Chương 08: Ai làm, ai chịu ?

p105

Chương 08: Ai làm, ai chịu ?

“Một cơ hội tốt nhất từng được ban cho thế giới đã bị ném đi bởi vì
niềm đam mê cho sự bình đẳng làm mờ hy vọng cho quyền tự do.”

Lord Acton

Điều rất quan trọng là một trong những lời phản đối thông thường nhất về sự cạnh tranh vốn chính là “không nhìn thấy.” Đó không phải là điều không thích đáng để nhớ lại rằng đối với những người thời xưa, sự đui mù là một thuộc tính của vị thần công lý của họ. Mặc dù sự cạnh tranh và công lý có thể có một ít điểm khác trong sự tương đồng, chính là lời tán dương về sự cạnh tranh nhiều như về công lý mà đó là điều không thiên vị một ai. Mà qua đó không thể nào tiên đoán ai sẽ là những người may mắn hoặc thảm họa sẽ giáng xuống ai, mà qua đó những phần thưởng và hình phạt không được chia sẻ ra theo những quan điểm của người nào đó về những điều đáng khen hoặc đáng trách của những người khác nhau, nhưng phụ thuộc vào khả năng của họ và sự may mắn của họ, thì quan trọng như điều mà trong những quy định đóng khung hợp pháp, chúng ta sẽ không có thể dự đoán một cá biệt nào sẽ được lợi và cá biệt sẽ mất mát do cách ứng dụng của họ. Và điều nầy không phải điều không đúng lắm bởi vì trong sự cạnh tranh, cơ hội và sự may mắn thường quan trọng như tài năng và tầm nhìn xa trong việc xác định rõ số phận của những người khác nhau.

p106

Sự lựa chọn mở ra cho chúng ta không phải là giữa một hệ thống mà trong đó mọi người sẽ được những gì mà anh ta xứng đáng theo một tiêu chuẩn tuyệt đối và phổ quát nào đó về quyền người dân, và một hệ thống nơi mà những phần chia của một cá nhân được định đoạt một phần bởi sự ngẫu nhiên hoặc cơ hội tốt hay xấu, nhưng giữa một hệ thống nơi mà chính là ý muốn của một số ít người vốn quyết định ai sẽ được những gì, và một hệ thống nơi mà nó phụ thuộc ít nhất một phần vào khả năng và việc kinh doanh táo bạo của những người có liên quan và một phần vào những hoàn cảnh không lường trước được. Điều nầy là điều thích đáng không kém bởi vì trong một hệ thống kinh doanh tự do, những cơ hội không bằng nhau, kể từ khi một hệ thống như thế nhất thiết phải dựa trên tài sản tư nhân (mặc dù có lẽ không phải dựa trên điều đó với cùng sự cần thiết) và trên di sản thừa kế, với những khác biệt trong cơ hội mà những điều nầy tạo ra. Quả thật, có một trường hợp mạnh mẽ về việc giảm bớt sự chênh lệch nầy của cơ hội xa như những sự khác biệt tự nhiên cho phép và như đó là điều có thể làm như thế mà không phá hủy đặc tính khách quan của tiến trình mà mọi người phải chụp lấy cơ hội của mình và không có một quan điểm nào của ai về điều gì là đúng và đáng khao khát, bác bỏ điều đó của những người khác.
Một sự kiện thực tế mà qua đó những cơ hội mở ra cho những người nghèo trong một xã hội cạnh tranh bị hạn chế nhiều hơn so với những cơ hội mở ra cho những người giàu có, không khiến cho điều đó kém xác thực là trong một xã hội như thế, những người nghèo được tự do nhiều hơn so với một người có quyền huy thoải mái về vật chất rất nhiều hơn trong một loại khác biệt của xã hội. Mặc dù dưới sự cạnh tranh, xác suất mà một người vốn khởi đầu nghèo khó, sẽ đạt đến sự giàu có to lớn, thì nhỏ hơn nhiều so với xác suất thực sự của một người vốn đã từng thừa hưởng tài sản, đó là điều không chỉ có thể có đối với người được đề cập trước tiên, nhưng hệ thống cạnh tranh là một hệ thống duy nhất nơi mà nó chỉ phụ thuộc vào anh ta và không vào những ân huệ của người có quyền lực vô hạn, và nơi mà không một người nào có thể ngăn chận một người thử cố gắng đạt được kết quả nầy. Chính là chỉ vì chúng ta đã quên sự phi tự do có nghĩa là gì mà qua đó chúng ta thường nhìn sơ qua sự kiện thực tế hiển nhiên là trong mỗi ý nghĩa thực sự, một công nhân không có tay nghề được trả lương thấp trong đất nước nầy có sự tự do hơn để định hướng cuộc sống của mình so với phần nhiều một nhà doanh nghiệp nhỏ ở Đức hoặc một kỹ sư được được trả lương rất cao hơn hoặc người quản lý ở nước Nga.

p107

Liệu có phải đó là một câu hỏi về sự thay đổi công việc của anh ta hoặc địa điểm nơi mà anh ta sống, về những quan điểm bày tỏ nào đó hoặc về việc dùng thời gian rảnh rỗi của mình theo một cách riêng biệt, mặc dù đôi khi cái giá mà anh ta có thể phải trả cho việc đi theo những khuynh hướng của mình, có thể là cao, và đối với nhiều người dường như quá cao, không có những trở ngại tuyệt đối nào, không có những nguy hiểm nào đối với sự an toàn thể chất và quyền tự do mà qua đó giam giữ anh ta bằng bạo lực trong phạm vi công việc và môi trường mà một cấp trên đã giao cho anh ta.
Mà qua đó lý tưởng về công lý của hầu hết các nhà xã hội chủ nghĩa sẽ được đáp ứng nếu phần thu nhập riêng tư đơn thuần từ bất động sản bị bãi bỏ và những khác biệt giữa những phần thu nhập kiếm được của những người khác nhau vẫn còn là cái gì mà hiện nay chúng trở thành, là xác thực.1 Điều mà những người nầy quên lãng, là trong việc chuyển giao toàn bộ tài sản trong những phương tiện sản xuất cho nhà nước, họ đặt nhà nước vào một vị trí bởi đó hành động của nó vì mục đích thiết thực phải quyết định tất cả những khoản thu nhập khác. Quyền lực vì thế được cho nhà nước và nhu cầu mà qua đó nhà nước sẽ sử dụng nó để “lên kế hoạch”, không mang ý nghĩa gì khác hơn là nó sẽ sử dụng quyền lực đó trong sự nhận thức hoàn toàn về tất cả những ảnh hưởng nầy.
=============
1 Có thể là chúng ta theo thói quen đánh giá quá cao mức độ đối với điều mà sự chênh lệch về những khoản thu nhập chủ yếu được gây ra bởi phần thu nhập rút từ bất động sản, và vì vậy mức độ đối với điều mà những chênh lệch lớn lao sẽ bị hủy bỏ bởi việc bãi bỏ thu nhập từ bất động sản. Một ít thông tin nào đó mà chúng ta có về việc phân phối những thu nhập ở nước Nga Sô, không gợi ý rằng những chênh lệch ở đó nhỏ hơn thật đáng kể so với điều đó trong một xã hội tư bản. Max Eastman (trong tác phẩm “The End of Socialism in Russia” (“Sự chấm dứt của Chủ nghĩa Xã hội ở Nga”), năm 1937, pp. 30–4) đưa ra một số thông tin từ các nguồn chính thức của Nga vốn cho rằng sự khác biệt giữa những mức lương cao nhất và thấp nhất được trả ở Nga thuộc về cùng một chỉ số mức độ (vào khoảng 50–1) như ở Hoa Kỳ; và Leon Trotsky, theo một bài viết được trích dẫn bởi James Burnham (trong tác phẩm “The Managerial Revolution” (“Cuộc cách mạng Quản lý”), năm 1941, p. 43), đã ước tính vào khoảng cuối năm 1939 rằng “tỷ lệ phần trăm cao hơn 11 hoặc 12 của dân số Sô-Viết hiện nay nhận được vào khoảng 50 phần trăm phần thu nhập quốc gia. Tiến trình tạo nên sự khác biệt nầy thì sắc nét hơn ở Hoa Kỳ, nơi mà tỷ lệ phần trăm cao hơn 10 của dân số nhận được vào khoảng 35 phần trăm phần thu nhập quốc gia”.

