Chương 11: Phần Cuối của Sự thật

p157

Chương 11: Phần Cuối của Sự thật

“Điều rất quan trọng là việc quốc hữu hóa tư tưởng đã tiến hành ở
mọi nơi pari passu (i.e. cùng bước) với việc quốc hữu hóa kỹ nghệ.”

E.H. Carr

Cách hiệu quả nhất của việc khiến cho mọi người phục vụ một hệ thống duy nhất của những mục đích mà kế hoạch xã hội được chỉ đạo hướng đến, là phải làm cho mọi người tin tưởng vào những mục đích cuối cùng đó. Làm cho một hệ thống độc tài toàn trị hoạt động một cách hiệu quả, điều đó không đủ là mọi người sẽ buộc phải làm việc cho cùng những mục đích. Điều thiết yếu là người dân sẽ đồng thuận xem chúng như là những mục đích của riêng họ. Mặc dù những niềm tin ắt hẳn được chọn lựa cho người dân và áp đặt lên họ, chúng phải trở thành những niềm tin của họ, một tín ngưỡng được chấp nhận chung chung vốn làm cho những cá nhân hành động một cách tự phát nhiều như có thể theo cách mà những nhà hoạch định muốn. Nếu cảm giác của sự áp bức ở các nước độc tài toàn trị nói chung là ít nhạy bén nhiều hơn so với hầu hết những người dân ở các nước tự do có thể tưởng, điều nầy là bởi vì những chính phủ độc tài toàn trị thành công đến một mức độ cao trong việc khiến cho người dân phải nghĩ như họ muốn.

p158

Điều nầy, dĩ nhiên, được gây ra bởi những hình thức tuyên truyền đa dạng. Kỹ thuật của nó hiện thời quá quen thuộc đến nổi chúng ta cần nên nói ít về nó. Điểm duy nhất vốn cần được nhấn mạnh là không phải việc tuyên truyền trong chính nó, cũng không phải là kỹ thuật được dùng đến, là riêng biệt đối với chủ nghĩa độc tài toàn trị, và qua đó điều mà thay đổi thực sự hoàn toàn bản chất và ảnh hưởng của nó trong một nhà nước độc tài toàn trị là tất cả việc tác tuyên truyền phục vụ cùng một mục đích, tất cả những công cụ tuyên truyền được phối hợp để gây ảnh hưởng đến những cá nhân theo cùng một chiều hướng và tạo ra một đặc tính Gleichschaltung (i.e. làm cho giống nhau) của tất cả tâm trí. Kết quả là, ảnh hưởng của việc tuyên truyền trong những quốc gia độc tài toàn trị thì khác biệt không chỉ trong mức độ mà theo kiểu từ sự khác biệt đó của việc tuyên truyền được thực hiện cho những mục đích khác nhau bởi những cơ quan độc lập và cạnh tranh. Nếu tất cả những nguồn thông tin hiện nay nằm dưới một quyền kiềm soát duy nhất một cách hữu hiệu, điều đó không còn là một câu hỏi về việc chỉ đơn thuần là thuyết phục những người dân của nhóm nầy hay nhóm nọ. Những nhà tuyên truyền khéo léo sau đó có quyền lực nhào nặn tâm trí của họ theo bất kỳ chiều hướng nào mà ông ta chọn lựa và ngay cả những người thông minh nhất và độc lập không thể hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng đó nếu họ từ lâu bị biệt lập xa khỏi tất cả các nguồn thông tin khác.
Trong khi ở các nhà nước độc tài toàn trị, tình trạng nầy của việc tuyên truyền cho nó một quyên lực độc nhất vô nhị trên tâm trí của người dân, những ảnh hưởng riêng biệt về mặt đạo đức phát sinh không phải từ kỹ thuật nhưng từ mục đích và phạm vi của việc tuyên truyền cho chế độ độc tài toàn trị. Nếu điều đó có thể được hạn chế trong phạm vi làm thấm nhuần những người dân với toàn bộ hệ thống của những giá trị hướng đến điều mà nỗ lực xã hội được định hướng, việc tuyên truyền có thể tượng trưng chỉ đơn thuần là một biểu lộ cụ thể của những nét nổi bật đặc trưng về đạo đức của những người theo chủ nghĩa tập thể mà chúng ta đã xem xét qua. Nếu mục đích của nó chỉ đơn thuần là để dạy cho những người dân một điều lệ đạo đức rõ ràng và bao hàm, nan đề sẽ chỉ là liệu điều lệ đạo đức nầy là tốt hay xấu. Chúng ta đã từng nhìn thấy rằng điều lệ đạo đức của một xã hội độc tài toàn trị không gần như không thu hút đối với chúng ta, rằng ngay cả sự cố gắng hết sức cho sự bình đẳng bằng những phương cách của một nền kinh tế được định hướng chỉ có thể dẫn đến kết quả trong một sự bất bình đẳng được chính thức thi hành –một sự quyết định độc đoán về thân phận của mỗi cá nhân trong một trật tự thứ cấp mới;

