Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao

p138

Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao

“Tất cả quyền lực đều đồi bại, quyền lực
tuyệt đối thối tha một cách tuyệt đối.”

Lord Acton

Bây giờ chúng ta phải khảo sát một niềm tin từ điều mà nhiều người vốn xem sự ra đời của chủ nghĩa độc tài toàn trị như là lời chia buồn xuất phát ra không thể tránh được và điều mà làm suy yếu sức một cách nghiêm trọng sự đề kháng của nhiều người khác vốn là những người sẽ chống đối nó với tất cả sức mạnh của họ nếu họ hoàn toàn hiểu rõ bản chất của nó. Chính là niềm tin rằng những nét nổi bật đáng kinh tởm nhất của những chế độ độc tài toàn trị là do tai nạn lịch sử mà chúng được thành lập bởi những nhóm gồm những kẻ đê tiện và côn đồ. Chắc chắn là, điều đó được tranh luận, nếu ở nước Đức, việc sáng tạo một chế độ độc tài toàn trị đã mang dòng họ Streicher và Killinger, Ley và Heine, Himmler và Heydrich (i.e. những dòng họ người Đức nắm quyền tổ chức SS) lên cầm quyền, điều nầy có thể chứng minh sự độc ác của đặc tính người Đức, nhưng không phải là việc nổi lên của những người dân như thế là hậu quả nhất thiết của một hệ thống độc tài toàn trị. Tại sao sẽ không có thể là cùng một loại hệ thống, nếu phải nhất thiết đạt được những mục đích quan trọng cuối cùng, được điều hành bởi những người đứng đắn vì những điều tốt cho cộng đồng như một khối toàn thể ?

(Huy hiệu của tổ chức SS, do chữ Schutzstaffel, là “Đội Bảo vệ” được
đặt ra bởi Heinrich Himmler, người cầm đầu của nó, vào năm 1925,
từ tổ chức an ninh nhỏ nhoi Saal-Schutz, “Bảo vệ Tòa đại sảnh”, thuở
ban đầu vào cuối năm 1920. Tổ chức SS bao gồm tất cả những cơ
quan an ninh, công an, tình báo, phản gián, gián điệp)

p139

Chúng ta không được tự lừa dối chính mình phải tin tưởng rằng tất cả những người tốt phải là những nhà dân chủ hoặc nhất thiết sẽ ước muốn dự phần trong chính phủ. Nhiều người, không chút nghi ngờ gì, muốn thà giao phó chính phủ cho một người nào đó người mà họ nghĩ có đủ khả năng hơn. Mặc dù điều nầy có thể là không khôn ngoan, không có gì là xấu xa hay đáng hổ thẹn trong việc chấp thuận một chế độ độc tài là một chế độ tốt. Chủ nghĩa độc tài toàn trị, chúng ta có thể đã nghe tranh luận về nó rồi, là một hệ thống quyền lực giống y như đối với điều thiện và điều ác, và mục đích mà nó sẽ được sử dụng, phụ thuộc hoàn toàn vào những nhà độc tài. Và những người vốn nghĩ rằng nó không phải là một hệ thống mà chúng ta cần phải lo sợ, nhưng sự nguy hiểm mà nó có thể được điều hành bởi những người xấu, thậm chí có thể bị cám dỗ ngăn chận trước điều nguy hiểm nầy bằng cách nhìn thấy nó được thành lập đúng lúc bởi những người tốt.
Không một chút nghi ngờ gì một tiếng hệ thống “phát-xít” Anh Quốc sẽ rất khác biệt so với những mô hình của Ý hoặc Đức; không một chút nghi ngờ gì nếu quá trình chuyển đổi được gây ra mà không có bạo lực, chúng ta có thể mong đợi để có được một loại nhà lãnh đạo tốt hơn. Và nếu tôi đã phải sống dưới một hệ thống phát-xít, tôi không có chút nghi ngờ rằng tôi thà sống dưới một chế độ được điều hành bởi những người Anh Quốc hơn là dưới một chế độ được cai trị bởi bất cứ người nào khác. Tuy nhiên, tất cả điều nầy không có nghĩa là, được xét đoán trên những tiêu chuẩn hiện tại của chúng ta, một hệ thống phát-xít Anh cuối cùng sẽ chứng minh là rất ư khác biệt hoặc không thể ít chịu được hơn nhiều so với những nguyên bản của nó. Có những lý do mạnh mẽ cho việc tin tưởng rằng điều gì đó đối với chúng ta dường như là những nét nổi bật tồi tệ nhất của những hệ thống độc tài toàn trị đang tồn tại, không phải là ngẫu nhiên do những sản phẩm, nhưng là một hiện tượng mà chủ nghĩa độc tài toàn trị chắc chắn sớm hay muộn gì cũng sẽ sản xuất ra. Chỉ giống như một chính khách dân chủ vốn là người khởi đầu lên kế hoạch đời sống kinh tế chẳng bao lâu sẽ phải đối mặt với một sự lựa chọn thay thế khác của việc hoặc là nắm lấy những quyền lực độc tài hoặc là từ bỏ những kế hoạch của mình, vì vậy một nhà độc tài toàn trị chẳng bao lâu sẽ phải chọn lựa giữa việc bỏ qua những đạo lý thông thường và sự thất bại. Chính là vì lý do nầy mà hành động vô lương tâm và không bị cấm đoán gần như là thành công hơn trong một xã hội đang nghiêng chiều hướng đến chủ nghĩa độc tài toàn trị. Ai không nhìn thấy điều nầy vẫn chưa nắm bắt được toàn bộ chiều rộng của hố sâu vốn tách biệt chủ nghĩa độc tài toàn trị ra khỏi một chế độ tự do, sự khác biệt hoàn toàn giữa toàn bộ không khí đạo đức dưới chủ nghĩa tập thể và nền văn minh Tây phương theo chủ nghĩa cá nhân chủ yếu.

p140

“Cơ bản đạo đức của chủ nghĩa tập thể”, dĩ nhiên, đã từng được tranh cãi nhiều trong quá khứ; nhưng điều mà liên quan đến chúng ta ở đây không phải là cơ bản đạo đức của nó nhưng là những kết quả đạo đức của nó. Những cuộc thảo luận thông thường về những khía cạnh đúng theo nguyên tắc của chủ nghĩa tập thể đề cập đến câu hỏi là liệu chủ nghĩa tập thể có phải là nhu cầu đòi hỏi bởi những niềm tin đạo đức đang tồn tại; hoặc những niềm tin đạo đức gì sẽ được đòi hỏi nếu chủ nghĩa tập thể là nhằm sản xuất ra những kết quả luôn được hy vọng. Tuy nhiên, câu hỏi của chúng ta là những quan niệm đạo đức gì sẽ được sản xuất ra bởi một tổ chức xã hội theo kiểu tập thể, hoặc những quan điểm gì gần như sẽ chế ngự xã hội. Sự tương tác giữa những điều đạo đức và các tổ chức cũng có thể có tác động là những điều đúng theo nguyên tắc được sản xuất ra bởi chủ nghĩa tập thể sẽ hoàn toàn khác biệt so với những lý tưởng đạo đức vốn dẫn đến nhu cầu cho chủ nghĩa tập thể. Trong khi chúng ta có khuynh hướng hay nghĩ rằng, vì khao khát mong muốn cho một hệ thống tập thể nẩy sinh từ những động thái đạo đức cao, một hệ thống như thế phải là nền tảng nuôi dưỡng cho những điều nhân đức cao nhất, thật ra, không có một lý do nào về việc tại sao bất cứ hệ thống nào nhất thiết sẽ phải đề cao những thái độ vốn phục vụ cho mục đích mà nó được trù tính cho. Những quan điểm đạo đức chế ngự sẽ phụ thuộc một phần vào những tài năng vốn sẽ dẫn dắt những cá nhân đến sự thành công trong một hệ thống tập thể hoặc độc tài toàn trị, và một phần vào những yêu cầu của bộ máy độc tài toàn trị.

