Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta

p186

Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta

“Khi chính quyền phơi bày chính mình trong vỏ bọc của tổ chức, nó
phát triển những quyến rũ đủ hấp dẫn để chuyển đổi những cộng đồng
của những người dân tự do trở thành những Nhà nước độc tài toàn trị.”

The Times

Có lẽ điều xác thực là mức độ thực sự của những xúc phạm được nhúng tay vào bởi những chính phủ độc đoán, thay vì làm gia tăng nỗi lo sợ rằng một hệ thống như thế có thể một ngày nào đó sẽ xuất hiện ở đất nước nầy, đã khiến cho sự bảo đảm khá vững chắc hơn rằng điều đó không thể xảy ra ở đây. Khi chúng ta nhìn vào Đức Quốc xã, vực thẳm vốn tách biệt chúng ta, dường như quá bao la đến nổi không có gì vốn xảy ra ở đó, có thể có sự thích đáng cho bất kỳ sự phát triển nào có thể có ở đất nước nầy. Và sự kiện thực tế là sự khác biệt dần dần đã trở nên lớn hơn, dường như bác bỏ bất cứ đề nghị nào cho rằng chúng ta có thể là đang di chuyển theo một hướng tương tự. Nhưng chúng ta đừng quên rằng mười lăm năm trước điều có thể của một việc như thế xảy ra ở Đức, có thể đã xuất hiện chỉ là điều tưởng tượng, không chỉ đối với chín phần mười chính những người Đức, mà còn đối với những quan sát viên nước ngoài thù nghịch nhất (tuy nhiên, bây giờ họ có thể giả vờ là đã từng khôn ngoan).

p187

Như được đề nghị trước đó trong những trang nầy, tuy nhiên, điều đó không phải là nước Đức hiện nay nhưng là một nước Đức của hai mươi hay ba mươi năm về trước mà những điều kiện trong đất nước nầy cho thấy hình thức giống nhau ngày càng tăng thêm. Có nhiều nét nổi bật mà sau nầy được xem như là “nét đặc thù của người Đức” và qua đó hiện thời đều quen thuộc ở đất nước nầy, và có nhiều dấu hiệu vốn chỉ vào sự phát triển xa hơn nữa trong cùng một hướng. Chúng ta đã đề cập qua điều quan trọng nhất, sự giống nhau ngày càng tăng giữa những quan điểm về kinh tế của Phe hữu và Phe tả và sự đối nghịch chung của chúng đối với Chủ nghĩa Tự do mà trước kia là nền tảng chung của hầu hết chính trị Anh Quốc. Chúng ta có thẩm quyền của Ngài Harold Nicolson cho lời phất biểu rằng trong suốt thời gian của chính phủ Bảo thủ vừa qua, trong số những dãy ghế Nghị viện thứ yếu của đảng Bảo thủ “những người có tài năng nhất… tất cả đều là những nhà xã hội chủ nghĩa tận thâm tâm”1 và có thể là có một chút vấn đề là, như trong những ngày của những người thuộc Hội Xã hội Chủ nghĩa Tiệm tiến Fabian, nhiều nhà xã hội chủ nghĩa có sự cảm thông hơn với những người thuộc đảng Bảo thủ so với những người thuộc đảng Tự do. Có nhiều nét nổi bật khác liên quan gần gũi với điều nầy. Việc tôn kính ngày càng tăng dành cho nhà nước, sự ngưỡng mộ về quyền lực, và về sự lớn mạnh vì lợi ích to lớn, lòng nhiệt tình cho “tổ chức” của mọi thứ (chúng ta hiện thời gọi nó là việc hoạch định), và qua đó “không có khả năng để lại bất cứ điều gì cho một sức mạnh đơn giản của sự tăng trưởng cơ chế”, mà thậm chí H.V. Treitschke lấy làm rất tiếc cho những người Đức sáu mươi năm trước đây, hiện nay không nhất định là tất cả những điều đó ít được chú ý hơn ở đất nước nầy so với chúng đã được ghi nhận ở Đức.
Trong hai mươi năm qua, Anh Quốc đã đi bao xa trên con đường của nước Đức vốn được mang về nhà cho một dân tộc với sự sinh động khác thường nếu bây giờ người ta đọc một vài trong số những cuộc thảo luận nghiêm túc hơn về những khác biệt giữa các quan điểm của Anh Quốc và Đức trên những vấn đề chính trị và đạo đức vốn xuất hiện ở đất nước nầy trong suốt cuộc chiến vừa qua. Có lẽ là đúng khi nói rằng sau đó công chúng Anh Quốc nói chung đã có sự đánh giá đúng đắn hơn những khác biệt nầy so với sự đánh giá mà nó có hiện nay;
=============
1 Tạp chí The Spectator, ngày 12 tháng Tư, 1940, p. 523.
=============

p188

nhưng trong khi những người dân của đất nước nầy sau đó cảm thấy tự hào về truyền thống riêng biệt của họ, có một số ít trong số những quan điểm chính trị sau đó được xem như là đặc tính của người Anh mà phần lớn những người dân trong đất nước nầy hiện thời không có vẻ chút xấu hổ gì, nếu họ không tích cực bác bỏ những quan điểm nầy. Chắc chắn không phải là điều phóng đại khi nói rằng một cây viết về những nan đề chính trị hay xã hội sau đó xuất hiện trước thế giới càng có nét đặt thù của người Anh, anh ta càng bị lãng quên hơn trong đất nước của mình ngày hôm nay. Những người giống như Lord Morley hoặc Henry Sidgwick, Lord Acton hoặc A.V. Dicey, vốn là những người sau đó được ngưỡng mộ rất nhiều trên thế giới như là những thí dụ nổi bật của sự khôn ngoan về chính trị của nước Anh tự do, đối với thế hệ hiện tại phần lớn là những người thuộc thời kỳ Victoria lỗi thời. Có lẽ là không có gì cho thấy sự thay đổi nầy rõ ràng hơn so với điều đó, trong khi không có thiếu cách đối xử cảm thông của vị Chưởng ấn Bismarck trong văn học Anh Quộc đương thời, cái tên Gladstone hiếm khi được nhắc đến bởi thế hệ trẻ hơn mà không có một sự cười nhạo trên tính chất đạo đức thời Victoria của ông ta và chủ nghĩa đại đồng ngây ngô.
Tôi ước là tôi có thể trong một vài đoạn văn truyền đạt một cách đầy đủ về ấn tượng đáng báo động có được từ việc nghiên cứu kỹ một vài trong số những tác phẩm của Anh Quốc trên những ý tưởng trội hơn những tác phẩm của Đức trong cuộc chiến vừa qua, nơi mà hầu hết mỗi từ ngữ có thể được áp dụng cho những quan điểm đáng chú ý nhất trong văn học Anh Quốc hiện tại. Tôi sẽ chỉ đơn thuần là trích dẫn một đoạn văn ngắn của Lord Keynes, mô tả “cơn ác mộng” vào năm 1915 mà qua đó ông ta đươc tìm thấy là dẫn giải chi tiết trong một tác phẩm về một Đức điển hình của gian đoạn đó: ông ta mô tả về việc, theo một tác giả Đức,

ngay cả trong cuộc sống lao động bình yên trong hãng xưởng phải vẫn còn bị huy động như thế nào. Đây là điều mà ông ta muốn nói đến bằng cách nói về “việc quân sự hóa cuộc sống lao động của chúng ta” [tựa đề của một cuốn sách được bình phẩm]. Chủ nghĩa cá nhân phải đi đến sự chấm dứt hoàn toàn. Một hệ thống của những quy định phải được thiết lập, một mục đích của điều mà không phải là thứ hạnh phúc lớn hơn của một cá nhân (Giáo sư Jaffe không cảm thấy xấu hổ khi nói điều nầy trong rất nhiều từ ngữ), nhưng việc làm mạnh hơn sự hợp nhất có tổ chức của nhà nước cho mục đích đạt được mức độ hiệu quả tối đa (Leistungsfiihigheit), một ảnh hưởng mà qua đó trên mặt thuận lợi cá nhân chỉ là gián tiếp.

p189

–học thuyết gớm ghiếc nầy được trân trọng cất giữ trong một loại chủ nghĩa lý tưởng. Đất nước sẽ tăng trưởng trở thành một “hợp nhất khép kín” và sẽ trở thành, trên thực tế là, cái gì mà nhà triết học Hy lạp cổ đại Plato đã tuyên bố điều đó sẽ là — “Der Mensch im Großen” (“Con người trong Đấng Vĩ đại”). Riêng biệt là, nền hòa bình đang đến sẽ mang với nó việc củng cố ý tưởng về sự hoạt động của Nhà nước trong ngành kỹ nghệ… Việc đầu tư nước ngoài, việc di dân, chính sách kỹ nghệ mà trong những năm gần đây đã xem cả thế giới như là một thị trường, là điều rất nguy hiểm. Trật tự xưa của kỹ nghệ, vốn đang chết dần ngày hôm nay, được dựa trên Lợi nhuận; và một nước Đức mới của Sức mạnh thuộc thế kỷ hai mươi mà không xét về Lợi nhuận sẽ tạo nên sự chấm dứt hệ thống chủ nghĩa tư bản đó, vốn đến từ nước Anh cách đây một trăm năm.1

