanh chóng với một thế giới bị thay đổi rất nhiều, mà qua đó không có những suy xét nào cho một tiêu chuẩn quen thuộc của những nhóm riêng biệt phải được cho phép để cản trở sự thích ứng nầy, và qua đó chúng ta học hỏi một lần nữa để chuyển hướng tất cả các nguồn lực của chúng ta đến bất cứ nơi nào mà chúng đóng góp nhiều nhất để làm cho tất cả chúng ta giàu có hơn. Những việc điều chỉnh mà qua đó sẽ được cần đến nếu chúng ta muốn phục hồi và vượt qua những tiêu chuẩn trước đây của chúng ta, sẽ lớn hơn bất kỳ những việc điều chỉnh tương tự nào mà chúng ta đã phải làm trong quá khứ; và chỉ khi mọi người trong số chúng ta mỗi một người sẵn sàng tuân theo những điều cần thiết của việc điều chỉnh lại nầy, chúng ta sẽ có thể vượt qua một giai đoạn khó khăn như là những người tự do vốn là những người có thể chọn cách sống của riêng họ. Hãy để mức tối thiểu đồng nhất được bảo đảm đối với mọi người bằng bất cứ cách nào; nhưng đồng thời chúng ta hãy thừa nhận rằng với sự bảo đảm nầy của mức tối thiểu cơ bản, tất cả những lời tuyên bố cho sự bảo đảm được đặc ân của những tầng lớp riêng biệt phải mất đi hiệu lực, rằng tất cả những lý do bào chữa biến mất trong việc thừa nhận những nhóm hầu loại trừ những người mới khỏi việc chia sẻ sự sung túc tương đối của họ nhằm mục đích duy trì một tiêu chuẩn đặc biệt của riêng mình.
Có thể nghe như cao quý khi nói: một nền kinh tế chết tiệt, chúng ta hãy xây dựng một thế giới tươm tất –nhưng điều đó, thật ra, chỉ đơn thuần là vô trách nhiệm. Với thế giới của chúng ta như nó là thế, đối với mọi người tin rằng những điều kiện vật chất ở đây hoặc ở đó phải được cải thiện, cơ hội duy nhất của chúng ta cho việc xây dựng một thế giới tươm tất là chúng ta có thể tiếp tục cải thiện mức độ giàu có chung chung. Một điều mà nền dân chủ hiện đại sẽ không chống đỡ nổi mà không rạn nứt là sự cần thiết của việc hạ thấp đáng kể những tiêu chuẩn sinh sống trong thời bình hoặc thậm chí sự cố định được kéo dài của những điều kiện kinh tế của nó.