p159

rằng hầu hết những yếu tố nhân đạo của những đạo đức của chúng ta, sự tôn trọng cho cuộc sống con người, cho những người yếu đuối và cho những cá nhân nói chung, sẽ biến mất. Tuy nhiên, điều nầy có thể có khuynh hướng đẩy xa hầu hết mọi người, và mặc dù nó lôi cuốn một sự thay đổi trong những tiêu chuẩn đạo đức, hoàn toàn không nhất thiết là chống đạo đức. Một vài nét nổi bật của một hệ thống như thế thậm chí có thể thu hút những nhà đạo đức nghiêm khắc nhất mang màu sắc bảo thủ và dường như đối với họ ưu thích những tiêu chuẩn nhẹ nhàng hơn của một xã hội tự do.
Những hậu quả về mặt đạo đức của việc tuyên truyền cho chế độ độc tài toàn trị mà chúng ta hiện thời phải xem xét, tuy nhiên, thuộc về một loại thậm chí sâu sắc hơn. Chúng là thứ phá hoại tất cả những đạo đức bởi vì chúng làm suy yếu dần một trong những nền tảng của tất cả đạo đức, tri giác và sự tôn trọng sự thật. Từ bản chất của công việc của nó, việc tuyên truyền cho chế độc tài toàn trị không thể tự hạn chế trong phạm vi những giá trị, trong phạm vi những câu hỏi về quan điểm và những niềm tin đạo đức mà trong đó một cá nhân sẽ luôn luôn thích nghi ít nhiều với những quan điểm chế ngự cộng đồng của mình, nhưng phải mở rộng đến những câu hỏi về sự kiện thực tế nơi mà trí tuệ con người được lôi cuốn vào theo một cách khác biệt. Điều nầy là như thế, trước hết, bởi vì nhằm mục đích khiến cho mọi người chấp nhận những giá trị chính thức, những điều nầy phải được biện minh, hoặc được thể hiện là có sự kết nối với những giá trị đã được bám lấy bởi những người dân, mà thường thường sẽ liên quan đến những khẳng định về những kết nối có nguyên nhân giữa những phương cách và những mục đích cuối cùng; và, thứ hai, bởi vì sự phân biệt giữa những mục đích và những phương cách, giữa những mục đích được nhắm vào và những biện pháp được dùng đến để đạt được điều đó, thật ra thì không bao giờ rất rõ ràng và được định rõ như bất kỳ cuộc thảo luận chung nào về những nan đề nầy rất có thể có ý kiến đưra ra; và vì vậy, bởi vì người dân buộc phải đồng ý không chỉ với mục đích tối hậu mà còn với những quan điểm về các sự kiện và những điều có thể xảy ra mà các biện pháp riêng biệt được đặt nền tảng vào đó.

* * * * *

Chúng ta đã từng nhìn thấy rằng sự thỏa thuận trên toàn bộ điều lệ đạo đức đó, mà qua đó một hệ thống của những giá trị bao quát tất cả vốn tiềm ẩn trong một kế hoạch kinh tế, không tồn tại trong một xã hội tự do nhưng sẽ phải được tạo ra.

p160

Nhưng chúng ta không được giả định rằng những nhà hoạch định sẽ tìm cách giải quyết công việc của mình nhận thức được nhu cầu đó, hoặc rằng, ngay cả khi giả như ông ta có nhận thức về điều đó, điều có thể có sẽ là tạo ra một điều lệ bao hàm như thế trước đó. Ông ta chỉ phát hiện ra những cuộc xung đột giữa nhu cầu khác biệt khi ông ta lần mò theo, và phải làm những quyết định của mình như là điều cần thiết phát sinh. Điều lệ về những giá trị hướng dẫn những quyết định của ông ta không tồn tại trong sự trừu tượng trước khi những quyết định phải được thực hiện, điều đó phải được tạo ra với những quyết định cụ thể. Chúng ta cũng đã từng thấy sự bất lực nầy như thế nào để tách biệt nan đề chung chung về những giá trị khỏi những quyết định cụ thể khiến cho không thể nào một cơ chế dân chủ, trong khi không thể quyết định các chi tiết kỹ thuật của một kế hoạch, tuy thế sẽ định đoạt những giá trị hướng dẫn nó.
Và trong khi cơ quan có thẩm quyền lên kế hoạch sẽ liên tục phải quyết định những vấn đề trên những lý lẽ phải trái về điều mà không có những quy tắc đạo đức chắc chắn nào tồn tại, nó sẽ phải chứng minh những quyết định của nó là đúng đối với những người dân –hoặc, ít nhất, bằng cách nào đó phải làm cho mọi người tin rằng chúng là những quyết định đúng đắn. Mặc dù những người chịu trách nhiệm cho một quyết định có thể đã được hướng dẫn bởi một thành kiến không hơn không kém, một nguyên tắc hướng dẫn nào đó sẽ phải được công khai tuyên bố nếu cộng đồng không chỉ đơn thuần phải quy phục một cách thụ động mà còn tích cực hỗ trợ biện pháp. Việc cần đến để hợp lý hóa những điều ưu thích và không thích mà qua đó, vì thiếu bất cứ điều gì khác, phải hướng dẫn nhà hoạch định trong phần lớn những quyết định của mình, và sự cần thiết của việc nêu ra những lý do của mình trong một hình thức mà chúng sẽ thu hút nhiều người như có thể, sẽ buộc ông ta phải xây dựng những lý thuyết, có nghĩa là những khẳng định về những kết nối giữa các sự kiện thực tế, mà sau đó trở thành một phần không thể thiếu của học thuyết cai trị. Quá trình nầy của việc tạo ra một “chuyện hoang tưởng” để biện minh cho hành động của mình không cần có ý thức. Nhà lãnh đạo chuyên chế có thể được hướng dẫn chỉ đơn thuần bởi việc không thích theo bản năng về việc nêu ra những điều mà ông ta đã tìm thấy và sự khao khát tạo ra một trật tự thứ bậc mới vốn phù hợp tốt hơn đối với quan niệm của ông ta về lý lẽ phải trái, ông ta có thể chỉ đơn thuần biết rằng ông ta không ưu những người Do Thái vốn là những người dường như là rất thành công trong một trật tự vốn không cung cấp một chổ đáng thỏa mãn trong lòng đối với ông ta, và rằng ông ta yêu thích và ngưỡng mộ người đàn ông tóc vàng cao ráo, một hình ảnh mang nét “quý tộc” trong những cuốn tiểu thuyết thuộc thời niên thiếu của mình.

