Vài lời về Cuốn sách “Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch”

Vài lời về Cuốn sách “Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch”
(“The Road to Serfdom”)

Đây là một trong những cuốn sách gối đầu của một số chính khách và Tổng thống Hoa Kỳ như là George H. W. Bush, thậm chí cả nhóm cải cách của Đặng Tiểu Bình, Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc, cũng là một trong những cuốn sách mà hiện nay nhà nước của Đảng Cộng sản Việt Nam âm thầm ngăn cấm tái phát hành hoặc điểm sách (mặc dù trước đó, trong giai đoạn Đổi Mới, 1986–2003, nó được chuyển dịch bởi người trong nước và được xuất bản ngay tại Việt Nam).

1- Sơ lược về Tiểu sử Tác giả:

(Friedrich August von Hayek (1899–1992))

Friedrich August von Hayek được sinh ra ở Đế quốc Áo-Hung hoặc chế độ Lưỡng Quân chủ, là người Áo, sau nầy trở thành công dân Anh Quốc. Ông ta là nhà kinh tế học, và triết học được biết đến nhiều nhất cho việc bảo vệ chủ nghĩa tự do cổ điển và từng chia phần Giải thưởng Kỷ niệm Nobel về Khoa học Kinh tế với Karl Gunnar Myrdal (là nhà kinh tế, xã hội, và chính trị người Thụy Điển).
Trong năm 2011, bài viết của ông ta “The Use of Knowledge in Society” (“Cách dùng Kiến thức trong Xã hội“) vốn được công bố lần đầu tiên trong ấn bản tháng 9/1945 của tạp chí The American Economic Review (Duyệt xét lại Kinh tế Mỹ), được tuyển chọn là một trong 20 bài viết hay nhất được ấn bản bởi tạp chí The American Economic Review trong suốt 100 năm đầu tiên của nó.

2- Sơ lược về cuốn sách “Con đường dẫn đến Tình trạng Nô dịch” :

Trước hết, xin nói sơ về ý nghĩa của chữ “serf” vốn có nguồn gốc từ tiếng Pháp thời Trung cổ và có thể theo vết xa hơn trở lại đến chữ servus trong tiếng Latin có nghĩa là “slave” (nô lệ). Tuy nhiên, chữ “serf” có ý nghĩa khác hơn chữ “slave” đôi phần. Vì những người được gọi là “serf” thời Trung cổ là những nông nô, phải trả tiền thuế theo quy định của lãnh chúa khu vực, phải chia nhau làm việc ít nhất là 3 ngày cho lâu đài lãnh chúa, phải chiến đấu bảo vệ lãnh chúa, là thành phần thấp nhất trong xã hội, nhưng họ được cấp đất đai để trồng trọt, nuôi gia súc, và xây cất nhà ở. Nếu khu vực đó được bán đi, những người nông nô được xem là một phần tài sản trong đó. Trong khi đó, những người bị xem là “slave” phải chịu cuộc sống nô lệ, không được hưởng bất kỳ lợi ích cá nhân nào, dĩ nhiên, tất cả chỉ là phục vụ vì lợi ích chủ nhân nên họ không phải đóng thuế, và có thể bị thay đổi nơi trú ngụ bất ngờ vì cuộc trao đổi giữa những chủ nhân mua bán.

(Một khu vực của lãnh chúa cai quản bao gồm một làng
nông nô và những cánh đồng)

(Căn nhà lá của nông nô thời Trung cổ ở Âu châu)

Trong ý nghĩa “nông nô” đó, hơn là “nô lệ”, tác giả sử dụng trong nghĩa rộng lớn hơn theo mô hình thời đại kỷ nghệ, hãng xưởng, nhà máy qua hình thức “nô dịch” tựa như thời nông nô Trung cổ ở Âu châu nhưng dưới một chế độ độc tài toàn trị đương thời của Đức Quốc xã trong Thế Chiến thứ II.
Trong đó, ông ta thảo luận về nền kinh tế có hoạch định, lợi và hại đối với tầng lớp lao động và ngay cả đối với chính quyền. Nền kinh tế có hoạch định là một nền kinh tế định hướng dưới quyền lực chuyên chế, tập trung của nhà nước. Ông ta lấy nước Đức là một điển hình chính trong cuộc thảo luận vì lẽ nước Đức đã từng trải qua những kinh nghiệm sâu sắc hơn từ hình thức Chủ nghĩa Xã hội tiến lên Chủ nghĩa Quốc xã sau khi chế độ phong kiến Phổ bị sụp đổ so với Chủ nghĩa Cộng sản Liên Xô vốn thoát thai từ lý thuyết của những nhà xã hội chủ nghĩa Đức mà đối với những người Đức, chủ nghĩa đó đã hóa ra cổ điển.
Ngoài ra, ông ta cũng thảo luận về nền dân chủ và những quy định luật pháp trong mối tương quan, mâu thuẩn như thế nào đối với nền kinh tế có hoạch định. Và cuối cùng là những viễn ảnh về trật tự quốc tế theo cái nhìn của ông ta về kinh tế. Tựu trung, ông ta thảo luận chính yếu về kinh tế, và đưa ra những trích dẫn của những nhà kinh tế Phe tả, lẫn Phe hữu, cùng những tư tưởng của các nhà triết học từ thời cổ đại đến đương thời. Ông ta đã lên án gay gắt đối với chủ nghĩa độc tài toàn trị mà biểu tượng chính là Đức Quốc xã, và chủ nghĩa xã hội mà ông ta nói đến không phải là loại chủ nghĩa xã hội kiểu Liên Xô trong khối Cộng sản quốc tế. Đây là điều mà những học giả cộng sản thường hay tuyên truyền và bóp méo sự thật mỗi khi một tác giả nào đó thảo luận hoặc nhắc đến nhóm chữ chủ nghĩa xã hội mà thật ra đó là tinh thần thúc đẩy cuộc sống an sinh trong xã hội hơn là tinh thần cộng sản vốn nằm trong chủ nghĩa độc tài toàn trị như Đức Quốc xã.