p216

* * * * *

Những người vốn thừa nhận rằng những khuynh hướng chính trị hiện nay tạo thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với những triển vọng kinh tế của chúng ta, và qua những tác động kinh tế của họ gây nguy hiểm cho những giá trị cao hơn nhiều, vẫn còn có khuynh hướng lừa dối chính họ rằng chúng ta đang thực hiện những hy sinh vật chất để có được những mục đích lý tưởng. Tuy nhiên, điều nghi ngờ hơn là liệu kế hoạch năm mươi năm hướng đến chủ nghĩa tập thể đã nâng cao những tiêu chuẩn đạo đức của chúng ta không, hoặc liệu sự thay đổi đã không hoàn toàn nằm trong chiều hướng ngược lại không. Mặc dù chúng ta có thói quen tự hào về lương tâm xã hội nhạy cảm hơn của chúng ta, điều đó không hẳn rõ ràng là điều nầy được chứng minh là đúng bởi việc thực thi tư cách cá nhân của chúng ta. Trên mặt tiêu cực, trong sự phẫn nộ của nó về những vấn đề bất bình đẳng của trật tự xã hội hiện tại, thế hệ của chúng ta có thể vượt qua hầu hết những người đi trước của nó. Nhưng ảnh hưởng của phong trào đó trên những tiêu chuẩn xác thực của chúng ta trong lãnh vực đúng đắn về những mặt đạo đức, hành vi cá nhân, và trên mức độ nghiêm trọng mà chúng ta duy trì những nguyên tắc đạo đức chống lại những thủ đoạn và những nhu cầu cấp bách của bộ máy xã hội, là một vấn đề rất khác biệt.
Những vấn đề trong lãnh vực nầy đã trở nên quá rối rắm đến nổi điều cần thiết là quay trở lại những nền tảng nguyên tắc. Điều mà thế hệ của chúng ta đang có nguy cơ lãng quên, không chỉ là những vấn đề đạo đức là điều cần thiết cho một hiện tượng của hành vi cá nhân, mà còn là chúng có thể tồn tại chỉ trong phạm vi mà trong đó một cá nhân được tự do quyết định cho chính mình và được kêu gọi tự nguyện hy sinh lợi ích cá nhân cho việc tuân theo một quy tắc đạo đức. Ngoài phạm vi trách nhiệm cá nhân, không có điều tốt hoặc cũng không có điều xấu, không có dịp cho việc đạt được mặt đạo đức hoặc cũng không có cơ hội chứng minh niềm tin chắc chắn của một người bằng cách hy sinh những ham muốn của mình cho điều gì mà người ta nghĩ là đúng. Chỉ nơi mà chính chúng ta chịu trách nhiệm cho những lợi ích của riêng chúng ta và được tự do hy sinh chúng, nếu sự quyết định của chúng ta có giá trị đạo đức. Chúng ta không được phép không ích kỷ với người khác, hoặc cũng không có bất kỳ khen ngợi nào trong việc không ích kỷ nếu chúng ta không có một lựa chọn nào.

p217

Những thành viên của một xã hội vốn là những người trong mọi khía cạnh được tạo ra để làm điều tốt, không có một danh hiệu nào để ngợi khen. Như ông Milton nói: “Nếu mọi hành động vốn là tốt hay xấu trong một người của những năm về già, phải chịu nhận tiền thù lao rẻ mạt và sự sai khiến và cưỡng bách, đạo đức là cái gì ngoài cái tên, sự khen ngợi sau đó sẽ là thế nào cho sự làm việc tốt đẹp, lời cảm ơn to lớn đến thế nào là đứng mức, chính đáng, hoặc có tiết độ ?”
Quyền tự do hướng dẫn tư cách của riêng chúng ta trong phạm vi nơi mà những hoàn cảnh vật chất thúc đẩy sự lựa chọn trên chúng ta, và trách nhiệm cho việc sự sắp xếp cuộc sống của chúng ta theo lương tâm của riêng mình, là một bầu không khí mà trong đó chỉ riêng ý thức đạo đức tăng trưởng và trong đó những giá trị đạo đức được tạo ra lại hàng ngày trong sự quyết định tự do của một cá nhân. Trách nhiệm, không phải là đối với một người cấp trên, nhưng đối với lương tâm của một con người, sự nhận thức về một bổn phận không bị bắt buộc bởi sự cưỡng bách, sự cần thiết để quyết định điều nào trong số những điều mà người ta quý trọng, phải chịu hy sinh cho những người khác, và phải mang lấy những hậu quả của sự quyết định của riêng mình, là bản chất thực sự của bất kỳ những vấn đề đạo đức nào vốn xứng đáng với cái tên của nó.
Mà qua đó trong phạm vi nầy về tư cách cá nhân, ảnh hưởng của chủ nghĩa tập thể đã gần như hoàn toàn đỗ vỡ, thì không thể tránh được lẫn không thể phủ nhận được. Một phong trào mà lời hứa hẹn chính của nó là sự giải tỏa khỏi trách nhiệm,1 không thể là đạo đức ngoại trừ là chống đạo đức trong ảnh hưởng của nó, tuy là những lý tưởng cao quý mà nó nợ sự ra đời của nó.
=============
1 Điều nầy trở nên càng lúc càng được thể hiện rõ ràng hơn khi chủ nghĩa xã hội tiến đến chủ nghĩa độc tài toàn trị, và trong đất nước nầy được tuyên bố rõ ràng nhất trong chương trình của chủ nghĩa độc tài toàn trị đó và hình thức chuyên chế nhất của chủ nghĩa xã hội ở Anh Quốc, là phong trào “Thịnh vượng Chung” Sir Richard Acland. Nét nổi bật chính của một trật tự mới mà ông ta hứa hẹn là trong đó, cộng đồng sẽ “nói với một cá nhân rằng ‘Bạn đừng bận tâm về việc kiếm sống’”. Hậu quả là, dĩ nhiên, “nó phải là cộng đồng như là một khối mà qua đó dù muốn hay không phải quyết định việc một người sẽ được muớn làm việc trên những nguồn tài lực của chúng ta, và anh ta sẽ làm việc như thế nào và khi nào và theo tư cách gì”, và qua đó cộng đồng sẽ phải “điều hành những trại dành cho những người trốn trách nhiệm trong hoàn cảnh rất có thể tha thứ được”. Có phải chăng điều đáng ngạc nhiên là tác giả phát hiện ra rằng Hitler “đã tình cờ gặp phải (hoặc đã cần đến để sử dụng) một phần nhỏ, hoặc có lẽ người ta nên nói đến một khía cạnh riêng biệt, của điều gì đó mà cuối cùng sẽ phải đòi hỏi về lòng nhân đạo” ? (Sir Richard Acland, Bt. (i.e. Baronet: Tòng Nam Tước), tác phẩm “The Forward March” (“Tiến về Phía trước”), 1941, p. 127, 126, 135, và 32).
=============