(Max Forrester Eastman (1883–1969), là cây viết người Mỹ cũng là
nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, từng ủng hộ chủ nghĩa xã hội của
Liên Xô rất nhiệt tình. Tuy nhiên, trong cuộc đời sau nầy, những quan
điểm của ông ta đã quay đột ngột 180 độ và chống đối chủ nghĩa xã
hội trong những bài viết và tác phẩm để lại)

(James Burnham (1905–1987), là nhà triết học và nhà lý luận chính
trị cũng là người dẫn đầu phong trào Trotsky ở Mỹ. Tuy nhiên, trong
những năm sau nầy, ông ta đã rời khỏi chủ thuyết Mác-xít và quay
sang cánh Hữu chính trị. Tác phẩm “The Managerial Revolution”
là một công sức đầy kinh nghiệm và được biết đến rộng rãi)

=============

p108

Để tin rằng quyền lực mà vì thế được trao cho nhà nước, chỉ đơn thuần được chuyển cho nó từ những người khác, là sai lầm. Chính là một quyền lực vốn mới được tạo ra và qua đó trong một xã hội cạnh tranh, không ai chiếm hữu được. Miễn là bất động sản được phân chia trong số nhiều chủ nhân, không một ai trong số họ hành động một cách độc lập có quyền lực độc nhất để định đoạt khoản thu nhập và vị trí của nhóm riêng biệt –không một ai bị ràng buộc vào anh ta ngoại trừ do một sự kiện thực tế mà anh ta có thể đưa ra những điều khoản tốt hơn bất cứ người nào khác.
Điều mà thế hệ chúng ta đã quên lãng là hệ thống của tài sản tư nhân, là một bảo đảm quan trọng nhất của quyền tự do, không chỉ đối với những người vốn sở hữu bất động sản, mà ít hiếm khi hơn đối với những người vốn không sở hữu. Chỉ là vì sự kiểm soát những phương tiện sản xuất được phân ra giữa nhiều người hành động một cách độc lập mà không một người nào có toàn quyền lực trên chúng ta, mà qua đó chúng ta như là những cá nhân có thể quyết định làm gì với chính mình. Nếu tất cả những phương tiện sản xuất được rơi vào bàn tay duy nhất, cho dù trên danh nghĩa nó là bàn tay của “xã hội” như là một khối, hoặc đó là của một nhà độc tài, bất cứ ai thực thi việc kiểm soát nầy, có toàn quyền lực trên chúng ta. Ai có thể nghiêm túc nghi ngờ rằng một thành viên của nhóm thiểu số sắc tộc hoặc tôn giáo nhỏ nhoi sẽ được tự do hơn với không một tài sản nào miễn là những thành viên thân hữu thuộc cộng đồng của mình có tài sản và vì vậy có thể mướn anh ta làm việc, so với cái tự do mà anh ta sẽ có nếu tài sản tư nhân bị bãi bỏ và anh ta trở thành chủ nhân của một phần chia sẻ trên danh nghĩa trong tài sản công xã. Hoặc là quyền lực mà một nhà triệu phú đa sản, vốn là người có thể là người hàng xóm của tôi và có lẽ là chủ nhân của tôi, có quyền lực trên tôi thì rất ư là ít so với điều mà một công chức thấp nhất có được, vốn là người sử dụng quyền lực cưỡng bức của nhà nước và sự tùy ý của người mà nó phụ thuộc vào, liệu là và làm cách nào tôi được phép sống hoặc làm việc ? Và ai sẽ phủ nhận rằng một thế giới mà trong đó những người giàu sang được quyền lực, vẫn là một thế giới tốt hơn một thế giới mà trong đó chỉ những người đã có quyền lực có thể giành được sự giàu sang ?
Đó là điều thảm hại, tuy đồng thời là điều khích lệ, để tìm ra một người cộng sản xa xưa nổi bật như khi Ngài Max Eastman tái khám phá sự thật nầy :

p109

Điều đó dường như rõ ràng đối với tôi hiện thời [ông ta viết trong một bài báo gần đây] –mặc dù tôi đã chậm rãi, tôi phải nói thế, trong việc đi đến một kết luận– mà qua đó một tổ chức về tài sản tư nhân là một trong những điều chính yếu vốn đã ban cho con người một số lượng giới hạn đó của sự tự do và công bằng mà Marx hy vọng sẽ hoàn lại vô hạn bằng cách hủy bỏ tổ chức nầy. Thật kỳ lạ, Marx là người đầu tiên nhìn thấy điều nầy. Nhìn lui lại, ông ta chính là người vốn báo cho chúng ta rằng sự tiến hòa của chủ nghĩa tư bản tư nhân với thị trường tự do của nó đã là một điều kiện tiên quyết cho sự tiến hóa của tất cả những quyền tự do dân chủ của chúng ta. Nhìn về phía trước, ông ta không bao giờ nảy ra ý nghĩ rằng nếu điều nầy là như thế, những quyền tự do khác nầy có thể biến mất với việc bãi bỏ thị trường tự do.1

Đôi khi người ta nói rằng, trong câu trả lời cho những hiểu biết rõ ràng như thế, rằng không có một lý do nào về việc tại sao nhà hoạch định nên định đoạt những khoản thu nhập của những cá nhân. Những khó khăn về xã hội và chính trị bị lôi cuốn vào việc quyết định những chia sẻ của những người khác nhau trong phần thu nhập quốc gia thì quá rõ ràng đến nổi ngay cả nhà hoạch định thâm niên nhất cũng có thể ngần ngại trước khi ông ta giao bất kỳ người có thẩm quyền nào công việc nầy. Có lẽ mọi người vốn nhận ra điều gì nó liên quan đến, sẽ muốn hạn chế việc hoạch định trong phạm vi sản xuất hơn, sử dụng nó chỉ nhằm bảo đảm một “tổ chức kỹ nghệ hợp lý”, bằng cách rời bỏ việc phân bố những khoản thu nhập xa như có thể đối với những lực khách quan. Mặc dù không thể nào điều hành kỹ nghệ trực tiếp mà không thực thi một số tác động trên việc phân bố, và mặc dù không một nhà hoạch định nào sẽ ước muốn để lại việc phân phối hoàn toàn cho các lực lượng của thị trường, có thể là tất cả họ sẽ muốn tự hạn chế chính mình trong phạm vi nhìn thấy rằng việc phân phối nầy phù hợp với những quy định chung nào đó về sự bình đẳng và công bằng, rằng những vấn đề bất bình đẳng cực kỳ buộc phải tránh, và rằng mối quan hệ giữa tiền thù lao của những giai cấp chính chỉ là, không nhận lấy trách nhiệm cho vị trí của nhóm riêng biệt trong phạm vi giai cấp của họ, hoặc cho những thay đổi từng bước và những tiến trình tạo nên sự khác biệt giữa các nhóm nhỏ hơn và những cá nhân.
=============
1 Max Eastman trong tập san The Reader’s Digest (Tập san Văn học của Đọc giả), tháng Bảy năm 1941, p. 39.
=============

