Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã

p171

Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã

“Tất cả những lực lượng chống tự do đang
kết hợp chống lại mọi thứ vốn là tự do.”

A. Moeller van den Bruck

Điều sai lầm thông thường là xem Chủ nghĩa Quốc xã như là một cuộc nổi dậy đơn thuần chống lại lý trí, một phong trào bất hợp lý không có nền tảng tri thức. Nếu điều đó là như thế, phong trào sẽ ít nguy hiểm nhiều hơn nó đang trong tình trạng đó. Nhưng không có gì có thể vượt xa hơn khỏi sự thật hoặc dễ gây lầm lạc hơn. Những học thuyết của Chủ nghĩa Quốc xã là sự tột cùng của một quá trình tiến hóa lâu dài của tư tưởng, một tiến trình mà trong đó những nhà tư tưởng vốn là những người đã từng có ảnh hưởng to lớn vượt xa những phạm vi biên giới hạn của nước Đức, đã tham gia vào. Bất cứ điều gì mà người ta có thể nghĩ về những tiên đề mà họ bắt đầu từ đó, không thể phủ nhận rằng những người vốn sản sinh những học thuyết mới, là những cây viết mạnh mẽ vốn là những người đã để ấn tượng của những ý tưởng của họ trên toàn bộ tư tưởng Âu châu. Hệ thống của họ được phát triển với sự kiên định tàn nhẫn.

p172

Một khi người ta chấp nhận những tiên đề mà nó bắt đầu từ đó, không có một lối thoát nào khỏi tính chất hợp lý của nó. Chỉ đơn giản là chủ nghĩa tập thể được giải thoát khỏi tất cả những dấu vết của truyền thống cá nhân chủ nghĩa vốn có thể cản trở sự nhận thức của nó.
Mặc dù trong sự phát triển nầy, những nhà tư tưởng Đức đã nhận lấy vai trò dẫn đầu, họ tuyệt đối là không đơn độc. Thomas Carlyle và Houston Stewart Chamberlain, Auguste Comte và Georges Sorel phần nhiều là một phần của sự phát triển liên tục như bất kỳ người Đức nào. Sự phát triển của sợi tư tưởng nầy trong phạm vi nước Đức đã được truy vết kỹ lưởng gần đây bởi Ngài R.D. Butler trong nghiên cứu của mình về “Những cội rễ của Chủ nghĩa Quốc xã” (“The Roots of National Socialism”, cũng là đề tựa của tác phẩm). Nhưng mặc dù sự kiên trì của nó ở đó qua một trăm năm mươi năm trong một hình thức hầu như không thay đổi và từng quay trở lại, mà qua đó xuất hiện từ việc nghiên cứu đó, thật khá đáng sợ, đó là điều dễ dàng để phóng đại tầm quan trọng của những ý tưởng nầy vốn đã có ở nước Đức trước năm 1914. Những ý tưởng đó chỉ là một sợi tư tưởng ở giữa một dân tộc, sau đó có lẽ được biến dạng nhiều hơn trong những quan điểm của dân Đức so với bất kỳ dân tộc nào khác. Và chúng trên toàn bộ được tiêu biểu bởi một thiểu số nhỏ và được kiềm giữ như là sự khinh miệt to lớn bởi đa số những người Đức khi họ ở những nước khác.
Điều gì, sau đó, gây ra những quan điểm nầy, được bám giữ bởi một thiểu số phản ứng cuối cùng chiếm được sự hỗ trợ của đại đa số người Đức và thực tiển là toàn bộ giới thanh niên của nó ? Điều đó không chỉ đơn thuần là sự thất bại, sự đau khổ, và làn sóng chủ nghĩa dân tộc vốn dẫn đến sự thành công của họ. Nguyên nhân vẫn còn ít hơn, như rất nhiều người muốn tin, cho một phản ứng của tư bản chủ nghĩa chống lại bước tiến của chủ nghĩa xã hội. Ngược lại, sự hỗ trợ vốn mang những ý tưởng nầy đến quyền lực, chính xác là đến từ phe xã hội chủ nghĩa. Điều chắc chắn là không qua giai cấp tư sản, mà đúng hơn là sự vắng mặt của một giai cấp tư sản mạnh mẽ, mà bởi đó họ đã được giúp đỡ nắm lấy quyền lực.
Những học thuyết vốn đã từng hướng dẫn những thành phần cai trị ở nước Đức trong thế hệ qua, không đối nghịch với chủ nghĩa xã hội trong chủ thuyết Mác-xít, nhưng ngược với những thành phần tự do được chứa trong nó, là chủ nghĩa quốc tế của nó và nền dân chủ của nó. Và khi điều đó ngày càng trở nên rõ ràng rằng chỉ là những thành phần nầy vốn hình thành những trở ngại cho việc thực hiện chủ nghĩa xã hội, những người theo chủ nghĩa xã hội thuộc phe tả tiếp cận những người thuộc phe hữu càng lúc càng nhiều hơn.

p173

Đó là sự kết hợp của các lực lượng chống chủ nghĩa tư bản thuộc phe hữu và phe tả, một sự hỗn hợp của chủ nghĩa xã hội cấp tiến và bảo thủ, mà qua đó tống ra khỏi nước Đức mọi thứ tự do.
Sự kết nối giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa dân tộc ở Đức được thắt chặt từ lúc đầu. Điều đáng chú ý là những tổ tiên quan trọng nhất của Chủ nghĩa Quốc xã –Fichte, Rodbertus, và Lassalle– cùng một thời điểm được thừa nhận là những cha đẻ của chủ nghĩa xã hội. Trong khi chủ nghĩa xã hội trên mặt lý thuyết theo hình thức chủ nghĩa Mác-xít của nó đang điều hành phong trào lao động Đức, thành phần thuộc chủ nghĩa độc đoán và chủ nghĩa quốc gia trong thời gian nầy lui vào trong hậu trường. Nhưng không lâu.1 Từ năm 1914 trở đi, nơi đó nẩy sinh từ những đẳng cấp của chủ nghĩa xã hội theo chủ thuyết Mác-xít (i.e. tác giả muốn phân biệt rõ giữa quan điểm chủ nghĩa xã hội Âu châu và chủ nghĩa xã hội Mác-xít) một người thầy nầy đến một người thầy khác vốn là những người, không phải là những người bảo thủ và những người phản tiến triển, nhưng là giới lao động chăm chỉ và giới thanh niên thuộc chủ nghĩa lý tưởng, dẫn dắt vào trong bãi rào của Chủ nghĩa Quốc xã. Từ đó về sau chỉ là thủy triều của chủ nghĩa xã hội thuộc chủ thuyết quốc gia đạt được tầm quan trọng lớn và nhanh chóng tăng trưởng trở thành học thuyết Hitler. Sự cuồng loạn của chiến tranh vào năm 1914, mà qua đó, chỉ bởi vì sự thất bại của Đức, không bao giờ được chữa lành hoàn toàn, là sự khởi đầu của sự phát triển hiện đại, vốn sản sinh Chủ nghĩa Quốc xã, và phần lớn với sự trợ giúp của những người theo chủ nghĩa xã hội xa xưa mà qua đó nó đã vươn lên trong suốt giai đoạn nầy.