* * * * *

Đến đây chúng ta phải trở lại một chút nói về vị trí mà đã có trước khi có sự đàn áp của những tổ chức dân chủ và việc sáng tạo chế độ độc tài toàn trị. Trong giai đoạn nầy, chính là sự đòi hỏi chung chung cho hành động nhanh chóng và quyết tâm của chính phủ mà qua đó là yếu tố không chế trong một tình huống, sự bất mãn với quá trình chậm chạm và rườm rà của phương thức dân chủ vốn tạo nên hành động vì lợi ích của hành động cho mục đích. Kế đó, chính là một người hoặc một đảng phái vốn là người dường như mạnh mẽ và đủ cương quyết “để hoàn thành công việc” vốn là người tiến hành sự thu hút to lớn nhất. Chữ “mạnh mẽ” trong ý nghĩa nầy có nghĩa không chỉ đơn thuần là một phần đông qua con số –đó là điều vô hiệu quả của phe đa số ở nghị viện mà người dân cảm thấy bất mãn.

p141

Điều mà họ sẽ tìm kiếm, là một người nào đó với sự hỗ trợ vững chắc như thế nhằm gây cảm hứng cho sự tự tin rằng ông ta có thể thực hiện bất cứ điều gì mà ông ta muốn. Chính là đến lúc nầy mà qua đó loại đảng phái mới, được tổ chức theo những chiều hướng quân sự, bước vào quyền lực.
Ở những quốc gia Trung Âu, những đảng phái xã hội chủ nghĩa đã làm cho quần chúng quen thuộc với những tổ chức chính trị thuộc một đặc tính bán quân sự được trù tính để hấp thu cuộc sống riêng tư của những thành viên nhiều như có thể. Tất cả điều mà được cần đến để cho một nhóm duy nhất quyền lực áp đảo, là nhằm tiến hành cùng một nguyên tắc xa hơn một chút nào đó, nhằm tìm kiếm sức mạnh không phải ở trong những lá phiếu được bảo đảm của những số lượng khổng lồ tại những dịp bầu cử, nhưng trong sự hỗ trợ tuyệt đối và toàn lực của một cơ chế nhỏ hơn nhưng được tổ chức kỹ lưỡng hơn. Cơ hội của việc áp đặt một chế độ độc tài toàn trị trên toàn bộ người dân phụ thuộc vào nhà lãnh đạo, trước tiên thu thập quanh ông ta một nhóm vốn sẵn sàng tự nguyện quy phục nguyên tắc độc tài toàn trị mà họ sẽ áp đặt bằng vũ lực trên những người còn lại.
Mặc dù những đảng phái xã hội chủ nghĩa có sức mạnh để đạt được bất cứ điều gì nếu họ giả như cần phải sử dụng vũ lực, họ miễn cưởng làm như thế. Họ đã đặt ra, mà không biết điều đó, cho chính mình một công việc vốn chỉ là sự tàn nhẫn, sẵn sàng gạt bỏ những rào cản của đạo đức được chấp nhận, có thể thực hiện.
Mà qua đó chủ nghĩa xã hội có thể được đưa vào thực hành chỉ bằng những phương pháp mà hầu hết các nhà xã hội chủ nghĩa không chấp thuận, dĩ nhiên, là một bài học được học hỏi bởi nhiều nhà cải cách xã hội trong quá khứ. Những đảng phái xã hội chủ nghĩa xa xưa bị ngăn cấm bởi những lý tưởng dân chủ của họ, chúng không có sự tàn nhẫn phải có cho việc thực hiện công việc được chọn lựa của họ. Chính là đặc tính mà cả ở Đức và lẫn Ý sự thành công của Chủ nghĩa Phát-xít đã được đến trước bởi sự từ chối của những đảng phái xã hội chủ nghĩa nhận lấy những trách nhiệm của chính phủ. Họ toàn toàn không có ý dùng đến những phương pháp mà chúng đã chỉ ra con đường. Họ vẫn hy vọng cho điều kỳ diệu của một số đông đồng ý trên kế hoạch riêng biệt cho việc tổ chức toàn thể xã hội;

p142

những người khác đã thực sự học hỏi được bài học mà trong một xã hội có kế hoạch, câu hỏi có thể không còn là về điều gì mà đa số người dân đồng ý, nhưng là về một nhóm duy nhất lớn nhất là gì mà những thành viên của nó đồng ý một cách thích đáng làm cho sự điều hành tất cả những công việc được hợp nhất có thể xảy ra; hoặc, nếu không có một nhóm đủ lớn như thế để thực thi những quan điểm của nó tồn tại, làm cách nào nó có thể được tạo ra và ai sẽ thành công trong việc tạo ra nó.
Có ba lý do chính về việc tại sao một nhóm đông đảo và mạnh mẽ như thế với những quan điểm tương đối đồng nhất gần như không được hình thành bởi những người giỏi nhất nhưng đúng hơn là bởi những thành phần tồi tệ nhất của bất kỳ xã hội nào. Theo những tiêu chuẩn của chúng ta, các nguyên tắc mà một nhóm như thế có thể được tuyển chọn, sẽ là gần như hoàn toàn tiêu cực.
Trong trường hợp đầu tiên, có lẽ đó là điều xác thực mà thông thường, trình độ học vấn và trí thông minh của những cá nhân càng trở nên cao hơn, những quan điểm và thị hiếu của họ càng trở nên khác biệt nhiều hơn và cáng ít có khả năng là họ sẽ đồng ý trên một hệ thống phân cấp riêng biệt về những giá trị. Chính là một kết quả tất yếu của điều nầy mà qua đó nếu chúng ta ước muốn tìm thấy một mức độ cao về tính chất đồng nhất và giống nhau của cách nhìn quan điểm, chúng ta phải hạ tầm đến những vùng tiêu chuẩn đạo đức và trí tuệ thấp hơn, nơi mà những bản năng và thị hiếu nguyên thủy và “thông thường” hơn chiếm ưu thế. Điều nầy không có nghĩa là đa số người dân có những tiêu chuẩn đạo đức thấp; nó chỉ đơn thuần có nghĩa là nhóm lớn nhất của những người mà những giá trị của họ rất giống nhau, là những người có những tiêu chuẩn thấp. Đó là, như nó đã là, mẫu số chung thấp nhất vốn hợp nhất một số lượng người lớn nhất. Nếu một nhóm đông đảo được cần đến, đủ mạnh để áp đặt những quan điểm của họ về các giá trị cuộc sống trên tất cả những người còn lại, nó sẽ không bao giờ là gồm những người với những thị hiếu trở nên rất khác biệt và được phát triển cao độ –nó sẽ là gồm những người vốn hình thành một “khối lượng” trong ý nghĩa không xứng của thuật ngữ, tính chất nguyên sơ và độc lập tối thiểu nhất, vốn là những người sẽ có khả năng đặt trọng lượng của những số lượng của họ phía sau những lý tưởng riêng biệt của mình.
Tuy nhiên, nếu một nhà độc tài mai sau phải dựa hoàn toàn vào những người mà những bản năng vốn không phức tạp và nguyên thủy ngẫu nhiên rất giống nhau, số lượng của họ sẽ khó đưa ra một trọng lượng thích đáng cho những cố gắng của mình. Ông ta sẽ phải gia tăng những số lượng của họ bằng cách chuyển đổi thêm trở thành cùng một tín ngưỡng đơn giản.