p110

Chúng ta đã thực sự nhìn thấy rằng phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ của tất cả những hiện tượng kinh tế khiến cho khó khăn chận đứng việc hoạch định chỉ ở nơi mà chúng ta ước muốn, và rằng, một khi cách làm việc tự do của thị trường bị cản trở vượt quá một mức độ nhất định, nhà hoạch định sẽ buộc phải mở rộng những sự kiểm soát của mình cho đến khi chúng trở thành bao hàm toàn diện. Những suy xét nầy về kinh tế, vốn giải thích lý do tại sao không thể nào chận đứng sự kiểm soát cố ý chỉ ở nơi mà chúng ta sẽ ước muốn, được làm cho vững chắc một cách mạnh mẽ bởi những khuyh hướng xã hội hoặc chính trị nào đó mà sức mạnh của nó tự làm cho chính nó ngày càng cảm thấy được khi việc hoạch định mở rộng.
Một khi điều đó ngày càng trở nên xác thực, và được nhìn nhận chung chung, mà qua đó vị trí của cá nhân được định đoạt không phải do những lực khách quan, không phải như là một kết quả của sự nỗ lực cạnh tranh của phần nhiều thái độ của người dân, nhưng do sự quyết định cố ý của chính quyền, đối với vị trí của họ trong một trật tự xã hội nhất thiết phải thay đổi. Ở đó sẽ luôn luôn tồn tại những vấn đề bất bình đẳng vốn có vẻ bất công đối với những người vốn cam chịu khốn khổ từ chúng, những thất vọng vốn có vẻ không đáng có, và những đòn bất hạnh vốn mà những cú giáng đã không xứng đáng. Nhưng khi những điều nầy xảy ra trong một xã hội vốn được định hướng một cách ý thức, cách thức mà những người dân phản ứng, sẽ rất khác biệt đối với chính cái gì đó mà khi chúng là sự lựa chọn có ý thức của không ai cả. Sự bất bình đẳng chắc chắn được sinh ra một cách dễ dàng hơn, và gây ảnh hưởng đến phẩm giá con người ít hơn nhiều, nếu nó được định đoạt bởi những lực khách quan, so với khi nó là do trù định. Trong một xã hội cạnh tranh, không có lời xem thường nào đối với một người, không có lời xúc phạm nào đến phẩm giá của anh ta, được nói bởi bất kỳ công ty riêng biệt nào mà nó không có nhu cầu cho những phục vụ của anh ta, hoặc là nó không thể cho anh ta một công việc tốt hơn. Đó là điều xác thực mà trong những giai đoạn của nạn thất nghiệp số đông kéo dài, sự ảnh hưởng trên nhiều người có thể là rất tương tự. Nhưng có những phương pháp khác và tốt hơn để ngăn chận tai họa đó so với việc điều hành tập trung. Nhưng tình trạng thất nghiệp hoặc sự mất mát phần thu nhập vốn sẽ luôn luôn gây ảnh hưởng đến một số người trong bất kỳ xã hội nào, chắc chắn là ít suy thoái hơn nếu nó là kết quả của sự bất hạnh và không cố tình được áp đặt bởi chính quyền. Tuy nhiên cái kinh nghiệm quá cay đắng, nó sẽ tồi tệ hơn rất nhiều trong một xã hội có kế hoạch.

p111

Ở đó, những cá nhân sẽ phải quyết định không phải là liệu một người có được cần đến cho một công việc riêng biệt không, nhưng là không biết anh ta có được dùng cho bất cứ việc gì không, và anh ta hữu dụng như thế nào. Vị trí của anh ta trong cuộc sống ắt hẳn được phân định cho anh ta bởi một người nào khác.
Trong khi những người dân sẽ cam chịu khốn khổ vốn có thể giáng xuống bất cứ ai, họ sẽ không quá dễ dàng cam chịu khốn khổ vốn là kết quả quyết định của chính quyền. Điều đó thể là xấu khi chỉ là một bánh răng trong một bộ máy vô nhân tính; nhưng điều đó vô cùng tồi tệ hơn nếu chúng ta không còn có thể rời khỏi nó, nếu chúng ta bị ràng buộc vào nơi ở của chúng ta và vào những người cấp trên vốn là những người đã được chọn lựa cho chúng ta. Sự bất mãn của mọi người với số phận của mình sẽ không trảnh khỏi tăng trưởng cùng với ý thức rằng chính nó là kết quả của sự quyết định cố ý của con người.
Một khi chính phủ đã bắt tay vào việc hoạch định vì lợi ích của công lý, nó không thể từ chối trách nhiệm cho số phận hoặc vị trí của bất cứ ai. Trong một xã hội có kế hoạch, tất cả chúng ta sẽ biết rằng chúng ta có điều kiện thuận lợi hơn hoặc tồi tệ hơn những người khác, không phải bởi vì những hoàn cảnh mà không một ai kiểm soát, và qua đó không thể nào đoán trước một cách chắc chắn, nhưng bởi vì một thẩm quyền nào đó định như thế. Và tất cả những nỗ lực của chúng ta được điều thẳng hướng đến việc cải thiện vị trí của chúng ta sẽ phải nhắm đến, không phải vào việc nhìn thấy trước và chuẩn bị trước cũng như chúng ta có thể trong những trường hợp mà trên đó chúng ta không có một quyền kiểm soát nào, ngoại trừ vào việc gây ảnh hưởng trong sự ủng hộ của chúng ta cho chính quyền vốn có tất cả quyền lực. Cơn ác mộng của những nhà tư tưởng về chính trị vào thế kỷ mười chín ở Anh quốc: nhà nước mà trong đó “không có một đại lộ dẫn đến sự giàu có và danh dự sẽ tồn tại sự cứu rổi qua chính phủ”1 sẽ được nhận biết đến trong một tình trạng hoàn chỉnh mà họ không bao giờ tưởng tượng nổi, mặc dù đủ quen thuộc trong một số quốc gia mà kể từ khi đã đi qua chế độ độc tài toàn trị.

* * * * *

Ngay sau khi nhà nước tự nhận lãnh công việc hoạch định toàn bộ đời sống kinh tế, nan đề về chức vị có quyền được hưởng của những cá nhân và các nhóm khác nhau quả thật không tránh khỏi phải trở thành một nan đề chính trị tập trung.
============
1 Những chữ thực sự là những lời của Disraeli lúc còn trẻ.

(Benjamin Disraeli, Bá tước vùng Beaconsfield thứ nhất (1804–1881),
là nhà chính trị bảo thủ Anh, một cây viết, và tay hùng biện nổi tiếng,
đã từng hai lần phục vụ như là vị Thủ tướng)