p218

Có phải chăng có thể có nhiều nghi ngờ rằng cảm tính nghĩa vụ cá nhân để bù đắp những sự bất bình đẳng, nơi mà quyền lực cá nhân của chúng ta cho phép, đã bị suy yếu đi hơn là được mạnh mẽ thêm, mà qua đó cả sự sẵn sàng mang lấy trách nhiệm lẫn sự ý thức rằng đó là nhiệm vụ cá nhân của riêng chúng ta biết làm cách nào chọn lựa, đã bị hư hại một cách có thể cảm thấy được không ? Hết thảy có sự khác biệt giữa việc đòi hỏi mà tình trạng mong muốn chung chung sẽ được phát sinh bởi những người có thẩm quyền hoặc thậm chí là sự vui lòng chấp nhận quy định cho mọi người khác được tạo nên để làm giống nhau, và việc sẵn sàng làm điều mà người ta nghĩ là mình đúng trong việc hy sinh những mong muốn của mình và có lẽ trong sự đối mặt với dư luận thù nghịch. Có phần nhiều đề nghị rằng chúng ta thực ra đã trở nên khoan dung hơn đối với những vi phạm riêng biệt, và không khác biệt nhiều hơn đối với những sự bất bình đẳng trong các trường hợp cá nhân, kể từ khi chúng ta đã dồn mắt vào một hệ thống hoàn toàn khác biệt mà trong đó nhà nước sẽ thiết lập mọi thứ đúng đắn. Điều đó thậm chí có thể, như đã từng được đề nghị, rằng niềm đam mê cho hành động tập thể là một cách mà trong đó chúng ta lúc bấy giờ không có sự ân hận, say mê sự ích kỷ đó theo tính cách tập thể mà qua đó như là những cá nhân, chúng ta đã học được một ít để kiềm chế.
Xác thực là những đức tính vốn ít được quý trọng và thực hành tính chất độc lập hiện thời, tính chất tự chủ, và tính chất vui lòng mang lấy những rủi ro, sự sẵn sàng hỗ trợ niềm tin của riêng mình chống lại một đa số, và sự vui lòng tự nguyện hợp tác với những người láng giềng của mình –nhất thiết là những thứ mà qua đó cách làm việc của một xã hội theo chủ nghĩa cá nhân dựa vào. Chủ nghĩa tập thể không có gì để đặt vào vị trí của chúng, và đến một chừng mực nào đó, nó đã thực sự phá hủy chúng, nó đã để lại một khoảng trống không được lấp đầy bởi bất cứ thứ gì ngoại trừ nhu cầu cho sự vâng phục và sự cưỡng bách cá nhân để làm cái gì đó được quyết định theo tập thể là tốt. Cuộc bầu cử định kỳ cho những người đại diện, mà qua đó sự lựa chọn về mặt đạo đức của cá nhân có xu hướng càng lúc càng bị giảm đi nhiều hơn, không phải là một cơ hội mà qua đó những giá trị đạo đức của ông ta được kiểm nghiệm hoặc nơi mà ông ta phải liên tục tái khẳng định và chứng minh thứ bậc của những giá trị của mình, và chứng nhận cho sự chân thật của nghề nghiệp mình bằng sự hy sinh những thứ thuộc về những giá trị của mình mà ông ta đánh giá thấp hơn những thứ mà ông ta đặt cao hơn.