p161

Vì vậy, ông ta sẽ dễ dàng ôm chầm lấy những lý thuyết mà qua đó dường như cung cấp sự biện minh hợp lý cho những định kiến mà ông ta chia sẻ với nhiều người trong số những người bạn của mình. Như thế, một lý thuyết mang tính cách khoa học giả mạo trở thành một phần của giáo điều chính thức mà ở một mức độ lớn hơn hay ít hơn định hướng hành động của mọi người. Hoặc cái ghét lan rộng đối với sự văn minh về kỹ nghệ và khát vọng lãng mạn cho sự sống đất nước, cùng với ý tưởng (có thể là sai lầm) về giá trị đặc biệt của những người dân trong nước như là những người lính, cung cấp nền tảng cho một huyền thoại khác: Blut und Boden (máu và đất), thể hiện không chỉ đơn thuần là những giá trị tối hậu mà là cả một loạt những niềm tin về nguyên nhân và hậu quả mà một khi chúng đã trở thành những lý tưởng định hướng hoạt động của toàn bộ cộng đồng, không được phép ngờ vực đặt câu hỏi.
Việc cần đến những học thuyết chính thức như thế như là một công cụ của việc định hướng, tập hợp những nỗ lực của người dân đã được nhìn thấy trước một cách rõ ràng bởi những nhà lý thuyết khác nhau của hệ thống độc tài toàn trị. Câu nói “những lời nói dối văn nhã” của triết gia Hy Lạp cỗ đại, Plato, và câu nói “những chuyện hoang tưởng” của nhà triết học Mác-xít, Sorel phục vụ cùng một mục đích như là học thuyết phân biệt chủng tộc của Đức Quốc xã hoặc lý thuyết về một nhà nước phối hợp của Mussolini. Tất cả chúng nhất thiết được dựa trên những quan điểm riêng biệt về những sự kiện thực tế mà sau nầy được trau chuốt trở thành những lý thuyết mang tính khoa học nhằm mục đích biện minh cho một định kiến.

(Plato là nhà triết học Hy Lạp cỗ đại, nhà toán học, cũng là học
trò của nhà triết học Socrates lúc bấy giờ. Câu nói nổi tiếng của
ông ta là “Topus Uranus” có nghĩa là “Cái thực tế không được
chứa trong một thế giới thực thể, vật chất, nhưng nằm ngoài nó,
trong một thế giới của những tư tưởng”)

(Socrates, nhà triết học lừng danh của Hy Lạp cỗ đại với
nhiều câu nói nổi tiếng như câu trên: “Tôi là thực sự là
một người quá thành thật không thể trở thành một nhà
chính trị và phải sống với điều đó”)

(Georges Eugène Sorel (1847–1922), là nhà triết học Pháp thiên về
Mác-xít và là nhà lý thuyết về phong trào công đoàn cách mạng và
phát sinh ra chủ thuyết Sorel là tư tưởng của phong trào đó)

* * * * *

Cách hiệu quả nhất về việc khiến cho mọi người chấp nhận sự hợp lệ của những giá trị mà họ phải phục vụ, là thuyết phục họ rằng chúng thực sự giống như những thứ mà họ, hoặc ít nhất là những người giỏi nhất trong số họ, đã luôn luôn bám lấy, nhưng những giá trị đó không được hiểu biết một cách đúng đúng đắn hoặc được nhìn nhận trước đây. Những người dân được khiến cho chuyển tải lòng trung thành của mình từ những vị thần xa xưa đến những vị thần mới lấy cớ rằng những vị thần mới thực sự là những gì mà bản năng đúng đắn của họ đã luôn luôn nói với họ ngoại trừ những gì trước đây họ chỉ lờ mờ nhìn thấy. Và kỹ thuật hiệu quả nhất cho mục đích nầy là sử dụng những từ ngữ cũ nhưng thay đổi ý nghĩa của chúng. Một số ít đặc điểm của chế độ độc tài toàn trị cùng một lúc rất dễ gây lầm lẫn cho người quan sát bề ngoài nhưng tuy thế rất đặc trưng cho toàn bộ khuynh hướng trí thức như là việc xuyên tạc ngôn ngữ hoàn toàn, một sự thay đổi về ý nghĩa của những từ ngữ mà những lý tưởng của những chế độ mới được thể hiện qua chúng.