=============

p112

Khi chỉ có quyền lực cưỡng bức của nhà nước sẽ quyết định ai sẽ có cái gì, một quyền lực duy nhất đáng có sẽ là một phần trong việc thực thi quyền lực chỉ đạo nầy. Sẽ không có những câu hỏi về kinh tế hoặc xã hội mà sẽ không là những câu hỏi về chính trị trong ý nghĩa rằng giải pháp của họ sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào người vốn nắm quyền lực cưỡng bức, vào quyền lực của người đó là những quan điểm vốn sẽ chiếm ưu thế vào tất cả những dịp.
Tôi tin rằng đó là Lenin, chính ông ta vốn là người đã giới thiệu với nước Nga nhóm chữ nổi tiếng “ai làm, ai chịu ?” –trong suốt những năm đầu thống trị của Liên Xô, một điển hình trong đó người dân tổng kết lại nan đề phổ quát của một xã hội thuộc chủ nghĩa xã hội.1 Ai lên kế hoạch cho ai, ai chỉ đạo và thống trị ai, ai quy định cho những người khác chức vị của họ trong cuộc sống, và ai sẽ có quyền được hưởng của mình được phân bổ bởi những người khác ? Những điều nầy trở nên thiết yếu là những vấn đề trọng tâm được quyết định chỉ bởi một quyền lực tối cao.
Gần đây hơn, một sinh viên chính trị học Mỹ đã mở rộng trên nhóm chữ của Lenin và khẳng định rằng nan đề của toàn bộ chính phủ là “ai được gì, khi nào, và như thế nào ?” Theo cách mà điều nầy không phải là không xác thực. Mà qua đó toàn bộ chính phủ gây ảnh hưởng đến vị trí tương đối của những người khác và qua đó dưới bất kỳ một hệ thống nào, hiếm khi có một khía cạnh đời sống của chúng ta vốn có thể không bị ảnh hưởng bởi hành động của chính phủ, chắc chắn là điều xác thực. Đến một mức nào đó, chính phủ làm hết tất cả bất cứ điều gì, hành động của nó sẽ luôn luôn có một ảnh hưởng nào đó trên vấn đề “ai được gì, khi nào, và như thế nào”.
Tuy nhiên, có hai sự phân biệt cơ bản được thực hiện. Thứ nhất, những biện pháp riêng biệt có thể được dùng đến mà không sự hiểu biết về việc chúng sẽ gây ảnh hưởng đến những cá nhân riêng biệt như thế nào, và không có chuyện nhắm vào những tác động riêng biệt như thế. Điểm nầy chúng ta đã thảo luận rồi. Thứ hai, chính là mức độ của những hoạt động của chính phủ vốn quyết định việc liệu mọi thứ mà bất kỳ người nào được vào bất cứ lúc nào, có phụ thuộc vào chính phủ không, hoặc liệu ảnh hưởng của nó có được hạn chế trong phạm vi không biết một người nào đó sẽ được một vài thứ theo một cách nào đó vào một thời gian nào đó không. Ở đây phơi bày sự khác biệt toàn diện giữa một hệ thống tự do và một hệ thống độc tài toàn trị.
=============
1 Xem thêm M. Muggeridge, tác phẩm “Winter in Moscow” (“Mùa đông ở Moscow”), 1934; A. Feiler, tác phẩm “The Experiment of Bolshevism” (“Những thí nghiệm của Chủ thuyết Bolshevik”), 1930.
=============

p113

Sự tương phản giữa một hệ thống tự do và một hệ thống có kế hoạch toàn diện được minh họa một cách đặc trưng bằng những lời than phiền thông thường của những người Đức Quốc xã và những người theo chủ nghĩa xã hội về “những sự tách biệt giả tạo của kinh tế học và chính trị học”, và sự đòi hỏi thông thường như nhau của họ cho sự ưu thế của chính trị học trên kinh tế học. Những nhóm chữ có thể cho là mang ý nghĩa không chỉ là những lực lượng kinh tế bây giờ được phép làm việc vì những mục đích cuối cùng vốn không phải là một phần của chính sách của chính phủ, mà còn là sức mạnh kinh tế có thể được sử dụng một cách độc lập theo chiều hướng của chính phủ và cho những mục đích mà chính phủ có thể không chấp thuận. Nhưng một sự lựa chọn thay thế khác hay thế không đơn thuần là sẽ chỉ có một quyền lực, nhưng là quyền lực duy nhất nầy, nhóm đang cầm quyền, sẽ có quyền kiểm soát trên tất cả những mục đích của con người, và riêng biệt là nó sẽ có toàn quyền trên vị trí của mỗi cá nhân trong xã hội.

* * * * *

Mà qua đó một chính phủ vốn đảm nhận điều hành hoạt động kinh tế sẽ phải sử dụng quyền lực của nó để nhận ra lý tưởng của ai đó về sự công bằng phân phối, là điều chắc chắn. Nhưng nó có thể và sẽ sử dụng quyền lực đó như thế nào ? Nó sẽ hoặc nên được hướng dẫn bởi những nguyên tắc gì ? Có một câu trả lời rõ ràng nào cho những vô số câu hỏi về những giá trị tương đối vốn sẽ phát sinh và sẽ phải được giải quyết một cách thận trọng không ? Có một mức độ nào của những giá trị mà trên đó những người biết lý lẽ có thể được kỳ vọng là sẽ đồng ý, mà qua đó sẽ điều chỉnh lại một trật tự thứ bậc mới của xã hội, và gần như đáp ứng những nhu cầu cho sự công bằng không ?
Chỉ có một nguyên tắc chung, một quy định đơn giản mà quả thật sẽ cung cấp một câu trả lời rõ ràng cho tất cả những câu hỏi nầy: vấn đề bình đẳng, sự bình đẳng hoàn toàn và tuyệt đối của tất cả những cá nhân trong tất cả những quan điểm vốn phải chịu sự kiểm soát của con người. Nếu điều nầy được xem chung chung như là điều ước muốn khao khát (hoàn toàn khác biệt từ câu hỏi là liệu điều đó sẽ là thực tiển không, có nghĩa là, liệu điều đó sẽ cung cấp những thúc đẩy thích đáng không), nó sẽ đưa ra một ý tưởng mơ hồ về sự công bằng phân phối một ý nghĩa rõ ràng và sẽ cho nhà hoạch định sự hướng dẫn xác thực.

p114

Nhưng không có gì đi xa hơn khỏi sự thật so với điều mà những người dân nói chung xem sự bình đẳng máy móc của loại nầy như là điều khao khát. Không có một phong trào xã hội chủ nghĩa nào vốn nhắm vào sự bình đẳng hoàn toàn, đã từng có được sự ủng hộ đáng kể. Điều mà chủ nghĩa xã hội hứa hẹn, không phải là một bình đẳng tuyệt đối, nhưng là một sự phân phối công bằng hơn và bình đẳng hơn. Không phải là bình đẳng trong ý nghĩa tuyệt đối, nhưng là “sự bình đẳng hơn”, là mục đích duy nhất vốn được nhắm đến một cách nghiêm túc.
Mặc dù hai lý tưởng nầy có vẻ rất giống nhau, họ khác biệt như có thể xa như nan đề của chúng ta được quan tâm. Trong khi sự bình đẳng tuyệt đối sẽ định đoạt một cách rõ ràng công việc của nhà hoạch định, sự khao khát cho sự bình đẳng lớn hơn chỉ đơn thuần là tiêu cực, không hơn là một sự bày tỏ về điều không thích tình trạng hiện tại của những vấn đề; và miễn là chúng ta chưa sẵn sàng để nói rằng mỗi động thái trong chiều hướng tiến đến sự bình đẳng hoàn toàn là điều ước muốn khao khát, điều đó hiếm khi trả lời bất kỳ câu hỏi nào trong số đó mà nhà hoạch định sẽ phải quyết định.
Điều nầy không phải là cách chơi chữ. Ở đay, chúng ta phải đối mặt với một vấn đề rất quan trọng mà tính chất tương tự của những thuật ngữ được sử dụng thì dễ che đậy. Trong khi sự thỏa thuận trên vấn đề bình đẳng hoàn toàn sẽ trả lời tất cả những nan đề về giá trị mà nhà hoạch định phải trả lời, công thức của cách giải quyết vấn đề bình đẳng to lớn hơn trả lời một cách thực tiển là không có một câu trả lời nào. Nội dung của nó khó mà rõ ràng hơn những nhóm chữ “lợi ích chung” hoặc “phúc lợi xã hội.” Nó không giải thoát chúng ta ra khỏi điều cần thiết về việc quyết định trong mọi trường hợp riêng biệt giữa những thành tích của những cá nhân hoặc những nhóm riêng biệt, và không cho chúng ta một giúp ích nào trong sự quyết định đó. Tất cả điều mà nó cho chúng ta biết trong thực tế, là lấy từ những người giàu nhiều như chúng ta có thể tưởng. Nhưng khi nó đi đến việc phân phối những gì chiếm được, nan đề thì giống nhau như thể công thức về “sự bình đẳng to lớn hơn” đã chưa từng bao giờ được hình thành trong đầu.