p143

Đến đây là nguyên tắc tiêu cực thứ hai về sự tuyển chọn: ông ta sẽ có thể để có được sự hỗ trợ của tất cả những người dễ bảo và cả tin, vốn là những người không có những niềm tin mạnh mẽ của riêng mình ngoại trừ sẵn sàng chấp nhận một hệ thống đã được tạo sẵn về những giá trị nếu chỉ cần lải nhải như gõ trống vào tai họ đủ lớn và thường xuyên. Sẽ là những người mà sự mơ hồ và những ý tưởng được hình thành thiếu hoàn hảo của họ dễ dàng bị giao động và những đam mê và cảm xúc của họ sẵn sàng bị khuấy động vốn là những người vì thế sẽ trương phình những địa vị chức vụ của đảng độc tài toàn trị. Chính là trong kết nối với nỗ lực có chủ ý của kẻ mị dân khéo léo nhằm hàn gắn lại với nhau một nhóm hội dính liền chặt chẽ và đồng nhất của những người ủng hộ mà qua đó thành phần tiêu cực thứ ba và có lẽ quan trọng nhất của sự tuyển chọn bước vào. Nó có vẻ là gần như một quy luật tự nhiên của con người vốn dễ dàng hơn cho mọi người đồng ý trên một chương trình tiêu cực, trên sự thù ghét kẻ thù, trên sự ganh tị những người khấm khá hơn, hơn là trên bất kỳ công việc tích cực nào. Sự tương phản giữa “chúng ta” và “họ”, một cuộc chiến đấu thông thường chống lại những người ngoài nhóm, dường như là một thành phẩm thiết yếu trong bất kỳ giáo điều nào vốn sẽ đan kết với nhau một cách chắc chắn thành một nhóm cho hành động chung. Chính vì vậy, nó luôn luôn dùng đến bởi những người vốn tìm kiếm, không chỉ đơn thuần là sự hỗ trợ một chính sách, mà là lòng trung thành không dè dặt của khối quần chúng khổng lồ. Từ quan điểm của họ, nó có một lợi thế to lớn về việc để lại cho họ quyền tự do hành động lớn hơn so với hầu như bất kỳ chương trình tích cực nào. Kẻ thù, cho dù hắn có nội tâm hoặc bề ngoài giống như “người Do Thái” hoặc “phú nông Nga”, có vẻ là một điều kiện tiên quyết không thể thiếu trong kho vũ khí của một nhà lãnh đạo độc tài toàn trị.
Mà qua đó ở Đức, chính là người Do Thái vốn đã trở thành kẻ thù cho đến khi vị trí của anh ta bị chiếm lấy bởi “những tên tài phiệt thống trị”, không kém gì một kết quả của sự oán ghét chống tư bản chủ nghĩa mà toàn bộ phong trào được đặt nền tảng trên đó so với việc tuyển chọn phú nông ở nước Nga. Ở Đức và Áo là, người Do Thái cuối cùng đã được xem như là người đại diện của chủ nghĩa tư bản bởi vì việc không ưu thích theo truyền thống những tầng lớp dân cư rộng lớn do những theo đuổi về thương mại đã để lại những người nầy càng dễ sẵn sàng tham gia vào một nhóm vốn bị loại trừ khỏi những nghề nghiệp càng được xem là cao quý hơn. Đó là một câu chuyện xa xưa về giống người ngoại chủng chỉ được nhận vào những ngành nghề ít được tôn trọng hơn và sau đó vẫn bị thù ghét nhiều hơn do việc thực hành những ngành nghề đó.

p144

Một sự kiện thực tế mà việc chống dân Do Thái và chống chủ nghĩa tư bản của người Đức xuất phát từ cùng một nguồn gốc, thuộc về điều rất quan trọng cho sự hiểu biết về chuyện gì đã từng xảy ra ở đó, nhưng điều nầy hiếm khi được thấu hiểu bởi những người quan sát ngoại quốc.

* * * * *

Nhằm nghiên cứu xu hướng phổ quát của chính sách tập thể để trở thành chủ trương quốc gia như hoàn toàn do điều cần thiết cho việc bảo đảm sự ủng hộ không do dự sẽ là nhằm bỏ qua một khuynh hướng khác và không bỏ qua một yếu tố nào ít quan trọng hơn. Quả thật, điều đó có thể được đặt thành câu hỏi là liệu bất cứ người nào có thể nhận thức trong đầu một cách thực tế về một chương trình tập thể khác hơn trong việc phục vụ một nhóm hạn chế, liệu chủ nghĩa tập thể có thể tồn tại trong bất kỳ hình thức nào khác hơn là hình thức của một loại chủ nghĩa đặc thù nào đó, có thể là chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, hoặc chủ nghĩa giai cấp. Niềm tin trong cộng đồng về những mục đích và lợi ích với đồng bào dường như bao hàm một mức độ to lớn hơn về sự giống nhau về cách nhìn và suy nghĩ so với mức độ tồn tại giữa những người chỉ đơn thuần như là một con người. Nếu những thành viên khác thuộc nhóm của một người nào đó tất cả đều không thể được biết đến một cách riêng tư, họ ít ra là thuộc cùng một loại như những người xung quanh chúng ta, phải suy nghĩ và nói trong cùng một cách và về cùng loại những đề tài, nhằm mục đích là chúng ta có thể gắn bó chặt chẽ với họ. Chủ nghĩa tập thể trên phạm vi thế giới dường như là không thể tưởng tượng –ngoại trừ trong việc phục vụ một tầng lớp nhỏ quyền thế thống trị. Điều đó chắc chắn sẽ nêu lên không chỉ là những nan đề về kỹ thuật mà trên hết là về đạo đức mà không một ai trong số những nhà xã hội chủ nghĩa của chúng ta có ý muốn đối mặt. Nếu giai cấp vô sản Anh được cho phép có một phần chia sẻ ngang nhau về mức thu nhập mà hiện nay được rút ra từ những nguồn vốn của Anh Quốc, và về quyền kiểm soát việc sử dụng những nguồn vốn, bởi vì chúng là kết quả của việc bóc lột, vì vậy trên cùng một nguyên tắc tất cả những người Ấn Độ sẽ được hưởng không chỉ là khoản thu nhập từ mà còn là việc sử dụng một phần chia sẻ theo tỷ lệ của nguồn vốn Anh Quốc. Nhưng những nhà xã hội chủ nghĩa nghiêm túc dự tính gì về sự phân chi ngang nhau những nguồn vốn hiện có trong số những người dân trên thế giới ? Tất cả họ đều xem tiền vốn như là không phải thuộc về nhân loại mà là thuộc về quốc gia –mặc dù ngay cả trong phạm vi quốc gia, một số ít người có thể dám biện hộ rằng những khu vực giàu có hơn chắc sẽ được rút ra một số trong số thứ tiền vốn cần thiết “của họ” nhằm mục đích giúp đỡ những khu vực nghèo hơn.

p145

Điều mà những nhà xã hội chủ nghĩa công bố như là một nhiệm vụ đối với những đồng bào của các quốc gia đang tồn tại, họ chưa sẵn sàng ban cho người ngoại quốc. Từ một quan điểm khư khư về chủ nghĩa tập thể, những yêu sách của các quốc gia “Không-Có” cho sự phân chia mới của thế giới hoàn toàn được chứng minh là đúng –mặc dù, nếu được áp dụng một cách kiên trì, những nước vốn đòi hỏi nó một cách lớn tiếng nhất, sẽ thua thiệt bởi nó hầu hết phần nhiều như những quốc gia giàu có nhất. Họ, vì vậy, cẩn thận không đặt nền tảng những yêu sách của mình trên bất kỳ những nguyên tắc bình đẳng nào ngoại trừ trên khả năng vượt trội giả vờ của họ để tổ chức những dân tộc khác.
Một trong những mâu thuẫn vốn có của triết lý về chủ nghĩa tập thể là, trong khi chính nó được đặt nền tảng trên những đạo đức nhân bản mà qua đó chủ nghĩa cá nhân đã từng phát triển, nó được thực thi chỉ trong phạm vi một nhóm tương đối nhỏ. Chủ nghĩa xã hội đó miễn là nó vẫn còn trên lý thuyết, thuộc về quốc tế chủ nghĩa, trong lúc ngay sau khi nó được đưa vào trong thực dụng, cho dù ở Nga hay ở Đức, nó trở thành dân tộc chủ nghĩa mang tính cách bạo lực, là một trong những lý do tại sao “chủ nghĩa xã hội tự do” như hầu hết mọi người ở thế giới phương Tây tưởng tượng nó hoàn toàn là lý thuyết, trong khi việc thực hành chủ nghĩa xã hội ở mọi nơi là độc đoán.1 Chủ nghĩa tập thể không có chỗ dành cho chủ nghĩa nhân đạo rộng lớn thuộc chủ nghĩa tự do nhưng chỉ dành cho chủ nghĩa đặc thù hẹp của chế độ toàn trị.
Nếu một “cộng đồng” hoặc nhà nước có trước một cá nhân, nếu chúng có những mục đích về tính độc lập và vượt trội của riêng mình đối với những điều đó của những cá nhân, chỉ những cá nhân đó vốn làm việc cho những mục đích giống nhau, có thể được xem như là những thành viên của cộng đồng. Chính là một hệ quả cần thiết của quan điểm nầy mà qua đó một người được tôn trọng chỉ như là một thành viên của nhóm, đó là, chỉ khi nào và đến một chừng mực nào đó anh ta làm việc cho những mục đích chung được nhìn nhận, và qua đó anh ta tìm thấy toàn bộ nhân phẩm của mình chỉ từ tư cách thành viên nầy và không phải chỉ đơn thuần là từ việc trở thành một người nào đó.
=============
1 Xin xem thêm cuộc thảo luận để làm bài học trong bài viết của F. Borkenau hiện thời, “Socialism, National, or International ?” (“Chủ nghĩa xã hội, là Quốc gia hay Quốc tế ?”), năm 1942.
=============

