Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do

p123

Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do

“Toàn bộ xã hội sẽ phải trở thành một văn phòng duy
nhất và một hảng xưởng duy nhất với sự đồng đều về
công việc và sự đồng đều về tiền lương.”

V.I. Lenin, 1917

“Trong một quốc gia nơi mà chủ nhân duy nhất là Nhà nước, sự
đối lập có nghĩa là cái chết do việc bỏ đói từ từ. Một nguyên tắc
cũ: ai không làm việc, sẽ không được ăn, đã được thay thế bằng
một nguyên tắc mới: ai không tuân theo, sẽ không được ăn.”

L. Trotsky, 1937

Giống như “quyền tự do kinh tế” giả mạo, và với sự bảo đảm về công lý, về kinh tế hơn thường được tượng trưng như là một điều kiện không thể thiếu của nền tự do thực sự. Trong một ý nghĩa, điều nầy đúng lẫn quan trọng. Sự độc lập của lý trí hoặc sức mạnh của một đặc tính hiếm khi được tìm thấy trong số những người vốn không có thể tự tin rằng họ sẽ thực hiện theo cách của mình bằng nỗ lực của riêng mình. Tuy ý tưởng về sự bảo đảm kinh tế thì không kém mơ hồ và không rõ ràng so với hầu hết những phần khác trong lãnh vực nầy; và bởi vì điều nầy, việc chấp thuận chung chung được đưa ra cho nhu cầu bảo đảm có thể trở thành một mối nguy hiểm cho nền tự do. Quả thật, khi vấn đề bảo đảm được hiểu trong ý nghĩa quá tuyệt đối, sự cố gắng chung chung vì nó, không có sự gia tăng những cơ hội của quyền tự do, trở thành mối đe dọa sâu sắc nhất đối với điều đó.

p124

Điều đó cũng sẽ tương phản ngay từ lúc khởi đầu hai loại bảo đảm: một cái bị hạn chế, vốn có thể đạt được cho tất cả mọi người, và điều mà vì vậy không có một đặc quyền nào ngoại trừ một đối tượng hợp pháp của sự khao khát; và một bảo đảm tuyệt đối mà trong một xã hội tự do không thể đạt được cho tất cả mọi người và không được ban cho như là một đặc quyền –ngoại trừ trong một vài trường hợp đặc biệt chẳng hạn như là đặc quyền của những quan tòa, nơi mà tính chất độc lập hoàn toàn phải là hết sức quan trọng. Hai loại nầy của việc bảo đảm, thứ nhất, là sự bảo đảm chống lại tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng về vật chất, một sự chắc chắn của mức tối thiểu được đưa ra về phương tiện sinh sống cho tất cả mọi người, và, thứ hai, sự bảo đảm về một tiêu chuẩn cuộc sống được đưa ra, hoặc về một vị thế tương đối mà một người hoặc nhóm thích so sánh với những người khác; hoặc, như chúng ta có thể nói một cách ngắn gọn, sự bảo đảm về mức thu nhập tối thiểu và sự bảo đảm về mức thu nhập riêng biệt mà một người được cho là xứng đáng. Chúng ta sẽ nhìn thấy ngay sau đó rằng sự phân biệt nầy phần lớn trùng hợp với sự phân biệt giữa việc bảo đảm vốn có thể được cung cấp cho tất cả mọi người bên ngoài hệ thống thị trường và bổ sung cho nó, và việc bảo đảm vốn có thể được cung cấp chỉ cho một số và chỉ bởi việc kiểm soát hoặc bãi bỏ thị trường.
Không có một lý do nào về việc tại sao trong một xã hội vốn đã đạt đến mức độ chung chung về sự giàu có mà chúng ta đã đạt được, loại đầu tiên của sự bảo đảm sẽ không được bảo đảm cho tất cả mọi người mà không gây nguy hiểm đến quyền tự do tổng quát. Có những câu hỏi khó về một tiêu chuẩn chính xác mà nó vì thế cần được bảo đảm; riêng biệt là có một câu hỏi quan trọng về việc liệu những người vốn vì thế dựa vào cộng đồng, sẽ luôn luôn tận hưởng một cách vô hạn định những cái tự do như những người còn lại không.1 Một cách giải quyết thiếu thận trọng cho những câu hỏi nầy cũng có thể gây ra những nan đề chính trị nghiêm trọng và có lẽ thậm chí nguy hiểm; nhưng có thể là không có một nghi ngờ nào rằng mức tối thiểu nào đó về thức ăn, chỗ ở, và quần áo, đủ để bảo tồn sức khỏe và khả năng làm việc, có thể được bảo đảm đối với mọi người. Quả thật, đối với một phần đáng kể dân số của đất nước nầy, loại bảo đảm nầy đã đạt được từ lâu.
=============
1 Cũng có những nan đề nghiêm trọng về những mối quan hệ quốc tế vốn phát sinh nếu chỉ đơn thuần là quyền công dân của một quốc gia có quyền có một tiêu chuẩn sống cao hơn ở nơi nào khác, và qua đó không nên được bàn luận qua loa một cách quá xem thường.
=============