* * * * *

Hầu hết những người dân cảm thấy khó thừa nhận rằng chúng ta không có những tiêu chuẩn đạo đức vốn sẽ cho phép chúng ta giải quyết những câu hỏi nầy –nếu không hoàn hảo, ít ra là sự hài lòng chung chung lớn hơn so với điều mà được thực hiện bởi hệ thống cạnh tranh.

p115

Có phải chăng tất cả chúng ta không có một ý tưởng nào về cái gì là “mức giá đúng”, hoặc “mức lương công bằng” ? Có phải chăng chúng ta không thể dựa vào ý nghĩa mạnh mẽ về sự công bằng của người dân ? Và thậm chí nếu chúng ta hiện thời không đồng ý hoàn toàn trên cái gì là đúng hoặc công bằng trong một trường hợp riêng biệt, có phải chăng những ý tưởng công chúng chẳng bao lâu sẽ không hợp nhất trở thành những tiêu chuẩn rõ ràng hơn nếu những người dân được cho một cơ hội để nhìn thấy những lý tưởng của họ được thực hiện ?
Thật không may là có ít nền tảng cho những hy vọng như thế. Những tiêu chuẩn gì đó mà chúng ta có, được rút ra từ chế độ cạnh tranh mà chúng ta đã từng biết đến, và nhất thiết sẽ biến mất ngay sau khi sự biến mất của sự cạnh tranh. Điều mà chúng ta muốn nói về mức giá đúng, hoặc mức lương công bằng, là một trong hai hoặc mức giá hay mức lương theo thông lệ, phần tiền thu vào mà kinh nghiệm quá khứ đã khiến cho mọi người kỳ vọng, hoặc là mức giá hay mức lương vốn sẽ tồn tại nếu không có một sự khai thác độc quyền thương mại nào. Một ngoại lệ quan trọng duy nhất đối với điều nầy được sử dụng là quyền yêu sách của những công nhân về “toàn bộ kết quả lao động của họ”, mà qua đó có rất nhiều học thuyết xã hội chủ nghĩa lần mò theo vết trở lại. Nhưng có một ít nhà xã hội chủ nghĩa ngày nay vốn là những người tin rằng trong một xã hội thuộc chủ nghĩa xã hội, kết quả của mỗi nhà máy kỹ nghệ sẽ được chia sẻ toàn bộ bởi những công nhân của nhà máy đó; vì điều nầy sẽ có nghĩa là những công nhân trong những ngành kỹ nghệ sử dụng rất nhiều vốn liếng sẽ có một thu nhập lớn hơn nhiều so với những công nhân trong những ngành kỹ nghệ sử dụng ít vốn, điều mà hầu hết những nhà xã hội chủ nghĩa sẽ xem như là rất bất công. Và điều đó hiện thời được đồng ý khá chung chung rằng quyền yêu sách riêng biệt nầy được dựa trên cách giải thích sai lầm về những sự kiện thực tế. Nhưng một khi sự yêu sách của một cá nhân lao động về toàn bộ sản phẩm “của mình” không được cho phép, và toàn bộ lợi nhuận từ vốn liếng phải được chia ra trong số những người lao động, nan đề về việc làm cách nào phân chia, nó nêu lên cùng một vấn đề cơ bản.
Điều mà “mức giá đúng” của một mặt hàng riêng biệt hoặc tiền thù lao “công bằng” cho một dịch vụ riêng biệt là gì, có thể hình dung là được định rõ một cách khách quan, nếu những số lượng cần đến thì cố định một cách độc lập. Nếu những điều nầy được đưa ra bất chấp phí tổn, nhà hoạch định có thể cố gắng tìm thấy mức giá hoặc mức lương gì là cần thiết để đưa đến sự cung cấp nầy. Nhưng nhà hoạch định cũng phải quyết định việc mỗi loại hàng hóa sẽ được sản xuất ra bao nhiêu, và khi làm như thế, ông ta định đoạt mức giá đúng hoặc mức lương công bằng phải trả sẽ là bao nhiêu.

p116

Nếu nhà hoạch định quyết định rằng một số ít kiến trúc sư hơn hoặc một số ít người chế tạo đồng hồ hơn được cần đến và rằng nhu cầu có thể được đáp ứng bởi những người vốn vui lòng ở lại trong chuyên ngành với mức thù lao thấp hơn, mức lương “công bằng” sẽ thấp hơn. Trong việc quyết định tầm quan trọng tương đối của những mục đích khác nhau, nhà hoạch định cũng quyết định tầm quan trọng tương đối của những nhóm và những người khác nhau. Như người ta không giả định là ông ta đối xử với những người dân chỉ đơn thuần như là một phương tiện, ông ta phải tính đến những ảnh hưởng nầy và cân bằng một cách có ý thức tầm quan trọng của những mục đích khác nhau chống lại những tác động của sự quyết định của mình. Điều nầy, tuy nhiên, có nghĩa là ông ta nhất thiết sẽ phải tiến hành việc kiểm soát trực tiếp trên những điều kiện của những người khác nhau.
Điều nầy áp dụng cho vị trí tương đối của những cá nhân không kém hơn cho điều đó của những nhóm có nghề nghiệp khác nhau. Chúng ta, nói chung, rất quá dễ có thành kiến không thể nghĩ về những khoản thu nhập trong phạm vi một chuyên ngành hoặc chuyên nghiệp được đưa ra như là ít nhiều đồng đều hơn. Nhưng những sự khác biệt giữa những khoản thu nhập, không chỉ là của hầu hết nghề nghiệp và ít thành công nhất như là bác sĩ hoặc kiến trúc sư, nhà văn hoặc diễn viên điện ảnh, nhà võ sĩ hay tay đua ngựa, mà còn là của những nghề nghiệp nhiều hoặc ít thành công hơn như là thợ sửa ống nước hoặc người trồng rau, bông hoa bán ngoài chợ, người bán tạp hóa hoặc người may áo quần, thì to lớn như những khoản thu thập giữa những tầng lớp có tài sản và vô tài sản. Và mặc dù, không có chút nghi ngờ nào, sẽ có nỗ lực nào đó trong việc tiêu chuẩn hóa bằng cách tạo ra những phân loại, điều cần thiết về sự phân biệt đối xử giữa các cá nhân sẽ vẫn còn như cũ, cho dù nó được tiến hành bằng cách sửa chữa những khoản thu nhập cá nhân của họ hoặc bằng cách phân bổ họ vào những phân loại riêng biệt.
Chúng ta không cần nói thêm về điều gần như thế của con người trong một xã hội tự do cam chịu sự kiểm soát như thế –hoặc về phần còn lại tự do của họ nếu họ cam chịu. Trên toàn bộ câu hỏi về điều mà John Stuart Mill đã viết gần một trăm năm trước đây, vẫn còn đúng y ngày hôm nay :

p117

Một quy định được tu chỉnh, như điều đó về sự bình đẳng, có thể được mặc nhận, và cơ hội cũng có thể như thế, hoặc một điều cần thiết bề ngoài; nhưng qua đó một số ít con người sẽ có ảnh hưởng trên mọi người trong sự cân bằng, và cho một người thêm và người khác ít tùy theo lúc vui và sự xét đoán duy nhất của họ và án, sẽ không được sinh ra trừ khi từ những người được tin là hơn hẳn những người khác, và được hỗ trợ bởi những thứ siêu tự nhiên gây khiếp sợ.1