Ngoại trừ điều đó, không một tác giả người Anh nào, đối vời hiểu biết của tôi, đã vẫn dám công khai miệt thị hạnh phúc cá nhân, có phải chăng có một đoạn văn trong điều nầy vốn không được phản ánh trong phần nhiều văn học Anh Quốc đương thời ?
Và, chắc chắn, không chỉ đơn thuần là những ý tưởng mà ở nước Đức và nơi khác chuẩn bị cho chế độ độc tài toàn trị, mà còn nhiều ý tưởng trong số những nguyên tắc của chính chủ nghĩa độc tài toàn trị, là điều gì đó rèn luyện sự đam mê đang gia tăng ở nhiều quốc gia khác. Mặc dù một số ít người, nếu có bất cứ ai, trong đất nước nầy có lẽ sẵn sàng ngậm đắng chịu đựng toàn bộ chủ nghĩa độc tài toàn trị, có một số ít nét nổi bật duy nhất mà chúng ta chưa được góp ý bởi một người nào đó hoặc ai khác để bắt chước theo. Quả thật, chắc chắn là không có một tấm gương nào của Hitler mà một người nào đó hoặc ai khác ở đất nước nầy đã không giới thiệu cho chúng ta để noi theo và ứng dụng cho những mục đích của riêng chúng ta. Điều nầy áp dụng một cách riêng biệt cho nhiều người vốn là những người chắc chắn là những kẻ thù một mất một còn của Hitler bởi vì một nét nổi bật đặc biệt trong hệ thống của ông ta.
=============
1 Tạp chí Economic, 1915, p. 450.
=============

p190

Chúng ta sẽ không bao giờ nên quên rằng việc bài dân Do Thái của Hitler đã khởi động từ đất nước của ông ta, hoặc biến họ thành những kẻ thù của ông ta, nhiều người trên mọi phương diện được xác nhận là những người theo chủ nghĩa độc tài toàn trị thuộc kiểu Đức.1
Không có một sự mô tả nào trong những phần chung chung có thể đưa ra một ý tưởng thích đáng về sự giống nhau của phần nhiều văn học chính trị hiện thời của Anh Quốc với những tác phẩm vốn đã phá hủy niềm tin vào nền văn minh Tây phương ở Đức và tạo ra một trạng thái tâm thức mà trong đó Chủ nghĩa Đức Quốc xã có thể trở nên thành công. Tính chất tương tự thậm chí hơn là một tính chất của tâm trạng mà những vấn đề được tiếp cận so với tính chất của những lập luận dứt khoát được sử dụng –một sự sẵn sàng tương tự để phá vỡ tất cả những mối ràng buộc của văn hóa với quá khứ và đánh cuộc mọi thứ trên sự thành công của một thí nghiệm riêng biệt. Như cũng là sự thật ở nước Đức, hầu hết những tác phẩm vốn đang chuẩn bị con đường cho chiều hướng của chủ nghĩa đột tài toàn trị trong đất nước nầy, là sản phẩm của nhà lý tưởng chân thành và thường là những người trí thức lỗi lạc đáng kể. Vì vậy, mặc dù là điều xúc phạm khi chọn lựa ra những người riêng biệt như là những minh họa nơi mà những quan điểm tương tự được ủng hộ bởi hàng trăm người khác, tôi không thấy một cách nào khác chứng minh một cách hiệu quả về sự phát triển nầy đã thực sự tiến xa như thế nào ở đất nước nầy. Tôi sẽ cố tình chọn lựa những tác giả như là những minh họa mà sự chân thành và tính chất vô tư của họ không phải là điều đáng ngờ. Nhưng mặc dù tôi hy vọng bằng cách nầy cho thấy những quan điểm mà từ đó chủ nghĩa độc tài toàn trị trỗ ra, hiện thời đang nhanh chóng lan rộng ở đây như thế nào, tôi có ít cơ hội đạt được việc truyền đạt thành công tính chất tương tự quan trọng như nhau trong bầu không khí xúc động.
=============
1 Đặc biệt là khi chúng ta xem xét phần tỷ lệ của những nhà xã hội chủ nghĩa trước đây vốn là những người đã trở thành những thành viên Đức Quốc xã, điều quan trọng là phải nhớ rằng ý nghĩa thực sự của tỷ lệ nầy được nhìn thấy chỉ khi nào chúng ta so sánh nó, không phải với tổng số những nhà xã hội chủ nghĩa trước đây, nhưng với con số của những người mà sự chuyển đổi của họ trong trường hợp nào có thể đã không bị ngăn cản bởi tổ tiên của họ. Thật ra, một trong những nét nổi bật đáng ngạc nhiên về việc di cư chính trị từ Đức là một con số tương đối nhỏ của những người tị nạn từ Phe tả vốn là những người không phải là “dân Do Thái” trong ý nghĩa thuật ngữ của Đức. –Thuờng là bao nhiêu lần chúng ta không nghe những lời tán dương về hệ thống Đức được mở đầu bằng lời phát biểu nào đó chẳng hạn như là câu sau đây mà tại một cuộc họp vừa qua, một bản liệt kê về “những nét nổi bật của kỹ thuật chuyên chế về việc huy động kinh tế mà qua đó rất đáng nghĩ đến” đã được giới thiệu: “Ngài Hitler không phải là lý tưởng của tôi –xa khỏi điều đó. Có những lý do cá nhân rất cấp bách là tại sao Ngài Hitler không nên là lý tưởng của tôi, nhưng…”
=============

p191

Một cuộc điều tra mở rộng vào trong tất cả những thay đổi nhỏ nhặt trong tư tưởng và ngôn ngữ sẽ là điều cần thiết để làm sáng tỏ điều mà người ta đủ dễ dàng nhìn nhận là những triệu chứng của sự phát triển quen thuộc. Qua cuộc gặp gỡ với loại người vốn nói về sự cần thiết của những ý tưởng “lớn” đối nghịch với những ý tưởng “nhỏ” và của việc thay thế cách suy nghĩ “cố định” hoặc “thiên vị” xa xưa bởi cách “năng động” hay “toàn cầu” mới mà người ta học hỏi để nhận ra rằng điều gì lúc đầu có vẻ chỉ là vô nghĩa, là một dấu hiệu của cùng một thái độ khôn ngoan mà những sự biểu lộ của anh ta, chỉ riêng chúng ta có thể dính líu đến ở đây.

* * * * *

Những thí dụ đầu tiên của tôi là hai tác phẩm của một học giả tài năng, mà trong những năm gần đây đã thu hút nhiều sự chú ý. Có, có lẽ, rất ít trường hợp khác trong văn học Anh đương đại, nơi ảnh hưởng của những ý tưởng cụ thể của Đức mà chúng ta quan tâm như vậy là đánh dấu như là trong những cuốn sách của Giáo sư E.H. Carr về “Cuộc Khủng hoảng của Hai mươi Năm” (“The Twenty Years’ Crisis”) và “Những Điều kiện của Hòa bình” (The Conditions of Peace”).
Trong cuốn sách đầu tiên trong số hai cuốn sách, Giáo sư Carr thẳng thắn tự thú nhận là một môn đồ trung thành của “‘trường phái lịch sử’ của những người theo chủ nghĩa hiện thực [vốn] có trụ sở của nó ở Đức và sự phát triển [của nó] có thể được truy tìm qua những cái tên nổi tiếng của Hegel và Marx”. Một nhà hiện thực, ông ta giải thích, là một người “vốn làm cho nền đạo đức trở thành một chức năng của chính trị” và vốn là người “không thể chấp nhận một cách hợp lý bất kỳ tiêu chuẩn giá trị nào ngoại trừ điều đó của sự kiện thực tế”. “Chủ nghĩa hiện thực” nầy, theo kiểu cách thực sự của Đức, tương phản với tư tưởng “đại đồng không tưởng” có từ thế kỷ mười tám “mà trên cơ bản là những người theo chủ nghĩa cá nhân mà trong đó nó khiến cho lương tâm con người trở thành tòa án cuối cùng của sự kháng cáo”. Nhưng những đạo đức xa xưa với “nguyên tắc trừu tượng chung chung” của họ phải biến mất bởi vì “những người theo chủ nghĩa trải nghiệm giác quan giải quyết trường hợp cụ thể trên những giá trị lý lẽ cá nhân của nó”. Nói cách khác, không có gì ngoài những vấn đề thiết thực, và thậm chí chúng ta được bảo đảm rằng “quy tắc về pacta sunt servanda (i.e. tiếng La-tin là “những thỏa thuận phải được tuân theo”) không phải là một nguyên tắc đạo đức”. Mà qua đó nếu không có những nguyên tắc trừu tượng chung chung, giá trị lý lẽ trở thành một vấn đề của quan điềm trừu tượng duy nhất, và qua đó những điều ước quốc tế, nếu chúng không tạo nên sự ràng buộc về mặt đạo đức, không có ý nghĩa gì cả, không có vẻ làm phiền Giáo sư Carr lo nghĩ.