p146

Quả thật, những khái niệm thực sự về nhân loại và do đó về bất kỳ hình thức nào của chủ nghĩa quốc tế hoàn toàn là những sản phẩm của quan điểm thuộc chủ nghĩa cá nhân của một người, và có thể không có một chỗ nào cho những khái niệm đó trong một hệ thống tư tưởng thuộc chủ nghĩa tập thể.1
Xa khỏi một sự kiện thực tế cơ bản mà cộng đồng của chủ nghĩa tập thể có thể mở rộng chỉ xa như sự đồng nhất về mục đích của những cá nhân tồn tại hoặc có thể được tạo ra, nhiều yếu tố góp phần làm mạnh thêm khuynh hướng của chủ nghĩa tập thể để trở thành đặc thù chủ nghĩa và độc quyền. Trong số những điều nầy, một trong những điều quan trọng nhất là sự mong muốn của cá nhân gắn bó chặt chẽ với một nhóm rất thường là một kết quả của cảm giác tự ti, thấp kém hơn, và qua đó vì vậy cái muốn của anh ta sẽ chỉ được thỏa lòng nếu việc trở thành thành viên của nhóm ban cho sự vượt trội nào đó hơn những người ngoài. Đôi khi, một sự kiện rất thực tế là những bản năng bạo lực nầy mà một cá nhân biết rằng anh ta phải kiềm chế chúng trong phạm vi một nhóm, có thể được ban cho một phạm vi tự do trong hành động tập thể đối với những người ngoài, điều đó dường như trở thành một nguyên nhân xui khiến hơn nữa cho việc hòa hợp bản chất cá thể vào trong bản chất của một nhóm. Có một sự thật sâu sắc được thể hiện trong tựa đề cuốn sách “Moral Man and Immoral Society” (“Một người Đạo đức và Một xã hội Vô đạo đức”) của R. Niebuhr –tuy nhiên chúng ta có thể hiểu kịp ông ta không nhiều trong những kết luận mà ông ta rút ra từ luận điểm của mình. Quả thật, như ông ta nói ở nơi nào khác, có “một khuynh hướng đang gia tăng giữa những người hiện đại để tưởng tượng chính mình là có đạo lý bởi vì họ đã giao những thói xấu của mình cho những nhóm càng lúc càng lớn hơn”.2 Hành động thay mặt cho một nhóm có vẻ giải thoát người ta khỏi phần nhiều những hạn chế về mặt đạo đức vốn kiểm soát hành vi của họ như là những cá nhân trong phạm vi một nhóm.
=============
1 Điều đó hoàn toàn nằm trong tinh thần của chủ nghĩa tập thể khi Nietzsche làm cho bậc thầy tôn giáo người Ba Tư, Zarathustra, của ông ta nói rằng :
“Một ngàn mục đích đã từng tồn tại từ trước đến nay, cho một ngàn người tồn tại. Nhưng gông cùm cho một ngàn cái cổ vẫn còn đang thiếu, một mục đích vẫn còn đang thiếu. Nhân loại chưa có một mục đích nào”.
“Nhưng hãy cho tôi biết, tôi cầu nguyện, hỡi người anh em của tôi: nếu mục đích đang thiếu đối với nhân loại, có phải chính nhân loại không đang thiếu ?”

2 Được trích dẫn từ một bài viết của Tiến sĩ Niebuhr do E.H. Carr thu thập, qua tác phẩm “The Twenty Years’ Crisis” (“Cuộc khủng hoảng của Hai mươi Năm”), 1941, p. 203.

(Friedrich Wilhelm Nietzsche (1844–1900), một nhà ngữ văn, nhà
phê bình về văn hóa, nhà thơ, và là nhà triết học Đức gây nhiều tác
động sâu sắc trên những những tư tưởng vào cuối thế kỷ 20 và đầu
thế kỷ 21. Mặc dù tên của ông ta gắn liền với chủ nghĩa quân phiệt
và chủ nghĩa quốc xã của Đức, nhưng đó là người em gái của ông
ta, Elisabeth Förster-Nietzsche, đã cố tình sửa đổi những bản thảo
trong thời gian ông ta lâm trọng bệnh đến nổi mất trí nhớ)

(Zarathustra là bậc thầy người Ba Tư giảng dạy về tôn giáo vào khoảng
thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên (ước chừng 628–551 BC). Friedrich
Wilhelm Nietzsche cũng đã được biết đến với cuốn sách “Thus Spoke
Zarathustra: A Book for All and None” (“Zarathustra đã Nói như thế:
Một cuốn sách Dành cho Tất cả Mọi người và Không riêng ai”) (tiếng
Đức là: “Also sprach Zarathustra: Ein Buch für Alle und Keinen”)

(Karl Paul Reinhold Niebuhr (1892–1971), là nhà đạo lý học, một thức giả
tiếng tăm, nhà phê bình về chính trị và những vấn đề công chúng, và đặc
biệt được biết đến như là nhà thần học Tin Lành người Mỹ gây ảnh hưởng
mạnh mẽ trong triết lý chính trị, và thần học chính trị trên tư duy về chiến
tranh hiện đại mà vài vị Tổng thống Hoa Kỳ, chính khách, học giả, đã
qua và đương thời, thường trích dẫn và nghiên cứu tư tưởng của ông ta)

=============

p147

Một thái độ đối lập rõ ràng mà hầu hết những nhà hoạch định chọn lấy đối với chủ nghĩa quốc tế, được giải thích xa hơn bởi sự kiện thực tế là trong thế giới đang tồn tại, tất cả những tiếp xúc bên ngoài của một nhóm là những trở ngại đối với việc hoạch định hiệu quả của họ trên lãnh vực mà trong đó họ có thể cố thử thực hiện nó. Vì vấy, không phải là điều ngẫu nhiên, như biên tập viên của một trong những cuộc nghiên cứu tập thể bao hàm nhất về việc hoạch định đã phát hiện sự thất vọng của mình, “hầu hết ‘những nhà hoạch định’ là những người theo chủ nghĩa quốc gia, rất xông xáo.”1
Những xu hướng thuộc quốc gia chủ nghĩa và đế quốc chủ nghĩa của những nhà hoạch định thuộc xã hội chủ nghĩa, được nhìn nhận chung chung là tầm thường hơn nhiều, không phải lúc nào cũng rõ ràng như, thí dụ, trong trường hợp của gia đình họ Webbs và một số trong những người theo chủ trương xã hội chủ nghĩa tiệm tiến khác trước đây, với những người mà lòng nhiệt tình cho việc hoạch định được kết hợp một cách rất đặc thù với sự tôn kính cho những khối chính trị lớn, mạnh mẽ và sự khinh miệt đối với một nhà nước nhỏ bé. Nhà sử học Élie Halévy, nói về gia đình họ Webbs khi ông ta biết họ lần đầu tiên cách đây bốn mươi năm, ghi nhận rằng

chủ nghĩa xã hội của họ hoàn toàn là chống tự do. Họ không thù ghét những người thuộc Đảng Bảo thủ Anh Quốc (Tory party), quả thật là họ đã cực kỳ khoan dung đối với những người đó, nhưng họ không có chút thương xót cho chủ nghĩa tự do của nhóm Gladstone (i.e. Đảng tự do được thành lập bởi William Ewart Gladstone, vị Thủ tướng Hoàng gia Anh dười thời Nữ hoàng Victoria). Đó là thời điểm của cuộc Chiến tranh Boer và cả những người tự do tiên tiến và lẫn những người vốn đang khởi đầu hình thành Đảng Lao động, đã có lòng tốt đứng về phía những người Boer (i.e. những người di cư lập nghiệp gốc Hòa Lan ở Nam Phi) chống lại chủ nghĩa đế quốc Anh, nhân danh quyền tự do và lòng nhân đạo. Nhưng vợ chồng Webbs và người bạn của họ, Bernard Shaw, đứng lùi xa bên ngoài. Họ mang tính chất đế quốc phô trương. Nền độc lập của những quốc gia nhỏ có thể có nghĩa là một cái gì đó đối với người theo chủ nghĩa cá nhân tự do. Điều đó không có nghĩa là gì đối với những người theo chủ nghĩa tập thể giống như chính họ. Tôi vẫn có thể nghe Sidney Webb giải thích với tôi rằng tương lai thuộc về những quốc gia có sự quản trị to lớn, nơi mà những quan chức cai trị và cảnh sát giữ trật tự.