p162

Từ ngữ phải gánh chịu tồi tệ nhất trên phương diện nầy, dĩ nhiên, là từ ngữ tự do. Chính là một từ ngữ được sử dụng một cách tự do trong những quốc gia chuyên chế như ở nơi khác. Quả thật, nó có thể gần như được nói rằng –và nó sẽ phục vụ như một lời cảnh cáo cho chúng ta phải cảnh giác chống lại tất cả những người xúi giục vốn là những người hứa hẹn với chúng ta về “Những tự do Mới cho Ngày xưa”1— bất cứ nơi nào sự tự do như chúng ta hiểu về nó, đã bị phá hủy, điều nầy hầu như luôn luôn được thực hiện với danh nghĩa quyền tự do mới nào đó được hứa hẹn cho những người dân. Ngay cả trong số chúng ta, chúng ta có “những nhà hoạch định cho quyền tự do” vốn là những người hứa hẹn với chúng ta “quyền tự do tập thể cho một nhóm”, bản chất của điều mà có thể được thu thập từ sự kiện thực tế mà người ủng hộ của nó tìm thấy cần thiết bảo đảm chúng ta rằng “theo tự nhiên sự ra đời của quyền tự do được hoạch định không có nghĩa là tất cả [theo như nguyên văn] những hình thức trước đó của quyền tự do phải bị bãi bỏ”. Tiến sĩ Karl Mannheim, mà từ tác phẩm của ông ta,2 những câu văn nầy được lấy ra, ít nhất là cảnh cáo chúng ta rằng “một quan niệm về quyền tự do có mô hình theo thời đại trước đó là một trở ngại cho bất kỳ sự hiểu biết thực sự nào về một nan đề”. Nhưng cách sử dụng của ông ta cho từ ngữ tự do thì lầm lạc như chính nó ở trong miệng của những nhà chính trị độc đoán. Giống như quyền tự do của họ, “quyền tự do tập thể” mà ông ta đưa ra cho chúng ta, không phải là quyền tự do của những thành viên của xã hội nhưng là quyền tự do vô giới hạn của nhà hoạch định muốn làm gì với xã hội cũng được.3 Chính là điều lầm lẫn về quyền tự do với quyền lực được mang đến sức mạnh đến mức tột cùng.
Trong trường hợp riêng biệt nầy, việc dùng sai ý nghĩa của một từ ngữ, dĩ nhiên, đã được chuẩn bị kỹ lưởng bởi một hàng dài gồm những triết gia Đức, và không ít nhất bởi nhiều người trong số những lý thuyết của chủ nghĩa xã hội.
=============
1 Đây là tựa đề của một tác phẩm gần đây của nhà sử học người Mỹ, C.L. Becker, “New Liberties for Old”.

2 Tác phẩm “Man and Society in an Age of Reconstruction” (“Con người và Xã hội trong một Kỷ nguyên Tái kiến thiết”), p. 377.

3 Ngài Peter Drucker (“The End of Economic Man” (“Sự chấm dứt của nhà Kinh tế”), p. 74) quan sát một cách chính xác rằng “càng có ít quyền tự do, càng có cuộc nói chuyện về ‘quyền tự do mới.’ Tuy quyền tự do mới nầy chỉ đơn thuần là một từ ngữ vốn bao gồm sự mâu thuẫn chính xác của tất cả thứ mà châu Âu từng được hiểu qua quyền tự do… Quyền tự do mới vốn được rao giảng ở châu Âu, tuy nhiên, là quyền của đa số chống lại một cá nhân”.
=============

p163

Nhưng quyền tự do hay sự tự do không hẳn là những từ ngữ duy nhất mà ý nghĩa của chúng đã từng bị thay đổi trở thành những thứ đối nghịch của chúng hầu làm cho chúng phục vụ như là những công cụ của việc tuyên truyền cho chế độ độc tài toàn trị. Chúng ta đã nhìn thấy qua sự giống nhau như thế nào ngẫu nhiên xảy ra đối với công lý và pháp luật, lẽ phải và sự bình đẳng. Danh sách đã có thể được mở rộng cho đến khi nó bao gồm hầu như tất cả những thuật ngữ về đạo đức và chính trị trong cách sử dụng chung chung.
Nếu một người giả như không từng chính mình trải nghiệm qua tiến trình nầy, đó là điều khó khăn để đánh giá mức độ quan trọng của sự thay đổi nầy về ý nghĩa của những từ ngữ, sự lầm lẫn mà nó gây ra, và những rào cản đối với bất kỳ cuộc thảo luận hợp lý nào mà nó tạo ra. Điều đó phải được nhìn thấy để được hiểu như thế nào, nếu một người trong số hai anh em ôm lấy lòng trung thành mới, sau một thời gian ngắn anh ta dường như nói bằng một ngôn ngữ khác mà qua đó khiến cho bất kỳ sự giao tiếp thực sự nào giữa họ là điều không thể có. Và sự lầm lẫn trở nên tồi tệ hơn bởi vì sự thay đổi nầy về ý nghĩa của những từ ngữ mô tả những lý tưởng chính trị không phải là một sự kiện đơn lẻ mà là một tiến trình liên tục, một kỹ thuật được dùng đến mốt cách có ý thức hay vô thức nhằm định hướng những người dân. Dần dần, khi tiến trình nầy tiếp tục, toàn bộ ngôn ngữ ngày càng bị cưỡng đoạt, những từ ngữ trở thành những cái vỏ rỗng bị rút mất bất kỳ ý nghĩa xác định nào, khả năng bao hàm nghĩa một điều như là đối nghịch của nó và được sử dụng chỉ riêng cho những sự liên kết về mặt xúc cảm vốn vẫn bám chặt vào chúng.

* * * * *

Đó là điều không khó khi tước đoạt phần lớn tư tưởng độc lập. Nhưng nhóm thiểu số vốn là những người sẽ giữ lại khuynh hướng chỉ trích, cũng phải chịu im lặng. Chúng ta đã nhìn thấy qua lý do tại sao việc cưỡng bức không thể bị hạn chế trong phạm vi chấp nhận điều lệ đạo lý được đặt dưới một kế hoạch theo điều mà tất cả hoạt động xã hội được định hướng. Vì nhiều phần của điều lệ nầy sẽ không bao giờ được tuyên bố một cách rõ ràng, vì nhiều phần của hệ thống mức độ hướng dẫn về những giá trị sẽ chỉ tồn tại một cách ngấm ngầm trong một kế hoạch, tự bản thân kế hoạch trong mỗi chi tiết, thật ra là mỗi hành động của chính phủ, phải trở thành bất khả xâm phạm và miễn khỏi những lời phê bình. Nếu những người dân buộc phải hỗ trợ nỗ lực chung mà không do dự, họ ắt hẳn được thuyết phục rằng không chỉ mục đích cuối cùng được nhắm đến mà còn là những phương cách được chọn lựa là những cách đúng.