p125

Cũng không có bất kỳ lý do nào về việc tại sao nhà nước không nên trợ giúp những cá nhân trong việc chuẩn bị đầy đủ cho những mối nguy thông thường của cuộc sống, bởi vì sự không chắc chắn của họ, mà một vài cá nhân có thể chuẩn bị trước chống lại chúng. Nơi mà, như trong trường hợp bệnh hoạn và tai nạn, không phải là mong muốn để tránh những tai họa như thế cũng không phải là những nỗ lực vượt qua những điều xảy ra tiếp theo của chúng bị làm suy yếu đi như là một quy luật bởi việc cung cấp sự trợ giúp, nơi mà, tóm lại là, chúng ta đang đối phó với những rủi ro đích thực là không thể bảo hiểm được, một tình thế cho nhà nước giúp đỡ tổ chức một hệ thống toàn diện về sự bảo hiểm xã hội thì rất mạnh mẽ.
Có nhiều điểm chi tiết nơi mà những người ước muốn bảo tồn hệ thống cạnh tranh và những người ước muốn thay thế nó bằng một cái gì đó khác biệt sẽ không đồng ý trên những chi tiết của các kế hoạch như thế; và có thể dưới cái tên bảo hiểm xã hội để giới thiệu những biện pháp vốn có khuynh hướng làm cho sự cạnh tranh ít nhiều vô hiệu quả. Nhưng không có điều nào là không thể sánh được trong nguyên tắc giữa việc nhà nước cung cấp sự bảo đảm lớn hơn theo cách nầy và việc bảo tồn quyền tự do cá nhân. Cùng một thể loại cũng thuộc về sự gia tăng bảo đảm qua việc nhà nước đưa ra sự trợ giúp cho những nạn nhân của “những việc làm của Thượng Đế” chẳng hạn như những trận động đất và những cơn lũ lụt. Bất cứ nơi nào hành động công xã có thể làm giảm nhẹ những thiên tai mà cá nhân hoặc là không thể cố gắng thử bảo vệ chính mình, hoặc cũng không chuẩn bị trước cho những hậu quả, hành động công xã như thế chắc chắn sẽ được thực hiện.
Cuối cùng là, có một nan đề vô cùng quan trọng về việc chiến đấu chống lại những biến động chung chung của hoạt động kinh tế và những làn sóng theo dòng trở lại của tình trạng thất nghiệp trên quy mô lớn vốn kèm theo chúng. Điều nầy, dĩ nhiên, là một trong những nan đề sâu sắc nhất và cấp bách nhất của thời đại chúng ta. Nhưng, mặc dù giải pháp của nó sẽ đòi hỏi phần nhiều việc hoạch định trong ý nghĩa tốt đẹp, nó không –hoặc ít nhất là không cần– đòi hỏi loại đặc biệt đó của việc hoạch định mà nó, theo những người bênh vực cho việc hoạch định, sẽ thay thế thị trường.

p126

Nhiều nhà kinh tế quả thật hy vọng rằng biện pháp cuối cùng có thể được tìm thấy trong lãnh vực về chính sách tiền tệ, mà nó có thể liên quan đến việc không có gì là không phù hợp ngay cả với chủ nghĩa tự do vào thế kỷ mười chín. Những người khác, đúng là vậy, tin tưởng rằng sự thành công thực sự có thể được kỳ vọng chỉ từ việc sắp xếp thời gian khéo léo cho những công việc công cộng được thực hiện trên một quy mô rất lớn. Điều nầy có thể dẫn đến những hạn chế nghiêm trọng nhiều hơn về lãnh vực cạnh tranh, và trong việc thử nghiệm theo chiều hướng nầy, chúng ta sẽ phải cẩn thận dò dẫm từng bước nếu chúng ta muốn tránh làm cho tất cả hoạt động kinh tế dần dần phụ thuộc hơn vào chiều hướng và khối lượng của chính phủ chi dùng. Nhưng điều nầy hoặc không phải là cách duy nhất, hoặc cũng không phải là, theo quan điểm của tôi, cách hứa hẹn nhất về việc đương đầu với mối đe dọa sâu sắc nhất cho sự bảo đảm kinh tế. Trong bất kỳ trường hợp nào, những nỗ lực rất cần thiết nhằm bảo đảm việc bảo vệ chống lại những biến động nầy không dẫn đến một loại hoạch định vốn tạo thành mối đe dọa như thế cho quyền tự do của chúng ta.

* * * * *

Việc hoạch định cho sự bảo đảm mà qua đó có ảnh hưởng âm ỉ như thế trên sự tự do, là vì sự bảo đảm của một loại khác. Chính là việc hoạch định được trù hoạch để bảo vệ những cá nhân hoặc các nhóm chống lại những giảm bớt về khoản thu nhập của họ vốn xảy ra hàng ngày, mặc dù chưa có cách nào xứng đáng trong một xã hội cạnh tranh, chống lại những mất mát đang áp đặt những thử thách gay go mặc dù không có một lý lẽ bào chữa nào về mặt đạo đức tuy không thể tách rời khỏi hệ thống cạnh tranh. Nhu cầu nầy về sự bảo đảm vì thế là một hình thức khác của nhu cầu về tiền thù lao công bằng, phần tiền thù lao tương xứng với những giá trị chủ quan và không phải với những kết quả khách quan của những nỗ lực của một người. Loại bảo bảo hoặc công bằng nầy dường như không thể hòa hợp với quyền tự do chọn lựa việc làm của người ta.
Trong bất kỳ hệ thống nào mà qua đó đối với việc phân phối người giữa những chuyên ngành và nghề nghiệp khác nhau dựa trên sự lựa chọn của riêng họ, điều cần thiết là tiền thù lao trong những chuyên ngành nầy nên tương ứng với sự hữu dụng của họ cho những thành viên khác của xã hội, thậm chí nếu điều nầy sẽ không đại diện cho một liên hệ nào đến giá trị chủ quan. Mặc dù kết quả đạt được thường sẽ là tương xứng với những nỗ lực và chủ ý, điều nầy không thể luôn luôn là đúng trong bất kỳ hình thức nào của xã hội.