3- Thay lời kết:

Trong công cuộc cứu lấy nền kinh tế lụn bại mà Mao Trạch Đông đã từng áp dụng đúng theo kiểu cách của Cộng sản Liên Xô trên đất nước Trung Hoa qua chính sách Đại Nhảy vọt từ năm 1958 đến 1960, chỉ trong vòng 2 năm đó, một con số ước lượng có đến 20 triệu (có thể lên đến 40 triệu) người chết, nhóm cải cách Đặng Tiểu Bình –từng bị họ Mao lên án gay gắt, thậm chí tống giam và thanh trừng– thành lập lại và chiêm nghiệm tư tưởng dựa trên cuốn sách “Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch” nầy nhằm đổi mới đất nước. Và họ Đặng đã thành công khi biết mở rộng cửa Cộng sản đón nhận phe tư bản vào, bất chấp sự phê bình dữ dội của Liên Xô (nhưng sau nầy, cũng chính Liên Xô phải mở rộng cửa Cộng sản như họ Đặng, nhưng thời điểm đó đã quá trễ vì vậy đưa đến sự sụp đổ không thể nào tránh được của chính nó và toàn khối cộng sản Đông Âu).
Tuy thế, cuốn sách nầy mang thêm sắc thái của nền dân chủ, đối lập hoàn toàn với chế độ độc tài toàn trị. Đó là điều mà những nước Cộng sản còn lại không muốn nó được phổ biến lan rộng trong công chúng vì sự phát triển nếu có, của một nền kinh tế luôn đi kèm theo sự đòi hỏi về quyền tự do cá nhân và nền dân chủ. Thí dụ điển hình là nền kinh tế Đức Quốc xã chỉ là bề ngoài vốn tồn tại thêm được là nhờ vào cuộc Thế Chiến II do chính nó gây ra nhằm thu về những mối lợi chiếm lấy được từ những nước khác.
Gần hơn là nền kinh tế miền Bắc Việt Nam trước năm 1975, gần như hoàn toàn khó thể cứu vãng với chế độ bao cấp, tem phiếu hầu kéo dài thời gian chịu đựng trong hoàn cảnh ngày càng kiệt quệ từ hạ tầng cơ sở, để sống còn điều duy nhất họ có thể làm được là tiếp tục tạo chiến tranh. Vì chiến tranh vừa làm giảm đi gánh nặng dân số miền Bắc, vừa được nhận viện trợ và vay mượn từ những nước trong cùng một khối cộng sản, và thúc đẩy hy vọng chiếm được tài sản của miền Nam Việt Nam. Điều nầy đã được minh chứng sau năm 1975, khi nhà nước Việt cộng dùng chính sách “cào bằng” sự khác biệt quá xa giữa hai nền kinh tế Bắc–Nam hầu cứu lấy nền kinh tế bại liệt ở miền Bắc. Kết quả là tuy miền Bắc được hưởng chút phồn vinh từ miền Nam nhưng chỉ là tạm thời, không đủ để đưa cả nước Việt Nam thoát khỏi chính sách bao cấp, một lần nữa, tiếp tục bao trùm toàn quốc. Tuy thế, nhà nước Việt cộng phải chờ đợi Sô-Viết cộng tiến hành Đổi mới, họ mới được phép và dám hô hào Đổi mới như Trung cộng đã từng làm trước đó.
Đó cũng là lý do tại sao cuốn sách nầy được phép cho dịch ra và phát hành ở Việt Nam trong giai đoạn lúc bấy giờ. Và ảnh hưởng của nó là đưa đến sự đòi hỏi về quyền tự do cá nhân và sự khao khát nền dân chủ, vì vậy nhà nước Việt cộng âm thầm thủ tiêu phương tiện Đổi Mới trong nỗi lo sợ sự sụp đổ bất ngờ như Liên Xô vào khoảng giữa năm 1991.

One thought on “Vài lời về Cuốn sách “Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch”

  1. Pingback: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị | Nghiên cứu lịch sử

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s