=============
1 Findlay MacKenzie (xuất bản), tác phẩm “Planned Society; Yesterday, Today, Tomorrwo: A Symposium” (“Một xã hội có Hoạch định, Hôm qua, Hôm nay, Ngày mai: một Tập bài viết của Nhiều người”), 1937, p. xx.
=============

(Người vợ Beatrice và Sidney James Webb (1859–1947) đang làm việc
với nhau vào năm 1895 dưới thời Vua George V, Anh Quốc, thành lập
Hội Xã hội Chủ nghĩa Tiệm tiến (Fabian Society) và đặt nền tảng cho
Đảng Lao động Anh. Ngày nay, nó lan ra trở thành 15 Hội trên một số
nước, bao gồm Úc, Gia Nả Đại, tuy một số nước khác, thí dụ như Tân
Tây Lan (New Zealand) đã cấm chỉ hoạt động của nó)

(Chiến tranh Boer, còn có nghĩa là cuộc Chiến tranh vì Tự do) bắt đầu trong
khoảng 1880–881 giữa Đế quốc Anh và những người di cư lập nghiệp gốc
Hòa Lan (Boers) ở Nam Phi trong hai tiểu bang độc lập, cộng hòa người Boer
là Orange Free State (Tiểu bang Tự do Da cam) và Cộng hòa Transvaal (một
tỉnh gần cuối Nam Phi). Trở thành cuộc đối đầu quyết liệt hơn trong cuộc chiến
lần thứ hai (1899–1902) giữa hai phe Anh-Úc và Âu-Mỹ, gần như là một thế
chiến, hơn hẳn cuộc chiến giành độc lập của Mỹ trước đây chống lại Anh Quốc)

(Élie Halévy (1870–1937), là nhà triết học và sử học Pháp, nhưng ông
ta thích nghiên cứu về lịch sử Anh Quốc và để lại cuốn sách “Era of
Tyranies” (“Kỷ nguyên của những Hành động Bạo ngược”) và cuốn
“Lịch sử dân Anh Quốc từ 1815 đến 1914” –tạo ảnh hưởng sâu sắc
trong việc ghi chép sử Anh Quốc)

p148

Và ở nơi khác, ông Halévy dẫn chứng Bernard Shaw, vào khoảng cùng thời điểm, lập luận rằng “thế giới thuộc về những nước lớn và mạnh mẽ bởi điều cần thiết; và những nước nhỏ phải nằm trong phạm vi biên giới của chúng hoặc bị nghiền nát không còn sự tồn tại.”1 Tôi đã trích dẫn dài những đoạn văn nầy, mà chúng sẽ không gây ngạc nhiên cho một người nào trong việc mô tả về những tổ tiên của Đức thuộc chủ nghĩa quốc xã, bởi vì chúng cung cấp một thí dụ rất đặc trưng cho sự ca ngợi đó về sức mạnh vốn dễ dàng dẫn dắt từ chủ nghĩa xã hội đến chủ nghĩa quốc gia và gây ảnh hưởng sâu sắc đến những quan điểm về mặt tuân theo những nguyên tắc của tất cả những người theo chủ nghĩa tập thể. Nếu chỉ nói về vấn đề quyền lợi của những quốc gia nhỏ, Marx và Engels khá hơn chút ít so với hầu hết những người khác kiên trì theo chủ nghĩa tập thể, và những quan điểm mà họ đôi khi bày tỏ về những người Czech hoặc Ba Lan, tương tự như những quan điểm của những người theo Chủ nghĩa Quốc xã đương thời.2

* * * * *

Trong khi đối với những nhà triết học nổi tiếng về xã hội theo chủ nghĩa cá nhân của thế kỷ mười chín, đối với một Lord Acton hoặc Jacob Burckhardt, xuống đến những nhà xã hội chủ nghĩa đương thời, giống như Bertrand Russell, vốn là những người đã từng thừa hưởng một truyền thống tự do, chính cái quyền lực đã luôn luôn có vẻ là sự ác độc tinh quái –đối với một người nghiêm khắc theo chủ nghĩa tập thể, chính là một mục đích trong chính nó. Điều đó không phải chỉ là, như ông Russell đã mô tả rõ ràng, việc mong muốn tổ chức đời sống xã hội theo một kế hoạch đồng nhất tự nó phát sinh ra phần lớn là từ sự khao khát cho quyền lực.3 Đó là kết quả của sự kiện thực tế còn hơn thế nữa mà qua đó nhằm mục đích đạt được những mục đích của họ, những người theo chủ nghĩa tập thể phải tạo ra quyền lực –quyền lực trên những người được gắn kết bởi những người khác– có một mức độ to lớn chưa từng được biết đến, và qua đó sự thành công của họ sẽ phụ thuộc vào sự mở rộng đến một mức mà họ đạt được quyền lực như thế.

(Karl Heinrich Marx (1818–1883), là nhà triết học, kinh tế học, xã hội
học, sử học, nhà báo và cũng là nhà xã hội chủ nghĩa cách mạng gốc
Đức, là người tạo ra chủ thuyết Mác-xít gây chấn động đảo ngược trật
tự thế giới và vẫn còn ảnh hưởng đến hôm nay)

(Friedrich Engels (1820–1895), là nhà khoa học xã hội, nhà lý
thuyết chính trị, nhà triết học Đức, chính là cha đẻ của lý thuyết
Mác-xít mà chủ thuyết Phát-xít đặt nền tảng trên đó, cùng với Karl
Heinrich Marx đương thời)

Điều nầy vẫn còn đúng ngay cả mặc dù nhiều người xã hội chủ nghĩa tự do được hướng dẫn trong những cố gắng của họ bởi một ảo tường bi thảm mà qua đó bằng cách kín đáo tước khỏi những cá nhân quyền lực mà họ có trong một hệ thống chủ nghĩa cá nhân, và bằng cách chuyển giao quyền lực nầy cho xã hội, họ theo cách ấy có thể dập tắt sức mạnh.
=============
1 É. Halévy, tác phẩm “L’ere des Tyrannies” (“Kỷ nguyên của những Hành động Bạo ngược”), Paris, 1938, p. 217, và “History of the English People” (“Lịch sử của Dân Anh Quốc”), Lời bạt, vol. I, pp. 105–6.

2 Xin xem thêm K. Marx, tác phẩm “Revolution and Counter-revolution” (“Cuộc cách mạng và cuộc Cách mạng Đối nghịch”), và “Engels’ letter to Marx, May 23, 1851” (“Bức thư của Engels gởi cho Marx, ngày 23 tháng Năm, 1851”).

3 Bertrand Russell, tác phẩm “The Scientific Outlook” (“Tầm nhìn theo Khoa học”), 1931, p. 211.
=============

p149

Điều mà tất cả những người vốn lập luận theo cách nầy bỏ sót là bằng cách tập trung sức mạnh để cho nó có thể được sử dụng trong việc phục vụ cho một kế hoạch duy nhất, nó không chỉ đơn thuần được biến đổi mà được nâng cao vô cùng; là bằng cách hợp nhất trong tay của một cơ chế duy nhất nào đó một quyền lực trước đây được thực thi một cách độc lập bởi nhiều người, một số lượng quyền lực được tạo ra vô cùng lớn hơn bất kỳ quyền lực nào vốn đã tồn tại trước đó, có ảnh hưởng rất sâu rộng nhiều hơn như là hầu như một loại khác biệt. Đó là điều hoàn toàn dối trá khi người ta đôi khi lập luận rằng quyền lực to lớn được thực thi bởi một Ủy ban Hoạch định Trung ương sẽ “không phải là một quyền lực lớn hơn quyền lực được thực thi tập thể bởi những hội đồng giám đốc riêng.”1 Trong một xã hội cạnh tranh, không có ai vốn là người có thể thực thi ngay cả một phần nhỏ quyền lực mà một ủy ban hoạch định xã hội chủ nghĩa có thể có, và nếu không ai có thể sử dụng quyền lực một cách có ý thức, điều đó chỉ là một sự lạm dụng ngôn từ để khẳng định rằng nó tùy thuộc vào tất cả những nhà tư bản được đặt lại với nhau.2 Điều đó chỉ đơn thuần là một trò chơi trên những ngôn từ để nói về “quyền lực được thực thi tập thể bởi những hội đồng giám đốc riêng”, miễn là họ không kết hợp với hành động được phối hợp –mà qua đó, dĩ nhiên, sẽ có nghĩa là sự kết thúc của sự cạnh tranh và việc tạo ra một nền kinh tế theo kế hoạch. Tách ra hoặc phân chia quyền lực nhất thiết sẽ làm giảm đi số lượng tuyệt đối của quyền lực và hệ thống cạnh tranh là một hệ thống duy nhất được trù định nhằm giảm thiểu bằng việc phân quyền được thực thi bởi một người trên một người.
=============
1 B.E. Lippincott, trong Phần giới thiệu của ông ta cho cuốn sách của O. Lange và F.M. Taylor, tác phẩm “On the Economic Theory of Socialism” (“Về lý thuyết Kinh tế của Chủ nghĩa Xã hội”), Minneapolis, 1938, p. 33.