p164

Một giáo điều chính thức, mà sự gắn kết phải được thúc ép, do đó sẽ bao gồm tất cả những quan điểm về các sự kiện thực tế mà kế hoạch được đặt nền tảng vào. Nhnữg lời phê bình công khai hoặc thậm chí những bày tỏ về sự nghi hoặc phải bị đè bẹp bởi vì chúng có khuynh hướng làm suy yếu sự hỗ trợ của công chúng. Như bài tường trình của ông Webbs về vị thế trong mỗi tổ chức kinh doanh của nước Nga: “Trong khi công việc đang tiến hành, bất kỳ biểu hiện công khai nào về sự nghi ngờ, hoặc thậm chí lo sợ rằng kế hoạch sẽ không thành công, là một hành động không trung thành và thậm chí là sự phản bội bởi vì những ảnh hưởng có thể có của nó trên ý muốn và trên những nỗ lực của phần còn lại của ban nhân viên”. 1 Khi sự nghi ngờ hoặc nổi lo sợ bày tỏ những lo ngại không phải là sự thành công của một tổ chức kinh doanh riêng biệt nhưng của một kế hoạch toàn diện về xã hội, thậm chí nó phải được xem như là việc phá hoại hơn.
Những sự kiện thực tế và những lý thuyết vì thế phải trở thành đối tượng của một học thuyết chính thức không kém hơn những quan điểm về mặt những giá trị. Và toàn bộ công cụ cho việc phổ biến kiến thức, những trường học và báo chí, máy thu thanh và điện ảnh, sẽ được sử dụng một cách độc quyền để lan truyền những quan điểm đó, cho dù là đúng hay sai, vốn sẽ làm mạnh mẽ hơn niềm tin vào sự đúng đắn của những quyết định được chọn lấy bởi chính quyền; và tất cả thông tin vốn có thể gây ra sự nghi ngờ và do dự sẽ được giữ lại. Một ảnh hưởng có thể xảy ra trên sự trung thành của người dân đối với hệ thống trở thành một tiêu chuẩn quan trọng duy nhất cho việc quyết định liệu là một mẩu thông tin riêng biệt sẽ được công bố, ỉm đi. Tình hình trong một nhà nước độc tài toàn trị thì vĩnh viễn giống nhau và trong tất cả các lãnh vực cũng tương tự điều mà tình huống ở nơi khác qua một số lãnh vực trong thời chiến tranh. Mọi thứ vốn có thể gây ra sự nghi ngờ về sự khôn ngoan của chính phủ hoặc tạo ra sự bất mãn, sẽ được giấu kín khỏi những người dân. Nền tảng của những so sánh không thuận lợi những điều kiện ở nơi khác, kiến thức về những lựa chọn thay thế khác có thể có cho chiều hướng thực sự được chọn lấy, thông tin mà có thể đưa ra sự thất bại trên phần của chính phủ cố gắng giữ trọn những lời hứa của nó hoặc lợi dụng những cơ hội để cải thiện hoàn cảnh, tất cả sẽ bị ỉm đi. Bởi thế, không có một lãnh vực nào nơi mà sự kiểm soát thông tin có hệ thống sẽ không được thực hành và sự đồng nhất của những quan điểm không bị thúc ép.
=============
1 S. và B. Webb, tác phẩm “Soviet Communism” (“Chủ nghĩa Cộng sản Liên Xô”), p. 1038.
=============

p165

Điều nầy áp dụng ngay cả vào những lãnh vực rõ ràng là xa rời nhất khỏi bất kỳ những lợi ích chính trị nào, và riêng biệt là đối với tất cả lãnh vực khoa học, ngay cả những gì trừu tượng nhất. Mà qua đó trong những khuôn khổ kỹ luật đối phó trực tiếp với những vấn đề con người và vì vậy gây ảnh hưởng trực tiếp nhất đến những quan điểm chính trị, chẳng hạn như là lịch sử, pháp luật, hoặc kinh tế, việc tìm kiếm bất vụ lợi cho sự thật không thể được cho phép trong một hệ thống độc tài toàn trị, và sự xác minh của những quan điểm chính thức trở thành đối tượng duy nhất, dễ dàng được nhìn thấy và đã được xác nhận rất nhiều bằng kinh nghiệm. Những khuôn khổ kỹ luật nầy quả thật có ở tất cả các quốc gia chuyên chế, trở thành những nhà máy có năng suất nhất của những chuyện hoang tưởng đích thực mà các nhà lãnh đạo sử dụng để hướng dẫn tâm trí và ý chí của những chủ thể của họ. Không đáng ngạc nhiên là trong những lãnh vực nầy thậm chí việc giả vờ là họ tìm kiếm sự thật, bị bỏ rơi và những người có thẩm quyền quyết định những học thuyết nào phải được giảng dạy và xuất bản.
Sự kiểm soát độc đoán về quan điểm, tuy nhiên, cũng mở rộng đến những đối tượng mà lúc đầu dường như không đáng chú ý về mặt chính trị. Đôi khi, đó là điều khó khăn để giải thích tại sao những học thuyết riêng biệt nên bị cấm đoán một cách chính thức hoặc tại sao những học thuyết khác nên được khuyến khích, và điều tò mò là những cái thích và không thích rõ ràng hơi tương tự như trong những hệ thống độc tài toàn trị khác biệt. Riêng biệt là, tất cả chúng dường như có chung một điểm không thích dữ dội về những hình thức trừu tượng hơn của tư tưởng –điềm không thích cũng được cho thấy một cách đặc trưng bởi phần nhiều người những người theo chủ nghĩa tập thể trong số những nhà khoa học của chúng ta. Cho dù thuyết tương đối (i.e. thuyết tương đối của nhà vật lý học Albert Einstein) được tiêu biểu như là một “cuộc tấn công của dân Do Thái vào nền tảng Cơ đốc giáo và vật lý học Bắc Âu” hay bị phản đối bởi vì nó đang “trong tình trạng xung đột với duy vật biện chứng và chủ nghĩa giáo điều Mác-xít” cuối cùng đi đến cùng một điều rất nhiều giống nhau. Hoặc nó cũng không tạo nên nhiều khác biệt cho dù những định lý chắc chắn về toán học thống kê bị tấn công bởi vì chúng hình thành “một phần của cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng học và là một sản phẩm của vai trò lịch sử về toán học như là đầy tớ của giai cấp tư sản”, hoặc cho dù toàn bộ chủ đề bị lên án bởi vì “nó không cung cấp một bảo đảm nào rằng nó sẽ phục vụ lợi ích của những người dân”.