p127

Điều đó riêng biệt là sẽ không đúng trong nhiều trường hợp nơi mà sự hữu ích của chuyên ngành hoặc tài năng đặc biệt bị thay đổi bởi những hoàn cảnh vốn không thể lường trước được. Tất cả chúng ta đều biết hoàn cảnh bi thảm của một người được đào tạo cao cấp mà tài năng khó học được của anh ta đã bất ngờ mất đi giá trị của nó bởi vì một sáng tạo nào đó vốn mang lợi ích to lớn cho những người còn lại của xã hội. Lịch sử của hàng trăm năm qua thì đầy những trường hợp của loại nầy, một vài trong số đó gây ảnh hưởng đến hàng trăm ngàn người vào một thời điểm.
Mà qua đó bất kỳ người nào sẽ gánh chịu sự giảm bớt to lớn khoản thu nhập của mình và nỗi thất vọng cay đắng về tất cả những hy vọng của mình mà không phải lỗi của riêng anh ta, và mặc dù làm việc chăm chỉ và có tài năng xuất sắc, chắc chắn là xúc phạm cảm giác của chúng ta về công lý. những nhu cầu của những người vốn chịu khốn khổ theo cách nầy, việc can thiệp của nhà nước nhân danh họ để bảo vệ những kỳ vọng hợp pháp của mình, chắc chắn sẽ nhận được sự cảm thông và hỗ trợ của công chúng. Sự chấp thuận chung chung về những nhu cầu nầy đã có tác dụng là những chính phủ ở mọi nơi đã bắt đầu hành động, không chỉ đơn thuần là bảo vệ những người dân rất bị đe dọa khỏi tình trạng khó nhọc và thiếu thốn nghiêm trọng, mà là bảo đảm cho họ việc tiếp tục nhận được khoản thu nhập trước đây của mình và che chở cho họ từ những thăng trầm của thị trường.1
Điều chắc chắn về mức thu nhập được đưa ra, tuy nhiên, không thể được đưa ra cho tất cả mọi người nếu bất kỳ quyền tự do nào trong sự lựa chọn nghề nghiệp của một người được cho phép. Và nếu nó được quy định cho một số người, nó trở thành một đặc ân nhờ sự thiệt thòi của những người khác mà sự bảo đảm của họ do đó nhất thiết phải bị giảm bớt. Mà qua đó sự bảo đảm về mức thu nhập không thay đổi có thể được cung cấp cho tất cả mọi người chỉ do việc bãi bỏ tất cả quyền tự do trong sự lựa chọn việc làm của một người, dễ dàng được cho thấy. Tuy nhiên, mặc dù sự một sự bảo đảm chung chung như thế về sự kỳ vọng hợp pháp thường được xem như là một lý tưởng được nhắm đến, điều đó không phải là một thứ vốn được cố gắng thử một cách nghiêm túc.
=============
1 Những ý kiến được đưa ra rất thú vị về việc những điều khó nhọc nầy có thể được giảm bớt như thế nào trong phạm vi một xã hội tự do, gần đây đã được đưa ra bởi Giáo sư W.H. Hutt trong một cuốn sách, mà nó sẽ trả lại sự nghiên cứu cẩn thận (tác phẩm “Plan for Reconstruction” (“Kế hoạch Tái thiết”), 1943).
=============

p128

Điều mà đang được liên tục thực hiện, sẽ ban loại bảo đảm nầy từng chút, cho nhóm nầy và nhóm khác, với kết quả là đối với những người vốn bị gạt ra ngoài bỏ mặc, việc bất bảo đảm liên tục gia tăng. Không có gì ngạc nhiên là trong sự kiện xảy ra tiếp theo, cái giá trị được gắn liền với đặc ân của sự bảo đảm gia tăng một cách liên tục, nhu cầu cho điều đó trở nên càng lúc càng cấp bách hơn, cho đến lúc cuối, không một cái giá nào, thậm chí không phải là cái giá của sự tự do, xuất hiện quá cao.

* * * * *

Nếu những người mà sự hữu dụng của họ bị giảm đi do những hoàn cảnh mà họ không thể hoặc là lường trước được cũng không thể kiểm soát được, phải được bảo vệ chống lại sự mất mát không xứng đáng, và những người mà sự hữu dụng của họ đã được gia tăng trong cùng một cách, bị ngăn cản không cho tạo ra phần thu lợi không xứng đáng, tiền thù lao chẳng bao lâu sẽ không còn có bất kỳ sự liên hệ nào đến tính chất hữu dụng thực sự. Nó sẽ phụ thuộc vào những quan điểm được bám lấy chính quyền nào đó về vấn đề một người nên phải làm gì, anh ta nên phải lượng trước điều gì, và những chủ ý của anh ta tốt hay xấu như thế nào. Những quyết định như thế có thể không nhưng là sự độc đoán đến một mức độ to lớn. Việc áp dụng nguyên tắc nầy nhất thiết sẽ mang đến điều mà những người làm cùng một công việc sẽ nhận được tiền thù lao khác nhau. Những sự khác biệt trong tiền công sau nầy sẽ không còn cho thấy nguyên nhân đủ xui khiến người dân tạo nên những thay đổi mà về mặt xã hội là điều rất mong muốn và điều đó thậm chí sẽ không là điều có thể có đối với những cá nhân bị ảnh hưởng khi xét đoán việc liệu một sự thay đổi riêng biệt có đáng là điều rắc rối mà nó gây ra không.
Nhưng nếu những thay đổi trong việc phân phối người giữa những việc làm khác nhau, vốn luôn là điều cần thiết trong bất cứ xã hội nào, có thể không còn được gây ra bởi “những phần thưởng” và “hình phạt” (mà không có một sự kết nối cần thiết nào với giá trị chủ quan), chúng ắt hẳn được gây ra bởi những mệnh lệnh trực tiếp. Khi phần thu nhập của một người được bảo đảm, anh ta có thể hoặc là không được phép ở lại trong công việc của mình chỉ đơn thuần là vì anh ta thích nó, hoặc cũng không được cho phép chọn lựa công việc khác nào mà anh ta muốn làm. Khi mà không phải chính anh ta vốn là người thu lợi hoặc gánh chịu mất mát, phụ thuộc vào cách hoạt động hoặc không hoạt động của mình, sự lựa chọn ắt hẳn được thực hiện cho anh bởi những những người vốn kiểm soát việc phân phối khoản thu nhập hiện có.