2 Chúng ta không được cho phép chính mình bị lừa gạt bởi sự kiện thực tế là từ ngữ quyền lực, nằm ngoài ý nghĩa mà nó được sử dụng trong sự tương quan đối với con người, nó cũng được sử dụng trong một ý nghĩa khách quan (hoặc đúng hơn là có chút khách quan) cho bất kỳ nguyên nhân quyết định nào. Dĩ nhiên, luôn luôn sẽ có một cái gì đó vốn định đoạt mọi thứ xảy ra, và trong ý nghĩa nầy số lượng quyền lực tồn tại phải luôn luôn giống nhau. Nhưng điều nầy không đúng về sức mạnh được nắm giữ bởi con người một cách có ý thức.
=============

p150

Chúng ta đã từng nhìn thấy trước đây về sự tách biệt những mục tiêu kinh tế và chính trị là sự bảo đảm cần thiết cho quyền tự do cá nhân như thế nào và nó bị tấn công bởi tất cả những người theo chủ nghĩa tập thể như thế nào. Đối với điều nầy, chúng ta phải thêm rằng “việc thay thế chính trị cho quyền lực kinh tế” hiện thời rất được đòi hỏi nhất thiết có nghĩa là việc thay thế quyền lực từ lãnh vực mà không có một lối thoát nào cho một quyền lực vốn luôn luôn bị hạn chế. Điều mà được gọi là quyền lực kinh tế, trong khi nó có thể là một công cụ cưỡng bức, đang nằm trong tay của những cá nhân không bao giờ là quyền lực độc nhất hoặc hoàn toàn, không bao giờ là quyền lực trên toàn bộ đời sống của một người. Nhưng được tập trung như là một công cụ của quyền lực chính trị, nó tạo ra một mức độ phụ thuộc khó mà có thể phân biệt tử sự nô lệ.

* * * * *

Từ hai nét nổi bật chính yếu của mọi hệ thống tập thể, sự cần đến cho một hệ thống của những mục đích được chấp nhận chung của một nhóm, và điều mong vượt trên tất cả để cho một nhóm mức tối đa của quyền lực hầu đạt được những mục đích nầy, làm tăng trưởng một hệ thống đạo đức rõ ràng, mà trên một số điểm có sự trùng hợp và trên những điểm khác tương phản một cách dữ dội với những điểm của chúng ta –nhưng khác biệt với nó trong một điểm mà qua đó tạo nên điều đáng ngờ là liệu chúng ta có thể gọi nó là đạo đức: mà qua đó nó không để cho lương tâm cá nhân tự do áp dụng những quy tắc của riêng nó và thậm chí không biết bất kỳ những quy tắc chung chung nào mà một cá nhân được đòi hỏi hoặc được cho phép quan sát trong tất cả những hoàn cảnh. Điều nầy làm cho đạo đức của những người theo chủ nghĩa tập thể rất khác so với những gì chúng ta đã từng biết đến như là đạo đức mà chúng ta tìm thấy khó khăn khám phá ra bất kỳ nguyên tắc nào trong họ, những nguyên tắc mà tuy họ vẫn có.
Sự khác biệt của nguyên tắc thì giống nhau rất nhiều như nguyên tắc mà chúng ta đã xem xét qua trong sự tương quan với Quy định Pháp luật. Giống như pháp luật chính thức, những quy tắc về đạo lý tuân thủ theo nguyên tắc của chủ nghĩa cá nhân, tuy nhiên, chúng có thể là không rõ ràng trong nhiều khía cạnh, chung chung và tuyệt đối; chúng quy định hoặc cấm đoán kiểu chung chung về hoạt động bất chấp việc cho dù trong một trường hợp riêng biệt, mục đích tối hậu là tốt hay xấu. Gian lận hoặc đánh cắp, hành hạ hoặc phản bội lòng tự tin, bị xem là xấu, bất chấp việc có hay không trong một trường hợp riêng biệt, bất kỳ sự tác hại nào sẽ xảy ra từ điều đó.

p151

Không phải là một sự kiện thực tế mà qua đó trong thí dụ được đưa ra, không ai có thể là tồi tệ hơn đối với điều đó, hoặc cũng không phải là bất kỳ mục đích cao cả nào mà một hành động như thế có thể đã buộc phải nhúng tay vào, có thể làm thay đổi một sự kiện thực tế mà đó là điều xấu. Mặc dù đôi khi chúng ta có thể buộc phải chọn lựa giữa những điều ác khác nhau mà chúng vẫn còn là những tai hại. Nguyên tắc mà mục đích cuối cùng biện minh cho những phương cách, nằm trong đạo lý của chủ nghĩa cá nhân được xem như là sự chối bỏ tất cả những đạo đức. Trong đạo lý của người theo chủ nghĩa tập thể, nó nhất thiết trở thành một quy luật tối cao; theo đúng nghĩa là không có gì mà người kiên trì theo chủ nghĩa tập thể không được chuẩn bị để làm gì nếu nó phục vụ “lợi ích của toàn thể”, bởi vì cái “lợi ích của toàn thể” đối với anh ta là một tiêu chuẩn xét đoán duy nhất của điều gì phải được hoàn tất. Cái lý do của nhà nước, mà trong đó đạo lý của người theo chủ nghĩa tập thể đã tìm thấy sự trình bày rõ ràng nhất của nó, không biết một giới hạn nào khác hơn cái giới hạn được đặt ra bởi tư lợi –tính chất phù hợp của một hành động riêng biệt cho một mục đích trong quan điểm nào đó. Và điều mà cái lý do của nhà nước khẳng định với sự tương quan đến những mối quan hệ giữa các quốc gia khác nhau, áp dụng đồng đều vào những mối quan hệ giữa những cá nhân khác biệt trong phạm vi một nhà nước theo chủ nghĩa tập thể. Có thể là không có một giới hạn nào cho điều gì mà công dân của nó không được chuẩn bị để làm, không có một hành động nào mà lương tâm của anh ta phải ngăn chận anh ta khỏi nhúng tay vào, nếu đó là điều cần thiết cho một mục đích mà chính cộng đồng đã đề ra hoặc những người cấp trên của anh ta ra lệnh cho anh ta phải đạt được.