p219

Khi những quy tắc cư xử được phát triển bởi những cá nhân, là nguồn lực mà từ đó hành động chính trị tập thể rút ra những tiêu chuẩn đạo đức gì đó mà nó có, quả thật điều đó sẽ gây ra sự ngạc nhiên nếu việc nới lỏng những tiêu chuẩn về hành vi cá nhân được kèm theo bởi sự nâng cao những tiêu chuẩn về hành động xã hội. Mà qua đó đã từng có những thay đổi lớn, là điều rõ ràng. Mỗi thế hệ, dĩ nhiên, đặt ra một số giá trị cao hơn và một số thấp hơn so với những người trước đó của nó. Những giá trị nào, tuy nhiên, là những mục đích vốn nhận lấy một vị trí thấp hơn bây giờ, những thứ nào là những giá trị mà hiện thời chúng ta được cảnh cáo, có thể phải sụp đổ nếu chúng gặp phải sự xung đột với những giá trị khác không ? Loại nào của những giá trị hình dung ra ít nổi bật hơn trong hình ảnh của một tương lai được đưa ra cho chúng ta bởi những cây viết và diễn giả nổi tiếng so với chúng đã tạo hình ảnh trong những giấc mơ và những hy vọng của ông cha chúng ta ? Điều đó chắc chắn không phải là sự tiện nghi về vật chất, chắc chắn không phải là một sự nâng cao trong tiêu chuẩn sinh sống của chúng ta hoặc sự bảo đảm về danh phận nhất định trong xã hội vốn sắp xếp thứ bậc thấp hơn. Có một cây viết hoặc diễn giả nổi tiếng vốn là người dám đưa ra ý kiến với quần chúng rằng họ có thể phải thực hiện những hy sinh về những viễn ảnh vật chất của mình cho việc đề cao một mục đích lý tưởng không ? Điều đó, thật ra, không phải hoàn toàn là một chiều hướng ngược lại sao ? Có phải chăng những thứ không phải là những điều mà chúng ta được giảng dạy càng lúc càng thường xuyên hơn xem như là “những ảo tưởng của thế kỷ mười chín” tất cả những giá trị đạo đức –tự do và độc lập, sự thật và sự trung thực trí thức, hòa bình và dân chủ, và sự tôn trọng dành cho một cá nhân như là một người thay vì chỉ đơn thuần như là một thành viên của một nhóm có tổ chức ? Những đối cực cố định hiện thời là gì vốn được xem như là bất khả xâm phạm, mà qua đó không một người cải cách nào dám chạm vào, kể từ khi chúng được xem như là những ranh giới bất biến vốn phải được tôn trọng trong bất kỳ kế hoạch nào cho tương lai ? Chúng không còn là sự tự do của một cá nhân, quyền tự do di chuyển của anh ta, và hiếm khi là quyền tự do phát biểu. Chúng là những tiêu chuẩn được bảo vệ thuộc nhóm nầy hoặc nhóm kia, “lẽ phải” của chúng nhằm loại trừ những tiêu chuẩn khác khỏi việc quy định cho những đồng bào của chúng với điều gì mà họ cần đến. Sự phân biệt giữa những thành viên và những người không phải là thành viên của một nhóm khép kín, không nói về công dân của những quốc gia khác nhau, được chấp nhận càng lúc càng nhiều như là một vấn đề tất nhiên; những sự bất công gây ra cho những cá nhân bởi hành động của chính phủ trong lợi ích của một nhóm được bỏ qua bằng sự thờ ơ khó phân biệt được từ sự nhẫn tâm;