* * * * *

Những khó khăn nầy không cần dẫn đến các cuộc đụng độ công khai miễn là chủ nghĩa xã hội chỉ đơn thuần là nguyện vọng của một nhóm người hạn chế và khá đồng nhất. Họ cuối cùng xuất hiện chỉ khi nào một chính sách xã hội chủ nghĩa được thực sự cố gắng thử với sự hỗ trợ của nhiều nhóm khác nhau vốn cùng nhau kết hợp tạo nên một đại đa số của một dân tộc. Sau đó, chẳng bao lâu nó trở thành một câu hỏi nóng cháy vốn là một trong những nhóm khác nhau về những lý tưởng sẽ được áp đặt trên tất cả bằng cách làm cho toàn bộ những nguồn tài lực của đất nước phục vụ cho nó. Đó là bởi vì việc hoạch định thành công đòi hỏi việc tạo ra một quan điểm chung về những giá trị cần thiết mà sự hạn chế quyền tự do của chúng ta liên quan đến những thứ vật chất va chạm rất trực tiếp vào quyền tự do về tinh thần của chúng ta.
Những nhà xã hội chủ nghĩa, những cha mẹ có dung bồi tư tưởng của đàn con man rợ mà họ đã từng sinh ra, theo như truyền thống hy vọng sẽ giải quyết được vấn đề nầy bằng cách giáo dục. Nhưng sự giáo dục có nghĩa là gì trong sự liên quan nầy ? Chắc chắn là chúng ta đã từng học hỏi rằng kiến thức không thể tạo ra những giá trị đạo đức xử thế mới, rằng không có một số lượng học hỏi nào sẽ dẫn dắt người ta bám giữ những quan điểm giống nhau trên các vấn đề đạo đức mà việc lập trật tự có ý thức của tất cả những mối quan hệ xã hội đưa ra. Nó không phải là niềm tin vững chắc, hợp lý nhưng là sự chấp nhận một giáo điều vốn được đòi hỏi để biện minh cho một kế hoạch riêng biệt. Và, quả thật, những nhà xã hội chủ nghĩa ở mọi nơi là những người đầu tiên nhận ra rằng công việc mà họ đã đặt chính mình vào, đòi hỏi sự chấp nhận chung chung về nhân sinh quan thế giới phổ thông, về một khuynh hướng xác định về những giá trị. Chính là trong những nỗ lực nầy tạo ra một sự chuyển động đông đảo được hỗ trợ bởi một quan điểm thế giới duy nhất như thế, rằng những nhà xã hội chủ nghĩa tạo ra đầu tiên hầu hết những công cụ truyền bá mà Đức Quốc xã và những người phát-xít đã tạo nên việc sử dụng có hiệu quả như thế.
=============
1 J.S. Mill, “The Principles of Political Economy” (“Những nguyên tắc về Kinh tế Chính trị”), Quyển I, Chương II, Dòng 4.
=============

p118

Ở Đức và Ý, Đức Quốc xã và những người phát-xít quả thật không phải phát minh nhiều. Những cách sử dụng của các phong trào chính trị mới vốn bao trùm tất cả những khía cạnh cuộc sống đã có trong cả hai quốc gia, đã thực sự được giới thiệu bởi những nhà xã hội chủ nghĩa rồi. Ý tưởng về một đảng chính trị vốn ôm lấy tất cả những hoạt động của cá nhân từ lúc khởi đầu cho đến lúc chấm dứt, vốn tuyên bố hướng dẫn những quan điểm của anh ta trên mọi thứ, và vốn làm say mê trong việc tạo ra tất cả những nan đề, những câu hỏi về nhân sinh quan thế giới về đảng phái, lần đầu tiên được đưa vào thực hành bởi những nhà xã hội chủ nghĩa. Một nhà văn Áo thuộc chủ nghĩa xã hội, nói về phong trào xã hội chủ nghĩa của đất nước của mình, tường thuật với niềm tự hào mà đó là “nét nổi bật của nó về đặc tính mà qua đó nó đã tạo ra những tổ chức đặc biệt cho mỗi lãnh vực của những hoạt động của những người lao động và người làm công”.1 Nhưng mặc dù những nhà xã hội chủ nghĩa Áo có thể đã đi xa hơn trong phương diện nầy so với những người khác, tình huống không phải là rất khác nhau ở nơi khác. Không phải là những người phát-xít mà là những nhà xã hội chủ nghĩa vốn là những người bắt đầu thu thập những trẻ em từ tuổi còn non nớt nhất vào trong những tổ chức chính trị hầu bảo đảm rằng chúng đã lớn lên như là những người vô sản tốt đẹp. Không phải là những người phát-xít mà là những người theo chủ nghĩa xã hội vốn là những người đầu tiên nghĩ đến việc tổ chức các môn thể thao và những trò chơi, bóng cầu dục và đi bộ đường dài, trong những câu lạc bộ của đảng nơi mà những thành viên sẽ không bị nhiễm bởi những quan điểm khác. Chính là những nhà xã hội chủ nghĩa vốn là những người đầu tiên khẳng định rằng đảng viên nên tự phân biệt chính mình với những người khác bằng những kiểu chào và những hình thức xưng hô. Chính là họ vốn là những người do cách tổ chức của họ về “những chi bộ” và những phương sách cho việc giám sát thường trực cuộc sống riêng tư đã tạo ra một nguyên bản của đảng độc tài toàn trị. Tổ chức Thanh thiếu niên Phát-xít Ý Balilla trong học đường và Tổ chức Thanh thiếu niên Hitler của Đức, Câu lạc bộ Giải trí Quốc gia Dopolavoro của Ý và Câu lạc bộ Sức mạnh qua Vui thú của Đức có tên là Kraft durch Freude, những đồng phục mang màu sắc chính trị và những hình thành của đảng về quân sự, tất cả đều nhiều hơn một ít so với những bắt chước theo những tổ chức xã hội chủ nghĩa xa xưa hơn.2

(Opera Nazionale Balilla (ONB) là Tổ chức Thanh thiếu niên Phát-xít Ý
từ năm 1926–1937 như là một chương trình thêm vào trong học đường,
sau đó biến thành Gioventù Italiana del Littorio (GIL), là một bộ phận
thanh thiếu niên của Đảng Phát-xít Quốc gia)

(Hitlerjugend (HJ) là Tổ chức Thanh thiếu niên Hitler từ năm 1922–1945
bao gồm từ 10 đến 18 tuổi trong những nhóm mang tên riêng của chúng,
là mô hình cho những quốc gia theo chủ nghĩa Quốc xã noi theo)

(Opera Nazionale Dopolavoro (ODD), là Câu lạc bộ Giải trí Quốc gia
của phát-xít Ý, bao gồm những môn thể thao, múa hát, biểu diễn v.v.
dành cho thanh niên thanh nữ trong mục đích trách bị tiêm nhiễm
những quan niệm khác với Chủ nghĩa Quốc xả)

(Kraft durch Freude (KdF), Câu lạc bộ Sức mạnh qua Vui thú của
Đức, là mô hình mà Tổ chức Dopolavoro Ý bắt chước theo)

(Những hàng dài nhà cao tầng ở khắp nơi trên nước Đức như là những
khách sạn tập trung, những khu nhà nghĩ mát dành cho mọi người dân
Đức với những hoạt động thể thao, thể dục, múa hát v.v. dưới hình thức
là những câu lạc bộ giải trí quốc gia trong kỷ nghệ du lịch nhằm đẩy
mạnh nền kinh tế Đức, với đỉnh điểm được báo cáo là 25 triệu du khách
vào năm 1939. Nhưng cuối cùng phải sụp đổ cũng chính vào năm đỉnh
điểm đó, 1939, với nhiều đồ án xây dựng đành phải hủy bỏ)

(Tất cả những điều ở trên dường như được tìm thấy ngay trên nước Cộng
hòa Xả hội Chủ nghĩa Việt Nam, với hàng loạt nhà nghĩ mát cao tầng, hoặc
trong những loại xây dựng đủ kiểu mọc lan tràn khắp nơi dưới quyền quản
lý của nhà cầm quyền và tư nhân một phần nhỏ, cũng đang rơi vào tình trạng
thiếu du khách trên thực tế ngoại trừ con số ảo trên báo cáo vì đa số công
chúng không thể có dư tiền để chi phí cho những dịch vụ mà họ cho là không
cần thiết hơn cái sống lo toan trong hiện tại)

(Những nhóm thanh thiếu niên Việt Nam trong cách tổ chức không khác
những gì mà Đức Quốc xã đã từng làm và cũng cùng chung mục đích của
nó là sự nhào nặn tư tuởng theo chủ nghĩa dưới sự điều động của nhà cầm
quyền. Một đắc tính mà chỉ thấy ở những quốc gia độc tài toàn trị)

* * * * *

Miễn là phong trào xã hội chủ nghĩa trong một quốc gia bị ràng buộc một cách chặt chẽ với những lợi ích của một nhóm riêng biệt, thường là những công nhân kỹ nghệ có tay nghề cao hơn, nan đề của việc tạo ra một quan điểm chung về tình trạng rất mong muốn của những thành viên khác nhau của xã hội thì tương đối đơn giản.
=============
1 G. Wieser, tác phẩm “Ein Staat stirbt. Oesterreich 1934–1938” (“Một nhà nước Chết. Nước Áo trong giai đoạn 1934–1938”), Paris, 1938, p. 41.