(Edward Hallett “Ted” Carr (1892–1982), là nhà ngoại giao, nhà báo,
nhà lý thuyết về những quan hệ quốc tế, là đối thủ của chủ nghĩa trải
nghiệm giác quan, và được biết nhiều đến như là nhà lịch sử Anh Quốc
qua bộ sách 14 cuốn về “Lịch sử nước Nga Sô”. Đồng thời, ông ta là
người gây ra nhiều lời phê bình mỉa mai vai trò sử gia thiếu trung thực
của mình về Sô-Viết, cũng như những quan điểm chính trị sai lầm)

(John Locke (1632–1704), là y sĩ, triết học gia Anh Quốc, “Người
cha của Chủ nghĩa Tự do Cổ điển”, là một trong những người đầu tiên
trong số những người theo chủ nghĩa trải nghiệm giác quan (empiricism)
vốn nhấn mạnh trên vai trò của kinh nghiệm và bằng chứng)

p192

Theo Giáo sư Carr, quả thật, mặc dù ông ta không nói rõ ràng như thế, dường như Anh Quốc đã chiến đấu cuộc chiến cuối cùng bên phía sai lầm. Bất cứ ai vốn hiện thời đọc lại những lời phát biểu về những mục đích chiến tranh của Anh Quốc cách đây hai mươi lăm năm và so sánh chúng với những quan điểm hiện tại của Giáo sư Carr sẽ dễ dàng nhìn thấy rằng những gì sau đó được tin là những quan điểm của Đức, bây giờ là những quan điểm của Giáo sư Carr vốn là người có thể được cho là sẽ tranh luận rằng những quan điểm khác biệt sau nầy được cho là trong đất nước nầy chỉ đơn thuần là một sản phẩm đạo đức giả của Anh Quốc. Sự khác biệt nhỏ nhoi đến thế nào mà ông ta có thể nhìn thấy giữa những lý tưởng được bám giữ trong đất nước nầy và những lý tưởng được thực hành bởi những người Đức ngày hôm nay, được minh hoạ rõ ràng bằng sự khẳng định của ông rằng

xác thực là khi một nhà Quốc xã Chủ nghĩa nổi bật khẳng định rằng “bất cứ điều gì vốn có lợi cho dân Đức là đúng, bất cứ điều gì vốn gây tổn hại đến họ là sai”, ông ta chỉ đơn thuần đưa ra sự nhận diện giống nhau về lợi ích quốc gia với quyền phổ quát vốn đã được thực sự thành lập cho những nước nói tiếng Anh bởi [Tổng thống] Wilson, Giáo sư Toynbee, Lord Cecil, và nhiều người khác.

Kể từ khi những cuốn sách của Giáo sư Carr được dành cho các vấn đề quốc tế, chủ yếu là trong lãnh vực mà khuynh hướng đặc trưng của chúng trở nên rõ ràng. Nhưng từ những cái nhìn thoáng qua, người ta hiểu được đặc tính của một xã hội trong tương lai mà ông ta lặng ngắm, nó cũng hiện ra khá rõ trên mô hình chuyên chế. Đôi khi người ta thậm chí tự hỏi là liệu hình thức giống nhau có phải là việc vô tình hay cố ý. Có phải chăng Giáo sư Carr, thí dụ, nhận ra, khi ông ta khẳng định là “chúng ta không còn có thể tìm thấy nhiều ý nghĩa trong sự phân biệt quen thuộc với tư tưởng trong thế kỷ mười chín giữa ‘xã hội’ và ‘nhà nước’”, rằng chính xác đây là học thuyết của Giáo sư Carl Schmitt, nhà lý thuyết Đức Quốc xã hàng đầu của chủ nghĩa độc tài toàn trị, và, trên thực tế, thực chất của một định nghĩa về chủ nghĩa độc tài toàn trị mà tác giả đó đã gán cho thuật ngữ đó mà chính ông ta là người đã giới thiệu ?

p193

Hoặc ông ta khẳng định quan điểm rằng “việc sản xuất hàng loạt quan điểm là một kết quả tất yếu của sự sản xuất hàng loạt hàng hóa” và rằng, vì vậy, “thành kiến mà việc tuyên truyền từ ngữ vẫn sử dụng trong nhiều tâm trí ngày hôm nay, thì song song chặt chẽ với thành kiến chống lại sự kiểm soát kỹ nghệ và thương mại”, có phải thực sự là một lời xin lỗi cho sự tổ chức phân nhóm quan điểm của loại được thực hành bởi những người Đức Quốc xã không ?

(Carl Schmitt (1888–1985), là nhà triết học, thẩm phán, và nhà lý
thuyết chính trị Đức. Phần nhiều công việc của ông ta vẫn còn ảnh
hưởng và lẫn gây tranh cãi đến hôm nay trong sự thắp sáng của hiệp
hội của mình với Chủ nghĩa Đức Quốc xã, vì điều đó ông ta được
biết đến như là “vị thẩm phán có vương miện của Đế chế Thứ ba”)

Trong cuốn sách gần đây hơn của ông ta là “Những điều kiện của Hòa bình” (“Conditions of Peace”), Giáo sư Carr trả lời với sự khẳng định nhấn mạnh cho câu hỏi mà chúng ta đã kết luận chương cuối cùng bằng nó :

Những người chiến thắng đã đánh mất hòa bình, và Nga Sô và Đức giành được điều đó, bởi vì Nga Sô tiếp tục rao giảng, và một phần áp dụng, những lý tưởng có lần còn giá trị, nhưng bây giờ bị phá vỡ về quyền hạn của những quốc gia và của chủ nghĩa tư bản laissez-faire (i.e. không can thiệp), trong khi mà nước Đức, bị cuốn đi về phía trước một cách có ý thức hay vô ý thức trên dòng thủy triều của thế kỷ hai mươi, đang cố gắng hết sức để xây dựng nên một thế giới trong những đơn vị lớn hơn theo việc hoạch định và kiểm soát tập trung.

Giáo sư Carr hoàn toàn tạo nên cho riêng mình lời kêu gọi chiến đấu của Đức cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của phương Đông chống lại phương Tây tự do mà trong đó Đức là nước lãnh đạo :

cuộc cách mạng vốn bắt đầu trong cuộc chiến vừa qua, vốn đã là một lực lượng thúc đẩy của mỗi phong trào chính trị đáng kể trong hai mươi năm qua… một cuộc cách mạng chống lại những ý tưởng chiếm ưu thế trước đó của thế kỷ mười chín như là : nền dân chủ tự do, quyền tự quyết quốc gia, và nền kinh tế laissez-faire (i.e. không can thiệp).

Như chính ông ta nói rất đúng “điều gần như tất yếu là sự thách thức nầy đối với những niềm tin thuộc thế kỷ mười chín mà nước Đức đã không bao giờ thực sự chia sẻ, sẽ tìm ở Đức là một nước trong những nước tán thành mạnh mẽ nhất của nó”.