p129

Nan đề về những thúc đẩy thích hợp vốn phát sinh ở đây, thông thường được thảo luận như thể nó là một nan đề chính yếu về sự sẵn lòng của người dân làm hết sức mình. Nhưng điều nầy, mặc dù quan trọng, không phải là toàn bộ khía cạnh của nan đề, hoặc thậm chí cũng không phải là điều quan trọng nhất. Không chỉ đơn thuần là nếu chúng ta muốn người dân đưa ra hết tài năng của họ, chúng ta phải làm cho điều đó xứng đáng đối với họ. Điều mà quan trọng hơn là nếu chúng ta muốn để lại cho họ sự lựa chọn, nếu họ muốn có thể xét đoán họ nên làm gì, họ phải được đưa cho một tiêu chuẩn nào đó dễ dàng nhận thức được mà nhờ đó để đo lường tầm quan trọng về xã hội của những nghề nghiệp khác nhau. Ngay cả với ý muốn tốt đẹp nhất trên thế giới, đó sẽ là điều không thể nào đối với bất cứ ai khi chọn lựa một cách khôn ngoan giữa những lựa chọn thay thế khác nhau nếu những lợi thế mà họ đưa ra cho anh ta không đại diện cho một sự liên hệ nào đến tính chất hữu dụng của họ đối với xã hội. Để biết liệu là khi một kết quả của sự thay đổi, người ta có nên rời khỏi một chuyên ngành và môi trường mà anh ta cuối cùng đã thích, và trao đổi nó cho một thứ khác không, đó là điều cần thiết mà giá trị tương đối bị thay đổi của những nghề nghiệp nầy đối với xã hội sẽ tìm thấy sự biểu hiện trong tiền thù lao mà họ đưa ra.
Nan đề, dĩ nhiên, thì thậm chí quan trọng hơn bởi vì trên thế giới vì nó khi chính là những người, thật ra, gần như sẽ không đưa ra hết tài năng của mình trong những khoảng thời gian dài trừ khi những lợi ích của riêng họ được trực tiếp lôi cuốn vào. Ít nhất là đối với đại đa số, một áp lực bên ngoài nào đó được cần đến nếu họ muốn đưa ra hết tài năng của mình. Nan đề về những sự thúc đầy trong ý nghĩa nầy là một vấn đề rất thực tế, cả trong lãnh vực lao động bình thường và lẫn trong những lãnh vực của những hoạt động về quản trị. Việc áp dụng kỹ thuật ứng dụng thực tiển theo khoa học cho cả một quốc gia –và đây là việc hoạc định có nghĩa là gì– “phát sinh những nan đề về nguyên tắc khó giải quyết”, như đã từng được mô tả một cách rõ ràng bởi một kỹ sư Mỹ với nhiều kinh nghiệm trong việc hoạch định cho chính phủ, vốn là người đã nhìn thấy nan đề một cách rõ ràng.

p130

Nhằm mục đích làm một công việc kỹ sư, [ông ta giải thích], nên có một môi trường xung quanh công việc là một khu vực tương đối lớn của hoạt động kinh tế chưa được lên kế hoạch. Nên có một nơi mà từ đó những công nhân có thể được thu hút, và khi một công nhân bị sa thải, anh ta sẽ biến mất khỏi công việc và khỏi bảng lương. Trong sự vắng mặt của người dự phòng chưa bận việc như thế, nguyên tắc không thể được duy trì mà không có nhục hình, như với tầng lớp lao động nô lệ.1

Trong lãnh vực về công việc điều hành, nan đề về sự trừng phạt cho sự sơ suất phát sinh trong một hình thức khác nhau nhưng không kém nghiêm trọng. Điều đó đã từng được nói rõ rằng trong khi các phương sách cuối cùng của một nền kinh tế cạnh tranh là viên chức thừa phát lại (i.e người thi hành án dân sự), một sự trừng phạt tối hậu của một nền kinh tế có kế hoạch là người hành quyết treo cổ.2 Những quyền lực mà người quản lý của bất cứ nhà máy nào sẽ phải được ban cho, vẫn sẽ là điều đáng xét. Nhưng không hơn gì trong trường hợp về công nhân, vị trí và mức thu nhập của người quản lý trong một hệ thống có kế hoạch có thể được tạo ra để phụ thuộc chỉ đơn thuần vào sự thành công hay thất bại của công việc dưới sự điều hành của ông ta. Khi mà hoặc không phải sự liều lĩnh hoặc cũng không phải lợi lộc là của ông ta mà ông ta phải quyết định, điều đó không thể là sự phán xét cá nhân của ông ta, nhưng liệu anh ta làm điều gì anh ta có nên đã làm theo một quy định được thiết lập nào đó không. Một sai lầm mà ông ta “nên” đã tránh, không phải là chuyện của riêng ông ta, chính là một tội ác chống lại cộng đồng và phải được xem như là thế. Trong khi miễn là ông ta gìn giữ lề lối theo con đường an toàn của nhiệm vụ có thể biết chắc theo cái nhìn khách quan, ông ta có thể là chắc chắn hơn về khoản thu nhập của mình so với một doanh nhân tư bản, sự nguy hiểm vốn đe dọa ông ta trong trường hợp về sự thất bại thực sự, thì tồi tệ hơn là việc phá sản. Ông ta có thể là được bảo đảm về mặt kinh tế miễn là ông ta làm thỏa lòng những cấp trên của mình, nhưng sự bảo đảm nầy được mua với cái giá của sự an toàn của quyền tự do và cuộc sống.
=============
1 D.C. Coyle, bài viết “The Twilight of National Planning” (“Vùng mờ ảo của việc Hoạch định Quốc gia,”), Tạp chí Harpers, tháng Mười, 1935, p. 558.