(Johann Gottlieb Fichte (1762–1814), là nhà triết học Đức, cũng là
một trong những nhân vật nền tảng của phong trào triết học được biết
đến như là chủ thuyết lý tưởng Đức. Ông ta kết hợp những tư tưởng
của hai nhà triết học Đức, Kant và Georg Wilhelm Friedrich Hegel và
cũng được thừa nhận là một trong ba cha đẻ của chủ nghĩa xã hội)

(Johann Karl Rodbertus (1805–1875), là nhà kinh tế học, xã hội học
người Đức, cũng là một trong ba cha đẻ của chủ nghĩa xã hội. Ông ta
cũng tán thành “Lý thuyết Giá trị Lao động”)

(Ferdinand Johann Gottlieb Lassalle (1825–1864), là nhà luật học,
triết học, là người hoạt động về chính trị xã hội, cũng là một trong
ba cha đẻ của chủ nghĩa xã hội)

(Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770–1831), là nhà triết học Đức,
một hình ảnh chính của chủ thuyết lý tưởng Đức, vốn là người tạo
nên cuộc cách mạng triết học Âu châu và gây ảnh hưởng mạnh mẽ
trên chủ thuyết Mác-xít và triết học Lục địa)

(David Ricardo (1772–1823), là nhà kinh tế chính trị Anh Quốc, là một
trong những nhà kinh tế cổ điển có ảnh hưởng to lớn nhất, cùng với
Thomas Malthus, Adam Smith, và John Stuart Mill. Ông ta cũng là một
trong những người góp phần trong “Lý thuyết Giá trị Lao động” (“The
Labour Theory of Value”), mà chủ thuyết Mác-xít đặt nền tảng phần
lớn trên đó –khiến cho nhiều người lầm tưởng là của Kart Marx, cũng
như trong số những lý thuyết kinh tế cổ điển khác)

(Adam Smith (1723–1790), là nhà triết học về đạo đức người Tô Cách Lan
(Scottish), là người tiên phong khai mở kinh tế chính trị học, cũng là một
trong những người đặt nền tảng cho “Lý thuyết Lao động về Giá trị”)

* * * * *

Có lẽ là người đại diện đầu tiên, và đặc trưng nhất trong một vài phương diện, của sự phát triển nầy là cố Giáo sư Werner Sombart, mà tác phẩm nổi tiếng của ông ta “Händler und Helden (“Những thương gia và Những anh hùng”) xuất hiện vào năm 1915. Ông Sombart đã bắt đầu như là một nhà chủ nghĩa xã hội Mác-xít, và muộn như vào năm 1909, ông ta có thể khẳng định với niềm tự hào rằng ông ta đã dành phần lớn cuộc đời mình cho việc đấu tranh cho những ý tưởng của Karl Marx.
=============
1 Và chỉ một phần. Vào năm 1892, một trong những nhà lãnh đạo của đảng dân chủ xã hội, August Bebel, đã có thể nói với ông Bismarck rằng “vị Chưởng ấn Vương triều có thể vẫn còn tin chắc rằng Dân chủ Xã hội Đức là một loại trường dự bị cho chủ nghĩa quân phiệt !”
=============

p174

Ông đã làm phần nhiều như bất kỳ người nào hầu truyền bá những ý tưởng xã hội chủ nghĩa và sự oán giận chống tư bản chủ nghĩa mang những sắc thái khác nhau khắp nước Đức; và nếu tư tưởng của người Đức ngày càng bị thâm nhiễm với những thành phần Mác-xít theo một cách mà điều xác thực không thuộc về một quốc gia nào khác cho đến khi cuộc cách mạng Nga, điều nầy nằm trong một phạm vi to lớn là do Sombart. Vào một thời điểm, ông ta được xem như là một người đại diện xuất sắc của giới trí thức xã hội chủ nghĩa bị ngược đãi, không có thể, bởi vì những quan điểm cấp tiến của mình, chiếm được một vị trí cao trong trường Đại học. Và ngay cả sau cuộc chiến tranh vừa qua, sự ảnh hưởng, từ bên trong và bên ngoài nước Đức đến công việc ông ta như là một nhà sử học, vốn vẫn còn gần như là một nhà Mác-xít sau khi ông ta đã không còn là một nhà Mác-xít trong chính trị, đã là mức lan rộng nhất và là điều đáng chú ý riêng biệt trong những tác phẩm của nhiều người trong số những nhà hoạch định Anh Quốc và Mỹ.

(Werner Sombart (1863–1941), là nhà kinh tế học, xã hội học, là
người đứng đầu “Trường phái Lịch sử Non trẻ nhất” và cũng là người
dẫn đầu những nhà khoa học xã hội thuộc Lục địa Âu châu. Ông ta đã
gọi chính mình là “một nhà Mác-xít tin phục”, nhưng sau nầy viết lại là
“Điều buộc phải thừa nhận cuối cùng là Marx đã tạo nên những sai lầm
trên nhiều điểm quan trọng”. Ngoài ra ông ta cũng ủng hộ nồng nhiệt
Chủ nghĩa Quốc xã mà ông ta cho đó là Chủ nghĩa Xã hội Đức)