p194

Với tất cả niềm tin theo thuyết định mệnh của mọi sử giả giả mạo kể từ Hegel và Marx, sự phát triển nầy được tiêu biểu như là điều không thể tránh khỏi: “chúng ta biết chiều hướng mà trong đó thế giới đang di chuyển, và chúng ta phải cúi đầu trước điều đó hoặc chịu diệt vong”.
Niềm tin chắc chắn rằng khuynh hướng nầy là tất yếu, đặc thù là được dựa trên những thuyết ngụy biện quen thuộc về kinh tế –điều cần thiết được cho là đúng về sự tăng trưởng chung của những công ty độc quyền thương mại trong hệ quả của những phát triển kỹ thuật, “nhiều tiềm năng” được viện dẫn, và tất cả những dòng chữ biểu tượng phổ biến khác vốn xuất hiện trong những tác phẩm của loại nầy. Giáo sư Carr không phải là một nhà kinh tế và cách lập luận về kinh tế của ông ta nói chung sẽ không chịu được sự khảo nghiệm nghiêm túc. Nhưng không phải là điều nầy, cũng không phải là niềm tin của ông ta đặc thù là được bám giữ vào cùng thời điểm đó, mà qua đó tầm quan trọng của yếu tố kinh tế trong đời sống xã hội đang nhanh chóng suy giảm, đã cản trở ông ta không thể dựa vào những lý luận về kinh tế cho tất cả những dự đoán của mình về những phát triển tất yếu hoặc không thể trình bày như là những đòi hỏi chính yếu của ông ta cho tương lai qua “việc giải thích lại những lý tưởng dân chủ về ‘bình đẳng’ và ‘tự do’” bằng những thuật ngữ kinh tế phổ biến rộng rãi trước đó !
Sự khinh miệt của Giáo sư Carr đối với tất cả những ý tưởng của những nhà kinh tế tự do (mà ông ta khăng khăng gọi là những ý tưởng thuộc thế kỷ mười chín, mặc dù ông ta biết rằng Đức “đã không bao giờ thực sự chia sẻ” chúng và đã từng thực hành qua trong thế kỷ mười chín hầu hết những nguyên tắc mà lúc bấy giờ ông ta ủng hộ), thì sâu sắc như sự khinh bỉ của bất kỳ người nào trong số những cây viết Đức được trích dẫn trong chương cuối cùng. Ông thậm chí chiếm luôn luận thuyết Đức, có nguồn gốc từ Friedrich List, mà qua đó thuyết Thương mại Tự do là một chính sách bị bức chế duy nhất bởi, và chỉ thích hợp với, những lợi ích đặc biệt của Anh Quốc trong thế kỷ mười chín. Hiện tại, tuy nhiên, “việc sản xuất giả tạo ở một mức độ nào đó của một quốc gia tự cung cấp là điều kiện cần thiết của sự tồn tại xã hội có trật tự.” Để dẫn đến “sự trở lại việc trao đổi thương mại trên thế giới được phân tán và phổ biến hóa hơn… bằng cách ‘loại bỏ những rào cản trao đổi thương mại’, hoặc bằng cách làm cho sống lại những nguyên tắc laissez-faire (i.e. không can thiệp)(pc 02) của thế kỷ mười chín” là điều “không thể tưởng”. Tương lai thuộc về Großraumwirtschaft (i.e. vùng lục địa kinh tế) thuộc kiểu Đức: “kết quả mà chúng ta khao khát mong muốn, chỉ có thể được giành lấy bằng việc chủ tâm tổ chức lại cuộc sống Âu châu chẳng hạn như là Hitler đã từng đảm nhận” !

p195

Cuối cùng là điều nầy khó mà ngạc nhiên khi tìm thấy một đoạn đặc trưng có đầu đề “Những Chức năng Đạo đức của Chiến tranh”, mà trong đó Giáo sư Carr hạ mình thương xót “những người dân theo ý nghĩa rõ ràng (đặc biệt là trong những quốc gia nói tiếng Anh) vốn là những người, đã bước vào trong truyền thống của thế kỷ mười chín, vẫn khăng khăng xem cuộc chiến tranh như là điều vô nghĩa và trống không của mục đích”, và hân hoan có được “cảm nhận về ý nghĩa và mục đích” mà cuộc chiến tranh, “một công cụ mạnh mẽ nhất của sự đoàn kết xã hội”, tạo ra. Tất cả điều nầy rất quen thuộc, nhưng nó không nằm trong những tác phẩm của các học giả Anh mà qua đó người ta mong muốn tìm thấy những quan điểm nầy.

* * * * *

Có thể là chúng ta chưa đưa ra đủ sự chú ý đến một đặc điểm của sự phát triển trí thức ở Đức trong suốt hàng trăm năm qua mà bây giờ nằm trong một hình thức gần như giống y nhau tạo nên bề ngoài của nó trong đất nước nầy: những nhà khoa học khích động một tổ chức “khoa học” trong xã hội. Lý tưởng về một xã hội có tổ chức ở Đức “lần lượt đi qua” từ phía trên đã được tiến xa hơn một cách đáng kể bởi ảnh hưởng khá độc đáo mà những chuyên gia kỹ thuật và khoa học của nước Đức được phép thực thi trên sự hình thành của những quan điểm xã hội và chính trị. Một số ít người nhớ rằng trong lịch sử hiện đại của Đức, những vị giáo sư chính trị đã từng đóng một vai trò tương đương với vai trò của những luật sư chính trị ở Pháp.1 Sự ảnh hưởng của những nhà chính trị-khoa học nầy trong những năm cuối không thường đứng về cùng phía tự do: “sự không khoan dung có lý do” rất thường dễ thấy ở những chuyên gia khoa học, sự thiếu kiên nhẫn với những cách của người đàn ông bình thường rất đặc trưng của những người chuyên nghiệp, và sự khinh miệt đối với bất cứ điều gì vốn không được tổ chức một cách có ý thức bởi những đầu óc bên trên theo một mẫu in thiết kế khoa học, là những hiện tượng quen thuộc trong đời sống công chúng Đức trong những thế hệ trước khi chúng trở thành điều đáng chú ý trong đất nước nầy.
=============
1 Xin xem thêm, Franz Schnabel, bộ sách “Deutsche Geschichte im neunzehnten Jahrhundert” (“Lịch sử Đức quốc trong Thế kỷ Mười chín”), vol. 11, 1933, p. 204.
=============

p196

Và có lẽ không một quốc gia khác nào cung cấp một thí dụ minh họa hay hơn về những ảnh hưởng trên một quốc gia của sự chuyển đổi chung chung và toàn diện phần lớn hơn của một hệ thống giáo dục của nó từ “những đặc tính con người” đến “những thực tế” so với những điều đó của nước Đức trong khoảng thời gian giữa năm 1840 và 1940.1
Cách thức mà trong đó, cuối cùng, với một số ít ngoại lệ, những học giả và những nhà khoa học của Đức đặt chính mình một cách sẵn sàng dưới việc phục vụ cho những người cai trị mới, là một trong những cảnh tượng làm buồn phiền và đáng xấu hổ nhất trong toàn bộ lịch sử của sự vươn lên của Chủ nghĩa Quốc xã.2 Điều được biết nhiều mà qua đó riêng biệt là những nhà khoa học và kỹ sư, vốn là những người rất lớn tiếng đã từng tuyên bố là những người cầm đầu trên bước tiến đến một thế giới mới và tốt hơn, chịu phục tùng chế độ bạo ngược mới dễ dàng hơn hầu hết bất kỳ tầng lớp nào khác.3
=============
1 Tôi tin rằng chính là tác giả của tác phẩm “Leviathan” (“Thủy quái”, trong Kinh Thánh) vốn là người đầu tiên đã đề nghị rằng việc giảng dạy về những kinh điển nên bị dập tắt, bởi vì nó thấm nhuần một tinh thần nguy hiểm của tự do !

(Bức tranh đầu sách của tác phẩm “Leviathan” hoặc “The Matter,
Forme and Power of a Common Wealth Ecclesiasticall and Civil”
(“Vấn đề, Hình thức, và Quyền lực của một Giáo hội và Dân sự của
khối Thịnh vượng Chung”). Nó thừa nhận quyền tuyệt đối của Vương
quốc Anh và cho rằng cuộc nội chiến chỉ có thể tránh được bởi một
chính phủ mạnh mẽ không bị phân chia)

(Thomas Hobbes của vùng Malmesbury (1588–1679), là nhà triết
học chính trị người Anh, được biết đến với lý thuyết Giao ước Xã
hội qua tác phẩm “Leviathan”. Ông ta là người phát triển một vài
trong số những nền tảng của tư tưởng tự do Âu châu: quyền cá nhân,
sự bình đẳng theo tự nhiên của tất cả con người)

2 Tinh thần phục vụ của những nhà khoa học cho những quyền lực vốn được xuất hiện sớm ở Đức, cùng với sự phát triển to lớn của khoa học được nhà nước tổ chức mà ngày nay là chủ đề của rất nhiều lời ca tụng ở đất nước nầy. Một trong những người nổi tiếng nhất trong số những nhà khoa học Đức, nhà hoạt năng sinh vật học Emil du Bois-Reymond, không cảm thấy xấu hổ, trong một diễn thuyết được đọc vào năm 1870 trong khả năng gấp đôi của mình như là Hiệu trưởng Đại học Berlin và là Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Phổ, khi tuyên bố rằng “Chúng ta, Đại học Berlin, chiếm một góc đối diện với cung điện của nhà vua, là, qua hành động của tổ chức của chúng ta, những người hộ vệ trí thức của Triều đại Hohenzollern” (“A Speech on the German War” (“Bài diễn văn về Chiến tranh của Đức”), London 1870, p. 31… –Điều đáng chú ý là du Bois-Reymond lẽ ra nghĩ là nên phát hành một ấn bản tiếng Anh của bài diễn thuyết nầy.)