2 W. Röpke, tác phẩm “Die Gesellschaftskrisis der Gegenwart” (“Cuộc khủng hoảng Xã hội trong Thời đại Chúng ta”), Zurich, 1942, p. 172.
=============

p131

Sự xung đột mà chúng ta phải đối phó, quả thật là một cuộc xung đột hoàn toàn có nền tảng giữa hai loại không thể hòa giải của tổ chức xã hội, mà qua đó, từ những hình thức đặc trưng nhất mà trong đó chúng xuất hiện, đã thường được mô tả như là loại thương mại và loại quân sự của xã hội. Những điều khoản, có lẽ, không mấy tốt đẹp, bởi vì chúng hướng sự chú ý đến những điều không cần thiết và tạo khó khăn nhìn thấy rằng ở đây, chúng ta phải đối mặt với một sự lựa chọn thực tế khác và rằng không có một điều khả dĩ thứ ba. Hoặc là cả sự lựa chọn lẫn việc liều lĩnh còn tùy thuộc vào một cá nhân hoặc là ông ta được nhẹ bớt cả hai nổi lo âu. Quân đội quả thật trong nhiều cách thực sự tượng trưng cho cách giải quyết trước tiên gần gủi nhất quen thuộc với chúng ta đối với loại thứ hai của tổ chức, nơi mà công việc và công nhân như nhau được phân bổ bởi người có thẩm quyền và nơi mà, nếu những phương tiện hiện có trở nên khan hiếm, mọi người như nhau phải chịu những cái chung thiếu hụt. Đây là một hệ thống duy nhất mà một cá nhân có thể được thừa nhận sự bảo đảm đầy đủ về kinh tế và qua sự mở rộng của điều mà đối với toàn bộ xã hội nó có thể đạt được cho tất cả những thành viên của nó. Sự bảo đảm nầy, tuy nhiên, không thể tách rời khỏi những hạn chế về sự tự do và trật tự thứ bậc của đời sống quân sự –chính là sự bảo đảm an ninh của những doanh trại.
Điều có thể có, dĩ nhiên, là tổ chức những bộ phận nhỏ của một xã hội tự do theo một cách khác hơn trên nguyên tắc nầy và không có một lý do nào về việc tại sao hình thức nầy của cuộc sống, với những hạn chế cần thiết của nó trên sự tự do cá nhân, không nên mở ra cho những người vốn thích nó hơn. Thật vậy, một phục vụ lao động tự nguyện nào đó theo những chiều hướng quân sự cũng có thể là một hình thức tốt nhất cho nhà nước cung cấp điều chắc chắn của một cơ hội làm việc và một mức thu nhập tối thiểu cho tất cả mọi người. Mà qua đó những dự kiến đưa ra của loại nầy có trong thời quá khứ đã chứng minh là rất ít có thể chấp nhận được, là do một sự kiện thực tế mà những người vốn sẵn sàng từ bỏ quyền tự do của họ vì sự bảo đảm, đã luôn luôn đòi hỏi rằng nếu họ từ bỏ toàn bộ quyền tự do của họ, nó cũng sẽ bị chiếm lấy từ những người không chuẩn bị làm như thế. Đối với lời tuyên bố nầy, đó là điều khó khăn để tìm thấy sự biện minh.
Loại tổ chức theo quân sự như chúng ta biết rằng nó cho chúng ta, tuy nhiên, chỉ là một hình ảnh rất không thích hợp về cái gì mà nó sẽ giống như nếu nó được mở rộng đến cả khối xã hội. Miễn là chỉ là một phần của xã hội được tổ chức theo những chiều hướng quân sự, sự phi tự do của những thành viên thuộc tổ chức quân sự được giảm bớt bởi sự kiện thực tế là vẫn có một bầu trời tự do mà họ có thể di chuyển nếu những hạn chế trở nên quá chán ngấy.

p132

Nếu chúng ta muốn hình thành một bức tranh về cái gì mà xã hội sẽ giống như nếu, theo lý tưởng vốn đã quyến rũ rất nhiều nhà xã hội chủ nghĩa, nó được tổ chức như là một nhà máy to lớn duy nhất, chúng ta phải trông cậy vào thành phố Sparta cỗ đại, hoặc một nước Đức đương thời, mà sau khi di chuyển trong hai hoặc ba thế hệ theo chiều hướng nầy, hiện thời đã rất gần đạt đến điều đó.

* * * * *

Trong một xã hội quen thuộc với quyền tự do không chắc rằng nhiều người sẽ sẵn sàng cố tình mua sự bảo đảm với cái giá nầy. Nhưng những chính sách mà hiện nay được theo đuổi ở mọi nơi, mà qua đó trao ra đặc ân về bảo đảm, nay cho nhóm nầy và mai cho nhóm khác, vì vậy đang nhanh chóng tạo ra những điều kiện mà trong đó sự cố gắng hết mức cho sự bảo đảm có khuynh hướng trở nên mạnh mẽ hơn sự yêu thích quyền tự do. Lý do cho điều nầy là với mỗi việc ban phát sự bảo đảm hoàn toàn cho một nhóm, sự thiếu bảo đảm của những nhóm còn lại nhất thiết phải tăng lên. Nếu bạn bảo đảm cho một số người một phần cố định nào đó của một chiếc bánh hiện có, phần chia sẻ để lại cho những người còn lại buộc phải thay đổi bất thường theo một tỷ lệ nhiều hơn kích thước của cả chiếc bánh. Và yếu tố cần thiết của sự bảo đảm mà hệ thống cạnh tranh đưa ra, một thứ đa dạng của những cơ hội, bị rút giảm càng lúc càng nhiều. Trong phạm vi hệ thống thị trường, sự bảo đảm có thể được ban cho những nhóm riêng biệt chỉ bởi loại hoạch định được biết đến như là chủ trương hạn chế (mà nó bao gồm, tuy nhiên, gần như tất cả việc hoạch định vốn thực sự được thực hành !). “Sự kiểm soát”, tức là sự hạn chế sản lượng để cho những giá cả sẽ bảo đảm một phần lời “thích đáng”, là cách duy nhất mà qua đó trong một nền kinh tế thị trường những nhà sản xuất có thể được bảo đảm một mức thu nhập nhất định. Nhưng điều nầy nhất thiết phải liên quan đến việc giảm bớt những cơ hội mở ra cho những người khác. Nếu một nhà sản xuất, chính ông ta là một nhà thầu hoặc công nhân, sẽ được bảo vệ chống lại việc bỏ thầu rẻ hơn bởi những người ngoài, điều đó có nghĩa là những người khác vốn là những người lâm vào hoàn cảnh tồi tệ hơn, bị loại trừ ra khỏi việc chia sẻ trong sự phát đạt tương đối to lớn hơn của những kỹ nghệ được kiểm soát. Mỗi sự hạn chế trên quyền tự do bước vào trong một chuyên ngành làm giảm đi sự bảo đảm của tất cả những người ở bên ngoài nó.