Trong cuốn sách về chiến tranh của ông ta, nhà xã hội chủ nghĩa xa xưa nầy hoan nghênh “Cuộc chiến tranh Đức” như là cuộc xung đột tất yếu giữa sự khai hóa thương mại của Anh và văn hóa anh hùng của Đức. Sự khinh miệt của ông ta đối với những quan điểm “thương mại” của dân chúng Anh Quốc, vốn là những người đã mất đi tất cả những bản năng thiện chiến, là điều vô giới hạn. Không có gì là đáng khinh miệt hơn trong mắt của ông ta so với việc cố gắng của toàn cầu đeo đuổi mục đích hạnh phúc của một cá nhân; và điều mà ông ta mô tả như là câu châm ngôn hàng đầu về nền đạo đức Anh Quốc: hãy chỉ là “điều mà nó có thể tốt đẹp với ngươi và điều mà ngươi có thể kéo dài những ngày của mình trên mảnh đất”, đối với ông ta là một “câu châm ngôn nổi tiếng nhất vốn đã từng được công bố bởi một đầu óc thương mại”. Câu nói “ý tưởng người Đức về nhà nước” như được công thức hóa bởi Fichte, Lassalle, và Rodbertus, đó là nhà nước không phải được thành lập cũng không phải được hình thành bởi những cá nhân, cũng không phải là một khối kết hợp gồm những cá nhân, cũng không phải là mục đích của nó phục vụ cho bất cứ lợi ích nào của những cá thế. Chính là một Volksgemeinschaft (i.e. cộng đồng quần chúng, theo tiếng Đức) mà trong đó một cá nhân không có một quyền nào ngoại trừ chỉ là những bổn phận. Những lời tuyên bố của một cá nhân luôn là một kết quả của tinh thần thương mại. “Những ý tưởng của năm 1789” –Tự do, Bình đẳng, Bác ái– là những lý tưởng mang tính chất thương mại đặc trưng vốn có không có mục đích nào khác hơn là bảo đảm những lợi thế nào đó cho những cá nhân.
Trước năm 1914, tất cả những lý tưởng thật sự của Đức về một cuộc sống anh hùng là trong sự nguy hiểm chết người trước bước tiến liên tục của những lý tưởng thương mại, sự nhàn nhã, và trò chơi thể thao của Anh Quốc.

p175

Dân tộc Anh không chỉ là chính họ đã trở nên hoàn toàn bị đồi bại, mỗi đoàn viên công đoàn bị chìm trong “bãi lầy nhàn nhã”, nhưng họ đã bắt đầu lây nhiễm tất cả những dân tộc khác. Chỉ có chiến tranh đã giúp cho những người Đức nhớ rằng họ thực sự là một dân tộc của những chiến binh, một dân tộc trong số những dân tộc mà tất cả các hoạt động và riêng biệt là tất cả các hoạt động về kinh tế được xem là phụ thuộc đối với những mục đích quân sự. Ông Sombart biết rằng người Đức bị khinh miệt bởi những dân tộc khác bởi vì họ xem chiến tranh như là điều thiêng liêng –nhưng ông ta lấy làm hãnh diện về điều đó. Xem chiến tranh như là điều vô nhân đạo và vô nghĩa là một sản phẩm của những quan điểm thương mại. Có một sự sống cao hơn đời sống cá nhân, sự sống của một dân tộc và sự sống của nhà nước, và đó là mục đích của một cá nhân hy sinh chính mình cho sự sống cao hơn đó. Chiến tranh đối với ông Sombart là tuyệt đích của quan điểm anh hùng về cuộc sống, và cuộc chiến chống lại Anh Quốc là cuộc chiến chống lại lý tưởng đối nghịch, một lý tưởng về thương mại của quyền tự do cá nhân và của sự nhàn nhã kiểu người Anh, mà qua đó trong mắt của ông ta tìm thấy sự biểu hiện đáng khinh miệt nhất của nó –nơi những dụng cụ cạo râu an toàn được tìm thấy trong các chiến hào của Anh Quốc.

(Dụng cụ cạo râu an toàn và hộp xà phòng của người lính Anh
Quốc trong Thế Chiến thứ II mà vị Giáo sư người Đức, Werner
Sombart, tỏ ra khinh miệt cho là cách nhàn nhã kiểu người Anh)

(Chiếc hộp chứa dụng cụ cạo râu an toàn của người lính Đức trong
Thế Chiến thứ II, cũng không khác gì dụng cụ của người Anh. Tuy
nhiên, vị Giáo sư Sombart với lòng trung thành cực đoan với Chủ
nghĩa Quốc xã và sự oán ghét cực kỳ đối với chủ nghĩa tư bản,
đã không xem dụng cụ cạo râu của lính Đức là kiểu nhàn nhã)

* * * * *

Nếu sự bộc phát giận dữ của ông Sombart vào lúc đó thì quá nhiều thậm chí đối với hầu hết những người Đức, một vị giáo sư Đức khác trên cơ bản đạt đến những ý tưởng tương tự theo một hình thức ôn hòa hơn và uyên thâm hơn, ngoại trừ vì lý do đó thậm chí hiệu quả hơn. Giáo sư Johann Plenge là một chuyên gia nghiên cứu về nhân vật Marx như ông Sombart. Cuốn sách của ông về “Marx và Hegel” (“Marx und Hegel”) đánh dấu sự bắt đầu của thời kỳ phục hưng hiện đại chủ thuyết Hegel trong số những học giả về nhân vật Marx; và có thể là không có chút nghi ngờ nào về bản chất xã hội chủ nghĩa đích thực của những niềm tin chắc chắn mà ông ta đã bắt đầu với chúng. Trong số rất nhiều những ấn phẩm chiến tranh của ông ta, một ấn bản quan trọng nhất là một cuốn sách nhỏ nhưng vào thời điểm đó được thảo luận rộng rãi với một tựa đề đáng chú ý: “Năm 1789 và Năm 1914. Những năm Biểu tượng trong Lịch sử của Tâm trí Chính trị” (“1789 and 1914. The Symbolic Years in the History of the Political Mind”). Nó được dành cho cuộc xung đột giữa “Những ý tưởng của năm 1789”, lý tưởng của quyền tự do, và “Những ý tưởng của năm 1914”, lý tưởng của tổ chức.