p220

và những vi phạm trắng trợn nhất về những quyền cơ bản nhất của một cá nhân, những điều như thế bị lôi cuốn vào việc chuyển đổi bắt buộc của những dân cư, càng lúc càng được khuyến khích thường xuyên hơn thậm chí bởi những người được xem như là thuộc phe tự do. Tất cả điều nầy chắc chắn chỉ ra rằng ý thức đạo đức của chúng ta đã bị cùn đi hơn là sắc bén. Khi chúng ta được nhắc nhở, như càng lúc càng thường xảy ra hơn, rằng người ta không thể tạo ra những món trứng chiên mà không đập bể những trứng gà, những quả trứng vốn bị đập bể, tất cả gần như thuộc về một loại mà cách đây một hoặc hai thế hệ trước được xem như là những nền tảng thiết yếu của cuộc sống được văn minh hóa. Và những hành động tàn bạo nào được nhúng tay vào bởi những người có quyền lực mà những nguyên tắc công khai của họ mà họ cảm thông, chưa được sẵn sàng tha thứ bởi nhiều người trong số những người được gọi là “phe tự do” của chúng ta ?

* * * * *

Có một khía cạnh của sự thay đổi trong những giá trị đạo đức được mang lại do sự tiến triển của chủ nghĩa tập thể mà ở thời điểm hiện tại cung cấp thực phẩm đặc biệt cho tư tưởng. Điều đó là những đạo đức vốn được xem là càng lúc càng ít quý trọng và hậu quả là trở nên hiếm hoi hơn, chính xác là những thứ mà qua đó người dân Anh Quốc có lẽ hãnh diện chính mình và trong đó chúng được thừa nhận chung chung là nổi trội. Những đạo đức được sở hữu bởi người dân Anh Quốc chiếm giữ một mức độ cao hơn so với hầu hết những dân tộc khác, ngoại trừ chỉ một số ít trong số những quốc gia nhỏ hơn, giống như dân tộc Thụy Sĩ và Hà Lan, thì độc lập và tự lực, là bước khởi đầu cá nhân và trách nhiệm địa phương, là nơi nương tựa thành công vào hoạt động thiện nguyện, không có sự can thiệp vào nước làng giềng của mình và sự khoan dung về điều khác biệt và kỳ quặc, sự tôn trọng đối với phong tục và truyền thống, và sự ngờ vực lành mạnh về quyền lực và thẩm quyền. Sức mạnh của Anh Quốc, đặc tính của Anh Quốc, và những thành tựu của Anh Quốc đến một mức độ to lớn là kết quả của sự mở mang về tính chất tự sinh tự phát. Nhưng hầu như tất cả những truyền thống và tổ chức mà trong đó thiên tư đạo đức của Anh Quốc đã tìm thấy sự biểu hiện đặc trưng nhất của nó, và qua đó đến lúc đã đúc nên bản sắc dân tộc và toàn bộ môi trường đạo đức của nước Anh, là những thứ mà sự tiến triển của chủ nghĩa tập thể và những khuynh hướng tập trung cố hữu của nó đang dần dần hủy hoại.