p133

Và khi số lượng của những người mà mức thu nhập của họ được bảo đảm theo cách nầy tăng lên, lãnh vực của những cơ hội thay thế khác bị hạn chế vốn được mở ra cho bất cứ ai vốn là người phải chịu mất mát về khoản thu nhập; và đối với những người bị ảnh hưởng một cách bất lợi bởi bất kỳ sự thay đổi nào, cơ hội tránh được sự suy giảm nghiêm trọng khoản thu nhập của họ bị thu hẹp theo sau. Và nếu, khi ngày càng đã trở thành thực sự, trong mỗi chuyên ngành mà trong đó những điều kiện cải thiện, các thành viên được phép loại trừ những người khác nhằm mục đích bảo đảm cho chính mình phần thu lợi toàn bộ trong một hình thức của những lương hướng hoặc lợi nhuận cao hơn, những người đó trong những chuyên ngành nơi mà nhu cầu đã giảm xuống, không có nơi nào để đi và mỗi thay đổi trở thành nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp to lớn. Có thể là có chút nghi ngờ rằng phần lớn là hậu quả của việc cố gắng hết sức cho sự bảo đảm bằng những phương cách nầy trong những thập kỷ vừa qua mà qua đó tình trạng thất nghiệp và vì thế vấn đề thiếu bảo đảm cho những bộ phận to lớn của dân cư đã tăng lên rất nhiều.
Trong đất nước nầy, những hạn chế như thế, đặc biệt là những hạn chế gây ảnh hưởng đến tầng lớp trung gian của xã hội, đã khoác lấy những tầm vóc quan trọng chỉ trong những khoảng thời gian tương đối gần đây, và chúng ta đã hiếm khi còn chưa nhận ra toàn bộ những hậu quả của chúng. Nỗi tuyệt vọng vô cùng về vị thế của những người vốn, trong một xã hội mà đã tăng trưởng cứng ngắc đến như thế, bị bỏ ra bên ngoài phạm vi hàng loạt nghề nghiệp được che chở, và độ lớn của vực thẳm vốn chia cách họ khỏi người may mắn có những việc làm cho người mà vì việc bảo vệ chống lại sự cạnh tranh đã tạo nên việc không cần thiết phải nhích lại quá ít hơn bao giờ đến nổi không thể tạo nên một khoảng trống cho những người không có việc làm chỉ có thể được hiểu rõ bởi những người vốn đã trải nghiệm qua điều đó. Đó không phải là vấn đề của những người may mắn từ bỏ những vị trí của họ, nhưng chỉ đơn thuần là họ sẽ chia sẻ trong hoàn cảnh bất hạnh chung do sự giảm bớt nào đó những khoản thu nhập của họ, hoặc thậm chí thường hay chỉ đơn thuần là do sự hy sinh nào đó cho những viễn ảnh của họ về sự cải thiện. Việc bảo vệ về “tiêu chuẩn đời sống” của họ, về “giá cả công bằng”, hoặc “mức thu nhập chuyên nghiệp” mà họ tự xem chính mình như được phép hưởng, và trong việc bảo vệ về điều mà họ nhận được sự hỗ trợ của nhà nước, ngăn ngừa điều nầy. Kết quả là, thay vì giá cả, lương hướng và những khoản thu nhập cá nhân, bây giờ chính là công ăn việc làm và việc sản xuất vốn đã trở thành đối tượng cho những biến động bạo lực.

p134

Đã chưa từng bao giờ có việc khai thác một tầng lớp bằng những hành động tồi tệ hơn và tàn bạo hơn bởi một tầng lớp khác so với điều đó xảy ra cho những thành viên yếu kém hơn hoặc kém may mắn thuộc một nhóm của những nhà sản xuất do tầng lớp được thiết lập vững chắc vốn đã được tạo nên điều có thể có bởi “quy định” về sự cạnh tranh. Một số ít những dòng chữ biểu tượng đã làm ra rất nhiều tác hại như là lý tưởng về “sự ổn định hóa” những giá cả riêng biệt (hoặc những lương hướng) mà những thứ đó, trong khi bảo đảm mức thu nhập của một số người tạo nên vị trí của những người còn lại càng lúc càng bấp bênh hơn.
Như thế, chúng ta càng cố gắng quy định việc bảo đảm toàn diện qua việc can thiệp vào bằng hệ thống thị trường, sự bất bảo đảm càng trở nên lớn hơn; và, điều gì tồi tệ hơn, sự tương phản càng trở nên lớn hơn giữa việc bảo đảm những người mà được ban cho như là một đặc ân và sự bất bảo đảm gia tăng từng có của những người thiếu đặc ân. Và việc bảo đảm càng trở nên một đặc ân hơn, và sự nguy hiểm càng lớn hơn đối với những người bị loại trừ khỏi điều đó, sự bảo đảm sẽ càng được đánh giá cao hơn. Khi số lượng của những người được đặc ân gia tăng và sự khác biệt giữa sự bảo đảm của họ và sự bất bảo đảm của những người khác tăng lên, một loạt những giá trị xã hội hoàn toàn mới dần dần phát sinh. Nó không còn một sự độc lập nào ngoại trừ sự bảo đảm vốn ban cho cấp bậc và danh vị, một quyền lợi nào đó cho phần tiền trợ cấp hơn là sự tự tin trong việc tiến hành công việc tốt đẹp vốn làm cho một thanh niên có đủ điều kiện cho việc kết hôn, trong khi sự bất bảo đảm trở thành một tình trạng kinh sợ của người bị xã hội bỏ rơi mà qua đó những người vốn trong tuổi thanh xuân của họ đã bị từ chối cho phép vào nơi trú ẩn của một vị trí có tiền lương đến suốt đời.