p176

Tổ chức đối với ông ta, như đối với tất cả những nhà xã hội chủ nghĩa vốn là những người tìm thấy chủ nghĩa xã hội của họ từ một ứng dụng thô bạo của những lý tưởng khoa học cho các nan đề của xã hội, là thực chất của chủ nghĩa xã hội. Đó là, như ông ta nhấn mạnh một cách đúng đắn, gốc rễ của phong trào xã hội chủ nghĩa vào lúc khởi đầu của nó ở nước Pháp vào đầu thế kỷ mười chín. Marx và chủ nghĩa Mác-xít đã phản bội ý tưởng cơ bản nầy của chủ nghĩa xã hội bởi sự gắn kết cuồng tín nhưng vô tưởng của họ với ý tưởng trừu tượng về quyền tự do. Bây giờ chỉ là ý tưởng về tổ chức một lần nữa bước vào trong chổ của riêng mình, ở nơi nào khác, như được làm chứng bởi tác phẩm của ngài H.G. Wells (bởi cuốn sách “Tương lai ở Mỹ” (“Future in America”) của người mà Giáo sư Plenge chịu ảnh hưởng một cách sâu sắc, và người mà ông ta mô tả như là một trong những nhân vật nổi bật của chủ nghĩa xã hội hiện đại), nhưng riêng biệt là ở Đức, nơi mà nó được hiểu rõ nhất và được nhận thức gần như đầy đủ nhất. Cuộc chiến tranh giữa Anh và Đức vì vậy thực sự là một cuộc xung đột giữa hai nguyên tắc trái ngược. “Thế chiến Kinh tế” là một kỷ nguyên to lớn thứ ba của cuộc đấu tranh về mặt tinh thần trong lịch sử hiện đại. Nó có tầm quan trọng ngang hàng với Cuộc Cải cách và cuộc cách mạng tư sản cho tự do. Chính là cuộc đấu tranh vì thắng lợi của những lực lượng mới được sinh ra từ đời sống kinh tế tiên tiến của thế kỷ mười chín: chủ nghĩa xã hội và tổ chức.

Bởi vì trong bầu trời của những tư tưởng, nước Đức là một vật thể tiêu biểu thuyết phục nhất trong số tất cả những giấc mơ về xã hội chủ nghĩa, và trong bầu trời của thực tế, nó là kiến trúc sư mạnh mẽ nhất của một hệ thống kinh tế có tổ chức cao nhất. –Thế kỷ hai mươi đang ở với chúng ta. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh có thể kết thúc, chúng ta là một dân tộc gương mẫu. Những ý tưởng của chúng ta sẽ quyết định những mục tiêu của cuộc sống nhân loại.– Lịch sử Thế giới hiện thời trải nghiệm một cảnh tượng khổng lồ mà với chúng ta một lý tưởng mới, vĩ đại về cuộc sống xuyên đến chiến thắng cuối cùng, trong khi cùng một lúc ở Anh Quốc một trong những nguyên tắc Thế giới mang tính Lịch sử cuối cùng sụp đổ.

Nền kinh tế chiến tranh được tạo ra ở Đức vào năm 1914

là việc thực hiện đầu tiên của một xã hội thuộc chủ nghĩa xã hội và tinh thần của nó, một sự xuất hiện tích cực trước tiên, và không chỉ đơn thuần là đòi hỏi, của một tinh thần xã hội chủ nghĩa.

p177

Những nhu cầu của cuộc chiến tranh đã thiết lập một ý tưởng về xã hội chủ nghĩa trong đời sống kinh tế của Đức, và như thế, việc bảo vệ quốc gia của chúng ta sản sinh cho nhân loại ý tưởng của năm ’94, một ý tưởng về tổ chức của Đức, một cộng đồng quần chúng (Volksgemeinschaft) của chủ nghĩa xã hội quốc gia… Nếu không có việc chú ý thực sự của chúng ta về điều đó, toàn bộ đời sống chính trị của chúng ta trong nhà nước và kỹ nghệ đã vươn đến một giai đoạn cao hơn. Đời sống nhà nước và kinh tế tạo hình thành một sự đồng nhất mới… Cảm giác về trách nhiệm kinh tế vốn biểu thị đặc điểm công việc của một công chức, tràn ngập tất cả những hoạt động cá nhân… Sự thành lập phối hợp mới của Đức về đời sống kinh tế [mà Giáo sư Plenge thừa nhận, thì chưa chín muồi hoặc hoàn thành] là một hình thức đời sống cao nhất của nhà nước vốn đã từng được biết đến trên trái đất.

Lúc đầu, Giáo sư Plenge vẫn hy vọng hòa hợp lý tưởng tự do và lý tưởng tổ chức, mặc dù phần lớn qua việc quy phục hoàn toàn nhưng tự nguyện của một cá nhân đối với một khối. Nhưng những dấu vết nầy của những ý tưởng tự do chẳng bao lâu biến mất khỏi những tác phẩm của ông ta. Đến năm 1918, một sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội và quyền lực chính trị tàn nhẫn đã trở nên hoàn tất trong trí của ông ta. Ngay trước khi kết thúc chiến tranh, ông ta hô hào những đồng bào của mình trên tạp chí xã hội chủ nghĩa là Die Glocke theo cách sau đây :

Đó là thời gian thích hợp để nhận ra một sự kiện thực tế là chủ nghĩa xã hội phải là một chính sách quyền lực, bởi vì nó phải là một tổ chức. Chủ nghĩa xã hội phải giành được quyền lực: nó không bao giờ mù quáng phải tiêu diệt quyền lực. Và câu hỏi quan trọng và gay go nhất cho chủ nghĩa xã hội về những dân tộc trong thời gian chiến tranh nhất thiết là điều nầy: dân tộc nào là ưu việt được triệu đến quyền lực, bởi vì nó là vị lãnh đạo gương mẫu trong một tổ chức của những dân tộc ?

p178

Và ông ta dự đoán tất cả những ý tưởng mà cuối cùng cũng phải biện minh cho Trật tự Mới của Hitler :

Chỉ từ một quan điểm về chủ nghĩa xã hội, vốn là một tổ chức, có phải chăng một quyền tuyệt đối tự quyết định của những người dân không phải là quyền của tình trạng hỗn loạn kinh tế cá nhân ? Chúng ta có sẵn lòng ban quyền tự quyết hoàn toàn cho một cá nhân trong đời sống kinh tế không ? Chủ nghĩa xã hội kiên định có thể chấp thuận cho người dân quyền hợp thành đoàn thể duy nhất theo đúng với sự phân bố thực sự những lực lượng được định rõ theo lịch sử.

* * * * *

Những lý tưởng mà ông Plenge bày tỏ rất rõ ràng, phổ biến nhất là trong số, và có lẽ thậm chí xuất phát từ, những giới nhất định gồm các nhà khoa học và kỹ sư Đức vốn là những người, hò hét đòi một tổ chức có kế hoạch tập trung cho tất cả những khía cạnh của cuộc sống; một cách chính xác là như hiện thời nó được đòi hỏi rất to tiếng bởi những đối tác người Anh của họ. Dẫn đầu trong số những người nầy là nhà hóa học nổi tiếng Wilhelm Ostwald, mà một trong những lời tuyên bố của ông ta trên quan điểm nầy đã đạt được một tiếng tăm nào đó. Người ta đồn là ông ta đã từng công khai tuyên bố rằng

Nước Đức muốn tổ chức châu Âu mà đến nay vẫn còn thiếu một tổ chức. Tôi sẽ giải thích cho các bạn về bí mật to lớn của Đức hiện thời: chúng ta, hoặc có lẽ là chủng tộc Đức, đã khám phá ra tầm quan trọng của tổ chức. Trong khi các quốc gia khác vẫn còn sống dưới chế độ chủ nghĩa cá nhân, chúng ta đã đạt được điều đó của tổ chức rồi.