2 “Những câu lạc bộ Sách” mang màu sắc chính trị trong đất nước nầy cung cấp một chiều hướng song song không phải là không quan trọng.
=============

p119

Phong trào ngay lập tức được quan tâm với danh nghĩa của một nhóm riêng biệt và mục đích của nó là nhằm nâng cao danh nghĩa đó một cách tương đối với những nhóm khác. Đặc tính của nan đề thay đổi, tuy nhiên, như trong quá trình bước tiến triển về hướng chủ nghĩa xã hội, nó trở nên càng lúc càng rõ ràng hơn đối với mọi người rằng mức thu nhập và vị trí chung chung của anh ta được định đoạt bởi một bộ máy cưỡng bức của nhà nước, rằng anh ta có thể duy trì hoặc cải thiện vị trí của mình chỉ như là một thành viên của một nhóm được tổ chức có khả năng gây ảnh hưởng hoặc kiểm soát guồng máy nhà nước theo lợi ích của mình. Trong cuộc gằng co giữa các nhóm có áp lực khác nhau vốn phát sinh vào giai đoạn nầy, điều đó không có nghĩa cần thiết là những lợi ích của các nhóm nghèo nhất và đông nhất sẽ thắng thế. Cũng không phải nhất thiết điều đó là một lợi thế cho những đảng phái xã hội chủ nghĩa xa xưa hơn, vốn là những người công khai đại diện cho những lợi ích của một nhóm riêng biệt, để trở thành đảng phái đầu tiên trong lãnh vực nầy, và để trù hoạch toàn bộ hệ tư tưởng của họ nhằm thu hút những công nhân trong ngành kỹ nghệ. Sự thành công thực sự của họ, và sự kiên trì của họ trên việc chấp nhận toàn bộ tín điều, bị ràng buộc để tạo ra một phong trào đối nghịch mạnh mẽ –không phải bởi những nhà tư bản chủ nghĩa, nhưng bởi những giai cấp rất to lớn và vô tài sản như nhau vốn là những người tìm thấy danh phận tương đối của họ bị đe dọa bởi bước tiến của giới ưu tú gồm những công nhân kỹ nghệ. Lý thuyết xã hội chủ nghĩa và chiến lược xã hội chủ nghĩa, ngay cả nơi mà chúng đã không bị khống chế bởi giáo điều Mác-xít, ở mọi nơi đã được dựa trên ý tưởng về sự phân chia của xã hội trở thành hai tầng lớp với những lợi ích chung nhưng xung đột lẫn nhau: những nhà tư bản và những công nhân kỹ nghệ.
Chủ nghĩa xã hội tin tưởng vào sự biến mất nhanh chóng của tầng lớp trung lưu cũ và hoàn toàn bỏ qua sự vươn lên của tầng lớp trung lưu mới, một đội quân vô số gồm những nhân viên văn phòng và những người đánh máy, những nhân viên hành chánh và những nhà giáo, những thương gia và các quan chức nhỏ, và những bậc thấp hơn của những chuyên ngành. Trong lúc nầy, những tầng lớp nầy thường cung cấp nhiều người trong số những nhà lãnh đạo của phong trào lao động. Nhưng khi điều đó ngày càng trở nên rõ ràng rằng vị thế của những tầng lớp đó tương đối bị suy giảm đối với điều đó của những công nhân kỹ nghệ, những lý tưởng vốn hướng dẫn những công nhân kỹ nghệ bị mất đi phần nhiều sức hấp dẫn của chúng đối với những người khác.

p120

Trong khi tất cả họ đều là những người theo chủ nghĩa xã hội trong cảm nghĩ là họ không thích hệ thống tư bản và muốn có việc chia sẻ có chủ ý sự giàu có theo những ý tưởng của họ về sự công bằng, những ý tưởng nầy chứng minh là rất khác với những ý tưởng được thể hiện trong cách thực hành của những đảng phái xã hội chủ nghĩa xa xưa.
Những phương thức mà những đảng phái xã hội chủ nghĩa xa xưa đã từng dùng đến một cách thành công nhằm bảo đảm sự hỗ trợ của một nhóm nghề nghiệp –việc nâng cao vị thế tương đối về kinh tế của họ– không thể được sử dụng để bảo đảm sự hỗ trợ của tất cả. Ở nơi đó buộc phải phát sinh những phong trào đối thủ thuộc xã hội chủ nghĩa vốn thu hút sự ủng hộ của những người mà vị trí tương đối của họ còn tồi tệ hơn. Có rất nhiều sự thật trong những lời phát biểu thường được nghe là Chủ nghĩa Phát-xít và Chủ nghĩa Quốc xã là một loại chủ nghĩa xã hội của tầng lớp trung lưu –chỉ là ở Ý và Đức, những người ủng hộ của các phong trào mới nầy trên vấn đề kinh tế khó là một tầng lớp trung lưu lâu hơn nữa. Đến một mức độ rộng lớn, chính là một cuộc nổi dậy của một tầng lớp mới thiếu đặc ân chống lại tầng lớp quý tộc lao động mà phong trào lao động kỹ nghệ đã tạo ra. Có thể có một ít nghi ngờ rằng không một yếu tố kinh tế đơn lẻ nào đã từng góp phần nhiều hơn hầu giúp đỡ những phong trào nầy so với sự ganh tị của một người có chuyên nghiệp, không thành công, những kỹ sư hoặc luật sư được được đào tạo từ đại học, và của “giai cấp vô sản có cổ áo trắng” nói chung, của người điều khiển động cơ hoặc người soạn nhạc và những thành viên khác thuộc những công đoàn lao động mạnh mẽ nhất mà mức thu nhập của những thành viên thì gấp nhiều lần khoản thu nhập của họ. Cũng không có thể có nhiều nghi ngờ rằng trong phần về khoản thu nhập tiền bạc, một thành viên trung bình trong hàng ngũ của phong trào Quốc xã trong những năm đầu của nó thì nghèo nàn hơn một công đoàn viên lao động trung bình hoặc một thành viên của đảng xã hội chủ nghĩa cũ –một hoàn cảnh mà chỉ có được điều đau xót từ sự kiện thực tế mà một thành viên của Quốc xã đã thường nhìn thấy những ngày tốt đẹp hơn và vẫn thường đang sống trong môi trường xung quanh vốn là kết quả của quá khứ nầy. Sự bày tỏ về “giai cấp đấu tranh ngược lại”, hiện thời ở Ý vào thời điểm của sự vươn lên của Chủ nghĩa Phát-xít, đã thực sự chỉ ra một khía cạnh rất quan trọng của phong trào. Sự xung đột giữa những nhà phát-xít hoặc Quốc xã Chủ nghĩa và những đảng phái xã hội chủ nghĩa xa xưa hơn quả thật phần lớn phải được xem như là một loại xung đột mà nó buộc phải trỗi lên giữa các phe phái đối thủ thuộc xã hội chủ nghĩa.

p121

Không có sự khác biệt nào giữa chúng về câu hỏi có phải điều đó là ý muốn của nhà nước mà qua đó nó sẽ quy định cho mỗi người một nơi thích hợp của mình trong xã hội. Nhưng có, như luôn luôn sẽ có, những sự khác biệt sâu sắc nhất về vấn đề những nơi thích hợp của những tầng lớp và những nhóm khác nhau là gì.