* * * * *

Sự cố gắng chung chung để đạt được sự bảo đảm bằng những biện pháp hạn chế, được khoan thứ hoặc hỗ trợ bởi nhà nước, theo dòng thời gian đã tạo ra một sự chuyển biến tiến bộ của xã hội –một sự chuyển đổi mà, như trong rất nhiều cách khác, nước Đức đã từng dẫn dắt và những nước khác theo sau. Sự phát triển nầy đã được thúc đẩy nhanh hơn bởi một tác động khác của việc giảng dạy về xã hội chủ nghĩa, việc chê bai cố ý tất cả những hoạt động liên quan đến sự liều lĩnh về kinh tế và điều sỉ nhục về mặt đạo đức bắt đầu một phần trên những cái lợi mà qua đó khiến cho những sự liều lĩnh trở nên đáng thử thách nhưng mà chỉ một số ít người có thể đạt được.

p135

Chúng ta không thể đổ lỗi cho những thanh niên của chúng ta khi họ ưu thích vị trí an toàn, được trả lương hơn là sự liều lĩnh kinh doanh sau khi họ đã nghe từ thời non trẻ nhất của họ là vị trí an toàn, có lương hướng đó được mô tả như là một nghề nghiệp cao cấp, không ích kỷ và vô tư. Thế hệ trẻ hơn hôm nay để lớn lên trong một thế giới mà theo nhà trường và báo chí, tinh thần kinh doanh thương mại đã từng được tượng trương như là điều đáng mang tai tiếng và việc tạo ra lợi nhuận như là điều vô đạo đức, nơi mà sử dụng một trăm người được tiêu biểu như là việc bóc lột nhưng chỉ huy cùng một lượng người như là điều danh dự. Những người lớn tuổi hơn có thể xem điều nầy như là một cường điệu về tình trạng hiện thời của những vấn đề, nhưng kinh nghiệm hàng ngày của một người giảng dây ở trường Đại học để lại chút ít nghi ngờ rằng như là một kết quả việc tuyên truyền của người chống tư bản chủ nghĩa, những giá trị đã thực sự biến đổi rất xa trong bước tiến của sự thay đổi trong những tổ chức đầu não vốn vẫn còn xảy ra trong đất nước nầy. Câu hỏi là liệu bằng cách thay đổi những tổ chức đầu não của chúng ta để đáp ứng những nhu cầu mới, chúng ta sẽ không vô tình phá hủy những giá trị mà chúng ta vẫn đánh giá cao hơn không.
Sự thay đổi trong cấu trúc của xã hội bị lôi cuốn vào sự chiến thắng của lý tưởng về việc bảo đảm trên điều đó của sự độc lập không thể được minh họa rõ hơn bằng sự so sánh về điều gì mà mười hay hai mươi năm trước đây vẫn có thể được xem như là kiểu xã hội Anh và Đức. Tuy nhiên cái to lớn của ảnh hưởng quân đội có thể đã nằm trong đất nước Đức, đó là một sai lầm nghiêm trọng để gán cho điều gì mà những người Anh xem như là đặc tính “quân sự” của xã hội Đức chủ yếu là đối với ảnh hưởng đó. Sự khác biệt đào sâu nhiều hơn điều mà có thể được giải thích trên lý lẽ đó, và những thuộc tính riêng biệt của xã hội Đức tồn tại không kém hơn trong tầng lớp xã hội mà sự ảnh hưởng chính đáng về mặt quân sự thì không đáng kể so với trong tầng lớp xã hội mà sự ảnh hưởng trở nên mạnh mẽ. Điều đó thì không quá nhiều đến nổi gần như luôn luôn một phần lớn hơn gồm những người dân Đức được tổ chức cho cuộc chiến tranh so với điều đó là xác thực ở các nước khác, ngoại trừ việc đó cùng loại tổ chức được dùng đến cho rất nhiều mục đích khác, mà qua đó xã hội Đức được gán cho đặc tính riêng biệt của nó. Đó là một phần lớn hơn của đời sống dân sự Đức so với đời sống dân sự của bất kỳ quốc gia nào khác được tổ chức một cách chủ ý từ thượng tầng, mà phần rất lớn theo tỷ lệ của những người dân Đức không xem chính mình như là những công chức độc lập nhưng như là những người được chỉ định, mà qua đó cấu trúc xã hội Đức được gán cho đặc tính riêng biệt của nó.