Những ý tưởng rất giống với những ý tưởng hiện thời trong những văn phòng của nhà độc quyền nguyên liệu Đức, Walter Rathenau, vốn là người, mặc dù ông có thể sẽ rùng mình ghê sợ nếu ông ta đã nhận ra những hậu quả của nền kinh tế độc đoán của mình, tuy xứng với vị thế đáng kể trong bất kỳ lịch sử đầy đủ hơn nào về sự tăng trưởng những ý tưởng của Đức Quốc xã. Qua những tác phẩm của mình, ông ta có thể là, nhiều hơn bất kỳ người nào khác, đã định rõ những quan điểm về kinh tế của một thế hệ vốn trưởng thành ở Đức trong suốt thời gian và ngay sau cuộc chiến tranh vừa qua; và một vài người trong số những cộng tác viên thân cận nhất của ông ta sau đó sẽ hình thành cột trụ xương sống của ban nhân viên thuộc cơ quan điều hành Kế hoạch Năm năm của Goering (i.e. Hermann Wilhelm Göring, hay còn được gọi là Goering theo tiếng Anh, là nhà lãnh đạo quân sự của Đức Quốc xã).

p179

Cũng rất tương tự là phần nhiều việc giáo huấn của một nhà Mác-xít khác trước đây, Friedrich Naumann, mà tác phẩm “Trung Âu” (“Mitteleuropa”) của ông ta có thể là đạt đến mức lưu lượng lớn nhất của bất kỳ cuốn sách chiến tranh nào ở nước Đức.1 Nhưng điều đó đã để lại cho một chính trị gia xã hội chủ nghĩa năng động, một thành viên phe tả của đảng dân chủ xã hội trong Reichstag (i.e. thuật ngữ Đức là Nghị viện), hầu phát triển những ý tưởng nầy một cách đầy đủ nhất và truyền bá chúng xa rộng. Paul Lensch trong những cuốn sách trước đây đã thực sự mô tả chiến tranh như là “sự trốn chạy của giai cấp tư sản Anh trước bước tiến của chủ nghĩa xã hội”, và giải thích việc khác biệt như thế nào giữa lý tưởng tự do thuộc xã hội chủ nghĩa và quan niệm của người Anh. Nhưng chỉ trong cuốn sách thứ ba và thành công nhất của ông ta về chiến tranh, tác phẩm “Ba năm của cuộc Cách mạng Thế giới” (“Three Years of World Revolution”),2 là những ý tưởng đặc trưng của ông ta, chịu ảnh hưởng của ông Plenge, đạt được sự phát triển đầy đủ. Ông Lensch đặt nền tảng lập luận của mình trên một khía cạnh thú vị và trong nhiều khía cạnh lịch sử chính xác do việc ứng dụng sự bảo vệ của vị Chưởng ấn Bismarck đã tạo nên điều có thế có ở Đức cho sự phát triển hướng đến việc tập trung kỹ nghệ đó và việc tạo ra sự phối hợp hành động chung mà qua đó, từ quan điểm Mác-xít của ông ta, tiêu biểu cho một trạng thái cao hơn của sự phát triển về kỹ nghệ.

(Otto Eduard Leopold (1815–1898), Hoàng tử của vùng Bismarck,
Bá tước của vùng Lauenburg, còn được biết đến là Otto von
Bismarck, vị Chưởng ấn Phổ, cũng là một chính khách nổi tiếng)

Kết quả của quyết định của ông Bismarck vào năm 1879 là Đức nhận lấy vai trò cách mạng; đó là nói, về một nhà nước mà vị thế của nó trong sự tương quan đến phần còn lại của thế giới là vai trò đó của nước đại diện cho một hệ thống kinh tế cao hơn và tiên tiến hơn. Sau khi nhận ra điều nầy, chúng ta sẽ nhận thức được rằng trong hiện tại, Cuộc cách mạng Thế giới của Đức tượng trưng cho công cuộc cách mạng, và nước đối lập lớn nhất của nó, Anh Quốc, phe phản cách mạng. Sự kiện thực tế nầy chứng tỏ là hiến pháp của một quốc gia, cho dù nó là tự do và cộng hòa hoặc quân chủ và độc đoán, gây ảnh hưởng nhỏ nhoi đến như thế nào đối với câu hỏi cho dù, từ quan điểm của sự phát triển theo lịch sử, quốc gia đó sẽ được xem như là tự do hay không.

=============
1 Một bản tóm tắt rõ ràng về những quan điểm của ông Naumann (i.e. Friedrich Naumann (1860–1919), là nhà chính trị Đức thuộc phe tự do trước thời kỳ Hitler), như là một đặc trưng của sự kết hợp của Đức giữa Chủ nghĩa Xã hội và Chủ nghĩa Đế quốc như bất kỳ những quan điểm nào mà chúng ta trích dẫn trong bài, sẽ được tìm thấy trong tách phẩm của R.D. Butler, “The Roots of National Socialism” (“Những nguồn gốc của Chủ nghĩa Quốc xã”), năm 1941, pp. 203–9.

2 Paul Lensch, tác phẩm “Three Years of the World Revolution” (“Ba năm của cuộc Cách mạng Thế giới”). Phần dẫn nhập của J.E.M., London, 1918. Bản dịch tiếng Anh của tác phẩm nầy đã được tạo ra sẵn, vẫn còn trong suốt cuộc chiến tranh vừa qua, bởi một người nhìn xa trông rộng nào đó.
=============

p180

Hoặc, nói thẳng thắn hơn, những quan niệm của chúng ta về Chủ nghĩa Tự do, nền Dân chủ, và v.v., được bắt nguồn từ những ý tưởng của Chủ nghĩa Cá nhân của Anh Quốc, theo đó một nhà nước với một chính phủ yếu đuối là một nhà nước tự do, và mỗi sự hạn chế trên quyền tự do của cá nhân được nhận thức như là một sản phẩm của chế độ chuyên chế và chủ nghĩa quân phiệt.