p221

Một nền tảng kiến thức bên ngoài đôi khi hữu ích trong việc nhìn thấy rõ ràng hơn những nhân vật quan chức cao riêng biệt thuộc bầu không khí đạo đức của một quốc gia nhờ vào những hoàn cảnh gì. Và nếu một ai vốn là người, mà pháp luật có thể nói bất cứ điều gì, phải vẫn là một người nước ngoài vĩnh viễn, có thể được cho phép nói như thế, chính là một trong những cảnh tượng làm nản lòng nhất của thời đại chúng ta để nhìn thấy đến một mức độ nào một số trong những điều quý giá nhất mà nước Anh đã ban cho thế giới, hiện thời bị khinh miệt trong chính nước Anh. Người Anh khó mà biết họ khác biệt với hầu hết những dân tộc khác đến một mức độ nào mà qua đó tất cả họ, bất kể đảng phái nào, đến một mức độ lớn hơn hoặc kém hơn bám giữ những ý tưởng mà trong một hình thức rõ rệt nhất của họ được biết đến như là chủ nghĩa tự do. Nếu so sánh với hầu hết những dân tộc khác chỉ cách đây hai mươi năm trước, gần như tất cả những người Anh là những người thuộc phe tự do –tuy nhiên phần nhiều họ có thể đã khác biệt đối với đảng phái thuộc Chủ nghĩa Tự do. Và thậm chí ngày hôm nay, người Anh thuộc phe bảo thủ hay xã hội chủ nghĩa, không kém hơn người Anh thuộc phe tự do, nếu anh ta đi ra nước ngoài, mặc dù anh ta có thể tìm thấy những ý tưởng và những tác phẩm của Carlyle hoặc Disraeli, của Webbs hoặc H.G. Wells, cực kỳ phổ biến trong giới mà anh ta có ít quan điểm chung, trong số những người thuộc Đức Quốc xã và những người khác theo chủ nghĩa độc tài toàn trị, nếu anh ta tìm thấy một hòn đảo trí thức nơi mà truyền thống của Macaulay và Gladstone, của J.S. Mill hoặc John Morley sinh sống, sẽ tìm thấy những tinh thần có cùng một nguồn gốc vốn là những người “nói cùng một ngôn ngữ” như chính mình –tuy nhiên phần nhiều chính anh ta có thể khác biệt đối với những lý tưởng mà những người nầy đã đặc biệt đứng ra bênh vực.
Không một nơi nào có sự mất mát niềm tin vào những giá trị cụ thể của nền văn minh Anh Quốc hiển nhiên hơn, và không một nơi nào đã từng có điều đó, một ảnh hưởng làm tê liệt nhiều hơn trên việc theo đuổi mục đích to lớn trước mắt của chúng ta so với trong việc vô hiệu quả ngốc nghếch của hầu hết sự tuyên truyền của Anh Quốc. Điều kiện tiên quyết đầu tiên cho sự thành công trong việc tuyên truyền được hướng dẫn trực tiếp đến dân tộc khác là sự thừa nhận tự hào về những giá trị đặc trưng và những đặc điểm biệt lập mà quốc gia cố gắng thử, nó được biết đến với những dân tộc khác.