p166

Dường như là toán học thuần túy thì không kém là một nạn nhân và ngay cả việc bám giữ những quan điểm riêng biệt về bản chất của sự liên tục có thể được gán cho là “những thành kiến kiểu tư sản.” Theo vợ chồng họ Webbs, tạp chí Journal cho Khoa học Tự nhiên về chủ nghĩa Mác-Lênin có những câu phô trương như sau: “Chúng ta đại diện cho Đảng trong Toán học. Chúng ta đại diện cho sự thuần khiết của lý thuyết Mác-xít–Lêni-nít trong phẫu thuật”. Tình hình có vẻ là rất tương tự như ở Đức. Tạp chí Journal của Hiệp hội Quốc xã của những nhà Toán học thì đầy “một đảng phái trong toán học”, và một trong những nhà vật lý nổi tiếng nhất của Đức, Lennard, người đoạt giải thưởng Nobel, đã tổng kết tác phẩm để đời của mình dưới tựa đề “German Physics” (“Vật lý học của Đức”) trong Bốn Tập sách !

(Albert Einstein (1879–1955), là nhà vật lý học về lý thuyết, gốc Do
Thái, được sinh trưởng ở Đức trong số những dòng họ lâu đời ở đó
(được gọi là Ashkenazim). Ông ta di cư sang Hoa Kỳ vào năm 1933
khi Hitler lên nắm chính quyền. Mặc dù là người ủng hộ xã hội chủ
nghĩa, và việc hoạch định, ông ta cũng cảnh cáo về giới quan liêu có
tất cả quyền lực trong xã hội đó, và điều rất quan trọng là xã hội đó
phải bảo vệ quyền hạn của mỗi cá nhân. Ông ta không phải là một
Mác-xít hay là người vô thần đứng về phía những người cộng sản)

(Philipp Eduard Anton von Lenard (1862–1947), là nhà vật lý Đức
nổi tiếng, từng đoạt giải thưởng Nobel về vật lý học (1905) như
Albert Einstein (1921). Ông ta cũng là người đề xướng tích cực về
tư tưởng học Đức Quốc xã)

Điều đó hoàn toàn phù hợp với toàn bộ tinh thần của chủ nghĩa độc tài toàn trị mà nó lên án bất kỳ hoạt động nào của con người được thực hiện vì lợi ích của riêng mình và không có một mục đích thầm kín nào. Khoa học vị khoa học, nghệ thuật vị nghệ thuật, đều đáng ghê tởm đối với đảng Đức Quốc xã, những nhà trí thức xã hội chủ nghĩa của chúng ta, và những người cộng sản. Mọi hoạt động phải thu được sự biện minh của nó từ một mục đích xã hội có chủ ý. Hẳn là không có một hoạt động nào tự phát, không được hướng dẫn, bởi vì nó có thể tạo ra những kết quả vốn không thể lường trước được và vì điều mà một kế hoạch không đưa ra. Nó có thể sản sinh ra một cái gì đó mới mẻ, chưa mơ tưởng đến trong triết lý của nhà hoạch định. Một nguyên tắc mở rộng ngay cả đến những trò chơi và những trò tiêu khiển. Tôi để lại điều đó cho đọc giả đoán về việc liệu điều đó ở Đức hay ở Nga, nơi mà những tay chơi cờ vua chính thức hô hào rằng “chúng ta phải hoàn thành một lần cho xong với tính chất trung lập của cờ vua. Chúng ta phải lên án một lần cho xong tất các công thức ‘cờ vua vì lợi ích của cờ vua’ giống như công thức ‘nghệ thuật vị nghệ thuật’”.
Khó thể tin được như một số trong những phút lầm lạc nầy có thể hiện ra, chúng ta vì thế cần cẩn thận không gại bỏ họ đi như những sản phẩm phụ chỉ đơn thuần do ngẫu nhiên mà qua đó không liên quan gì đến đặc tính thiết yếu của một hệ thống có kế hoạch hay độc đoán. Họ không phải là thế.