Ở Đức, “một tiêu biểu được quy định theo lịch sử” của hình thức cao hơn nầy về đời sống kinh tế,

một cuộc đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội đã được đơn giản hóa một cách khác thường, vì tất cả những điều kiện tiên quyết của Chủ nghĩa Xã hội đã thực sự ngày càng được thành lập ở đó. Và do đó, điều nhất thiết là mối quan tâm rất quan trọng về bất kỳ đảng phái xã hội chủ nghĩa nào mà Đức sẽ nằm giữ riêng mình một cách đắc thắng chống lại những kẻ thù của mình, và theo cách đó có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình trong việc cách mạng hóa thế giới. Vì thế, cuộc chiến tranh của Khối nước trong Hiệp ước Thân thiện chống lại Đức giống như sự cố gắng của giai cấp tư sản thấp hơn của thời kỳ tiền-tư-bản hầu ngăn chận sự suy giảm của tầng lớp của của riêng họ.

Tổ chức đó của nhóm Thủ đô [ông Lensch tiếp tục] vốn bắt đầu một cách vô thức trước chiến tranh, và trong suốt chiến tranh đã được tiếp tục một cách có ý thức, sẽ được tiếp tục một cách hệ thống sau chiến tranh. Không phải là qua bất kỳ sự khao khát nào cho bất kỳ những nghệ thuật nào của tổ chức hoặc cũng không phải bởi vì chủ nghĩa xã hội đã được nhìn nhận như là một nguyên tắc cao hơn của sự phát triển xã hội. Những tầng lớp vốn là những người tiên phong thực thục ngày hôm nay của chủ nghĩa xã hội, trên mặt lý thuyết, là những đối thủ được thừa nhận của nó, hoặc, ở bất kỳ mức độ nào, bừng phát triển lên trong một khoảng thời gian ngắn trước đây. Chủ nghĩa xã hội đang đến, và thật ra, ở một mức độ nào đó đã đến rồi, vì chúng ta không còn có thể sống mà không có nó.

Chỉ có những người vốn vẫn chống đối khuynh hướng nầy, là những người tự do.

Lớp người nầy, vốn là những người lý luận một cách vô thức từ những tiêu chuẩn của Anh Quốc, bao gồm toàn bộ giai cấp tư sản Đức có trình độ.

p181

Nhũng khái niệm chính trị của họ về “quyền tự do” và “dân quyền”, về chủ thuyết hiến pháp và, chủ thuyết nghị viện, có nguồn gốc từ quan niệm theo cá nhân chủ nghĩa đó về thế giới, về điều mà Chũ nghĩa Tự do của Anh Quốc là một hiện thân cỗ điển, và điều mà được ứng dụng qua bởi những phát ngôn viên của giai cấp tư sản Đức trong thập niên 50’s, 60’s, và 70’s của thế kỷ mười chín. Nhưng những tiêu chuẩn nầy thì lỗi thời và bị tan vỡ, chỉ giống như Chủ nghĩa tự do Anh Quốc đã từng bị tan vỡ bởi cuộc chiến tranh nầy. Điều phải làm hiện tại là vứt bỏ những ý tưởng chính trị được thừa kế nầy và trợ giúp sự phát triển của một quan niệm mới về Nhà nước và Xã hội. Cũng trong lãnh vực nầy, chủ nghĩa xã hội phải trình bày sự đối lập có ý thức và kiên quyết đối với chủ nghĩa cá nhân. Trong sự kết nối nầy, một sự kiện thực tế đáng ngạc nhiên là, trong cái gọi là một nước Đức “phản tiến triển”, những tầng lớp lao động đã giành được cho mình một vị trí vững chắc và mạnh mẽ hơn nhiều trong đời sống của nhà nước hơn là trường hợp hoặc ở Anh hay ở Pháp.

Ông Lensch theo sát điều nầy với sự xét đoán mà qua đó một lần nữa, chứa phần nhiều sự thật và đáng được suy ngẫm :

Kể từ khi những đảng viên Dân chủ Xã hội, bằng sự trợ giúp của việc bỏ phiếu [phổ thông] nầy, chiếm được mọi chức vụ mà họ có thể có được trong Reichstag (i.e. Nghị viện), Nghị viện Nhà nước, những Hội đồng thành phố, những Toà án dành cho sự dàn xếp những tranh chấp về công đoàn lao động, những ngân quỷ dành cho bệnh tật, v.v., họ thâm nhập rất sâu vào trong cơ cấu nhà nước; nhưng cái giá mà họ phải trả cho điều nầy là nhà nước, đến lượt nó, thực thi một ảnh hưởng sâu sắc trên những tầng lớp lao động. Để chắc chắn, như là kết quả của những lao động gắng sức của phe xã hội chủ nghĩa trong năm mươi năm qua, nhà nước không còn giống như nó đã là vào năm 1867, khi cuộc đầu phiếu phổ thông lần đầu tiên đi vào hoạt động; nhưng sau đó, đảng Dân chủ Xã hội, đến lượt nó, không có còn giống như nó đã là vào lúc đó. Nhà nước đã trải qua một quá trình xã hội chủ nghĩa hóa, và đảng Dân chủ xã hội đã trải qua một quá trình quốc hữu hóa.

p182

* * * * *

Ông Plenge và ông Lensch lần lượt đã cung cấp những ý tưởng hàng đầu cho những bậc thầy trực tiếp của Chủ nghĩa Quốc xã, riêng biệt là Oswald Spengler và A. Moeller van den Bruck, cập đến chỉ là hai cái tên được biết nhiều nhất.1 Những quan điềm có thể khác nhau tùy thuộc vào việc Oswald Spengler có thể được xem như là một nhà xã hội chủ nghĩa đến bao xa. Nhưng điều đó trong vùng mở rộng của ông ta về Chủ nghĩa Phổ tộc và Chủ nghĩa Xã hội, vốn xuất hiện vào năm 1920, ông ta chỉ đơn thuần đưa ra sự bày tỏ cho những ý tưởng được bám giữ rộng rãi bởi những nhà xã hội chủ nghĩa Đức, hiện thời sẽ là chứng cứ. Một số ít phần tiêu biểu lập luận của ông ta cũng sẽ đủ. “Tinh thần xa xưa của người Phổ và niềm tin chắc chắn của người theo xã hội chủ nghĩa, mà ngày hôm nay ghét nhau với sự hận thù của anh em, là một thứ và giống nhau”. Những thứ tiêu biểu của nền văn minh Tây phương ở Đức, những thứ tự do của dân Đức, là “đội quân Anh Quốc vô hình mà sau trận chiến Jena, Napoleon (i.e. vua Pháp) đã để lại trên đất Đức”. Đối với ông Spengler, những người giống như ông Hardenberg và ông Humboldt và tất cả những nhà cải cách tự do khác là “những người Anh Quốc.” Nhưng tinh thần “Anh Quốc” nầy sẽ bị tống ra bởi cuộc cách mạng Đức vốn bắt đầu vào năm 1914.