p222

Nguyên nhân chính của sự vô hiệu quả việc tuyên truyền của Anh Quốc là những người chỉ đạo nó dường như đã mất đi niềm tin của riêng mình vào những giá trị đặc thù của nền văn minh Anh Quốc hoặc là hoàn toàn không biết gì về những điểm chính mà qua đó nó khác biệt với điều đó của những dân tộc khác. Giới trí thức thuộc Phe tả, quả thật, đã tôn thờ quá lâu những vị thần ngoại lai đến nổi họ dường như đã trở nên gần như không có khả năng nhìn thấy bất kỳ điều tốt đẹp nào trong các tổ chức và những truyền thống đặc trưng của Anh Quốc. Đến nổi những giá trị đạo đức mà hầu hết trong số họ tự hào, phần lớn là sản phẩm của những tổ chức mà họ mang ra tiêu diệt, những nhà xã hội chủ nghĩa nầy, dĩ nhiên, không thể thừa nhận. Và thái độ nầy tiếc là không được hạn chế đối với những nhà xã hội chủ nghĩa được thừa nhận. Mặc dù người ta phải hy vọng rằng điều nầy không đúng sự thật về những người Anh được giáo hóa cất tiếng nói yếu kém nhưng đông đảo hơn, nếu người ta muốn xét đoán bằng những ý tưởng vốn tìm thấy sự biểu hiện trong cuộc thảo luận và tuyên truyền chính trị hiện nay, những người Anh vốn là những người không chỉ “nói ngôn ngữ mà Shakespeare đã nói”, mà còn “bám giữ đức tin và đạo đức mà ông Milton đã giữ”, dường như đã biến mất gần hết.1
Tuy nhiên, để tin rằng loại tuyên truyền được tạo ra bởi thái độ nầy có thể có hiệu quả mong muốn trên những kẻ thù của chúng ta và đặc biệt là những người Đức, là một sai lầm chết người. Những người Đức biết đất nước nầy, không rõ lắm, có lẽ, chưa đủ để biết những giá trị truyền thống đặc trưng của cuộc sống người Anh là gì, và điều gì trong hai hoặc ba thế hệ qua đã ngày càng tách biệt những tâm trí của hai đất nước. Nếu chúng ta muốn thuyết phục họ, không chỉ vì sự chân thành của chúng ta, mà còn là chúng ta phải đưa ra một sự lựa chọn thay thế khác thực sự cho con đường mà họ đã đi qua, điều đó sẽ không phải là do những nhượng bộ cho hệ thống tư tưởng của họ. Chúng ta sẽ không đánh lừa họ bằng sự tái sinh sản cũ mốc những ý tưởng của những ông cha họ mà chúng ta đã từng vay mượn từ họ –có thể đó là nhà nước chủ nghĩa xã hội, “Chính trị Thực dụng”, việc hoạch định mang tính chất “khoa học”, hoặc chủ thuyết đoàn thể.
=============
1 Mặc dù chủ đề của chương nầy đã thực sự mời gọi hơn một lần sự tham khảo đến ông Milton, đó là điều khó khăn khi chống lại sự cám dỗ để thêm vào ở đây thêm một đoạn trích dẫn nữa, một đoạn rất quen thuộc, mặc dù là một đoạn, nó có vẻ như thế, mà ngày nay không ai ngoại trừ người nước ngoài có thể dám trích dẫn: “Đừng để nước Anh quên đi quyền bề trên của nó về việc dạy cho những quốc gia nên sống như thế nào”. Đó là điều, có lẽ, rất quan trọng mà thế hệ chúng ta đã từng nhìn thấy một chủ nhân trong số những người Mỹ và Anh phỉ báng ông Milton và qua đó người đầu tiên trong số họ, Ngài Ezra Pound, trong suốt cuộc chiến tranh nầy đã phát sóng từ nước Ý !
=============