p167

Họ là một kết quả trực tiếp của sự khao khát giống nhau muốn xem mọi thứ được định hướng bởi “một khái niệm đồng nhất của một khối”, của sự cần thiết phải duy trì bằng mọi giá những quan điểm trong việc phục vụ về điều mà những người dân được đòi hỏi phải chịu những hy sinh liên tục, và của ý tưởng chung chung rằng kiến thức và những niềm tin của người dân là một công cụ được sử dụng cho một mục đích duy nhất. Một khi khoa học phải phục vụ, không phải cho sự thật, nhưng là cho những lợi ích của tầng lớp, một cộng đồng, hoặc một nhà nước, công việc duy nhất của cuộc bàn cãi và thảo luận là nhằm bào chữa và truyền rộng xa hơn nữa những niềm tin mà qua đó toàn bộ cuộc sống của cộng đồng được định hướng theo. Như vị Bộ trưởng Tư pháp Đức Quốc xã đã từng giải thích, câu hỏi mà mọi lý thuyết khoa học mới phải tự hỏi chính nó là: “Có phải chăng tôi phục vụ cho Chủ nghĩa Quốc xã vì lợi ích to lớn nhất của tất cả mọi người ?”
Từ ngữ sự thật chính nó không còn có ý nghĩa cũ của nó. Nó không còn mô tả về một cái gì đó được tìm thấy, với lương tâm cá nhân là vị thẩm phán duy nhất của việc liệu là trong bất kỳ thí dụ riêng biệt nào, bằng chứng (hoặc thế đứng của những người tuyên bố điều đó) có bảo đảm cho một niềm tin không; từ ngữ trở thành một cái gì đó được đặt ra bởi chính quyền, một cái gì đó vốn phải được tin tưởng vào lợi ích của sự đồng nhất nỗ lực có tổ chức, và vốn có thể phải được thay đổi như là một nhu cầu cấp bách của nỗ lực có tổ chức nầy đòi hỏi nó.
Bầu không khí trí thức chung chung mà qua đó điều nầy tạo ra, tinh thần của tính hoài nghi hoàn toàn khi xem sự thật mà nó sinh ra, sự mất mát tri thức, ngay cả ý nghĩa của sự thật, sự biến mất tinh thần tìm kiếm độc lập cho sự thật và niềm tin vào sức mạnh của sức thuyết phục hữu lý, cách thức mà những khác biệt về quan điểm trong mọi ngõ ngách của kiến thức trở thành những vấn đề được quyết định bởi chính quyền, là tất cả những thứ mà người ta phải trải nghiệm riêng tư –không một sự mô tả ngắn gọn nào có thể truyền đạt mức độ của chúng. Có lẽ là một sự kiện thực tế đáng báo động nhất mà qua đó sự khinh miệt đối với sự tự do tri thức không phải là một điều vốn chỉ xuất hiện một khi hệ thống độc đoán được thiết lập, ngoại trừ một hệ thống vốn có thể được tìm thấy ở mọi nơi giữa giới trí thức vốn là những người đã từng ôm lấy lòng tin theo kiểu tập thể chủ nghĩa và vốn là những người được tung hô như là những nhà lãnh đạo của giới trí thức thậm chí ở các quốc gia vẫn còn dưới chế độ tự do. Không phải chỉ là ngay cả sự đàn áp tồi tệ nhất được tha thứ nếu điều đó được nhúng tay vào nhân danh chủ nghĩa xã hội, và việc tạo ra một hệ thống độc tài toàn trị được công khai bênh vực bởi những người vốn giả vờ lên tiếng nói cho những nhà khoa học của các quốc gia tự do; việc không dung thứ được tán dương rất công khai.

p168

Có phải chăng gần đây chúng ta đã không nhìn thấy một cây viết người Anh về khoa học bảo vệ ngay cả cuộc thẩm tra xâm phạm quyền hạn cá nhân bởi vì theo quan điểm của anh ta đó “là điều có lợi cho khoa học khi nó bảo vệ một tầng lớp đang vươn lên” ?1 Quan điểm nầy, dĩ nhiên, thực tiển là không thể phân biệt được từ những quan điểm vốn đưa đảng Đức Quốc xã đến việc ngược đãi những người của khoa học, việc đốt rụi những sách khoa học, và việc xoá bỏ có hệ thống giới trí thức gồm những người bị xem là đối tượng.

* * * * *

Mong muốn thúc đẩy trên những người một giáo điều vốn được xem như là bổ ích cho họ, dĩ nhiên, không phải là một điều vốn là mới mẻ hay đặc biệt gì đối với thời đại của chúng ta. Mới mẻ, tuy nhiên, là luận điệu mà qua đó nhiều người trong giới trí thức của chúng ta cố gắng biện minh cho những nỗ lực như thế. Không có một quyền tự do tư tưởng thực sự nào trong xã hội của chúng ta, như nó được cho là thế, bởi vì những ý kiến và thị hiếu của quần chúng được uốn nắn bởi sự tuyên truyền, bởi quảng cáo, bởi tấm gương của những tầng lớp thượng lưu, và bởi những yếu tố khác về môi trường mà qua đó chắc chắn thúc đẩy cách suy nghĩ của người dân trở thành những rãnh mòn sâu đậm. Từ điều nầy, có thể kết luận rằng nếu những lý tưởng và thị hiếu của đại đa số người dân luôn luôn được thích nghi bởi những hoàn cảnh mà chúng ta có thể kiểm soát, chúng ta phải sử dụng sức mạnh nầy theo một cách có tính toán để chuyển những suy nghĩ của người dân vào cái gì đó mà chúng ta nghĩ là một chiều hướng đáng mong muốn.
Có lẽ đủ xác thực là đại đa số người dân hiếm có khả năng suy nghĩ một cách độc lập, là trên hầu hết những câu hỏi họ chấp nhận những quan điểm mà họ tìm thấy đã được tạo ra sẵn, và qua đó họ sẽ hài lòng như nhau nếu được sinh ra hoặc dỗ dành trở thành một tập hợp của những niềm tin hoặc một tập hợp khác. Trong bất kỳ xã hội nào, quyền tự do tư tưởng có thể sẽ là thuộc về điều rất quan trọng trực tiếp chỉ đối với một thiểu số nhỏ. Nhưng điều nầy không có nghĩa là bất cứ ai có khả năng, hoặc phải có quyền lực, để chọn lựa những người mà quyền tự do nầy được dành cho họ. Chắc chắn là điều đó không biện minh cho sự giả định của bất kỳ nhóm người nào tuyên bố có quyền quyết định điều gì người ta phải nghĩ hoặc tin.
=============
1 J.G. Crowther, tác phẩm “The Social Relation of Science” (“Mối quan hệ Xã hội của Khoa học”), 1941, p. 333.
=============