(Trận chiến Jena còn được biết đến là hai trận chiến kép Jena and
Auerstädt vào năm 1806 giữa 67.000 quân của vua Pháp Napoleon I
và 120.500 quân của vua Phổ Frederick William III. Bức tranh mô
tả vua Pháp tiến vào Đức trong phong cách của kẻ chiến thắng)

Ba quốc gia cuối cùng của Tây Âu đã nhắm vào ba hình thức của sự tồn tại, được tiêu biểu bởi những khẩu hiệu nổi tiếng: Tự do, Bình đẳng, Cộng đồng. Chúng xuất hiện trong những hình thức chính trị của Chủ nghĩa Nghị viện tự do, Chế độ Dân chủ Xã hội, và Chủ nghĩa Xã hội độc đoán.2 Bản năng của người Đức, đúng hơn là, người Phổ, là: sức mạnh thuộc về một khối… Mọi người được ban cho một vị thế của mình.

=============
1 Cùng một sự kiện áp dụng cho nhiều người khác trong số những nhà lãnh đạo trí thức của một thế hệ vốn đã sản sinh ra Chủ nghĩa Phát-xít, chẳng hạn như Othmar Spann, Hans Freyer, Carl Schmitt, và Ernst Junger. Trên những điều nầy so sánh với cuộc nghiên cứu đầy thú vị của Aurel Kolnai, tác phẩm “The War against the West” (Cuộc chiến tranh Chống lại Tây phương”), 1938, mà qua đó, tuy nhiên, phải chịu khuyết điểm là, qua việc tự nhốt chính nó trong phạm vi giai đoạn hậu chiến khi những lý tưởng nầy đã thực sự bị chiếm lấy bởi những nhà quốc gia, nó nhìn sơ qua những người sáng tạo xã hội chủ nghĩa của họ.

2 Công thức Spengler nầy tìm thấy tiếng vang của nó trong lời phát biểu thường được trích dẫn của Carl Schmitt, một chuyên gia hàng đầu của Đức Quốc xã về luật hiến pháp, theo đó sự tiến triển của chính phủ tiến hành “trong ba giai đoạn biện chứng: từ trạng thái tuyệt đối của thế kỷ mười bảy và mười tám qua nhà nước trung lập của thế kỷ mười chín tự do đến một nhà nước độc tài toàn trị mà trong đó nhà nước và xã hội giống như nhau” (C. Schmitt, tác phẩm “Der Hiiter der Verfassung” (“Người canh gác Hiến pháp”), Tubingen, 1931, p. 79).
=============

p183

Một người ra lệnh hoặc tuân theo. Đây là, kể từ thế kỷ mười tám, chủ nghĩa xã hội độc tài toàn trị, trên cơ bản là phi tự do và chống dân chủ, miễn sao Chủ nghĩa Tự do của Anh Quốc và đảng Dân chủ Pháp có ý nghĩa… Ở Đức có nhiều sự tương phản thù ghét và tai tiếng, nhưng chỉ riêng Chủ nghĩa Tự do bị khinh miệt trên đất Đức.

Cấu trúc của dân tộc Anh được dựa trên sự phân biệt giữa giàu và nghèo, của Phổ cấu trúc đó của người Phổ trên sự phân biệt giữa mệnh lệnh và tuân lệnh. Ý nghĩa của sự phân biệt tầng lớp thì khác biệt theo nền tảng thích hợp ở hai quốc gia.

Sau khi chỉ ra sự khác biệt chủ yếu giữa hệ thống cạnh tranh của người Anh và hệ thống của người Phổ về “việc quản lý kinh tế”, và sau khi cho thấy (một cách có ý thức theo sau ông Lensch) kể từ Chưởng ấn Bismarck, việc tổ chức có chủ tâm về hoạt động kinh tế đã dần dần khoác lấy những hình thức xã hội chủ nghĩa hơn, ông Spengler viết tiếp :

Ở nước Phổ, có một thực trạng tồn tại trong ý nghĩa tham vọng nhất của từ ngữ. Có thể là, nói một cách nghiêm chỉnh, không có những tư nhân. Mọi người vốn sống trong phạm vi một hệ thống mà qua đó hoạt động với độ chính xác của một bộ máy đồng hồ, là một mắt xích trong nó theo một cách nào đó. Việc điều hành một công ty công cộng (i.e. do nhân viên, quan chức chính phủ) vì vậy không thể nằm trong tay của những tư nhân, như được giả định bởi Chủ nghĩa Nghị viện. Đó là một Amt (i.e. đơn vị hành chánh) và một chính trị gia có trách nhiệm là một công chức, người phục vụ cho một khối người.

“Ý tưởng của người Phổ” đòi hỏi rằng mọi người nên trở thành một quan chức nhà nước, rằng tất cả tiền công và lương tháng được điều chỉnh bởi nhà nước. Việc quản lý tất cả các tài sản, theo cách riêng biệt, trở thành một chức năng được trả lương. Nhà nước trong tương lai sẽ là một Beamtenstaat (i.e. nhà nước công chức). Nhưng

p184

câu hỏi quyết định không phải chỉ dành cho nước Đức, nhưng là dành cho thế giới, mà qua đó phải được giải quyết bởi nước Đức cho thế giới, là: Trong tương lai, thương mại sẽ chi phối nhà nước, hoặc nhà nước sẽ quản trị thương mại ? Trong sự đối mặt với câu hỏi nầy, Chủ nghĩa Phổ tộc và Chủ nghĩa Xã hội thì như nhau… Chủ nghĩa Phổ tộc và Chủ nghĩa Xã hội chiến đấu chống lại nước Anh ở giữa chúng ta.