3 Điều đó cũng sẽ đủ trích dẫn lời một nhân chứng nước ngoài: Ngài R.A. Brady, trong công cuộc nghiên cứu của ông ta về “The Spirit and Structure of German Fascism” (“Tinh thần và Cấu trúc của Chủ nghĩa Phát-xít Đức”), kết luận bài tường thuật chi tiết của mình về sự phát triển trong thế giới học thuật của Đức với lời phát biểu rằng “nhà khoa học, bởi chính mình, có lẽ, vì thế được sử dụng và ‘phối hợp’ một cách dễ dàng nhất trong số tất cả mọi người được đào tạo đặc biệt trong xã hội hiện đại. Đức Quốc xã, thật sự là, sa thải một số rất nhiều những vị giáo sư Đại học, và đuổi đi một số rất nhiều những nhà khoa học từ những phòng thí nghiệm nghiên cứu. Nhưng những giáo sư chủ yếu là trong số các ngành khoa học xã hội nơi mà có sự nhận thức chung hơn và một lời chỉ trích dai dẳng hơn về những chương trình của Đức Quốc xã, và không nằm trong số các ngành khoa học tự nhiên nơi mà cách suy nghĩ được cho là khắt khe nhất. Những ngượi bị giải tán trong lãnh vực khoa học tự nhiên chủ yếu là những dân Do Thái hoặc những điều ngoại lệ đối với những việc tổng quát hóa được tạo ra ở bên trên, bởi vì sự chấp nhận những niềm tin đều không hề phê phán có chiều hướng trái ngược với những quan điểm của Đức Quốc xã. –bởi thế Đức Quốc xã đã có thể ‘phối hợp’ những học giả và các nhà khoa học tương đối dễ dàng, và do đó có thể ném phía sau việc tuyên truyền tinh vi của họ một trọng lượng ra vẻ nặng ký của một khối gồm quan điểm được học hỏi của Đức và sự hỗ trợ”.
=============

p197

Vai trò mà những nhà trí thức đóng trong việc chuyển đổi qua chế độ độc tài toàn trị của xã hội được tiên tri thấy trước trong một quốc gia khác bởi Julien Benda, mà tác phẩm “Tội Phản quốc của giới Trí thức” (“Trahison des Clercs”) của ông ta cho là điều đáng chú ý mới khi người ta hiện thời đọc lại nó, mười lăm năm sau khi nó đã được viết ra. Riêng biệt là có một đoạn văn trong tác phẩm đó vốn đáng được cân nhắc suy nghĩ kỹ và lưu tâm khi chúng ta đi đến việc suy xét những thí dụ nào đó của những việc lạc hướng của các nhà khoa học Anh vào trong chính trị. Chính là đoạn văn mà trong đó M. Benda nói về

sự mê tín của khoa học được bám giữ là có đủ khả năng trong tất cả những lãnh vực, bao gồm điều đó của mặt đạo đức; một sự mê tín mà, tôi lập lại, là phần thu được của thế kỷ mười chín. Vẫn còn khám phá ra là liệu những người vốn khoa trương học thuyết nầy, có tin tưởng vào điều đó hoặc là liệu họ chỉ đơn giản là muốn trao thanh thế của bề ngoài khoa học cho những đam mê của tâm hồn họ, mà họ hoàn toàn biết là không có gì ngoài những đam mê. Điều đó được lưu ý rằng giáo điều mà lịch sử tuân theo những luật lệ khoa học, được truyền giảng đặc biệt là bởi những người phe đảng của chính quyền tùy tiện. Điều nầy khá tự nhiên, vì nó loại bỏ hai thực tế mà họ thù ghét nhất, tức là sự tự do của con người và hành động lịch sử của một cá nhân.

Chúng ta đã thực sự có dịp nhắc đến một sản phẩm của Anh Quốc của loại nầy, một tác phẩm mà trong đó, trên nền tảng Mác-xít, tất cả những cách diễn đạt đặc trưng riêng của giới trí thức theo chủ nghĩa độc tài toàn trị, một sự thù ghét hầu hết mọi thứ vốn phân biệt nền văn minh Âu châu từ thời Phục Hưng, được kết hợp với sự tán thành những phương pháp của Tòa án Công giáo. Chúng ta không muốn suy xét ở đây một trường hợp quá khích như thế và sẽ lấy một tác phẩm vốn tiêu biểu hơn và đã từng đạt được sự biết đến đáng kể của công chúng.

p198

Cuốn sách nhỏ của Tiến sĩ C.H. Waddington dưới một tựa đề đặc thù là “Thái độ khoa học” (“The Scientific Attitude”) là một thí dụ hay như bất kỳ một thí dụ nào của giới văn học vốn được được tài trợ tích cực bởi tạp chí Nature (Thiên nhiên) hàng tuần có ảnh hưởng và kết hợp những lời tuyên bố cho quyền lực chính trị lớn hơn cho những nhà khoa học với sự ủng hộ cuồng nhiệt cho “việc hoạch định” toàn thể. Mặc dù không hoàn toàn được nói thẳng ra trong sự khinh thường của ông ta đối với quyền tự do như Ngài Crowther, Tiến sĩ Waddington khó mà làm yên lòng công chúng hơn. Ông ta khác với hầu hết những cay viết cùng loại mà trong đó ông ta nhìn thấy một cách rõ ràng và thậm chí nhấn mạnh rằng những khuynh hướng mà ông ta mô tả và ủng hộ chắc chắn dẫn đến một hệ thống độc tài toàn trị. Tuy rõ ràng là, điều nầy dường như đối với ông ta thích hợp hơn với những gì mà ông ta mô tả như là “một nền văn minh hung dữ giống như nhà khỉ trong hiện tại”.

(Conrad Hal Waddington (1905–1975), là nhà sinh vật phát triển
học, nhà cổ sinh vật học, nhà di truyền học, nhà phôi thai học,
và nhà triết học Anh Quốc, cũng là người đặt nền tảng cho những
hệ thống sinh vật học, và theo phe tả trong quan điểm chính trị.
Tuy nhiên, ông ta nhấn mạnh rằng những khuynh hướng mà ông
ta ủng hộ chắc chắn dẫn đến một hệ thống độc tài toàn trị)

(Tác phẩm “Scientific Attitude” (1941), nói về những đề tài chính
trị chẳng hạn như là việc hoạch định từ trung ương và ca ngợi
Chủ thuyết Mác-xít như là “một triết lý khoa học sâu sắc”)

Lời tuyên bố của Tiến sĩ Waddington vốn cho rằng nhà khoa học có đủ điều kiện điều hành một xã hội chuyên chế, chủ yếu là được dựa trên vào luận điểm của ông ta là “khoa học có thể thông qua sự phán xét về mặt đạo lý trên hành vi con người”, một tuyên bố cho việc thêm thắt chi tiết của Tiến sĩ Waddington mà qua đó tạp chí Nature đã đưa ra cho công chúng biết đến rất đáng kể. Dĩ nhiên, chính là luận điểm mà từ lâu đã trở nên quen thuộc đối với những người Đức vừa là khoa học gia vừa là chính trị gia và vừa mới được chọn ra bởi J. Benda. Trong một minh họa về điều nầy có nghĩa là gì, chúng ta không cần phải đi ra khỏi cuốn sách của Tiến sĩ Waddington. Quyền tự do, ông ta giải thích, “là một khái niệm rất phiền hà cho nhà khoa học thảo luận, một phần vì ông ta không tin rằng, trong sự phân tích cuối cùng, có một điều như thế”. Tuy nhiên, chúng ta được cho biết rằng “khoa học nhìn nhận” điều nầy và rằng loại quyền tự do, nhưng “quyền tự do là thứ kỳ quái và không giống như hàng xóm của người ta không phải là… một giá trị khoa học”. Rõ ràng là “những nhân bản đĩ điếm”, mà Tiến sĩ Waddington phải nói nhiều điều không ca ngợi về chúng, đã đánh lừa chúng ta một cách sâu sắc trong việc dạy cho chúng ta về lòng khoan dung !
Mà qua đó khi nói đến những vấn đề kinh tế và xã hội, cuốn sách nầy trên “thái độ khoa học” là bất cứ thứ gì ngoại trừ khoa học, là điều mà người ta đã từng học mong đợi loại văn học nầy. Chúng ta tìm thấy một lần nữa tất cả những khuôn sáo quen thuộc và những khái quát hóa vô căn cứ về “nhiều tiềm năng” và khuynh hướng tất yếu hướng đến việc độc quyền thương mại, mặc dù “những chính quyền giỏi nhất” được dẫn chứng trong việc hỗ trợ những luận điểm nầy chứng minh trên việc khảo nghiệm là những vùng chủ yếu là chính trị của thế đứng khoa học đáng nghi vấn, trong khi những cuộc nghiên cứu nghiêm túc về những nan đề tương tự bị bỏ qua một cách hiển nhiên.