p136

Nước Đức, như chính những người Đức tự hào, từ lâu đã từng là một Beamtenstaat (i.e. một nhà nước công chức) mà trong đó không chỉ trong Dịch vụ Dân sự phù hợp mà trong hầu hết tất cả những lãnh vực về khoản thu nhập và danh vị trong đời sống được phân định và bảo đảm bởi một thẩm quyền nào đó.
Trong khi điều đáng nghi ngờ là liệu tinh thần của quyền tự do ở bất cứ nơi nào có thể bị trừ tiết bằng vũ lực không, điều không chắc chắn là bất kỳ người dân nào có thể chịu đựng được tiến trình một cách thành công mà nó bị bóp chết một cách từ từ ở nước Đức. Nơi mà sự phân biệt và xếp hạng được hoàn thành gần như ngoại lệ bằng cách trở thành một người đầy tớ ăn lương của nhà nước, nơi mà làm một nhiệm vụ được giao của mình được xem như đáng khen hơn là chọn lựa một lãnh vực hữu dụng của riêng mình, nơi mà tất cả những mưu cầu mà không ban cho một nơi được nhìn nhận trong hệ thống thứ bậc chính thức hoặc sự đòi hỏi cho khoản thu nhập cố định được xem như là thấp kém và thậm chí có phần tai tiếng, không thể kỳ vọng quá nhiều rằng nhiều người sẽ rất ưu thích quyền tự do hơn sự bảo đảm. Và nơi mà sự lựa chọn thay thế khác cho việc bảo đảm trong một vị trí phụ thuộc là một vị trí bấp bênh nhất, mà trong đó người ta bị xem thường như nhau cho sự thành công và thất bại, chỉ một số ít người sẽ chống lại sự cám dỗ của sự an toàn với cái giá của quyền tự do. Một khi mọi thứ đã đi quá xa, sự tự do quả thật trở nên gần như một sự nhạo báng, vì nó có thể được mua chỉ bởi sự hy sinh của hầu hết những điều tốt đẹp của trái đất nầy. Trong trạng thái nầy, điều rất ít ngạc nhiên là càng lúc càng nhiều người sẽ đi đến cảm nhận rằng không có sự bảo đảm về kinh tế, thì tự do “không đáng có” và rằng họ sẵn sàng hy sinh sự tự do của mình cho việc bảo đảm. Nhưng điều đáng lo ngại khi tìm thấy Giáo sư Harold Laski trong đất nước nầy dùng đến một lập luận rất giống nhau mà nó có lẽ đã làm được nhiều hơn bất kỳ lập luận khác nào nhằm xui khiến những người Đức hy sinh sự tự do của họ.1
=============
1 H.J. Laski, tác phẩm “Liberty in the Modern State” (“Sự tự do trong một Nhà nước Hiện đại”) (ấn hành năm 1937 của nhà xuất bản Pelican, p. 51): “Những người vốn biết cuộc sống bình thường của những người nghèo, cái cảm giác ám ảnh của nó về thảm họa sắp xảy ra, cuộc tìm kiếm thất thường của nó cho vẻ đẹp vốn không ngừng trốn tránh, sẽ nhận ra đủ rõ là, không có sự bảo đảm về kinh tế, thì tự do không đáng có”.

(Harold Joseph Laski (1893–1950), là nhà lý thuyết chính trị, nhà
kinh tế, diễn giả, và là Giáo sư Kinh tế tại London, Anh Quốc. Ông
ta chuyển theo Mac-xít vào năm 1930 và đặt nhiều hy vọng vào Liên
bang Sô-Viết của Stalin và giữ chức Chủ tịch đảng Lao động Anh.
Nhưng sau nầy, ông ta cảm thấy bi quan ngày càng gia tăng cho
tương lai của nền dân chủ kiểu cộng sản)

=============

p137

Có thể là không có một câu hỏi nào mà qua đó sự bảo đảm thích hợp chống lại sự thiếu thốn nghiêm trọng, và sự giảm bớt những nguyên nhân có thể tránh được của nỗ lực được hướng dẫn sai lầm và sự thất vọng theo sau, sẽ phải là một trong những mục đích chính của chính sách. Nhưng nếu những cố gắng nầy sẽ là điều thành công và không nhằm phá hủy quyền tự do cá nhân, việc bảo đảm phải được cung cấp bên ngoài thị trường và sự cạnh tranh được để cho hoạt động không bị cản trở. Việc bảo đảm nào đó là điều cần thiết nếu quyền tự do muốn được bảo tồn, bởi vì hầu hết con người sẵn sàng gánh chịu sự rủi ro mà quyền tự do không sao tránh khỏi liên quan đến chỉ miễn là sự rủi ro đó không phải là quá lớn. Nhưng trong khi điều nầy là một sự thật về điều mà chúng ta không bao giờ được phép mất dấu vết, không có gì là nghiêm trọng hơn so với kiểu cách hiện nay trong số những nhà lãnh đạo khôn ngoan về việc ca ngợi sự bảo đảm bằng cái giá phải trả cho quyền tự do. Điều thiết yếu là chúng ta nên học hỏi lại một cách thẳng thắn để đối mặt với sự kiện thực tế là quyền tự do chỉ có thể có được với một cái giá và như là những cá nhân chúng ta phải sẵn sàng thực hiện những hy sinh rất nhiều về vật chất để bảo tồn sự tự do của chúng ta. Nếu chúng ta muốn giữ lại điều nầy, chúng ta phải lấy lại niềm tin chắc chắn vào điều mà sự qui định về tự do ở các nước của giống dân Anh nguyên thủy, Anglo-Saxon, đã được dựa vào trên đó và điều mà Benjamin Franklin đã bày tỏ trong một nhóm chữ có thể áp dụng cho chúng ta trong cuộc sống của chúng ta như là những cá nhân không ít hơn những dân tộc: “Những người vốn sẽ từ bỏ sự tự do cần thiết để mua một ít an toàn tạm thời, không xứng đáng hoặc là sự tự do hoặc là an toàn”.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

15 thoughts on “Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do

  1. Pingback: Chương 01: Con đường Bỏ hoang |

  2. Pingback: Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng |

  3. Pingback: Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể |

  4. Pingback: Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định |

  5. Pingback: Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ |

  6. Pingback: Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp |

  7. Pingback: Chương 07: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị |

  8. Pingback: Chương 08: Ai làm, ai chịu ? |

  9. Pingback: Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao |

  10. Pingback: Chương 11: Phần Cuối của Sự thật |

  11. Pingback: Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã |

  12. Pingback: Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta |

  13. Pingback: Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng |

  14. Pingback: Chương 15 (Hết) : Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế |

  15. Pingback: Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch (Mục Lục & Lời Giới thiệu) |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s