p223

Chúng ta sẽ không thuyết phục họ bằng cách theo sau họ một nửa đường vốn dẫn đến chủ nghĩa độc tài toàn trị. Nếu chính những người Anh từ bỏ lý tưởng tối cao về tự do và hạnh phúc của một cá nhân, nếu họ mặc nhiên thừa nhận rằng nền văn minh của họ không đáng bảo tồn, và rằng họ không biết điều gì hay hơn là cùng đi theo con đường mà những người Đức đã dẫn dắt, quả thật họ không có gì để đưa ra. Đối với những người Đức, tất cả những điều nầy chỉ đơn thuần là những thừa nhận muộn màng rằng những người Anh đã sai lầm hoàn toàn, và rằng chính họ đang dẫn đường đến một thế giới mới và tốt hơn, tuy nhiên giai đoạn chuyển đổi có thể là gây kinh hoàng. Những người Đức biết rằng điều mà họ vẫn xem như là truyền thống Anh Quốc và những lý tưởng mới của riêng mình, trên cơ bản thì đối nghịch và là những quan điểm không thể hòa giải được về cuộc sống. Họ có thể được thuyết phục rằng cách mà họ đã chọn là sai lầm –nhưng không có gì sẽ từng thuyết phục họ rằng những người Anh sẽ là những hướng dẫn tốt hơn trên con đường của Đức.
Ít nhất là loại tuyên truyền đó sẽ kêu gọi đến những người Đức kia mà trên sự giúp đỡ của họ chúng ta cuối cùng phải tính đến trong việc xây dựng lại châu Âu bởi vì những giá trị của họ thì gần gũi nhất đối với những giá trị của riêng chúng ta. Đối với kinh nghiệm đã làm cho họ trở thành những người khôn ngoan hơn và buồn thảm hơn: họ đã học được rằng không phải là những chủ ý tốt cũng không phải là hiệu quả của cách tổ chức có thể bảo tồn khuôn phép lịch sự trong một hệ thống mà quyền tự do cá nhân và trách nhiệm cá nhân bị phá hủy. Điều mà người Đức và Ý vốn đã học được bài học bên trên tất cả điều ham muốn, là sự bảo vệ chống lại con quái vật nhà nước –không phải là những kế hoạch to lớn dành cho việc tổ chức trên một quy mô khổng lồ, nhưng là cơ hội hòa bình và trong sự tự do để xây dựng lên một lần nữa thế giới nhỏ bé của riêng nó. Không phải bởi vì họ tin rằng việc chịu mệnh lệnh bởi những người Anh được ưu thích hơn là việc chịu mệnh lệnh bởi những người Phổ, nhưng bởi vì họ tin rằng trong một thế giới nơi mà những lý tưởng của người Anh đã từng giành được chiến thắng, họ sẽ ít chịu mệnh lệnh và được để yên để theo đuổi những mối quan tâm của riêng mình, rằng họ có thể hy vọng cho sự hỗ trợ từ một vài trong số những công dân của các nước đối phương.

p224

Nếu chúng ta muốn thành công trong cuộc chiến tranh về những ý thức hệ và chiếm lấy phần thắng trên những thành phần lịch lãm ở các nước thù nghịch, trước hết chúng ta phải lấy lại niềm tin trong những giá trị truyền thống mà đất nước nầy đã giữ vững trong quá khứ, và phải có lòng can đảm đạo đức một cách bền chắc để bảo vệ những lý tưởng mà những kẻ thù của chúng ta tấn công. Không phải bằng sự hổ thẹn đối mặt những lời xin lỗi và bằng những bảo đảm rằng chúng ta đang cải cách một cách mau chóng, không phải bằng cách giải thích rằng chúng ta đang tìm kiếm một sự thỏa hiệp nào đó giữa những giá trị truyền thống của Anh Quốc và những ý tưởng độc tài chuyên chế mới, chúng ta sẽ chiến thắng lòng tự tin và sự hỗ trợ. Không phải là những cải tiến mới nhất, chúng ta có thể đã gây ảnh hưởng trong những tổ chức xã hội của chúng ta, vốn được tính đến nhưng ít được so sánh với những khác biệt cơ bản của hai cách sống trái ngược, nhưng niềm tin vững chắc của chúng ta trong những truyền thống đó vốn đã làm cho đất nước nầy trở thành một đất nước của những người tự do và ngay thẳng, khoan dung và độc lập, là điều mà đáng nói.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

15 thoughts on “Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng

  1. Pingback: Chương 01: Con đường Bỏ hoang |

  2. Pingback: Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng |

  3. Pingback: Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể |

  4. Pingback: Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định |

  5. Pingback: Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ |

  6. Pingback: Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp |

  7. Pingback: Chương 07: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị |

  8. Pingback: Chương 08: Ai làm, ai chịu ? |

  9. Pingback: Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do |

  10. Pingback: Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao |

  11. Pingback: Chương 11: Phần Cuối của Sự thật |

  12. Pingback: Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã |

  13. Pingback: Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta |

  14. Pingback: Chương 15 (Hết) : Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế |

  15. Pingback: Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch (Mục Lục & Lời Giới thiệu) |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s