* * * * *

Những nhà lãnh đạo xã hội chủ nghĩa xa xưa, vốn là những người đã luôn luôn từng xem những đảng phái của họ như là mũi nhọn tự nhiên của phong trào chung chung trong tương lai hướng đến chủ nghĩa xã hội, tìm thấy khó khăn để hiểu rằng với mỗi phần mở rộng trong việc sử dụng những phương pháp xã hội chủ nghĩa, sự oán giận của tầng lớp nghèo to lớn sẽ quay ra chống lại họ. Nhưng trong khi những đảng phái xã hội chủ nghĩa cũ, hoặc nhóm lao động có tổ chức trong những ngành kỹ nghệ riêng biệt thường thường đã không tìm thấy khó khăn quá mức để đi đến một sự hiểu biết cho hành động kết hợp với những chủ nhân trong những ngành kỹ nghệ riêng biệt của mình, những tầng lớp rất lớn bị bỏ ra ngoài không màn đến. Đối với họ, và không phải không có sự biện minh nào đó, những phân bộ thuận lợi hơn của phong trào lao động dường như thuộc về việc khai thác hơn là một tầng lớp bị bóc lột.1
Sự oán giận của tầng lớp trung lưu thấp hơn, từ nơi mà Chủ nghĩa Phát-xít và Chủ nghĩa Quốc xã đã tuyển dụng một tỷ lệ rất lớn của những người ủng hộ của họ, được gia tăng dữ dội bởi sự kiện thực tế là trình độ học vấn và khả năng qua đào tạo của họ trong nhiều trường hợp đã làm cho họ rất muốn những vị trí điều hành, và họ xem chính mình như được mang danh là những thành viên của tầng lớp điều hành. Trong khi thế hệ trẻ hơn, không có sự khinh miệt đó về việc tạo ra lợi nhuận được dung bồi bởi cách giáo huấn theo chủ nghĩa xã hội, vứt bỏ những vị trí độc lập vốn có liên quan đến sự rủi ro và họp đàn trong những số lượng ngày càng tăng vào trong những vị trí được trả lương vốn được hứa hẹn sự bảo đảm, họ đòi hỏi một vị thế phải nhường lại cho họ khoản thu nhập và quyền lực mà theo quan điềm của họ, khả năng qua đào tạo của họ cho phép họ mang danh nghĩa đó.
=============
1 Bây giờ là mười hai năm kể từ khi một trong những nhà trí thức xã hội chủ nghĩa hàng đầu ở Âu châu, Hendrick de Man (vốn là người kể từ lúc đó đã kiên trì phát triển xa hơn và giảng hòa với Đức Quốc xã), đã quan sát thấy rằng “trong lần đầu tiên kể từ lúc khởi đầu của chủ nghĩa xã hội, những oán giận chống tư bản chủ nghĩa đang quay ra chống lại phong trào xã hội chủ nghĩa” (“Sozialismus und National-Faszismus” (“Chủ nghĩa Xã hội và Chủ nghĩa Quốc xã”), Postdam, 1931, p. 6).

(Hendrik de Man (1885–1953), là một trong những lý thuyết gia
xã hội chủ nghĩa hàng đầu, gốc Bỉ và cũng là người hợp tác với
Đức Quốc xã trong suốt Thế chiến thứ II)

=============

p122

Trong khi họ tin tưởng vào một xã hội có tổ chức, họ mong đợi một vị thế trong xã hội đó rất khác với vị thế mà xã hội được cai trị bởi giới lao động, dường như được đưa ra. Họ đã hoàn toàn sẵn sàng tiếp nhận những phương pháp của chủ nghĩa xã hội xa xưa hơn nhưng có ý định dùng đến chúng trong việc phục vụ một tầng lớp khác. Phong trào đã có thể thu hút tất cả những người đó, trong khi họ đồng ý trên điều mong muốn của nhà nước là việc kiểm soát tất cả những hoạt động kinh tế, không đồng ý với những mục đích cuối cùng mà giới quý tộc thống trị của những công nhân kỹ nghệ sử dụng sức mạnh chính trị của họ.
Phong trào xã hội chủ nghĩa mới bắt đầu với nhiều lợi thế chiến thuật. Chủ nghĩa xã hội của giới lao động đã tăng trưởng trong một thế giới dân chủ và tự do, qua việc thích ứng chiến thuật của nó cho nó và chiếm lấy phần nhiều trong số những lý tưởng của chủ nghĩa tự do. Những người bênh vực của nó vẫn tin tưởng rằng việc sáng tạo ra chủ nghĩa xã hội như là thế sẽ giải quyết tất cả những nan đề. Chủ nghĩa Phát-xít và Chủ nghĩa Quốc xã, mặt khác, đã tăng trưởng từ kinh nghiệm của một xã hội ngày càng được tu chỉnh đang chợt nhận thức ra một sự kiện thực tế là chủ nghĩa xã hội dân chủ và quốc tế đang nhắm vào những lý tưởng không thích hợp. Chiến thuật của họ được phát triển trong một thế giới đã thực sự bị không chế bởi chính sách xã hội chủ nghĩa và những nan đề mà nó tạo ra. Họ không có những ảo tưởng nào về điều có thể xảy ra của một giải pháp dân chủ về những nan đề vốn đòi hỏi sự thỏa thuận thêm nữa giữa những người dân hơn là có thể được kỳ vọng một cách hợp lý. Họ không có những ảo tưởng nào về năng lực của lý lẽ để quyết định tất cả những câu hỏi có tầm quan trọng tương đối về những điều cần muốn của những người hoặc các nhóm khác nhau mà qua đó việc hoạch định không tránh khỏi phát sinh, hoặc về công thức bình đẳng cung cấp một câu trả lời. Họ biết rằng nhóm mạnh mẽ nhất vốn tụ tập đủ số những người hỗ trợ trong việc ủng hộ một trật tự đẳng cấp mới của xã hội, và thẳng thắn hứa hẹn những đặc ân cho những tầng lớp mà nó thu hút đến, gần như sẽ có được sự hỗ trợ của tất cả những người vốn đã thất vọng bởi vì họ đã được hứa hẹn về sự bình đẳng nhưng tìm thấy rằng họ chỉ đơn thuần là đã đẩy mạnh xa hơn lợi ích của một tầng lớp riêng biệt. Trên hết là họ đã thành công bởi vì họ đưa ra một lý thuyết, hoặc một nhân sinh quan thế giới, mà qua đó dường như để biện minh cho những đặc quyền, đặc ân mà họ hứa hẹn cho những người ủng hộ của họ.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

Advertisements

15 thoughts on “Chương 08: Ai làm, ai chịu ?

  1. Pingback: Chương 01: Con đường Bỏ hoang |

  2. Pingback: Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng |

  3. Pingback: Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể |

  4. Pingback: Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định |

  5. Pingback: Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ |

  6. Pingback: Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp |

  7. Pingback: Chương 07: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị |

  8. Pingback: Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do |

  9. Pingback: Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao |

  10. Pingback: Chương 11: Phần Cuối của Sự thật |

  11. Pingback: Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã |

  12. Pingback: Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta |

  13. Pingback: Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng |

  14. Pingback: Chương 15 (Hết) : Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế |

  15. Pingback: Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch (Mục Lục & Lời Giới thiệu) |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s