p199

Như trong hầu hết tất các những tác phẩm thuộc loại nầy, những niềm tin chắc chắn của Tiến sĩ Waddington phần lớn được xác định bởi niềm tin của mình vào “những khuynh hướng lịch sử tất yếu”, mà qua đó khoa học được cho là đã phát hiện ra và qua đó ông ta rút ra từ “triết lý khoa học sâu sắc” của Chủ thuyết Mác-xít mà những khái niệm cơ bản của nó thì “hầu hết, nếu không là hoàn toàn, giống hệt với những khái niệm làm nền tảng cho sự tiếp cận khoa học đến thiên nhiên” và điều mà “khả năng để phán xét” của nhà khoa học nói cho Tiến sĩ Waddington biết, là một bước tiến trên bất cứ điều gì vốn đã qua đi trước đó. Như thế, Tiến sĩ Waddington, mặc dù ông ta tìm thấy “khó khăn khi phủ nhận rằng Anh Quốc hiện nay là một quốc gia tồi tệ hơn để sống so với nó đã là” vào năm 1913, đang mong đợi một hệ thống kinh tế vốn “sẽ được tập trung và sẽ là chuyên chế trong ý nghĩa mà tất cả những khía cạnh của sự phát triển kinh tế của những khu vực lớn được lên kế hoạch một cách có ý thức như là một khối được kết hợp”. Và đối với tính chất lạc quan dễ dãi của ông ta là trong hệ thống chuyên chế nầy quyền tự do tư tưởng sẽ được bảo tồn, “thái độ khoa học” của ông ta không có lời khuyên bảo nào hay hơn so với niềm tin chắc chắn rằng “ắt phải có bằng chứng rất giá trị về những câu hỏi mà người ta không cần phải là một chuyên gia mới hiểu được”, chẳng hạn như, thí dụ, liệu rằng đó là điều có thể “kết hợp chủ nghĩa độc tài toàn trị với quyền tự do tư tưởng không”.

* * * * *

Một cuộc khảo sát đầy đủ hơn về những khuynh hướng khác nhau hướng đến chủ nghĩa độc tài toàn trị trong đất nước nầy sẽ phải đưa ra sự chú ý đáng kể cho những nỗ lực khác nhau hầu tạo ra một loại chủ nghĩa xã hội nào đó có tầng lớp trung lưu mang lấy, không chút nghi ngờ nào không được biết đến đối với những tác giả của họ, một hình thức giống nhau đến đáng báo động đối với sự phát triển tương tự trong nước Đức trước thời kỳ Hitler.1
=============
1 Một thành phần khác mà qua đó sau cuộc chiến tranh nầy gần như làm mạnh hơn những khuynh hướng theo chiều hướng nầy, sẽ là một số trong những người trong suốt cuộc chiến tranh vốn đã từng nếm qua những quyền lực kiểm soát cưỡng bức và sẽ cảm thấy khó khăn để hòa hợp chính mình với những vai trò khiêm tốn hơn mà họ sẽ phải đóng vai sau nầy. Mặc dù sau khi những người trong cuộc chiến tranh vừa qua của loại nầy không phải là nhiều như họ có thể sẽ là trong tương lai, thậm chí sau đó họ thực dụng một ảnh hưởng không hẳn là không đáng kể trên chính sách kinh tế của đất nước nầy. Chính là trong nhóm của một số trong những người nầy mà qua đó cách đây lâu như mười hoặc mười hai năm, lần đầu tiên tôi đã trải nghiệm trong đất nước nầy một cảm giác sau đó vẫn là bất bình thường về việc đột nhiên bị vận chuyển vào trong cái gì đó mà tôi đã học xem như là một bầu không khí trí thức hoàn toàn kiểu “Đức”.
=============

p200

Nếu chúng ta có liên hệ với những phong trào chính trị đúng đắn ở đây, chúng ta sẽ phải xem xét những tổ chức mới như là “Tiến bước về Phía trước” (“Forward March”) hoặc phong trào “Thịnh vượng chung” (“Common Wealth”) của Sir Richard Acland, tác giả của cuốn sách “Cuộc Chiến đấu của Chúng ta” (“Unser Kampf”), hoặc những hoạt động của “Ủy ban 1941” của Ngài J.B. Priestley, đồng thời được kết hợp với tổ chức “Tiến bước về Phía trước”. Nhưng, mặc dù đó sẽ là việc thiếu khôn ngoan khi bỏ qua ý nghĩa triệu chứng của những hiện tượng như là những điều nầy, chúng khó mà có thể còn được tính như là những lực lượng chính trị quan trọng. Ngoài những ảnh hưởng trí thức mà chúng ta đã minh họa bằng hai trường hợp, động lực của phong trào hướng đến chủ nghĩa độc tài toàn trị chủ yếu đến từ các hai nhóm lợi ích to lớn được bảo đảm bất di bất dịch, nhóm thủ đô có tổ chức và nhóm lao động có tổ chức. Có lẽ là mối đe dọa lớn nhất trên hết là sự kiện thực tế rằng những chính sách của hai nhóm mạnh nhất chỉ vào cùng một hướng.
Họ làm điều nầy qua sự hỗ trợ chung, và thường được phối hợp, của họ cho tổ chức độc quyền thương mại về ngành kỹ nghệ; và chính là khuynh hướng nầy vốn là điều nguy hiểm to lớn trước mắt. Trong khi không có một lý do nào để tin rằng phong trào nầy là việc tất yếu, có thể là có chút nghi ngờ rằng nếu chúng ta tiếp tục trên con đường mà chúng ta đã và đang giẫm chân, nó sẽ dẫn chúng ta đến chủ nghĩa độc tài toàn trị.
Phong trào nầy, dĩ nhiên, được cố tình lên kế hoạch chủ yếu là do những người tổ chức thuộc tư bản chủ nghĩa của những công ty độc quyền thương mại, và vì thế họ là một trong những nguồn chính của mối nguy hiểm nầy. Trách nhiệm của họ không bị thay đổi bởi sự kiện thực tế rằng mục đích của họ không phải là một hệ thống độc tài toàn trị mà là một loại hợp tác xã mà trong đó những ngành kỹ nghệ có tổ chức sẽ xuất hiện như là “những bất động sản” nửa-độc-lập và tự quản trị. Nhưng họ thiển cận như những người đồng nghiệp Đức của mình trong việc tin tưởng rằng họ sẽ được cho phép không chỉ tạo ra mà còn điều hành một hệ thống như thế trong bất kỳ khoảng thời gian dài nào.

p201

Những quyết định mà những người quản lý của một ngành kỹ nghệ có tổ chức như thế sẽ phải đưa ra một cách liên tục, không phải là những quyết định mà bất kỳ xã hội nào sẽ để lại lâu dài cho những cá nhân. Một nhà nước vốn cho phép những việc quy tụ quyền lực khổng lồ như thế để tăng trưởng lên không thể chịu để cho quyền lực nầy nằm yên hoàn toàn trong sự kiểm soát tư nhân. Cũng không phải là niềm tin kém ảo tưởng hơn chút nào đó mà trong những điều kiện như thế, các doanh nhân sẽ được cho phép hưởng được lâu dài vị thế thuận lợi mà qua đó trong một xã hội cạnh tranh được biện hộ bởi sự kiện thực tế là trong số nhiều người vốn chấp nhận những rủi ro mà chỉ là một số ít người đạt được sự thành công, là những cơ hội vốn làm cho sự rủi ro đáng chấp nhận. Không đáng ngạc nhiên rằng những doanh nhân sẽ thích hưởng được cả thu nhập cao mà trong một xã hội cạnh tranh, những người thành công trong số họ có được, và lẫn sự an toàn của một công chức. Miễn là một bộ phận lớn của kỹ nghệ tư nhân tồn tại bên cạnh ngành kỹ nghệ chính phủ điều hành, những người có tài năng to lớn về kỹ nghệ gần như đòi hỏi những mức lương cao thậm chí ở những vị trí khá bảo đảm. Nhưng trong khi các doanh nhân cũng có thể nhìn thấy những kỳ vọng của họ được sinh ra trong suốt một giai đoạn chuyển tiếp, điều đó sẽ không lâu trước khi họ sẽ tìm thấy, như những người đồng nghiệp Đức của họ đã từng, rằng họ không còn là những chủ nhân nhưng trong mọi khía cạnh sẽ phải cảm thấy hài lòng với bất cứ quyền lực và những phần tiền thù lao gì mà chính phủ sẽ nhường cho họ.
Trừ khi cách lập luận của cuốn sách nầy đã bị hiểu lầm hoàn toàn, tác giả sẽ không bị nghi ngờ về bất kỳ mềm yếu nào đối với những nhà tư bản nếu ông ta nhấn mạnh ở đây là không vì thế điều đó có thể là một sai lầm khi đổ lỗi cho phong trào hiện đại hướng đến việc độc quyền thương mại độc nhất hoặc chủ yếu trên tầng lớp đó. Thiên hướng của họ trong chiều hướng nầy thì không phải mới mẻ gì cũng không phải bởi chính điều đó sẽ gần như là trở thành một sức mạnh ghê gớm. Sự phát triển tai hại là điều mà họ đã thành công trong việc giành được sự hỗ trợ của một số lượng ngày một gia tăng của những nhóm khác và với sự giúp đỡ của họ hầu có được sự hỗ trợ của nhà nước.
Trong một mức độ nào đó, những nhà độc quyền thương mại đã có được sự hỗ trợ nầy hoặc là bằng cách để cho những nhóm khác tham gia vào những lợi lộc của họ hoặc là, và thậm chí có lẽ là thường xuyên hơn, bằng cách thuyết phục họ rằng sự hình thành của những công ty độc quyền nằm trong lợi ích công cộng.