* * * * *

Trường hợp không có những quy tắc chính thức tuyệt đối trong đạo lý của người theo chủ nghĩa tập thể, dĩ nhiên, không có nghĩa là không có một vài thói quen hữu ích của những cá nhân mà một cộng đồng thuộc chủ nghĩa tập thể sẽ khuyến khích, và của những người khác mà nó sẽ không khuyến khích. Hoàn toàn ngược lại; nó sẽ quan tâm nhiều hơn nữa nơi những thói quen về cách sống của một cá nhân so với một cộng đồng thuộc chủ nghĩa cá nhân. Để trở thành một thành viên hữu ích của một xã hội thuộc chủ nghĩa tập thể đòi hỏi những phẩm chất rất rõ ràng vốn phải được làm mạnh thêm bởi việc thực hành liên tục. Lý do tại sao chúng ta chỉ định những phẩm chất nầy như là “những thói quen hữu ích” và khó có thể mô tả chúng như là những đức tính đạo đức, đó là một cá nhân không bao giờ có thể được phép đặt những quy tắc nầy bên trên bất kỳ những mệnh lệnh đích thực nào, hoặc để cho chúng trở thành một trở ngại cho việc đạt được bất kỳ mục đích nào trong số những mục đích riêng biệt của cộng đồng anh ta.

p152

Chúng chỉ phục vụ, như vẫn là thế, để lấp đầy bất kỳ những lỗ hổng nào vốn đưa ra những mệnh lệnh trực tiếp hoặc sự chỉ định những mục đích riêng biệt có thể bỏ đi, nhưng chúng không bao giờ có thể biện minh cho một cuộc xung đột với ý muốn của chính quyền.
Những khác biệt giữa những đức tính vốn sẽ tiếp tục được coi trọng dưới một hệ thống của chủ nghĩa tập thể và những khác biệt đó vốn sẽ biến mất, được minh họa rõ ràng bằng việc so sánh những đức tính mà qua đó ngay cả những kẻ thù tồi tệ nhất của họ thừa nhận rằng những người Đức, hay đúng hơn là giống dân “Phổ điển hình”, có những đức tính đó, và những đức tính mà họ thường được nghĩ là thiếu và trong đó những người Anh, với sự biện minh nào đó, thường tự hào chính mình như là trội hơn. Một số ít người sẽ phủ nhận rằng những người Đức trên toàn diện thì siêng năng và có kỷ luật, kỹ lưỡng và đầy năng lực đến một mức độ tàn nhẫn, tận tâm và chuyên tâm trong bất kỳ những công việc nào mà họ đảm nhận, rằng họ có một ý thức mạnh mẽ về trật tự, nhiệm vụ, và sự vâng phục nghiêm ngặt đối với người có thẩm quyền, và rằng họ thường thể hiện sự sẵn sàng tuyệt vời để thực hiện những hy sinh cá nhân và lòng can đảm tuyệt vời trong tình trạng nguy hiểm đến thể chất. Tất cả những điều nầy khiến cho người Đức trở thành một công cụ hiệu quả trong việc thực hiện một nhiệm vụ được giao, và theo đó là họ đã được nuôi dưỡng một cách cẩn thận trong một nhà nước Phổ xa xưa và giống dân Phổ mới thống trị Reich (i.e Chế độ). Điều mà một “người Đức điển hình” thường được được nghĩ là thiếu, là những đức tính của người theo chủ nghĩa cá nhân về lòng khoan dung và sự tôn trọng đối với những cá nhân khác và những quan điểm của họ, về tính độc lập của trí tuệ và sự chính trực đó của bản tính và sự sẵn sàng để bảo vệ những niềm tin của riêng mình chống lại một người cấp trên mà chính những người Đức, thường có ý thức rằng họ thiếu điều đó, gọi là Zivi1courage (i.e. những niềm tin), về sự suy xét cho những người yếu đuối và ốm yếu, và về sự khinh miệt và không ưa thích quyền lực khá rõ ràng đó vốn chỉ là một truyền thống xa xưa của sự tự do cá nhân tạo ra. Khiếm khuyết mà họ dường như cũng có trong hầu hết những điều nhỏ nhặt đó tuy là những phẩm chất rất quan trọng vốn tạo thuận lợi cho sự quan hệ giữa những con người trong một xã hội tự do: lòng tốt và một cảm giác hài hước, sự khiêm tốn cá nhân, và sự tôn trọng cho việc riêng tư và niềm tin vào những chủ ý tốt đẹp của một người hàng xóm của mình.

p153

Sau những gì chúng ta đã nói qua, nó sẽ không gây ngạc nhiên rằng những đức tính nầy của người theo chủ nghĩa cá nhân đồng thời là những đức tính xã hội cao độ, những đức tính mà làm cho những giao tiếp trong xã hội trở nên nhịp nhàng và qua đó làm cho sự kiểm soát từ bên trên ít cần thiết hơn, đồng thời khó khăn hơn. Chúng là những đức tính vốn phát triển mạnh mẽ bất cứ khi nào loại xã hội kiểu chủ nghĩa cá nhân hoặc thương mại đã chiếm ưu thế và đang mất tích tùy theo loại xã hội kiểu chủ nghĩa tập thể hoặc quân sự chế ngự trước –một sự khác biệt mà nó là, hoặc đã là, điều đáng chú ý giữa những vùng khác nhau của Đức như vì nó hiện thời đã trở thành những quan điểm vốn chi phối nước Đức và những quan điểm đặc thù của phương Tây. Cho đến lúc gần đây, ít nhất là, ở những miền đó của nước Đức vốn đã từng được tiếp xúc lâu dài nhất với những sức mạnh văn minh về thương mại, những thị trấn thương mại xa xưa của miền nam và tây và những thị trấn Hanse (i.e. là những thị trấn độc lập, tự do về kinh tế qua dịch vụ trao đổi thương mại có từ thời trung cổ khắp Âu châu, đến nay vẫn còn một số thị trấn như thế), những khái niệm đạo đức chung chung có lẽ hơi giống nhiều hơn với những khái niệm của những người Tây phương so với những khái niệm mà người mà hiện thời đã trở nên chế ngự trên toàn nước Đức.
Điều đó, tuy nhiên, có thể là điều bất công cao độ khi xem những số đông của người những dân dưới chủ nghĩa độc tài toàn trị như là không có lòng nhiệt tình về mặt đạo đức vì họ đưa ra sự hỗ trợ không hạn chế cho một hệ thống mà đối với chúng ta có vẻ như là một sự phủ nhận hầu hết những giá trị đạo đức. Đối với đại đa số họ, sự đối nghịch có lẽ là xác thực: cường độ của những cảm xúc về đạo đức phía sau một phong trào giống như phong trào của Chủ nghĩa Quốc xã hoặc chủ nghĩa cộng sản có lẽ có thể được so sánh chỉ với những cảm xúc của những phong trào tôn giáo lớn của lịch sử. Một khi bạn thừa nhận rằng một cá nhân chỉ đơn thuần là một phương tiện để phục vụ cho những mục đích của một thực thể cao hơn được gọi là xã hội hay quốc gia, hầu hết những nét nổi bật đó của những chế độ độc tài toàn trị vốn làm chúng ta khiếp sợ theo đuổi điều cần thiết. Từ quan điểm không nhân nhượng của những người theo chủ nghĩa tập thể và sự đàn áp dã man những người bất đồng chính kiến, sự coi thường hoàn toàn đời sống và hạnh phúc của một cá nhân, là những hậu quả thiết yếu và tất yếu của tiền đề cơ bản nầy, và người theo chủ nghĩa tập thể có thể thừa nhận điều nầy và đồng thời tuyên bố rằng hệ thống của anh ta thì siêu việt hơn một hệ thống mà trong đó những lợi ích “vị kỷ” của một cá nhân được cho phép cản trở sự nhận thức đầy đủ về những mục đích mà cộng đồng theo đuổi. Khi những triết gia Đức hết lần nầy đến lần khác cho là sự cố gắng hết mình vì hạnh phúc cá nhân như chính là điều vô đạo đức và chỉ có sự hoàn thành một nhiệm vụ được áp đặt như là điều đáng khen, họ hoàn toàn chân thật, tuy nhiên điều nầy có thể là khó hiểu đối với những người vốn đã được trưởng thành trong một truyền thống khác biệt.