p169

Điều đó cho thấy một sự lầm lẫn hoàn toàn về tư tưởng cho thấy rằng, bởi vì dưới bất kỳ loại hệ thống nào, đa số người dân theo sau sự dẫn đầu của ai đó, điều đó không khác biệt gì nếu mọi người phải theo sau cùng sự dẫn dắt. Làm giảm giá trị của quyền tự do tri thức bởi vì đối với mọi người, nó sẽ không bao giờ có nghĩa là cùng một điều có thể có của tư tưởng độc lập, là hoàn toàn bỏ lỡ những lý do vốn cho quyền tự do tri thức cái giá trị của nó. Điều mà cần thiết khiến cho nó phục vụ chức năng của nó như là động lực trước tiên của sự tiến triển trí thức không phải là điều mà mọi người có thể suy nghĩ hay viết bất cứ điều gì, nhưng là điều mà bất kỳ nguyên nhân hoặc ý tưởng nào có thể được tranh luận bởi một người nào đó. Miễn là sự bất đồng chính kiến không bị đàn áp, luôn luôn sẽ có một số người nào đó vốn sẽ đánh dấu hỏi nghi hoặc những ý tưởng đang chế ngự những người đương thời của họ và đặt những ý tưởng mới vào cuộc thử nghiệm của sự tranh luận và tuyên truyền.
Sự tương tác nầy của những cá nhân, qua việc có kiến thức khác biệt và những quan điểm khác nhau, là cái gì đó tạo nên cuộc sống tư tưởng. Sự tăng trưởng của lý trí là một tiến trình xã hội được dựa trên sự tồn tại của những khác biệt như thế. Điều đó có thực chất của nó mà qua đó những kết quả của nó không thể dự đoán được, mà qua đó chúng ta không thể biết được những quan điểm nào sẽ trợ giúp sự tăng trưởng nầy và những quan điểm nào sẽ không –tóm lại, qua đó sự tăng trưởng nầy không thể bị chi phối bởi bất kỳ những quan điểm nào mà hiện thời chúng ta có mà không đồng thời giới hạn nó. “Lên kế hoạch” hoặc “tổ chức” sự tăng trưởng của tâm trí, hoặc, đối với vấn đề đó, sự tiến triển chung chung, là một điều mâu thuẫn trong những thuật ngữ. Ý tưởng mà qua đó tâm trí con người phải kiểm soát “một cách có ý thức” sự phát triển của riêng nó, làm lẫn lộn lý trí cá nhân, mà một mình cá nhân có thể “kiểm soát một cách có ý thức” bất cứ điều gì, với tiến trình giữa cá nhân với nhau vốn là nhờ sự tăng trưởng của nó. Bằng cách cố gắng kiểm soát nó, chúng ta chỉ đơn thuần đang thiết lập phạm vi giới hạn cho sự phát triển của nó và sớm muộn gì hoặc sau đó phải tạo ra một tình trạng trì trệ của tư tưởng và sự suy giảm của lý trí.
Bi kịch của tư tưởng theo kiểu tập thể là trong khi nó bắt đầu tạo ra phần tối cao lý trí, nó kết thúc bằng việc phá hủy lý trí bởi vì nó nhận thức sai tiến trình mà sự tăng trưởng của lý trí phụ thuộc vào.

p170

Điều đó quả thật có thể được nói rằng chính là một nghịch lý của tất cả học thuyết của chủ nghĩa tập thể và nhu cầu của nó cho sự kiểm soát “có ý thức” hay việc hoạch định “có ý thức” mà chúng nhất thiết phải dẫn đến nhu cầu mà tâm trí của một cá nhân nào đó sẽ chế ngự phần tối cao –trong khi chỉ là sự tiếp cận của những người theo chủ nghĩa cá nhân đến hiện tượng xã hội làm cho chúng ta nhận ra những lực siêu cá nhân vốn hướng dẫn sự tăng trưởng của lý trí. Chủ nghĩa cá nhân vì thế là một thái độ khiêm nhường trước tiến trình xã hội nầy và của sự khoan dung đối với những ý kiến khác, và là sự đối nghịch chính xác của sự ngạo mạn tri thức đó vốn nằm tại cội rễ của nhu cầu cho việc định hướng toàn diện tiến trình xã hội.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

15 thoughts on “Chương 11: Phần Cuối của Sự thật

  1. Pingback: Chương 01: Con đường Bỏ hoang |

  2. Pingback: Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng |

  3. Pingback: Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể |

  4. Pingback: Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định |

  5. Pingback: Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ |

  6. Pingback: Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp |

  7. Pingback: Chương 07: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị |

  8. Pingback: Chương 08: Ai làm, ai chịu ? |

  9. Pingback: Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do |

  10. Pingback: Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao |

  11. Pingback: Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã |

  12. Pingback: Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta |

  13. Pingback: Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng |

  14. Pingback: Chương 15 (Hết) : Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế |

  15. Pingback: Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch (Mục Lục & Lời Giới thiệu) |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s