p202

Nhưng sự thay đổi trong dư luận vốn qua ảnh hưởng của nó trên pháp chế và bộ máy tư pháp1 đã là một yếu tố quan trọng nhất làm cho sự phát triển nầy có thể có, nhiều hơn bất cứ điều gì là kết quả của việc tuyên truyền chống lại sự cạnh tranh bởi Phe tả. Rất thường xuyên thậm chí những biện pháp nhằm chống lại những người độc quyền thương mại trên thực tế chỉ phục vụ làm gia tăng quyền lực độc quyền thương mại. Mỗi cuộc tấn công vào những lợi lộc độc quyền thương mại, là việc nằm trong lợi ích của những nhóm riêng biệt hoặc của nhà nước như là một khối, có khuynh hướng tạo ra những quyền lợi mới bất di bất dịch vốn sẽ giúp gia tăng thêm vai trò độc quyền thương mại. Một hệ thống mà trong đó những nhóm lớn có đặc quyền thu lợi nhuận từ những lợi lộc độc quyền thương mại có thể là nguy hiểm hơn nhiều trên mặt chính trị, và sự độc quyền thương mại trong một hệ thống như thế chắc chắn là mạnh mẽ hơn nhiều so với trong một hệ thống nơi mà những lợi nhuận đi đến một vài hạn chế. Nhưng dù điều đó sẽ rõ ràng là, thí dụ, những mức lương cao hơn mà nhà độc quyền thương mại ở một vị trí phải trả, phần nhiều chỉ là kết quả của việc bóc lột như lợi nhuận của riêng mình, và chắc chắn chỉ là làm nghèo hơn không chỉ là tất cả người tiêu dùng mà còn làm nghèo hơn tất cả những người kiếm lương độ nhật khác, không chỉ đơn thuần là những người vốn hưởng lợi từ việc đó mà còn công chúng nói chung, hiện nay chấp nhận khả năng chi trả những mức lương cao hơn như là một lập luận hợp pháp trong sự ủng hộ cho việc độc quyền thương mại.2
Có lý do nghiêm túc cho sự nghi ngờ là liệu ngay cả trong những trường hợp nầy nơi mà việc độc quyền thương mại tất yếu là cách tốt nhất của việc kiểm soát điều đó có nên phải đặt nó vào tay của nhà nước không. Nếu chỉ là một ngành kỹ nghệ duy nhất nằm trong câu hỏi, điều nầy cũng có thể là như thế. Nhưng khi chúng ta phải đối phó với nhiều ngành kỹ nghệ độc quyền khác nhau, phần nhiều người ta nói về việc bỏ lại chúng trong tay tư nhân khác hơn là kết hợp chúng dưới sự kiểm soát duy nhất của nhà nước.
=============
1 Xin xem thêm về điều nầy qua bài viết giảng dạy gần đây về “Monopoly and the Law” (“Sự Độc quyền thương mại và Luật pháp”), của W. Arthur Lewis, trong bộ sách “The Modern Law Review” (“Việc Duyệt xét Luật pháp Hiện đại”), vol. VI, số 3, tháng Tư, 1943.

2 Thậm chí đáng ngạc nhiên hơn, có lẽ, là sự yếu mềm đáng chú ý mà nhiều nhà chủ nghĩa xã hội có khuynh hướng cho thấy đối với người sống nhờ vào lợi tức nắm giữ cổ phiếu mà tổ chức của giới độc quyền thương mại về kỹ nghệ thường bảo đảm những khoản thu nhập chắc chắn. Mà qua đó tình trạng thù hằn mù quáng của họ đối với những lợi nhuận sẽ khơi mào mọi người đại diện cho thành phần thu nhập cố định dễ có như là điều khao khát mong muốn trên khía cạnh xã hội hay đạo lý hơn những lợi nhuận, và để chấp nhận thậm chí việc độc quyền thương mại hầu nắm chắc phần thu nhập được bảo đảm như thế, thí dụ, những người nắm giữ cổ phần công ty xe lữa, là một trong những triệu chứng khác thường nhất của việc hiểu sai những giá trị vốn đã xảy ra trong suốt thế hệ vừa qua.
=============

p203

Ngay cả khi công ty đường sắt, công ty vận tải đường bộ và hàng không, hoặc công ty cung cấp khí đốt và điện, tất cả không tránh khỏi là những công ty độc quyền, không gì nghi ngờ là người tiêu dùng đang ở một vị thế mạnh hơn nhiều, miễn là chúng vẫn còn là những công ty độc quyền riêng lẽ so với khi chúng được “phối hợp” bởi quyền kiểm soát tập trung. Việc độc quyền tư nhân vẫn khó mà hoàn toàn và thậm chí hiếm khi hơn trong khoảng thời gian dài hoặc có thể xem thường sự cạnh tranh tiềm năng. Nhưng sự độc quyền thương mại của nhà nước luôn luôn là một độc quyền kinh doanh được nhà nước bảo vệ –được bảo vệ chống lại cả sự cạnh tranh tiềm năng và lẫn sự phê bình hiệu quả. Điều đó có nghĩa là trong hầu hết những trường hợp mà qua đó một công ty độc quyền thương mại tạm thời được ban cho quyền lực để luôn luôn bảo đảm vị thế của nó –một quyền lực gần như chắc chắn được sử dụng. Nơi mà quyền lực vốn phải kiểm soát và điều khiển sự độc quyền kinh doanh, càng lúc được quan tâm đến trong việc che chở và bảo vệ những người được bổ nhiệm của nó, nơi mà dành cho chính phủ bù đắp sự lạm dụng phải thừa nhận trách nhiệm về điều đó, và nơi mà sự chỉ trích những hành động độc quyền thương mại có nghĩa là sự chỉ trích chính phủ, có ít hy vọng về sự độc quyền thương mại trở thành thứ phục vụ cho cộng đồng. Một nhà nước mà trong tất cả những chiều hướng bị vướng víu vào trong việc điều hành doanh nghiệp độc quyền thương mại, trong khi nó có thể có quyền lực nghiền nát trên một cá nhân, có thể vẫn là một nhà nước yếu đuối đến một mức độ mà quyền tự do của nó trong việc xây dựng một chính sách được quan tâm đến. Bộ máy độc quyền thương mại trở thành giống y bộ máy nhà nước, và chính nhà nước trở nên càng lúc càng đồng nhất hơn với những lợi ích của những người vốn điều hành mọi thứ so với những lợi ích của người dân nói chung.
Xác suất là bất cứ nơi nào sự độc quyền thương mại thực sự tất yếu là một kế hoạch vốn được ưa thích trước đây bởi những người Mỹ, về quyền kiểm soát mạnh mẽ của nhà nước trên những công ty độc quyền tư nhân, nếu được theo đuổi kiên trì, đưa ra một cơ hội tốt hơn cho những kết quả khả quan so với cách quản lý của nhà nước. Điều nầy ít ra có thể dường như là như thế nơi mà nhà nước bắt tuân theo sự kiểm soát giá cả nghiêm ngặt mà qua đó không còn chỗ dành cho những lợi nhuận bất thường mà những người khác hơn là những nhà độc quyền kinh doanh có thể tham gia vào.

p204

Thậm chí khi điều nầy đáng lý ra có tác dụng (vì điều đó đôi khi đã có đối với những tiện ích công cộng ở Mỹ) mà qua đó những dịch vụ của các ngành kỹ nghệ độc quyền sẽ trở nên ít thỏa đáng hơn chúng có thể đã là, điều nầy sẽ là một cái giá nhỏ phải trả cho việc kiểm soát hiệu quả trên những quyền lực độc quyền kinh doanh. Cá nhân tôi sẽ ưa thích nhiều hơn khi phải kiên nhẫn chịu đựng một vài tính chất vô hiệu quả như thế hơn là tổ chức việc độc quyền thương mại kiểm soát cách sống của tôi. Một phương pháp như thế của việc đối phó với sự độc quyền thương mại, vốn sẽ nhanh chóng làm cho vị thế của nhà độc quyền kinh doanh ít đủ tư cách nhất trong số những vị thế doanh nghiệp, cũng sẽ làm phần nhiều như bất cứ điều gì hầu làm giảm sự độc quyền thương mại trong phạm vi những lãnh vực nơi mà đó là điều không thể trách được và để kích thích sự sáng tạo những thứ thay thế khác vốn có thể được cung cấp một cách tranh đua. Chỉ làm cho vị thế của nhà độc quyền thương mại một lần nữa trở thành vị thế của kẻ phải chịu thế của chính sách kinh tế và bạn sẽ cảm thấy ngạc nhiên là hầu hết các doanh nhân có khả năng hơn sẽ khám phá trở lại sở thích của họ cho việc khích động bầu không khí cạnh tranh nhanh như thế nào !