p154

Nơi mà có một mục đích chung vượt trội tất cả, không có chỗ dành cho bất kỳ những đạo đức hoặc những quy tắc chung chung nào. Đến một mức độ bị hạn chế, chính chúng ta trải nghiệm điều nầy trong thời kỳ chiến tranh. Nhưng ngay cả chiến tranh và hiểm họa to lớn nhất đã dẫn vào đất nước nầy chỉ đưa đến một cách giải quyết rất vừa phải đối với chủ nghĩa độc tài toàn trị, bỏ qua một bên rất ít trong số tất cả những giá trị khác trong sự phục vụ một mục đích duy nhất. Nhưng nơi mà một số ít mục đích cụ thể chế ngự toàn bộ xã hội, đó là điều không thể tránh khỏi mà qua đó đôi khi sự tàn bạo có thể trở thành một nhiệm vụ, mà qua đó những hành động vốn quấy động tất cả tình cảm của chúng ta, chẳng hạn như việc bắn vợ con hoặc việc giết chết những người già hoặc bệnh tật, sẽ được giải quyết như là những vấn đề đơn thuần của thủ đoạn, mà qua đó việc trừ tiệt tận gốc là bắt buộc và việc vận chuyển hàng trăm ngàn người sẽ trở thành một công cụ của chính sách được chấp thuận bởi hầu hết mọi người ngoại trừ những nạn nhân, hoặc qua đó những lời đề nghị giống như thế về “việc cưỡng bách phụ nữ than gia vào quân đội vì những mục đích sinh sản” có thể được dự tính một cách nghiêm túc. Trong mắt của người theo chủ nghĩa tập thể, luôn luôn có một mục đích lớn hơn mà những hành động nầy phục vụ cho nó và đối với anh ta, mục đích đó biện minh cho những hành động nầy, bởi vì việc theo đuổi mục tiêu chung của xã hội có thể không biết những giới hạn nào trong bất kỳ quyền lợi hoặc những giá trị của bất kỳ cá nhân nào.
Nhưng trong khi đối với số đông của những công dân thuộc nhà nước độc tài toàn trị, điều đó thường là sự hiến dâng không vị kỷ cho một lý tưởng, mặc dù một sự dâng hiến mà có khuynh hướng đẩy xa chúng ta ra, mà qua đó khiến cho họ chấp nhận và thậm chí làm những hành vi như thế, điều nầy không thể biện hộ cho những người vốn hướng dẫn chính sách của nó. Là một người trợ giúp hữu ích trong việc điều hành một nhà nước độc tài toàn trị, điều đó không đủ để một người nên được chuẩn bị để chấp nhận sự biện minh bề ngoài cho những hành vi xấu xa, chính anh ta phải được chuẩn bị một cách tích cực để phá vỡ mọi quy tắc đạo đức mà anh ta đã từng biết đến nếu điều nầy có vẻ cần thiết để đạt được mục đích cuối cùng được đặt ra cho anh ta. Vì chính là người lãnh đạo tối cao vốn là người một mình định đoạt những mực đích cuối cùng, những người được xem là công cụ của ông ta không được có những niềm tin đạo đức nào của riêng họ. Trên hết, họ ắt hẳn cam kết trung thành với một người của nhà lãnh đạo, nhưng bên cạnh việc nầy, điều quan trọng nhất là họ sẽ hoàn toàn trở nên vô nguyên tắc và theo nghĩa đen là có khả năng làm tất cả mọi thứ.

p155

Họ không được có những lý tưởng nào của riêng của mình mà họ muốn mang vào thực tiển, không có những ý tưởng nào về điều đúng hoặc sai vốn có thể can thiệp vào những ý định của người lãnh đạo. Trong những vị trí quyền lực, vì thế có ít thứ thu hút những người vốn bám lấy những niềm tin đạo đức của loại mà trong quá khứ đã từng hướng dẫn những người dân Âu châu, ít thứ vốn có thể bù đắp cho sự ghê tởm phần nhiều trong số những công việc riêng biệt, và ít cơ hội để hài lòng bất kỳ những khoa khát về lý tưởng hơn nữa, để bù đắp lại cho sự rủi ro không thể chối bỏ, sự hy sinh hầu hết những thú vui của cuộc sống riêng tư và của sự độc lập cá nhân mà qua đó những vị thế chức vị mang trách nhiệm lớn lao có liên quan đến. Những thị hiếu duy nhất vốn được thỏa lòng, là sự niếm mùi quyền lực như là, niềm vui của việc được tuân lời và của việc là một phần của bộ máy quyền lực bao trùm và hoạt động hoàn hảo mà mọi thứ khác phải nhường đường.
Tuy nhiên, trong khi có ít thứ mà gần như xui khiến những người vốn là người tốt theo những tiêu chuẩn của chúng ta, mong mỏi những vị trí hàng đầu trong bộ máy độc tài toàn trị, và phần nhiều làm nản lòng họ, sẽ có những cơ hội đặc biệt dành cho sự tàn nhẫn và vô lương tâm. Sẽ có những công việc được làm trong vòng điều xấu xa vốn được đảm nhận bởi chính họ mà không ai có bất kỳ nghi ngờ nào, nhưng qua đó phải được làm trong việc phục vụ cho một múc đích cao hơn nào đó, và qua đó phải được thực hiện với sự thành thạo và hiệu quả giống như bất kỳ những công việc khác. Và khi mà sẽ cần đến những hành động vốn là điều xấu xa trong chính những hành động đó, và qua đó tất cả những người vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi những đạo đức truyền thống sẽ ngần ngại ra tay, việc sẵn sàng làm những điều xấu trở thành một con đường dẫn đến sự thăng chức và quyền lực. Những vị trí trong một xã hội độc tài toàn trị mà trong đó điều cần thiết là phải thực hành sự tàn ác và đe dọa, sự cố ý lừa dối và theo dõi lén lút, thì rất nhiều. Không phải là đội Gestapo (i.e. đội cảnh sát mật vụ nhà nước) hoặc cũng không phải là ban quản trị của một trại tập trung, không phải là Bộ Tuyên truyền cũng không phải là đội bảo an SA hoặc mật vụ SS (hoặc những đối tác Ý hoặc Nga của họ) là những nơi thích hợp cho việc thực thi những tình cảm nhân đạo. Tuy thế, qua những vị trí giống như những vị thế nầy mà con đường đến những vị trí cao nhất trong một nhà nước độc tài toàn trị dẫn dắt. Đó chỉ là điều rất xác thực khi một nhà kinh tế xuất sắc người Mỹ kết luận từ một bản liệt kê ngắn gọn tương tự về những nhiệm vụ của những người có thẩm quyền của một nhà nước theo chủ nghĩa tập thể rằng

p156

họ sẽ phải làm những điều nầy cho dù họ muốn hay không: và điều rất có thể những người đang nắm quyền lực là những cá nhân vốn là những người có thể không thích việc nắm lấy và thực thi quyền lực, nằm trên một mức với độ xác suất là một người có lòng tốt vô cùng sẽ có được công việc của người chủ nhân quất roi trong một đồn điền nô lệ.1

(Huy hiệu của Phân đội Đột công Sturmabteilung (SA), còn được
gọi là Đội Áo nâu. Nó đóng một vai trò rất quan trọng trong việc
đưa Hitler lên nắm quyền lực và bảo vệ Đảng Quốc xã. Nó chính
là những phân đội theo dõi, phá quấy, bắt bớ người Do Thái, và
những người bất đồng chính kiến trong nước Đức)

Chúng ta, tuy nhiên, không thể nghiên cứu hết mọi mặt chủ đề nầy ở đây. Nan đề về việc tuyển chọn những nhà lãnh đạo bị ràng buộc một cách chặt chẽ với nan đề rộng lớn về việc tuyển chọn theo những quan điểm được bám giữ, hay đúng hơn là theo sự lạnh lợi đối với điều mà một người thích nghi với hàng loạt thay đổi từng có của những học thuyết. Và điều nầy dẫn dắt chúng ta đến một trong những nét nổi bật nhất về đặc tính đạo đức của chủ nghĩa toàn trị, mối quan hệ của nó với, và ảnh hưởng của nó trên, tất cả những đức tính đang rơi xuống dưới một đầu đề chung chung về tính chất trung thực. Đây là một chủ đề quá lớn đến nổi nó đòi hỏi một chương riêng biệt.
=============
1 Giáo sư F.H. với tác phẩm “Knight in The Journal of Political Economy” (“Vị Hiệp sĩ trong Tạp chí Kinh tế Chính trị”), tháng Mười Hai năm 1938, p. 869.
=============

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

15 thoughts on “Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao

  1. Pingback: Chương 01: Con đường Bỏ hoang |

  2. Pingback: Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng |

  3. Pingback: Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể |

  4. Pingback: Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định |

  5. Pingback: Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ |

  6. Pingback: Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp |

  7. Pingback: Chương 07: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị |

  8. Pingback: Chương 08: Ai làm, ai chịu ? |

  9. Pingback: Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do |

  10. Pingback: Chương 11: Phần Cuối của Sự thật |

  11. Pingback: Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã |

  12. Pingback: Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta |

  13. Pingback: Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng |

  14. Pingback: Chương 15 (Hết) : Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế |

  15. Pingback: Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch (Mục Lục & Lời Giới thiệu) |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s