Điều đó chỉ là một bước từ điều nầy đối với vị thánh bảo trợ của Chủ nghĩa Quốc xã, Moeller van den Bruck, để công bố Chiến tranh Thế giới, một cuộc chiến tranh giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa xã hội: “Chúng ta đã bại trong cuộc chiến chống lại phương Tây. Chủ nghĩa Xã hội đã bại trong cuộc chiến chống lại Chủ nghĩa Tự do”.1 Như với ông Spengler, chủ nghĩa tự do, vì vậy, là kẻ thù không đội trời chung. Moeller van den Bruck thật ra tự hào là không có những nhà tự do nào ở Đức ngày nay; có những nhà cách mạng trẻ :

có những nhà bảo thủ trẻ. Nhưng ai sẽ là một nhà tự do ?… Chủ nghĩa Tự do là một triết lý của cuộc sống mà từ đó thanh niên Đức hiện thời hoa mắt lên với sự buồn nôn, với cơn thịnh nộ, với sự khinh bỉ khá khác thường, vì không có triết lý nào xa lạ hơn, ghê tởm hơn, trái ngược hơn đối với triết lý của nó. Thanh niên Đức ngày nay nhận ra sự tự do như là kẻ thù không đội trời chung.

Đế chế Đức xã thứ ba của Moeller van den Bruck có chủ ý cho những người Đức một chủ nghĩa xã hội thích ứng với bản chất của họ và không bị ô uế bởi những ý tưởng tự do Tây phương. Và nó đã làm như thế.
Những cây viết nầy không hẳn là những hiện tượng bị cô lập. Ngay từ đầu năm 1922, một người quan sát không thiên kiến có thể nói về một “hiện tượng kỳ dị và, qua cái nhìn đầu tiên, đáng ngạc nhiên” sau đó được quan sát ở Đức :
=============
1 Moeller van den Bruck, tác phẩm “Sozialismus und Außenpolitik” (“Chủ nghĩa Xã hội và Chính sách Ngoại giao”), 1933, pp. 87, 90, và 100. Những bài viết ở đây được in lại, riêng biệt là bài viết về “Lenin and Keynes” (“Lenin và Keynes”) vốn thảo luận đầy đủ nhất luận điểm được thảo luận trong bài, lần đầu tiên được ấn hành giữa khoảng thời gian năm 1919 và 1923.
=============

p185

Cuộc chiến đấu chống lại trật tự kiểu tư bản chủ nghĩa, theo quan điểm nầy, là một tình trạng tiếp tục của cuộc chiến tranh chống lại Khối nước trong Hiệp ước Thân thiện với những vũ khí bằng tinh thần và tổ chức kinh tế, cách mà dẫn đến một chủ nghĩa xã hội thực tiển, sự trở lại của những người dân Đức đến những truyền thống tốt đẹp nhất và cao quý nhất của họ.1

Cuốc tranh đấu chống lại chủ nghĩa tự do trong tất cả những hình thức của nó, chủ nghĩa tự do vốn đã đánh bại nước Đức, là một ý tưởng chung vốn hợp nhất những người theo chủ nghĩa xã hội và những người bảo thủ trong một mặt trận chung. Lúc đầu, chủ yếu là trong Phong trào Thanh niên Đức, gần như hoàn toàn theo kiểu xã hội chủ nghĩa trong cảm hứng và cách nhìn, nơi mà những ý tưởng nầy dễ dàng được chấp nhận nhất và sự hỗn hợp của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa quốc gia được hoàn tất. Trong khoảng gần cuối thập niên 20’s và cho đến khi sự việc nắm lấy quyền lực phải đến của Hitler, một vòng tròn gồm những thanh niên được tụ tập xung quanh nhà xuất bản tạp chí Die Tat (i.e. Hành động) và được dẫn dắt bởi Ferdinand Fried đã trở thành người dẫn giải chính của truyền thống nầy trong bầu không khí trí thức. Tác phẩm “Sự chấm dứt của Chủ nghĩa Tư bản” (“Ende des Kapitalismus”) của ông Fried có lẽ là một sản phẩm đặc trưng nhất của nhóm Edelnazis (i.e. Đức Quốc xã ưu tú) nầy, như họ được biết đến ở Đức, và đặc biệt là gây lo ngại bởi vì hình thức giống nhau của nó đối với phần nhiều tác phẩm văn học mà chúng ta thấy ở Anh Quốc ngày nay, nơi mà chúng ta có thể xem cùng một bản vẽ với nhau của những người xã hội chủ nghĩa thuộc Phe tả và Phe hữu, và gần như cùng sự khinh miệt tất cả điều vốn là tự do theo ý nghĩa xa xưa. “Chủ nghĩa xã hội Bảo thủ” (và, trong những giới khác, “Chủ nghĩa xã hội Tôn giáo”) là một biểu ngữ mà dưới đó một số lượng lớn những nhà văn chuẩn bị bầu không khí mà trong đó “Chủ nghĩa Quốc xã” đã thành công. Chính là “Chủ nghĩa Xã hội Bảo thủ” vốn là khuynh hướng thống trị trong đất nước nầy hiện thời. Có phải chăng cuộc chiến tranh chống lại những cường quốc Tây phương “với những vũ khí bằng tinh thần và tổ chức kinh tế” gần như đã không thành công trước khi cuộc chiến tranh thực sự bắt đầu ?
=============
1 K. Pribram, tác phẩm “Deutscher Nationalismus und Deutscher Sozialismus” (“Chủ nghĩa Đức quốc và Chủ nghĩa Quốc xã”), trong Archiv für Sozialwissenschaft und Sozialpolitik (Kho lưu trữ dữ liệu cho Khoa học Xã hội và Chính trị Xã hội), vol. 49, năm 1922, pp. 298–9. Người viết nhắc đến như là những thí dụ xa hơn về triết gia Max Scheler rao giảng “sứ mệnh thế giới xã hội chủ nghĩa của Đức”, và nhà Mác-xít K. Korach viết trên tinh thần của một Volksgemeinschaft (i.e. cộng đồng quần chúng) mới, như lập luận trong cùng nguồn cảm hứng đó.
=============

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

Advertisements

15 thoughts on “Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã

  1. Pingback: Chương 01: Con đường Bỏ hoang |

  2. Pingback: Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng |

  3. Pingback: Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể |

  4. Pingback: Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định |

  5. Pingback: Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ |

  6. Pingback: Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp |

  7. Pingback: Chương 07: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị |

  8. Pingback: Chương 08: Ai làm, ai chịu ? |

  9. Pingback: Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do |

  10. Pingback: Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao |

  11. Pingback: Chương 11: Phần Cuối của Sự thật |

  12. Pingback: Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta |

  13. Pingback: Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng |

  14. Pingback: Chương 15 (Hết) : Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế |

  15. Pingback: Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch (Mục Lục & Lời Giới thiệu) |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s