* * * * *

Nan đề độc quyền thương mại sẽ không khó khăn như người ta nghĩ nếu vấn đề đó chỉ là nhà độc quyền thương mại tư bản người mà chúng ta phải chiến đấu chống lại. Nhưng, như đã được nói qua, sự độc quyền thương mại đã trở thành mối nguy hiểm mà nó, không phải qua những nỗ lực của một số ít nhà tư bản có thú vị, nhưng qua sự hỗ trợ mà họ đã có được từ những người mà họ đã để phần chia sẻ trong lợi lộc của họ, và từ nhiều người nữa mà họ đã thuyết phục rằng trong việc hỗ trợ sự độc quyền thương mại họ trợ giúp trong việc tạo ra một xã hội công bằng và trật tự hơn. Bước ngoặt tai hại nầy trong sự phát triển hiện đại là khi phong trào to lớn vốn có thể phục vụ cho những mục đích ban đầu của nó chỉ bằng cách chiến đấu chống lại tất cả đặc quyền, Phong trào Lao động, chịu ảnh hưởng của những học thuyết chống cạnh tranh và chính nó càng lúc bị vướng vào sự xung đột cho đặc quyền. Sự tăng trưởng gần đây của độc quyền thương mại phần lớn là kết quả của một sự hợp tác có chủ ý của nhóm vốn có tổ chức và nhóm lao động có tổ chức, nơi mà những nhóm có đặc quyền về phần chia của lao động trong những lợi nhuận của việc độc quyền thương mại do sự gánh chịu của cộng đồng và riêng biệt là do sự gánh chịu của những người nghèo nhất, những người được muớn làm việc trong những ngành kỹ nghệ được tổ chức kém chặt chẽ và những người thất nghiệp.

p205

Đó là một trong những cảnh tượng buồn nhất của thời đại chúng ta khi nhìn thấy một phong trào dân chủ to lớn ủng hộ một chính sách mà qua đó phải dẫn đến sự hủy hoại nền dân chủ và qua đó trong khi chỉ có thể làm lợi cho một thiểu số quần chúng vốn là những người ủng hộ nó. Tuy thế, chính là sự hỗ trợ nầy từ Phe tả của những khuynh hướng hướng đến việc độc quyền thương mại vốn khiến cho họ rất khó cưỡng lại được và những triển vọng của tương lai rất đen tối. Miễn là Phong trào Lao động tiếp tục trợ giúp trong việc hủy hoại một trật tự duy nhất mà theo đó ở một mức độ của quyền độc lập và quyền tự do ít nhất nào đó đã được bảo đảm cho mỗi công nhân, quả thật có ít hy vọng cho tương lai. Những nhà lãnh đạo Phong trào Lao động vốn là những người hiện thời rất lớn tiếng công bố rằng họ đã “hoàn tất một lần dứt điểm với một hệ thống cạnh tranh điên rồ”,1 đang công bố sự diệt vong quyền tự do của một cá nhân. Không có một khả dĩ nào khác hơn hoặc là một trật tự bị chi phối bởi kỷ luật khách quan của thị trường hoặc là một trật tự được chỉ đạo bởi ý muốn của một số ít cá nhân; và những người vốn ra ngoài để phá hủy cái trật tự đầu tiên, cố ý hoặc vô tình đang giúp đỡ tạo ra cái thứ hai. Ngay cả mặc dù một số công nhân có lẽ sẽ được cho ăn tốt hơn, và không có chút nghi ngờ là tất cả sẽ được vận phục một cách đồng nhất hơn trong thứ tự mới đó, đó là điều cho phép nghi ngờ là liệu đa số công nhân Anh Quốc cuối cùng sẽ cảm ơn những nhà trí thức trong số những nhà lãnh đạo của họ vốn là những người đã phơi lộ họ với một học thuyết xã hội chủ nghĩa vốn đe dọa quyền tự do cá nhân của họ không.
Đối với bất cứ người nào vốn quen thuộc với lịch sử của những quốc gia Lục địa lớn trong hai mươi lăm năm qua, việc nghiên cứu về chương trình gần đây của Đảng Lao động, bây giờ chú trọng vào việc tạo ra một “xã hội có kế hoạch”, là một kinh nghiệm buồn phiền nhất.
=============
1 Giáo sư H.J. Laski, trong bài nói chuyện của mình cho Hội nghị Đảng Lao động Thường niên thứ 41, ở London, ngày 26 tháng Năm, 1942 (Bản Báo cáo, p.111). Điều đáng được lưu ý mà theo Giáo sư Laski chính là “hệ thống cạnh tranh điên rồ nầy vốn bỏ lời nguyền nghèo khó trên tất cả những dân tộc, và cuộc chiến tranh như là hệ quả của sự nghèo khó đó” –một sự đoán giải tò mò về lịch sử của một trăm năm mươi năm qua.
=============

p206

Đối nghịch với “bất kỳ cố gắng nào khôi phục lại một Anh Quốc truyền thống” có một mưu toan vốn không chỉ là trong hình thức phác thảo chung chung mà còn rất chi tiết và thậm chí dài dòng từ ngữ không thể phân biệt được từ những những giấc mơ xã hội chủ nghĩa vốn đã khống chế cuộc thảo luận của Đức cách đây hai mươi lăm năm. Không chỉ là những nhu cầu, giống giống như những đòi hỏi của cách giải quyết, được ứng dụng theo đề nghị của giáo sư Laski, mà qua đó đòi hỏi việc duy trì trong thời bình “những biện pháp kiểm soát của Chính phủ cần đến cho việc huy động những nguồn lực quốc gia trong cuộc chiến tranh”, nhưng tất cả những dòng chữ biểu tượng đặc trưng, chẳng hạn như “nền kinh tế quân bình” mà Giáo sư Laski hiện thời đòi hỏi cho Anh Quốc, hay “sự tiêu thụ của cộng đồng” hướng đến điều mà việc sản xuất phải được chỉ đạo từ trung ương, bị chiếm lấy toàn diện từ ý thức hệ Đức. Hai mươi lăm năm trước đây, có lẽ vẫn có lý do bào chữa nào đó cho việc bám lấy niềm tin ngây ngô “rằng một xã hội có kế hoạch có thể là một xã hội tự do rất nhiều hơn một trật tự cạnh tranh kiểu laissez-faire (i.e. không can thiệp)(pc 02) mà nó đã xuất hiện để thay thế”.1 Nhưng để tìm thấy điều đó một lần nữa được bám lấy sau hai mươi lăm năm trải nghiệm và việc khảo sát lại những niềm tin xa xưa mà sự trải nghiệm nầy đã dẫn đến, và đồng thời khi chúng ta đang chiến đấu chống lại những kết quả của chính những học thuyết đó, là điều bi thảm vượt ngoài những từ ngữ. Mà qua đó một đảng phái to lớn mà trong Nghị viện và theo dư luận phần lớn đã chiếm chổ của những đảng phái tiến bộ của thời xưa, đáng lý ra đã đứng về phía nào đó, trong ánh sáng của tất cả sự phát triển trong quá khứ, phải được xem như là một phong trào phản tiến triển, là sự thay đổi quyết định vốn đã xảy ra trong thời đại của chúng ta và là nguồn gốc của mối nguy hiểm chết người đối với mọi thứ mà người tự do phải quý trọng. Mà qua đó những bước tiến bộ của quá khứ đáng lý ra bị đe dọa bởi những lực lượng truyền thống của Phe hữu, là một hiện tượng của tất cả những thời đại vốn không cần báo động cho chúng ta. Nhưng nếu vị trí của phe đối lập, trong cuộc thảo luận công cộng cũng như trong Nghị viện, sẽ trở thành độc quyền thương mại lâu dài của một đảng phái phản tiến triển thứ hai, quả thật sẽ không có một chút hy vọng nào còn lại.
=============
1 “The Old World and the New Society” (“Thế giới Xưa và Xã hội Mới”), một Bản Báo cáo Tạm thời của Ban điều hành Quốc gia thuộc Đảng Lao động Anh Quốc về Những nan đề Tái thiết, p. 12 và p. 16.
=============

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

===========================================

Phụ Chú :
pc 02_ Laissez-faire (không can thiệp) : là một môi trường kinh tế mà trong đó những giao dịch giữa các bên tư nhân không bị bó buộc bởi những hạn chế, những thuế quan (thuế xuất nhập), và những khoản trợ cấp của chính phủ, chỉ có những quy định đủ để bảo vệ quyền sở hữu tài sản. Nhóm chữ laissez-faire là tiếng Pháp và theo nghĩa đen có nghĩa là “hãy để cho [họ] làm”, nhưng nó ngụ ý rộng rãi là “để mặc nó”, “hãy để cho họ làm như họ muốn,” hoặc “đừng đụng chạm đến.”

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s